II.  BÌNH ĐỊNH THỜI CHĂMPA

 

1. Quá trình nghiên cứu

Từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ XVII, trên dải đất miền Trung Việt Nam đã hình thành một Nhà nước Cổ đại, đó là Nhà nước Chămpa. Nhà nước Chămpa được xây dựng trên một nền tảng được kế thừa thành tựu văn hóa Sa Huỳnh trước đó, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa cùng nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác trong khu vực. Dân tộc Chăm trong suốt 16 thế kỷ, khởi nguồn từ năm 192 và kết thúc vai trò lịch sử của nó đã để lại một nền văn hóa riêng, độc đáo, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa của nhân loại và cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam sau này.

Bình Định nằm ở trung tâm của dải đất miền Trung với gần 5 thế kỷ giữ vai trò trung tâm của đất nước, mặc dù có nhiều bước thăng trầm, nhưng văn hóa Chămpa ở đây vẫn phát triển đến khi vùng đất này mất vai trò trung tâm của nó, dấu tích văn hóa còn để lại vô cùng phong phú, đa dạng về loại hình, nhiều về số lượng và trở thành đối tượng quan trọng không thể bỏ qua với những người nghiên cứu về văn hóa Chămpa nói chung và giai đoạn Vijaya nói riêng.

Có thể chia các giai đoạn nghiên cứu văn hoá Chămpa Bình Định thành hai giai đoạn:

a. Giai đoạn trước năm 1975.

Văn hóa Chămpa ở Bình Định đã được biết đến từ sớm, với quy mô lớn và nhiều, các di tích vùng này được ghi lại những ấn tượng sâu sắc ngay từ khi vùng đất Bình Định trở thành một phần lãnh thổ chung của dân tộc. Ngay từ thế kỷ thứ XVI, các sử gia phong kiến đã có ghi chép về các di tích ở vùng này, mặc dù những ghi chép còn sơ lược và mang tính sử liệu. Những tác phẩm như “Thiên Nam chí lộ đồ thư”; “Lịch triều hiến chương loại chí”; “Đại Nam nhất thống chí”; “Đồ Bàn thành ký”đđã phác dựng những nét đầu tiên về bức tranh tổng thể các giai đoạn của nền văn hóa Chămpa ở đây. Những công trình ghi chép, sử liệu trên về cơ bản mới chỉ là những thống kê bước đầu có tính giản lược, chưa có sự đóng góp nhiều vào việc nghiên cứu, nhưng là cơ sở ban đầu cho việc tìm kiếm các di tích, đặt tiền đề cho việc nghiên cứu giai đoạn sau.

Phải đến thập kỷ đầu thế kỷ XX và những năm tiếp theo, văn hóa Chămpa ở đây mới được nghiên cứu có hệ thống. Có thể thấy các công trình nghiên cứu của H.Parmentier, Philip Stern, Boisselier là nền móng cơ bản cho việc nghiên cứu toàn diện về văn hóa Chămpa nói chung và Bình Định nói riêng.

Để có được những công trình nghiên cứu này, không thể không kể đến những nhà nghiên cứu tên tuổi như E.Aymonier, L.Cadiere, J.Clacys, G.Coedes, C.Lemire, J.Leuba, A.Maybon. Đặc biệt là H. Parmentier cùng những cộng sự của ông sau gần một thập niên khảo sát tìm hiểu, ông đã công bố danh mục và miêu tả hầu hết các di tích lịch sử Chămpa ở Trung Bộ. Mặc dù còn có một đôi điều cần được tiếp tục làm sáng tỏ, nhưng công trình này đã đặt cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu văn hóa Chămpa trên nhiều lĩnh vực.

Ngoài những công trình nghiên cứu chung, các di tích còn được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu lĩnh vực cụ thể như: kiến trúc, tháp, điêu khắc, tôn giáo, lịch sử; nhiều cuộc sưu tầm tìm kiếm được tiến hành, ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX đã có những chuyên khảo của C.Lemire, J.Clacys, J.Leuba.

Cùng với việc nghiên cứu các di tích hiện còn, cũng cần kể đến các cuộc khai quật khảo cổ như cuộc khai quật phế tích tháp Khánh Vân, khai quật gò Tháp Mẫm, cung cấp thêm nhiều tư liệu quý góp phần xác định diện mạo văn hóa Chămpa trong thời kỳ Vijaya của dân tộc Chăm.

 Trên các tạp chí, danh thắng địa phương đã xuất hiện qua các bài giới thiệu những phát hiện ngẫu nhiên hay các di tích cụ thể. Các công trình đó được thể hiện trên các tác phẩm của Lê Quang Ngọc “Những di tích Chiêm Thành ở Bình Định” năm 1962. Chu Thiên và Trần Nhâm Thân “Di tích Chiêm Thành ở Bình Định” năm 1970. Đặc biệt, giai đoạn này J.Boissellier đã tập hợp tài liệu về điêu khắc công bố trong cuốn “Nghệ thuật tạc tượng của nước Chămpa” được coi là thành tựu lớn nghiên cứu văn hóa Chămpa nói chung và văn hóa Chămpa trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng.

Phần lớn những tư liệu nghiên cứu chỉ đi sâu vào hai lĩnh vực nghệ thuật điêu khắc kiến trúc tháp và nghệ thuật khắc tượng, còn các dấu tích vật chất khác như: kiến trúc thành cổ, các công trình xây dựng khác, các ngành sản xuất thủ công như nghề làm gốm, hầu như chưa thấy trong tư liệu nghiên cứu của họ.

b. Giai đoạn sau năm 1975.

Việc tìm hiểu văn hóa Chămpa từ những năm 1975 trở lại đây được tiến hành đồng bộ. Trên toàn bộ vùng cư trú xưa của dân tộc Chăm, việc nghiên cứu được đẩy mạnh không chỉ trên lĩnh vực nghiên cứu kiến trúc tháp, điêu khắc, văn bia. Các tòa thành cổ cũng được xúc tiến nghiên cứu, cùng với các ngành nghề thủ công - một thành tố kinh tế của người Chăm trong lịch sử .

Năm 1976 đến năm 1985, Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình đã có cuộc điều tra sơ bộ những di tích hiện còn.

Năm 1987-1990, cùng với Viện Khảo cổ học, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định đã tiến hành điều tra tổng thể các loại hình di tích văn hóa Chămpa, lập hồ sơ khoa học và bản đồ khảo cổ học các di tích phế tích trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Đáng chú ý là từ những năm 1990-1994, Viện Khảo cổ  cùng phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định điều tra, khảo sát, khai quật một số địa điểm thuộc trung tâm sản xuất gốm Gò Sành (Nhơn Hòa - An Nhơn - Bình Định) và xác định một số di tích lò gốm khác thuộc An Nhơn và Tây Sơn.

Bên cạnh việc nghiên cứu có hệ thống và kế hoạch của các cơ quan chuyên môn, trong quá trình sản xuất và xây dựng, nhân dân địa phương cũng phát hiện nhiều di tích di vật, tuy là ngẫu nhiên, lẻ tẻ, nhưng đã bổ sung thêm những hiểu biết mới về danh mục các di tích hiện có trên địa bàn tỉnh.

Những kết quả điều tra và khai quật trên, đã được công bố trên các tạp chí Khảo cổ học, Dân tộc học, trong kỷ yếu hội nghị khoa học và trên các tạp chí sách báo xuất bản ở Trung ương và địa phương.

Công cuộc tìm kiếm các di tích Chămpa ở Bình Định đạt được những thành quả nhất định, song đó chỉ là những kết quả bước đầu. Các loại hình di tích chưa được nghiên cứu tường tận và chưa đặt nó vào đúng vị trí của nó trong tổng thể văn hóa Chămpa.

Với nguồn tư liệu hiện có, chúng tôi sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu mới, những ý kiến riêng của mình trong khi nghiên cứu, với mong muốn là nêu bật đóng góp của văn hoá Chămpa trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng, làm cơ sở bước đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp theo.

          2. Bình Định dưới thời vương triều Vijaya

a. Cương giới Chămpa và các đơn vị hành chính lúc bấy giờ.

Chămpa được hình thành gồm nhiều tiểu vương quốc phân bố dọc miền Trung Việt Nam  từ núi đến biển, giãn cách nhau bằng các đèo, từ Đèo Ngang đến Đèo Cả - Đại Lãnh có độc lập và liên lập, có một tổng thể văn hóa chung mà cũng có sắc thái văn hóa vùng. Những đầu ngói ống và tượng thần bán thân mang phong cách của thế kỷ IX-X phát hiện ở thành Chas (Nhơn Lộc) 1997 đã cho thấy vùng đất Bình Định dưới vương triều Trà Kiệu và Đồng Dương là một trong những tiểu vương quốc nằm trong vương quốc Chămpa thống nhất.

Về địa giới vương quốc Chăm trong  Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi có chép rõ về địa giới và lịch sử Chiêm Thành: “Chiêm thành xưa là huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam, bộ Việt Thường của ta, sau đổi thành Lâm Ấp, bờ cõi nước ấy phía nam thông với Chân Lạp, gọi là Thỉ Bi, phía tây gần Qua Oa, gọi là Thượng Nguyên, phía bắc giáp với Hoan Châu, gọi là Ô, Lý, chỉ có phía đông là giáp biển, tổng cộng các châu lớn nhỏ có cả thảy 38 châu, chiều dọc 600 dặm. Đất nước đó có ít ruộng, tham đất màu mỡ ở Nhật Nam của ta, muốn cướp lấy, cho nên thường xâm lấn quấy nhiễu…”1 Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” và “Vân đài loại ngữ” cũng chép về hai xứ Thuận Quảng: “Huyện Nhà Hán rất to, như hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam của nước ta, mà thời Hán chỉ là đất một huyện ở Tượng Châu mà thôi”.

Cũng theo thư tịch Trung Quốc trong thời kỳ này vương quốc Chămpa được chia thành 38 châu lớn nhỏ, phía nam là châu Thi Bi; phía bắc là châu Lý Ô; phía tây là châu Thượng Nguyên, có hơn 100 thôn lạc, mỗi thôn có từ 300 đến 500 hộ, nhưng cũng có thôn 700 hộ. Cai quản bên trên có huyện, trấn. Cai quản điều hành đất nước cao nhất là vua, dưới là các phó vương. Các chức danh phó vương hoặc thứ vương thường là những người anh em trong dòng tộc nhà vua, dưới các phó vương  có 8 chức quan chia nhau trông coi mọi công việc trong các châu, mỗi khu vực có hai người ngoài ra còn có 50 chức quan làm nhiệm vụ thu thuế, 12 chức quan trông kho, đụn, 50 chức quan trông coi việc quân.

Dưới thời vương triều Trà Kiệu hay Sinhapura và Đồng Dương hay Indrapura cũng được xây dựng trên khuôn mẫu đó. Vương quốc Trà Kiệu gọi theo văn bia là vương triều Sinhapura được thiết lập bắt đầu từ thế kỷ III đến năm 750. Theo văn bia ở Chợ Dinh (Phú Yên) và Chiêm Sơn (Quảng Nam) thì vương triều này được thành lập sớm và từ thế kỷ thứ IV đã thống nhất được cả miền Nam và miền Bắc vương quốc Chăm (bao gồm cả Phú Yên ngày nay).

Trong thời kỳ cầm quyền dưới vương triều Trà Kiệu-Đồng Dương, đất nước Chămpa được chia thành các quận lớn khi thì chia thành ba quận, khi thì bốn quận trong đó có những quận lớn như  là quận Amaravarti ở phía bắc, Vijaya ở chính giữa và quận Panduranga ở phía nam (đôi khi là Kauthara thuộc Khánh Hoà ngày nay).

          Từ những tư liệu được ghi chép trên, cho chúng ta thấy dưới thời vương triều Trà Kiệu và Đồng Dương, Bình Định là vùng đất chỉ đóng vai trò của một châu lớn nằm trong 38 châu của vương quốc Chămpa, và nằm dưới sự điều hành của chính quyền trung ương đóng đô tại vùng Quảng Nam ngày nay. Từ hẹ thống quản lý nhà nước, thuế khoá, tôn giáo và các hệ thống hành chính khác mặc dù có những mặt hoạt động riêng nhưng vẫn nằm dưới sự điều hành chung của Nhà nước Trung ương.

Như vậy, Bình Định dưới thời Vijaya từ vai trò chỉ là một châu trong 4 châu lớn của vương quốc Chămpa, đã trở thành mảnh đất kinh kỳ của vương triều Vijaya trong lịch sử.

Cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI, để thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, dân tộc Chăm đã dời đô từ Sinhapura (Quảng Nam) về Vijaya (Bình Định), vùng đất trung tâm của đất nước để thuận lợi hơn trong việc quản lý và bảo vệ cả hai miền đất phía bắc và phía nam đất nước. Việc dời đô tiến hành vào cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI, năm 1007 sứ thần Chămpa sang triều cống Trung Hoa nói: “Xứ thần trước đây thuộc Châu Giao sau đó bọn thần trốn về Vijaya cách chỗ cũ 700 dặm về hướng Nam…” Cuộc thiên di này mở đầu cho một thời kỳ mới của dân tộc Chăm mà các nhà nghiên cứu gọi đó là thời kỳ Vijaya.

Vương triều Vijaya được khai mở vào đầu thế kỷ XI và kết thúc vào thế kỷ XV (1471) với nhiều triều đại, khúc quanh và nhiều bước thăng trầm. Có thể khái quát chiều dài 5 thế kỷ tồn tại của vương triều này như sau:

Thế kỷ XI, mặc dù, vùng đô mới của người Chăm mới được xác lập, nhưng nhà Lý đã hai lần tiến quân vào Vijaya (năm 1044-1069), một phần phía bắc sáp nhập vào lãnh thổ chung của Đại Việt. Từ đầu thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII là cuộc đấu tranh thống nhất quốc gia và bảo vệ độc lập dân tộc Chăm với cuộc đấu tranh kéo dài 100 năm chống đế quốc Khmer. Trong cuộc đấu tranh này đã có lúc vùng Vijaya (Bình Định ngày nay) bị sáp nhập vào lãnh thổ Khmer và trở thành một bộ phận thuộc tỉnh của vương quốc này. Mãi cho đến thế kỷ XIII nhà nước Chămpa mới bắt đầu ổn định và phát triển.

Thế kỷ XIV là giai đoạn phát triển cực thịnh của nhà nước Chămpa. Trong giai đoạn này, nhà nước Chămpa có mối quan hệ bang giao khá khăng khít với Đại Việt mà đỉnh cao là cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân  nhà Trần với vua Jayavarman (Chế Mân), dẫn đến châu Ô, châu Lý của Chămpa sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Cuối thế kỷ XIV, nhà nước Chămpa phát triển đến cực thịnh và đã ba lần tiến quân đánh vào kinh thành Thăng Long của Đại Việt.

b. Hệ thống chính quyền và quan chức

Những sử liệu Trung Quốc ghi chép lại cho ta thấy bộ máy điều hành đất nước dưới vương triều Chămpa có một tổ chức không giống như mô hình Trung Quốc và Đại Việt. Tuy chưa thật đầy đủ tư liệu nhưng qua những tư liệu được ghi chép trong bia ký cho ta biết một phần tổ chức bộ máy Nhà nước của họ dưới hai vương triều này.

Cũng như các quốc gia Đông Nam Á khác, Chămpa là một trong những nơi mà văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng sớm nhất khu vực Đông Nam Á, cho nên sau khi lập quốc, họ đã lấy khuôn mẫu tổ chức Nhà nước theo mô hình Ấn Độ. Ngay các tên vua mà trong thư tịch Trung Quốc thường gọi như Phạm Hùng, Phạm Dật, Phạm Văn, Phạm Phật, Phạm Hồ Đạt cũng được phiên âm Phạn ngữ thành “Varman” thường đứng sau vị vua Ấn Độ. Ta thấy tổ chức bộ máy và hệ thống quan chức được mô phỏng gần như của Ấn Độ, ví dụ như: việc phân chia đất nước thành các quận, huyện, làng mạc, đô thị; tên gọi chức danh quan lại các cấp giữ cương vị trong triều đình như: thượng thư, tư lệnh quân đội, quan tư pháp, tiểu vương, lãnh chúa, quan đảm trách hương hỏa của nhà vua… Tên gọi các đơn vị hành chính trong vương quốc đều có nguồn gốc từ Ấn Độ; ví dụ như đại vương (maharaja); tư lệnh (agrasenapati); tướng (senapati); đại tướng (nuhasenapati); thượng thư (amatya); đô thị (pura hay nagara)… (theo sử thi sasthia).

Theo quy định của truyền thống Ấn Độ, vua không chỉ là hiện thân của thần linh mà còn là người bảo vệ thần dân và giữ gìn trật tự đất nước theo những “luật thiêng”. Cũng theo quan niệm của Ấn Độ thì vua không phải là người tạo ra luật lệ mà luật là “thiêng liêng” đối với mọi người, nếu vua phạm luật cũng sẽ bị thần dân lật đổ “vua như thế không còn là vua nữa, mà ông sẽ bị giết”(Sử thi Mahabarata). Nhà vua không chỉ là người biết tới mà còn rất thông hiểu về chính trị, luật pháp, đạo pháp Ấn Độ cổ đại như: Luật về chính trị (Anthasastra); Luật về địa pháp (Dharmasastra); Luật manu…

Về tên gọi chức danh bộ máy: Đứng đầu là vua được gọi là Đại vương (maharaja) hay Đại vương tối cao (maharajadhiraja) hay vua tối cao (adhikaraja); Dưới vua có các kế vương hay hoàng thân (Yuvaraja). Bia ký còn cho chúng ta biết thêm về một số chức quan khác trong triều đình như: tổng tư lệnh (agrasenapati), thượng thư (amatya) và một số chức vụ khác như: chức quan có tên là Pokhun pilih Rajadvara được vua Bhadravarman phong hàm Pokhun Sundandavasa được vua Indravarman phong làm Akaladhipati và là người giữ phần hương hỏa cho nhà vua Indravarman II. Một người khác tên la Paraleyesvara Dharamaraja có chức là tiểu vương. Cũng trong một số bia ký khác có nói đến một vài tổ chức hành chính như: đô thị; quận…

Về điều hành và quản lý đất nước: Cũng giống như các triều đại trước, vương triều Vijaya vẫn chia vương quốc ra nhiều tỉnh khác nhau; đứng đầu các tỉnh có các quan lại cai quản tương ứng. Cả nước được chia thành các châu lớn, ba hoặc bốn châu. Từ các châu lại chia ra thành tỉnh. Dưới thời vua Harivarman III vương triều Vijaya được chia thành 38 tỉnh, dưới có cấp xã, thành phố. Theo thư tịch Trung Quốc, dưới vương triều Vijaya có hơn 100 đơn vị như vậy, mỗi đơn vị cấp xã có từ 300 đến 500 hộ. Riêng kinh đô Vijaya khi vua Lê Thánh Tông đánh vào đã cho thống kê có tới  2560 khu.

Đứng đầu các châu có các vị quan lại do triều đình bổ nhiệm, giúp việc cho các vị quan các châu có tới 50 người dưới quyền, những vị này có trách nhiệm giúp trông nom các công việc như thu thuế khóa, quản lý ngân khố… Theo thư tịch Trung Quốc cho biết các chức quan hàng tỉnh có tới 200 thứ bậc khác nhau, trong đó thứ bậc cao nhất thuọc về các quan hàng tỉnh.

Chế độ lương bổng: Thư tịch cho biết, Nhà nước không trả lương cho các quan lại như Trung Quốc và một số nước khác, mà sống chủ yếu dựa vào những cống vật do dân đóng góp tại nơi vị quan đó được bổ nhiệm cai quản; dân trong xứ nơi vị quan được bổ nhiệm cai quản phải có trách nhiệm đóng góp, cung cấp mọi nhu cầu cần thiết đảm bảo cho bộ máy từ cấp tỉnh trở xuống hoạt động và điều hành công việc.

Tổ chức quân đội: Bảo vệ tử cấm thành được gọi là quân cấm vệ, có nhiệm vụ bảo vệ nhà vua, biên chế trong quân đội có các thứ quân gồm: bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thủy binh (Tống thư), một số tư liệu như Tùy thư; Tân Đường thư; đã chép về bộ máy quan lại Chămpa, theo các tài liệu này, quan lại Chămpa chia thành ba thứ hạng:

 - Tôn Quan gồm hai người được gọi là Tây-na-ba-đề và Tát-bà-địa-ca.

 - Thuộc Quan có ba bậc: Luân-ba-đình; Ca-luân-tri-đế và Ất-tha-gia-lan.

 - Ngoại Quan gồm hai cấp Phất-la và Khả-luân; Ngoài ra còn có chức Bà-ma-đạo đây là vị quan đứng đầu các quan.

Biên chế các binh chủng trong quân đội gồm thuỷ binh, bộ binh, tượng binh (đội quân Voi chiến). Trong ghi chép của Trung Quốc thì đội quân tượng binh của người Chăm có khi lên tới hàng ngàn con. Binh chủng kỵ binh các triều đại trước Vijaya chưa có, chỉ khi mua được của Trung Quốc họ mới thành lập. Trong những binh chủng quân đội của vương quốc Chăm, kỵ binh là đội quân không mạnh mà chủ yếu là thủy binh, tượng binh và bộ binh.

Trang bị cho binh lính, những chiến binh khi giao chiến trận mạc có trang bị khiên, mác, giáo, lao, cung, tên v.v… ngoài ra còn được trang bị áo giáp đan bằng mây, khi tiến quân họ vừa tiến vừa thổi tù và làm bằng con ốc biển, vừa đánh trống vừa cầm cờ; khi tiến quân họ chia đội quân thành nhiều tốp, mỗi tốp gồm 5 người. Việc chia như vậy có tác dụng quản lý lẫn nhau, không thể bỏ trốn, theo quy định nếu trong 5 người có một người bỏ trốn thì bốn người còn lại sẽ bị xử chém. Về thủy binh, vốn là cư dân được mệnh danh thạo nghề sông nước, cho nên vương triều Vijaya đã xây dựng một binh chủng thủy binh hùng mạnh. Thuyền chiến của họ  ngoài sử dụng sức lực của con người chèo lái còn có thể chạy bằng buồm nhờ sức gió đẩy lên phía trước. Trong thuyền lớn lại có thuyền nhỏ để linh hoạt trong chiến đấu. Dưới vương triều Vijaya có hạm đội có tới 100 chiếc thuyền như vậy.

Nắm giữ quyền chỉ huy quân đội thường được giao cho các anh em trong hoàng tộc. Bên dưới có các tướng lĩnh được nhà vua phong tước Mahasenapati, và Senapati. Binh lính thì có nhiều thứ bậc khác nhau, lương được trả bằng hiện vật và được miễn thuế; nếu người đó thuộc diện binh lính được trả hai đấu gạo trong tháng và từ ba đến năm bộ quần áo (Tống sử ).

Hệ thống phòng ngự bảo vệ đất nước: Theo Nam Tề thư, ngoài con người là chủ thể, dưới các vương triều Chăm đều cho xây các công trình phòng ngự kiên cố đó là thành quách. Bờ thành được xây bằng gạch, bên trong có lầu gác bằng đá, có những thành chu vi rộng tới 6 dặm 610 bộ như thành Khu Túc (Khu vực Huế ngày nay) “Chiều Đông - Tây dài 650 bộ, tường là tường gạch cao 10 thước trên tường có đục các lỗ châu mai hình vuông, trên tường lại có lũy bằng gỗ súc cắm, và trên cùng là lầu canh vọng gác nhô ra, lên cao từ 70-80 thước. Thành có 13 cửa sau cùng họ xây những ụ có hàng rào và chòi canh” (Thủy Kinh Chú). Sau khi xây xong, theo tục lệ, người ta cho quét lên cửa thành bằng tro của một con vật (Tùy thư). Việc làm này có ý làm cho các cửa đó bất khả xâm phạm.

Khi dời đô vào Bình Định, hệ thống phòng ngự của vương triều Vijaya cũng rất kiên cố và bề thế, ngoài hệ thống thành cũ như thành Chas, Châu Thành, Tân Phủ Càn Dương, vương triều Vijaya còn cho xây dựng thêm thành Đồ Bàn sau này trở thành kinh đô. Theo ghi chép của thư tịch thì những thành này về kiểu dáng, vật liệu xây dựng và kiểu đắp thành không khác mấy so với hệ thống phòng ngự của các vương triều trước đó.

 c. Luật pháp và thuế khóa.  

Về luật pháp: Cho đến nay chưa thấy một nguồn thư tịch trực tiếp nào cho ta biết đến vấn đề này. Nhưng trong một vài bia ký lại có nói đến một số luật được áp dụng dưới vương triều Vijaya đó là bia An Thuận (An Nhơn - Bình Định) và bia Po-naga (Khánh Hòa) có nói đến một số hình phạt như “Tịch thu và tước quyền tự do cá nhân”  hoặc “việc không trả được nợ thì phải đi làm nô lệ. Tất cả những người  bị vào tù vì bất cứ lý do nào đều bị gông cùm; hình phạt đánh bằng roi. Phạm nhân bị tội bắt nằm dưới đất, hai người đứng hai bên, khi có lệnh hai người thay nhau đánh, hình phạt từ 60-100 roi tùy tội nặng nhẹ. Những người bị mắc tội ăn cắp bị chặt một ngón chân hoặc một ngón tay”.

Những người phạm tội giết người cướp của sẽ bị đưa ra trước cộng đồng, sau khi bản cáo trạng luận tội kết thúc người ta cho phép dân chúng được quyền bóp cổ kẻ phạm tội đó cho đến khi tắt thở thì mới thôi hoặc cho voi dày. Những kẻ mắc vào tội phản loạn chống lại triều đình bị mang trói chặt vào một nơi hẻo lánh bỏ đói khát cho đến khi nào kẻ phạm tội đó quy phục thì mới tha bổng. Ngoài ra, còn có một số tội phạm được áp dụng bị phạt đày biệt xứ (Tống sử). Trong Chư Phiên chí có ghi chép một số tội danh không phải do triều đình phán xử mà do thần thánh phán xử được áp dụng cho những người bị hổ hoặc cá sấu ăn thịt, thân nhân những kẻ bị nạn này làm đơn trình vua, khi nhận được đơn, vua lệnh cho đại tư tế xin thần phán xử “quan đại tư tế đọc kinh cầu nguyện chính nơi nạn nhân bị hại, cầu đảo bắt hổ và cá sấu phải tự đến nhận tội”. Nếu như phát hiện có sự gian dối trong việc tấu trình thì người phát đơn kiện bị đưa ra nơi có cá sấu nhiều và bắt bơi qua, theo họ nếu là lời nói thật thì cá sấu không ăn thịt người đó và nếu lời tấu trình gian dối thì người đó sẽ bị ăn thịt ngay (Chư Phiên chí ).

Về tội ngoại tình (quan hệ nam nữ bất chính) được áp dụng cho cả nam và nữ, ai phạm vào tội này đều bị xử tử (Chư phiên chí). Những tội bị quy vào án xử chém, khi bản cáo trạng luận tội được tuyên đọc phạm nhân bị giải lên và bắt trói vào một chiếc cột, người thi hành án dùng gươm đâm vào cổ, sau đó mới cho chặt đầu.

 Chế độ thuế khóa: Dưới vương triều Vijaya, theo tư liệu được khắc trong bia ký thì người dân phải có nghĩa vụ đóng góp mọi khoản vật chất về ăn mặc và các nhu cầu khác cho quan lại; dân phải làm tạp dịch trong các cung điện nhà vua. Ruộng đất phải đóng thuế theo tỉ lệ năng suất, đơn vị tính bằng Jak, một đơn vị đo lường mà giới nghiên cứu chưa tìm ra trọng lượng tương ứng là bao nhiêu. Theo bia ký Mỹ Sơn “những người nào nộp thuế cho thần thánh thì không phải làm khổ sai… Những công việc trong nhà vua thì phải làm cho hoàn tất” (Finot II; 185; IV; 197). Trong các khoản thuế đóng góp có những loại thuế đóng cho lãnh chúa, một phần đóng cho nhà vua, trừ khi vua cúng số thuế đó cho đền hay tu viện thì các khoản thuế đó được miễn.

Một loại thuế khác mà theo cách gọi hiện nay đó là thuế gián thu, tức là đánh trực tiếp vào sản vật của thương nhân buôn bán, loại thuế này chủ yếu đánh vào buôn bán các sản vật khai thác lâm sản, ngoài ra còn áp dụng cho những người ngoại quốc vào buôn bán với Chămpa. Những tàu buôn khi cập cảng, chủ tàu phải có trách nhiệm mời nhân viên thuế quan của triều đình lên tàu xem xét số hàng hóa đưa vào. Các mặt hàng này theo quy định khi kiểm phải ghi chữ màu trắng trên một cuốn sổ bằng da màu đen. Theo quy định lượng số hàng nhập vào phải nộp cho nhà vua là 1/5 theo số lượng từng mặt hàng một, số hàng này phải nhập vào kho của nhà vua, sau đó mới được đem đi tiêu thụ trên thị trường. Trong trường hợp phát hiện gian dối trong việc nhập hàng hóa thì số hàng trên sẽ bị tịch thu (Chư Phiên chí). Những mặt hàng săn bắn cũng bị thu thuế; các loại thú quý hiếm như Tê Giác, Voi, ai bắt được phải nộp cho nhà vua.

d. Đời sống văn hóa.

Về ngôn ngữ chữ viết: Do xây dựng Nhà nước theo thể chế Ấn Độ, cho nên, chữ viết của người Chăm cũng tiếp thu từ chữ Phạn (Sanskrit) của Ấn Độ, chữ viết của họ cũng diễn tiến theo thời gian, giai đoạn đầu nét chữ tròn như miền Bắc Ấn, sau đó người Chăm tiếp thu nét chữ vuông, đến giai đoạn Vijaya nét chữ vuông lại bị bỏ và chuyển sang nét chữ tròn như ban đầu. Qua hệ thống chữ viết ta thấy giữa Ấn Độ và Chămpa luôn có sự giao lưu trao đổi thường xuyên.

Tuy nhiên trước đó không phải người Chăm không có chữ viết của mình, theo thư tịch Trung Quốc ghi chép lại thì trước đó họ đã có hệ thống chữ viết khá hoàn chỉnh, theo Lưu Phương một vị tướng nhà Tuỳ khi đem quân đi đánh Chămpa đã thu về trên 1000 bọ kinh Phật và nhiều sách viết mà theo ông gọi đó là chữ Chiêm Bà.

Nhờ có chữ viết ra đời sớm mà dưới thời vương quốc Chămpa đã biên soạn lịch riêng cho mình và sau này dưới thời trị vì của vương quốc Trà Kiệu, Đồng Dương đã sử dụng lại hệ thống lịch đó trong vương quốc của mình, theo giới nghiên cứu thì hệ thống lịch pháp của Chămpa giống như hệ thống lịch của người Ấn, một số quốc gia Đông Nam Á khi tiếp thu và sử dụng lịch pháp Ấn Độ người ta tính thời gian không theo mặt trời mà theo tuần trăng, bằng chứng để khẳng định nhận định trên, giới nghiên cứu đã căn cứ vào một tư liệu bia ký có ghi chép về thời gian hoàn thành xây dựng một ngôi đền: “Tháng traitra (tháng ba tháng tư) ngày thứ mười của nửa tối, ngày ravivara (chủ nhật)… với sư linh hoạt và lòng khát khao làm nảy nở những phẩm giá tâm hồn, đức vua đã dựng đền thờ đấng tôn chủ và các thế giới là Sri prabhadresvara”.

Hệ thống đẳng cấp xã hội: Do theo mô hình của Ấn Độ cho nên trong quan hệ giữa người với nhau có sự phân biệt đẳng cấp nhất định, mỗi một hạng người có một đẳng cấp riêng theo quy định. Dưới thời vương quốc Trà Kiệu; Đồng Dương, vua chúa được mang đẳng cấp (varman) của Ấn Độ, trong các bia ký thường nhắc đến vị vua này, hay vị vua kia thuộc đẳng cấp giáo sĩ (bhamane) hoặc chiến binh (ksatrya), và cũng nói đến việc dâng cúng nô lệ (sudra) cho các đền miếu… Như vậy, qua tư liệu bia ký cho ta thấy hệ thống đẳng cấp trong xã hội Chăm được phân ra các đẳng cấp; cao nhất là đẳng cấp Varman (nhà vua, lãnh chúa) và thấp nhất là Sudra (đẳng cấp người ngèo hay nô lệ). Mặc dù có một hệ thống đẳng cấp như  trên, song dưới vương triều Trà Kiệu, Đồng Dương việc phân chia đẳng cấp không nghiêm ngặt như Ấn Độ. Ở Chămpa, người của đẳng cấp này có thể kết hôn với đẳng cấp khác, người phụ nữ trong xã hội được đề cao chứ không bị khinh rẻ như ở Ấn Độ. Dưới thời vương quốc Trà Kiệu; Đồng Dương trong các bia ký ghi chép luôn ca ngợi công đức của mẹ mình, các chị em gái của vợ cũng được ca ngợi, nhà vua còn xây dựng đền riêng cho họ. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà một sứ giả Trung Quốc, Ma Touan Lin (Mã Toan Lâm) trong mục ghi chép về phong tục tập quán của người Chămpa đã viết: “Con gái phải cưới con trai. Hôn thú giữa những người cùng dòng họ không bị cấm” (Finot). Những tư liệu trên cho ta biết một cách chắc chắn đó là nhà nước Chămpa được xây dựng theo mẫu hệ chứ không phải phụ hệ như mô hình Trung Quốc và Đại Việt, trong gia đình người phụ nữ có quyền hành tối cao, phong tục này hiện nay vẫn được bảo lưu trong dân tộc Chăm ở Bình Định và Ninh Thuận, Bình Thuận.

Táng tục người chết: Dưới vương triều Vijaya trong tang lễ đã có sự quy định chặt chẽ; các thư tịch Trung Quốc được ghi chép trong Tống sử, Tấn thư, Tùy thư, Cựu Đường thư, và bia ký cho biết: Trong vấn đề này cũng có sự phân cấp, người chết là dân thường thì lễ an táng được thực hiện ngay một ngày sau đó, nhưng nếu người chết là một quý tộc hoặc một vị quan lại của triều đình thì ba ngày sau mới chôn cất. Cách táng tục, người chết được bỏ vào trong một áo quan đặt trên một chiếc xe, đi sau là đội nhạc kèn. Thân nhân của người chết cả đàn ông và đàn bà đầu bị cạo trọc; việc làm này theo họ đó là để tỏ lòng hiếu thảo với người đã khuất. Khi đưa người chết đến sát bờ sông, tất cả mọi người dừng không khóc nữa, sau đó cho đặt người chết lên trên đống củi đã chất sẵn và châm lửa thiêu cho đến khi xác chết cháy thành tro, người ta cho nhặt tro xác người chết bỏ vào trong một chiếc lọ bằng đất rồi bỏ xuống sông và ra về, khi ra về mọi người im lặng không được nói hay gây một tiếng động nào. Hành động này theo họ linh hồn của người chết không tìm được đường về quấy rối dân làng. Đối với người thuộc dòng quý tộc hay quan lại triều đình, cách thức mai táng cũng thực hiện như người bình thường, chỉ khác là bình đựng tro hài cốt bằng đồng nếu là quan lại quý tộc; với nhà vua hài cốt phải bỏ trong một chiếc lọ bằng vàng sau khi tiến hành các thủ tục thì  tro hài cốt không vứt xuống sông mà bỏ xuống biển. Sau đó khoảng 7 ngày tại nơi thiêu, những người thân trong gia đình thân nhân người chết mang hương, hoa đến khóc đi vòng quanh nơi thiêu. Cứ như vậy cách nhau bảy ngày lại thực hiện lại như ban đầu, tiếp tục cho đến 100 ngày thì bắt đầu cúng giỗ.

Phải nói rằng về cách thức táng tục người chết của người Chăm được áp dụng khá thống nhất cho tất cả mọi người, chỉ khác ở đồ đựng hài cốt mà thôi, nhưng một số năm gần đây tại vùng đất Bình Định cũng đã phát hiện được một số vò gốm bên trong đựng tro màu đen, rất có thể đó là tro hài cốt người chết, điều khác là những bình lọ này được chôn trên đất liền và có chôn theo đồ tùy táng. Nếu so sánh thư tịch của người Trung Quốc ghi chép thì có sự khác nhau trong cách thức mai táng, hay chăng đó là người Chăm trong giai đoạn muộn đã có sự Việt hóa, điều này cũng cần phải được tiếp tục nghiên cứu.

Người phụ nữ có chồng chết nhưng không tái giá, theo “Lương Thư” thì người phụ nữ đó có thể để tóc dài cho đến khi già. Trong phong tục Ấn Độ, người phụ nữ phải thiêu cùng chồng. Vào thế kỷ XIV, một người phương tây tên là O.Pordenon, sau khi qua Chămpa về có chép “Chămpa là nước rất đẹp, có nhiều lương thực và của cải. Nhà vua có 200 con, vì ông ta có nhiều vợ. Khi người đàn ông chết người ta chôn vợ cùng người chết”. Các sử liệu Đại Việt như “Đại Việt sử ký toàn thư” có nói tới Huyền Trân công chúa, nếu không được Trần Khắc Chung lập mưu cứu thì cũng bị thiêu cùng vua Chăm là Chế Mân; Đại Việt sử ký toàn thư còn chép “Tục lệ nước Chiêm Thành, hễ vua chết thì hoàng hậu phải vào dàn thiêu chết theo”. Theo các sử gia Trung Quốc thì tục lệ này giai đoạn sau có phần nhẹ hơn, người vợ không phải chết theo chồng mà có thể “giữ sự chung thủy và làm việc thiện” (Finot XV). Còn Mã Toan Lâm thì viết “Có những người vợ để tang chồng đến suốt đời bằng cách cắt tóc rồi bỏ để xõa sau khi tóc mọc lại. Đây là những bà già quyết tâm không tái giá” (Ceodes). Hiện nay những người Chăm ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định còn tàn dư rõ rệt của chế độ mẫu hệ: phụ nữ có quyền làm họ cho con và quyền chia tài sản, phụ nữ giữ ngôi thứ cao nhất trong các lễ nghi trong gia đình, phụ nữ có quyền tự chọn lấy chồng cho mình và bắt con cái theo tôn giáo của mình. Phong tục này theo giới nghiên cứu được hình thành trước khi nền văn hóa Ấn Độ du nhập vào. Sau này khi nền văn hóa Ấn Độ được thiết lập vững chắc, người phụ nữ vẫn được đề cao nhưng quyền nối ngôi vẫn căn cứ vào họ cha, chỉ có người con trai nào là con của chính cung hoàng hậu sinh ra mới được nối ngôi trị vì đất nước và được hưởng mọi quyền lợi cao hơn tất cả những người con của vợ thứ sinh ra.

Tục lệ cưới hỏi: Theo thư tịch Trung Quốc chép lại, người Chăm trước khi làm lễ cưới, họ nhờ một bà mối, người này thường là một tín đồ Bà La Môn chịu trách nhiệm mang đồ sính lễ sang nhà gái xin lễ cầu hôn. Nếu việc đặt vấn đề “thuận buồm xuôi gió” thì người mối xin ngày định ngày cưới luôn. Đến ngày cưới hai bên họ nhà trai và gái tụ tập nhảy múa, trong ngày cưới “cô dâu mặc áo vải được khâu bằng nhiều miếng vải chắp lại với nhau như hình cái bớ rào giếng, tóc dắt đồ trang sức và hoa” (Nam Tề thư ) “Có một vị sư nữ đi kèm, rồi cho đi dẫn người con trai về”(Tấn thư ).

Qua thư tịch được ghi chép lại cho thấy ngươi Chăm theo chế độ mẫu hệ, trong cưới hỏi, người con gái phải đi cưới người con trai. Mã Toan Lâm sứ giả Trung Quốc cũng ghi “con gái phải đi cưới con trai”. Trong triều đình, người phụ nữ cũng được đề cao, một số bia ký nhà vua ghi lại công đức của mẹ mình.

Lịch pháp: Cách tính thời gian của vương triều Vijaya cũng giống như các vương triều trước đó, nghĩa là cũng mô phỏng cách tính lịch theo kiểu Ấn Độ. Họ tính năm, tháng theo kỷ nguyên Caka, kỷ nguyên bắt đầu được tính từ bắt đầu trăng non (đầu tháng) của tháng cactra (tháng 2 tháng 3 dương lịch). Theo tập quán người Chăm họ thường lấy tháng 1 âm lịch làm tháng đầu năm (Cựu Đường thư), họ tính từng năm tròn, tính từ kỳ trăng non, đến tuần trăng non khác theo hệ thống “Manta”, lịch Chăm một tuần cũng có 7 ngày, mỗi một ngày đều có cách gọi riêng, biểu tượng riêng. Ngay tên gọi các ngày và các biểu tượng của ngày trong tuần, chúng ta cũng thấy ảnh hưởng của ngôn ngữ Ấn đối với người Chăm rất mạnh mẽ.

Về y học: Hình như trong các thư tịch Trung Quốc người ta ít ghi chép về cách thức chữa bệnh của người Chăm, có thể họ chữa bệnh theo phương pháp “phù thủy” là chính, một số chữa theo gia truyền “Họ tìm những cây thuốc sắc lên để uống” (Tống sử).

 Nghệ thuật: Khi nghiên cứu văn hóa tinh thần của người Chămpa trong lịch sử, giới nghiên cứu đều cho rằng Nhà nước Chămpa được xây dựng trên nền tảng nhà nước Ấn Độ và chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ.

Kể từ khi dời đô về Vijaya, trong suốt nhiều thế kỷ từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, vương triều Vijaya luôn bất ổn và nhiều khi mất cả nền độc lập của mình. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy, vương quốc Chămpa trong đời sống tinh thần của mình vẫn vươn lên khẳng định mình, phản ánh rõ trong nghệ thuật cả trong kiến trúc và điêu khắc.

Về người, hình thù cơ thể có khuynh hướng đơn giản hóa dần dần từng bước. Về tượng động vật có xu hướng hoang đường hóa, các con vật đều được thể hiện phóng đại, cách điệu hay kết hợp để hình thành những con vật mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực. Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Chămpa, hình tượng Siva được thể hiện không kém gì ở Ấn Đô, thế nhưng hình tượng chủ đạo của thần Siva ở Chămpa là Siva - Linga. Ở Ấn Độ, Linga là dương vật, là tượng trưng cho sức sinh hóa của thần Siva. Thế nhưng ở Đông Nam Á nói chung và Chămpa nói riêng, các vua chúa dùng Siva để củng cố vương quyền: Siva được coi là thần đế. Các vua thần hóa mình quanh cái Linga biểu tượng của sự kết tinh của vương quyền. Chính tục thần hóa vương quyền bằng hình tượng Linga là một trong truyền thống tôn giáo quốc gia của Chămpa.

Ngoài ra, do hoàn cảnh lịch sử tác động nên trong thời kỳ này giữa Chămpa và quốc gia láng giềng như Đại Việt có nhiều quan hệ mật thiết, những mối quan hệ đó đã phản ánh rõ nét. Đặc biệt, trong nghệ thuật điêu khắc có những ảnh hưởng của văn hóa Lý- Trần như hình tượng rồng, sư tử và một số họa tiết hoa lá, mây trời, có ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer. Ngược lại dấu ấn của nghệ thuật Chămpa cũng có mặt trong nghệ thuật Ăngko và Đại Việt.

Là phong cách lớn cuối cùng trong điêu khắc Chămpa, nghệ thuật Tháp Mẫm nổi bật ở tính hoành tráng, tính trang trí và tính cách điệu. Sau phong cách Đồng Dương, Trà Kiệu, phong cách Tháp Mẫm đã thể hiện một cách thành công đáp ứng đời sống tinh thần của người Chămpa cổ dưới vương triều Vijaya.

           Về âm nhạc và múa: Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Chămpa cổ, một lĩnh vực không thể thiếu đó là âm nhạc và múa của họ, đây là hai lĩnh vực không thể tách rời nhau, muốn múa được phải có nhạc. Cũng như tôn giáo, trong lĩnh vực âm nhạc và múa của người Chăm, cho đến nay chưa có một văn bản nào nói đến. Vì thế nguồn tư liệu duy nhất giúp chúng ta hiểu về nền âm nhạc và múa của họ là hình điêu khắc đá sống động. Thông qua các hình tượng điêu khắc giúp các nhà nghiên cứu hình dung ra bức tranh về âm nhạc và múa của người Chămpa trong từng giai đoạn phát triển.

Cho đến nay, những tác phẩm điêu khắc được phát hiện sớm nhất đó là đài thờ Mỹ Sơn E1 và A1, Trên đài thờ này, người ta thấy có những hình ảnh các nhạc công và cảnh múa của người Chămpa. Hai nhạc công một đang múa và một nhân vật đang đánh thụ cầm và hình ba vũ nữ đang múa. Trên mặt đứng của bậc tam cấp, ba vũ nữ đang trình diễn một điệu vũ nào đó với chiếc khăn trong tay dang rộng giơ lên cao và với đôi chân choãi rộng ra, một vũ nữ có một chân choãi rộng ra, hai vũ nữ hai bên một chân gập và một chân choãi. Y phục, động tác và tư thế vặn mình thành tam khúc của vũ nữ Ấn Độ, ở tháp Mỹ Sơn C1 và A1 lại có hình ảnh Siva đang múa điệu Tandava thần thánh, đây là vũ điệu tượng trưng cho sự sáng tạo.

Hình tượng thần Siva đang múa và vũ nữ múa còn phát hiẹn được ở Phong Lệ (Quảng Bình); Trà Kiệu; Chánh Lộ (Quảng Ngãi) và nhiều nơi khác.

Ở Bình Định, hình ảnh nhạc công và múa cũng thấy trong các tác phẩm được phát hiện tại An Nhơn - Bình Định mà trong nghiên cứu gọi là phong cách Tháp Mẫm. Về hình ảnh người múa trên các tháp Bánh Ít, tháp Dương Long, tháp Đôi được thể hiện trên các riềm trang trí bằng đá, những hình tượng này có khi thể hiện dưới hình tượng cách điệu, nhưng có khi là người vũ nữ hoặc chiến binh v.v…  Những tác phẩm nguyên lành thể hiện các thần linh trong tư thế múa một điệu vũ thần thánh được phát hiện trong những năm gần đây được giới nghiên cứu đánh giá là một trong những phù điêu thể hiện hoàn hảo nhất phải nói là phù điêu tượng thần Đévi phát hiện trong một phế tích tháp thuộc địa phận xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn. Nữ thần trong tư thế mình trần chỉ mặc một chiếc quần bằng vải mỏng giống như vũ nữ Trà Kiệu; chân phải chùng xuống, hơi nhón gót lên, chân trái hơi co lên như chỉ để tựa phần các ngón chân lên đất, tay trái khuỳnh ra đặt bàn tay lên hông, tay phải giơ thẳng về phía dưới cầm đinh ba, tay cầm phụ vươn ra từ phía sau tạo thành một vòng chuyển động về phía đỉnh đầu, hai tay phụ trên cùng chắp lại ở phía đỉnh đầu, còn các tay kia cầm các vật phụ như ốc, cung, kiếm… Nữ thần đứng trên đầu con thủy quái Makara. Một hình khác thể hiện thần Uma đang múa ở tháp chính Pônaga (Nha Trang) thể hiện nữ thần đang múa trên mình trâu quanh có hai nhạc công đánh trống. Một hình khác thể hiện người múa đó là tượng phát hiện tại tháp Phú Lốc, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn. Theo một số nhà nghiên cứu thì đó là hình tượng nữ thần Sravati. Ở hình khắc này nữ thần có 3 đầu 4 tay, hai tay chính chắp trước ngực, hai tay phụ giơ ra một tay cầm bông sen và tay kia cầm tràng hạt. Cũng thể hiện thần múa là hình tượng thần Brahma phát hiện tại tháp Dương Long huyện Tây Sơn, thần Brahma thể hiện nhìn thẳng, hai chân chùng xuống bạnh đầu gối ra, chỉ hai đầu mút ngón chân bên trái là chạm đất, hai tay chính đưa ngang ngực, sáu tay phụ nhô ra cầm các vật phụ. Còn có thể kể ra rất nhiều hình ảnh chạm khắc để lại trên các tháp Chàm hiện còn trên vùng Vijaya xưa. Qua tất cả những hình ảnh chạm khắc, chúng ta thấy trong âm nhạc và múa của người Chămpa cổ chịu ảnh hưởng rất sâu đậm nền âm nhạc của Ấn Độ. Gần như những nhạc cụ thể hiện trên các tác phẩm điêu khắc của người Chăm là nhạc cụ truyền thống Ấn Độ. Về bộ gõ ta thấy có trống Mriđang và Tabla, bộ dây có đàn Vina, bộ hơi có tù và, sáo.

Như đã đề cập ở phần trên, cho đến nay chưa thấy một nguồn tư liệu nào cho biết trong lịch sử người Chămpa cổ trong đời sống sinh hoạt âm nhạc của họ như thế nào? Cho nên, trong vấn đề này chỉ có thể tìm hiểu dựa trên các hình tượng điêu khắc được lưu giữ trên các đền tháp của họ, chính vì vậy, khi nghiên cứu lĩnh vực âm nhạc và múa của người Chămpa, giới nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở điêu khắc mà thôi, chứ không thể mô tả được âm điệu của từng nhạc cụ. Mặc dầu vậy, chỉ qua một số nhạc cụ mà chúng ta tiếp cận được cho thấy qua hình tượng điêu khắc, phải nói rằng dưới vương triều Vijaya, âm nhạc của người Chămpa cổ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của âm nhạc Ấn Độ. Mặc dầu có sự tiếp thu nhưng người Chămpa đã tiếp thu một cách có chọn lọc, hòa trộn với nền âm nhạc bản địa của họ trước đó để bản địa hóa làm phong phú thêm cho nền âm nhạc của mình tồn tại và phát triển bền vững trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của đất nước. Ngoài ra, trong văn hoá tinh thần của người Chămpa còn có các sử thi, thơ ca cho đến sau này vẫn còn tồn tại và được người Việt tiếp thu phát triển và được xem như nét văn hóa phi vật thể truyền thống trong đại gia đình dân tộc Việt Nam thống nhất. Ngày nay những nét văn hóa truyền thống đang được nhà nước ta chú trọng nghiên cứu, phát huy, bảo tồn và gìn giữ.

 Tín ngưỡng tôn giáo: Dưới thời vương triều Vijaya, sau khi dời đô từ Indrapura (Quảng Nam) về Vijaya (Bình Định) và tồn tại của vương triều này từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, theo các nhà nghiên cứu thì tôn giáo và tín ngưỡng của họ hình như không có gì thay đổi lớn. Về cơ bản họ vẫn lấy Ấn Độ giáo làm tôn giáo chính của mình, vì theo Ấn Độ giáo cho nên người Chămpa chỉ thờ một trong ba vị  hay thờ chung cả ba vị trong tam thần giáo Ấn Độ là Brahma, Visnu, Siva và vợ của Visnu và Siva. Ngoài ra, theo Phật giáo có khi họ còn tin cả bộ ba Brahma, Visnu, Siva và Phật. Ở Chămpa, cũng như Campuchia, Brahma chưa bao giờ được thờ cúng một cách rõ rệt, người ta dùng hình ảnh của Brahma trong đền thờ Visnu hay Siva, nhưng không được lập bàn thờ riêng cho thần Brahma. Trái lại, Visnu mặc dù ít được thờ cúng hơn Siva, cũng có một số đền thờ thần này phối hợp với Siva Cankasa thành tên Narayana lại được thờ cúng nhiều hơn. Hai vị thần này nhập làm một và mang tên là Cankasa-Narayara.

Cũng như các thời kỳ trước, bức tranh tôn giáo của thời kỳ này được ghi lại khá đầy đủ trong các bia ký của các vua và các triều thần, cho nên cách tiếp cận khi tìm hiểu tín ngưỡng tôn giáo của vương triều Vijaya không có cách nào tốt hơn là lần theo các tư liệu bia ký đã được công bố.

Trong suốt thời gian trị vì từ cuối thế kỷ X đến năm 1471, vương triều Vijaya bị mất một khoảng thời gian do bất ổn định. Các cuộc đấu tranh tranh giành lẫn nhau trong nội bộ khá gay gắt, có lúc họ đã phải sang Đại Việt cầu cứu  vua Lý. Khi Vijaya trở thành kinh đô nhưng một bộ phận cư dân phía nam Chămpa vẫn chưa thuần phục, một bộ phận cư dân vùng Panduranga (Phan Rang ngày nay) “nổi dậy chống vua”, một thời gian sau đó lại có cuộc tranh giành giữa bắc và nam Chămpa và với quân Khmer. Sau khi đánh bại Khmer vào năm 1220, thống nhất được đất nước, các vua Chămpa dưới vương triều Vijaya cho xây Linga Yang pu Nagara (Pônaga) nam Chămpa. Về tôn giáo, trong một văn bia Bình Định có nói tới Phật giáo Đại Thừa phát triển trong thời kỳ này, một tấm bia khác có niên đại 1265, trong phần ghi chép mở đầu có nhắc đến lời của đức Phật, vua được phong tặng tên thụy là Sivaloka - tên thụy cuối cùng của vua Chămpa. Khi Marco Polô đến Chămpa năm 1285, vua Indravarman V mất và ngôi ma lại thuộc về con là Harigi lấy danh hiệu là Java Sunhavarman III, trong thư tịch Đại Việt gọi là Chế Mân, cũng cho xây dựng điện thờ ở Po Klung Garai và Yang prông (Đắclắc) có liệt kê dâng cúng nô lệ cho thánh đường. Đến năm 1307, bắt đầu những cuộc giao tranh liên miên với Đại Việt, kết quả là năm 1471, Chămpa phải chấm dứt sự tồn tại như một vương quốc.

 Đến giai đoạn Lê sơ (1427-1527), vương quốc Vijaya bị đánh bại năm 1471. Vua Lê Thánh Tông sáp nhập Quy Nhơn và đổi tên thành phủ Hoài Nhơn. Qua đây chúng ta thấy dưới thời trị vì của vương triều Vijaya có giai đoạn vùng Bình Định là một vùng thiếu ổn định (Kerri Long 1998).

Qua ghi chép của bia ký, cùng với nguồn tài liệu khác, chúng ta thấy Bình Định dưới thời vương quốc Vijaya cho đến ngày cuối cùng, tôn giáo Ấn Độ vẫn ngự trị trong vương quốc. Dù rằng còn nhiều vấn đề phải tiếp tục thảo luận và tiếp tục nghiên cứu, nhưng những di tích còn hiện hữu trên vùng đất này là cứ liệu vật chất không thể thiếu vắng cho những ai khi bắt tay nghiên cứu giai đoạn lịch sử tiền sử và sơ sử Bình Định dưới vương triều Vijaya.

3. Dấu tích văn hóa Chămpa ở Bình Định

a. Những di tích tiêu biểu.

           - Thành cổ: Thư tịch cổ Việt Nam, khi ghi chép về cuộc thiên đô của dân tộc Chăm một cách chung chung là: Thành Phật Thệ (1044) hay thành Chà Bàn (1043) mà không ghi chép về một tòa thành cụ thể. Những thế kỷ sau các sử gia có chú ý tới loại hình kiến trúc này, đặc biệt là thành Chà Bàn trong các sách: “Thiên nam Chí lộ Đồ thư”; “Lịch Triều hiến chương loại chí”; “Đại Nam nhất thống chí”; “Đồ Bàn thành ký” v.v

          Các thư tịch cổ cho biết trên vùng đất Bình Định xưa có 4 tòa thành cổ, nhưng  thực tế trên vùng đất Bình Định hiện còn 3 tòa thành là còn lại dấu tích.Về phân bố, cả 3 tòa thành đều nằm dọc theo lưu vực sông Côn và nằm cách nhau từ 10 đến 12 km. Đó là thành Thị Nại (Phước Hòa-Tuy Phước); thành Chas (Nhơn Lọc-An Nhơn) và thành Đồ Bàn (Nhơn Hậu-An Nhơn). Sự có mặt của 3 tòa thành cổ đã nói lên phần nào về tầm quan trọng của vùng đất Bình Định dưới thời vương quốc Chămpa.

           - Thành Thị Nại: Trong lịch sử châu Vijaya nằm giữa vương quốc Chămpa, là nơi cư trú lâu đời liên tục của dân tộc Chăm. Với vị trí tự nhiên thuận lợi, nằm giữa đồng bằng trù phú có vị thế vươn ra biển, chắc chắn từ lâu, Thị Nại trở thành thương cảng của vùng Vijaya. Thị Nại đặc biệt phát triển trong giai đoạn châu Vijaya trở thành trung tâm của đất nước. Ngoài việc đảm nhận vai trò cửa ngõ của đô thành mới xây dựng từ vị trí thương cảng, Thị Nại còn đảm nhận thêm nhiệm vụ là vị trí phòng thủ mặt biển cho kinh đô Vijaya. Chính vì thế thành Thị Nại được xây dựng ngoài chức năng thương cảng còn đáp ứng chức năng quân sự. Tài liệu được ghi chép qua sử liệu Đại Việt cho biết thời Lý Thái Tông (1028-1055), Oai Minh Vương Lý Nhật Quang con thứ 8 của vua nhà Lý vào giúp vua Chiêm Thành dẹp loạn các bộ lạc làm phản, đóng quân ở đầm Thị Nại. Đến cuối thế kỷ XIII (1282) trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, tại Thị Nại “quân Chàm cho xây dựng những giàn gác (lâu bằng) đặt hơn 100 cổ pháo Hồi ba cầu”1. Một thư tịch cổ Trung Quốc “Kinh thi đại điển tự lục” chép về cảng và thành Thị Nại: “Cửa cảng phía bắc liền với biển, bên cạnh có 5 cảng nhỏ thông với Đại Châu của nước ấy, phía đông nam có núi ngăn, phía tây có thành gỗ…”

          Từ những tài liệu trên cho thấy, thành Thị Nại có sau thế kỷ XI với chức năng chủ yếu là thương cảng, chỉ có chức năng quân sự khi có chiến tranh, việc xây dựng thành Thị Nại, vai trò quân sự ít được quan tâm, cho nên chưa bao giờ nó được xây dựng vững chắc, bởi thế khi có chiến tranh xảy ra thành phải gia cố thêm bằng gỗ. Với vị trí là cửa ngõ của kinh đô dưới vương triều Vijaya tồn tại trong 5 thế kỷ, thành Thị Nại trở thành mục tiêu bắn phá của ngoại bang. Sự tác động có tính hủy diệt của chiến tranh đã góp phần xóa đi dấu vết của thành theo thời gian. Những yếu tố trên đã phần nào minh giải cho sự “trống vắng” thành Thị Nại trong giai đoạn lịch sử sau đó và lý giải tại sao cho mãi tới gần đây mới phát hiện được dấu tích ban đầu của một phần móng tường thành. Thành nằm trên địa phận thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước.

Trong quá trình nghiên cứu, nhiều học giả đã cố gắng tìm lại dấu vết của nó nhưng hầu như không có kết quả, khiến có người phải thốt lên “Đáng tiếc là tòa thành đã bị phá hủy hoàn toàn…”. Trong những năm gần đây, do trong khi đào đắp xây dựng nhà cửa của nhân dân, mặt khác, do nước sông xói lở vào mùa mưa lũ, nhiều đoạn tường thành đã xuất lộ. Qua khảo sát nghiên cứu, kết hợp với nguồn tư liệu ban đầu, các nhà nghiên cứu đã xác định được dấu tích, vị trí của thành Thị Nại trong lịch sử.

- Thành An Thành: Trong lịch sử thành này mang các tên khác nhau như: thành Chas, Thành Bắc, Thành Cư… nhưng hiện nay nhân dân vẫn quen gọi là thành Chas, một tên gọi ít được ghi chép lại trong thư tịch.

Cũng như thành Thị Nại, thành An Thành xuất hiện khá sớm và là một trong những trung tâm chính trị văn hóa của châu Vijaya trước khi châu này trở thành trung tâm của vương quốc Chămpa.

Thế kỷ XI khi nhà nước Chămpa dời đô về châu Vijaya, thành từ vị trí là trung tâm của một châu trở thành vị trí kinh đô của vương triều Vijaya trong một thời gian khá dài, và chỉ mất vai trò này khi kinh đô Chà Bàn được xây dựng xong.

Trước đây khi nghiên cứu thành An Thành các nhà nghiên cứu cho rằng giai đoạn đầu khi mới dời đô về Vijaya có khả năng thành được sử dụng làm kinh đô. Tài liệu lịch sử cho thấy, ngay từ khi nhà nước Chămpa dời đô về Vijaya, năm 1044 nhà Lý đã đưa quân vào toà thành này “Vua nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ bên nam sông Ngũ Bồ muốn chống lại quân quan. Vua xuống chiếu cho quân bỏ thuyền lên bộ, đem quân sĩ đến bờ sông bên bắc, thấy quân Chiêm thành đã dàn ở bên sông. Vua mới bắt quân sĩ dựng cờ nổi trống sang tắt ngang để đánh… Vua đem quân vào thành Phật Thệ. Sai sứ đi khắp hương ấp phủ dụ nhân dân”(Ngô Sĩ Liên; 1985:223).

Sau đó, 1069, Nhà Lý lại đưa quân vào Phật Thệ “Ngày Bính Ngọ đến cửa biển Thi li bi nại (Cribonei)… đại quân tiến lên bờ sông Tu Mao… Đêm hôm đó vua dẫn quân đến thành Phật Thệ (Vijaya) tới bến sông Đồng La người Phật Thệ ra hàng… Vua sai kiểm tất cả các nhà trong và ngoài thành Phật Thệ cả thảy 2560 khu (Việt sử lược).

Đến thế kỷ XII, năm 1145, vua Khmer là Suryavarman đánh chiếm thành Vijaya và làm chủ nước Chămpa. Cuộc chiến tranh Khmer - Chămpa kéo dài gần 100 năm, đến năm 1220, vua Chămpa Jaya Paramecvaravarman II lên ngôi nhưng 6 năm sau (1226), ông mới cho xây dựng cung điện, đền đài ở Cirivijaya và cho dựng ngay tượng các thần… đưa dân về thành phố xây dựng cung điện, tu bổ đền đài…    (G. Maspéro 1928)1 . Như vậy, trong giai đoạn thế kỷ XI-XII, kinh thành Vijaya bị chiến tranh chà xát nhiều lần sau đó mới cho xây dựng lại.

Từ những cứ liệu như trên, chúng ta có thể cho rằng thành An Thành trước là thủ phủ của một châu nhưng thế kỷ XI-XII, khi nhà nước Chămpa dời đô về châu Vijaya, An Thành trở thành kinh đô của nhà nước Chămpa trong buổi đầu. Dù trong những thế kỷ ấy lịch sử Chămpa liên tục biến động nhưng theo các nhà nghiên cứu thì các vua Chămpa vẫn đóng đô ở đó, phải đến đầu thế kỷ XIII, với sự xuất hiện của điều kiện lịch sử mới, kinh thành Vijaya mới dời khỏi An Thành đến địa điểm khác. Từ sau khi mất vai trò kinh đô, thành An Thành hầu như ít được đầu tư tu sửa, nhưng nó vẫn tồn tại trong vương triều Vijaya suốt 3 thế kỷ tiếp theo trên vùng đất Vijaya.   

          - Thành Đồ Bàn: Thành Đồ Bàn được các sử gia từ xưa đến nay gọi đúng chức năng của nó là kinh đô Vijaya. Sử sách chép về toà thành này khá nhiều, khảo tả tỉ mỉ dù sau vài thế kỷ Đồ Bàn bị bỏ hoang phế và bị một lớp thành sau phủ lên (thành Hoàng Đế).

Các số đo kích thước thành Đồ Bàn ghi trong sử cũ như: Thành vuông mỗi bề dài một dặm. Có 4 cửa Chu vi rộng hơn 10 dặm có tháp đá để hộ vệ đến “chu vi 30 dặm trong thành có tháp cổ”2 những tư liệu ghi chép trước sau khiến cho ta khó hình dung được diện mạo ban đầu của thành Đồ Bàn.

Về địa thế, thành Đồ Bàn được xây dựng ở phía bắc thị trấn Đập Đá có một nhánh tách từ sông Côn chảy ra biển, con sông Quai Vạc chắn mặt bắc của thành là do Nguyễn Nhạc sai đào vào thế kỷ XVIII  khi ông tận dụng thành này làm kinh đô của mình. Từ Thị Nại theo đường sông không tiếp cận được thành Đồ Bàn, do vậy ghi chép trong Việt sử lược hình như không phù hợp với vị trí của thành Đồ Bàn hiện nay.

Sau cuộc chiến tranh quyết liệt kéo dài 100 năm với đế quốc Khmer, nạn xâm lược từ phía nam nổi lên mang tính bức xúc mà An Thành cũ khó đóng vai trò chống đỡ được những cuộc xâm lăng bên ngoài. Đó là những lý do khiến cho nhà nước Chămpa dời đô về Đồ Bàn để xây dựng một kinh thành mới. Thêm nữa sang thế kỷ XIII, nhà nước Chămpa bắt đầu giai đoạn phục hưng và bắt đầu phát triển.

Cuối thế kỷ XIII (1282), quân Nguyên xâm lược Chămpa, sau khi phá thành Thị Nại, hai ngày sau “Toa Đô chấn chỉnh quân ngũ tiến đánh Đại Châu tức kinh đô Vijaya của Chiêm Thành” (Hà Văn Tấn - Phan Thị Tâm, 1975) nhưng kinh thành bỏ trống “Toa Đô lại kéo quân ra ngoại thành Vijaya”.

Vào thế kỷ XV, nhà Lê mở các cuộc tiến quân vào Chămpa (1446-1471). Sau khi tiến quân đánh Thị Nại, tiếp tục đánh Chà Bàn “Ngày 27 (tháng 2), Vua tự mình đem đại quân đánh phá thành Thị Nại… Ngày 28 vua tiến vây thành Chà Bàn. Ngày 29 tiến sát chân thành. Ngày 1 tháng 3 hạ được thành Chà Bàn” (Ngô Sĩ Liên; 1985: 450). Những tư liệu ghi chép trên so sánh với thực tế hiện nay thì kinh thành Vijaya (Đồ Bàn) không có sông và hào bao quanh, ngoại thành không có chỗ đất cao đóng quân được. Như vậy, địa hình này không thể là thành An Thành mà chính là thành Đồ Bàn và cũng khớp với thư tịch ghi chép trong Thiên nam chí lộ đồ thư; Đồ Bàn thành Ký hay Đại Nam nhất thống chí.

Những tư liệu vật chất thu được qua khảo cổ học ở thành Đồ Bàn đều có niên đại muộn trong nghệ thuật Chămpa. Phần lớn di vật thuộc giai đoạn tháp Mẫm (TK XIII -XIV). Tháp Mẫm gần như tương ứng với Vijaya là thủ đô vào thời kỳ đó (Boissellier 1963). Các tác phẩm nghệ thuật ở đây có mặt xuyên suốt trong tiến trình lịch sử Vijaya, từ những dấu ấn còn phảng phất của phong cách Trà Kiệu (Quảng Nam) muộn, hay ẩn chứa kế thừa nhiều nét của phong cách Chánh Lộ (Quảng Ngãi), những tác phẩm điển hình của phong cách nghệ thuật giai đoạn tháp Mẫm đã góp mặt chứng minh cho diện mạo của Đồ Bàn trong lịch sử. Với chức năng là trung tâm tôn giáo giai đoạn đầu và là kinh đô kiêm trung tâm tôn giáo giai đoạn sau, kinh đô (Đồ Bàn) do điều kiện lịch sử đã phá vỡ mô hình 3 trung tâm giai đoạn trước (trước thế kỷ X) chuyển sang mô hình mới (kinh đô kiêm trung tâm tôn giáo). Mô hình này làm tiền đề cho những giai đoạn sau khi kinh thành vương quốc Chămpa dịch dần về phía nam.

Việc nghiên cứu chức năng các toà thành trong lịch sử Vijaya với chiều dài 5 thế kỷ hẳn còn nhiều câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứu. Trên địa bàn không rộng lắm, đã có mặt 3 tòa thành cổ với quy mô lớn, và một số thành nhỏ. Đáng tiếc là việc tìm hiểu và nghiên cứu các thành cổ Chămpa trên đất Bình Định mới chỉ tiến hành được các bước khảo sát, ngoài xác định vai trò về mặt quân sự của thành này trong lịch sử, chưa tìm hiểu hết những dấu vết kiến trúc trong thành, các trung tâm kinh tế cũng chưa được tìm hiểu. Vấn đề thành vẫn còn đang là công việc của tương lai.

* Tháp cổ:

Tháp là một dạng kiến trúc tôn giáo mang bản sắc rất riêng của dân tộc Chămpa, theo các sử liệu thì trong quá trình trị vì đất nước, các triều đại Chămpa đã cho xây dựng khá nhiều đền đài, trải qua nhiều thời gian đấu tranh tồn tại, cộng với sự tàn phá của thiên nhiên, con người, cho đến nay trên vùng cư trú xưa của họ chỉ còn lại một số dạng kiến trúc đền đài đó. So với một số địa phương khác trong dải đất miền Trung, Bình Định là một trong những nơi còn để lại khá nhiều dấu tích của nền văn hóa đó. Với 8 cụm di tích tháp trên tổng số 14 tháp quả là một con số khá lý tưởng cho những nhà nghiên cứu khi tìm hiểu vùng Vijaya xưa và Bình Định sau này.

Về tháp Chàm trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara, một dạng kiến trúc tiêu biểu cho đạo Bà-la-môn.

Từ Sikhara có nghĩa là đỉnh nhọn, đỉnh núi nhọn, biểu thị cho núi Mêru trong Bà-la-môn giáo. Núi Meru là núi thần thoại có nhiều đỉnh cao thấp khác nhau. Vị thần tối cao ngự trên đỉnh cao nhất. Các vị thần khác tùy theo bậc cao thấp khác nhau mà ngự trị ở những đỉnh núi thấp hơn trên cùng một dãy Mêru. Núi Meru được biểu hiện thành kiến trúc Sikhara, người Chàm gọi là kalan, có nghĩa là đền thờ. Đúng ra kalan Chàm chứ không phải là tháp Chàm. Nhưng do người ta quen gọi tháp Chàm, đồng thời từ tháp đã trở thành một thuật ngữ  kiến trúc chỉ loại hình cao tầng đế nhỏ, cho nên chúng tôi vẫn dùng từ tháp khi dùng cho loại hình kiến trúc này.

Sau khi chuyển dời kinh đô về Bình Định vào đầu thế kỷ XI, trong kiến trúc tôn giáo của người Chămpa so với phong cách trước cũng có sự biến đổi, giới nghiên cứu gọi là phong cách Bình Định. Trong kiến trúc thể hiện tính hoành tráng, nhưng trong trang trí lại khá đơn giản không cầu kỳ như giai đoạn trước. Tất cả thành phần kiến trúc đi vào mảng khối là chính, vòm cửa thu vào và vút cao thành hình mũi giáo, các tháp nhỏ trên các tầng như cuộn lại thành khối đậm khỏe, trên mặt tường được tạo các trụ ốp với những đường gờ nổi chạy dọc thân tường tháp, các góc đều được tạo những phiến đá điểm góc cách điệu. Tất cả đều có tác dụng gây ấn tượng hoành tráng từ xa nhìn vào.

Khi định niên đại cho các tháp Chămpa thuộc phong cách Bình Định, P. Stec đã đưa ra một giả định như sau: Phong cách bắt đầu từ tháp Bánh Ít hay còn gọi là tháp Bạc (nửa đầu thế kỷ XII), tháp Dương Long (đầu thế kỷ XIII), tháp Hưng Thạnh (nửa đầu thế kỷ XII), nở rộ ở các tháp Thủ Thiện, Cánh Tiên (hay tháp Đồng), Phú Lốc (hay tháp Vàng) thuộc thế kỷ XIII và bắt đầu suy thoái ở tháp Po Klung Garai-Khánh Hoà (cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV). Sau này J. Boissellier, trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm điêu khắc, đã cho rằng phong cách Bình Định hay tháp Mẫm bắt đầu từ cuối thế kỷ XI và kéo dài tới thế kỷ XIII với thứ tự sau: sau tháp Bánh Ít là tháp Thủ Thiện cùng Cánh Tiên, Phú Lốc, tiếp đó là Dương Long, Nhạn Tháp và kết thúc là Po Klung Garai. Gần đây, sau những phát hiện mới về điêu khắc trang trí kiến trúc, giới nghiên cứu cho rằng tháp Bánh Ít có niên đại đầu thế kỷ XI, còn tháp Phú Lốc, Thủ Thiện và Dương Long có niên đại thế kỷ XII.

Thực tế cho thấy rằng các tháp Chămpa đều được xây dựng theo một tín ngưỡng thống nhất thờ thần Siva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà-la-môn. Siva tượng trưng cho sự sáng tạo và hủy diệt, hai vị thần kia là Visnu tượng trưng cho sự bảo tồn và Brahma tượng trưng cho sự sinh thành, cả ba nằm trong vòng luân chuyển không ngừng. Người Chăm thờ thần Siva là chính, người Khmer thờ thần Visnu là chính. Tín ngưỡng này của người Chămpa được kết hợp với tục thờ tổ tiên của họ tạo thành bản sắc riêng trong đời sống tinh thần của họ.

Kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc Chămpa cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn đối với nhà nghiên cứu. Làm thế nào để ghép tất cả những viên gạch nâu sẫm thành những tháp, tượng, những đài… chính xác và tinh vi đến như vậy? cái gì đã tạo thành sự kết dính của những viên gạch ấy, khiến nó có thể đứng vững hơn một nghìn năm nay và sẽ còn đứng vững lâu hơn  nữa, nếu không bị chiến tranh và sự xâm thực vô thức của con người. Đã có những cuộc hội thảo chuyên sâu về vấn đề này và đã có những câu giải đáp đúng hay chưa đúng cho giả thuyết đưa ra. Nhưng cái kinh ngạc được gieo vào lòng chúng ta thì vẫn còn sống mãi.

Tồn tại trong 5 thế kỷ, trên vùng đất Bình Định xưa người Chămpa đã xây biết bao những kiến trúc tôn giáo hoành tráng. Những gì còn sót lại hôm nay chỉ là một phần nhỏ trong những di sản mà người Chămpa làm ra. Những tháp Chămpa còn lại hôm nay là những viên ngọc quý của nền kiến trúc cổ Việt Nam văn hóa Việt Nam và Đông Nam A.  

          * Điêu khắc cổ

Sau gần 30 năm sau giải phóng cho đến nay, hiện vật điêu khắc Chămpa được phát hiện ngày càng nhiều và đã được đưa về bảo quản tại Bảo tàng Bình Định. Ngoài ra một số khác còn đang được lưu giữ làm vật thờ trong các chùa của người Việt ở An Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn. Các tác phẩm điêu khắc này thể hiện dưới hai dạng đó là phù điêu và tượng tròn.

Về điêu khắc, với những phát hiện lớn khu phế tích trên khu đồi thuộc khu vực vườn nhà ông Mẫm ngoài thành Đồ Bàn (khi khảo sát lại địa điểm này người dân khu vực này cho biết ông chủ vườn tên là Mắm chứ không phải tên Mẫm như trong tư liệu của người Pháp, tuy vậy trong tư liệu chúng tôi vẫn dùng tên cũ cho tiện theo dõi), cho ta thấy cả một phong cách lớn của Chămpa đã được khẳng định, các tác phẩm mang phong cách tháp Mẫm không những nhiều mà còn đa dạng trong đó có tượng, phù điêu, trang trí kiến trúc; có cả điêu khắc Ấn Độ giáo, Phật giáo, tượng thờ, tượng động vật, những hiện vật phát hiện trên được giới nghiên cứu gọi là phong cách tháp Mẫm. Phong cách này bắt đầu từ thế kỷ XI và bừng nở trong thế kỷ XIII với nhiều điêu khắc đẹp. Do hoàn cảnh lịch sử tác đọng trong thời kỳ mà giữa Chămpa và các quốc gia lân cận có nhiều mối quan hệ khá mật thiết. Những mối quan hệ đó đã phản ánh rõ nét trong những tác phẩm điêu khắc. Trong nghệ thuật điêu khắc tháp Mẫm có ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc Đại Việt (thời Lý Trần) như hình tượng rồng, hoa lá, mây trời, và cũng có những ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer (thời Ăngco) và ngược lại nghệ thuật Chămpa cũng có mặt trong nghệ thuật Ăngco, Đại Việt. Từ thế kỷ XIV-XV, điêu khắc Chămpa có phần khô cứng nhưng chắc khỏe đường bệ. Tuy vậy, lịch sử điêu khắc Chămpa là cả một chặng đường luôn vươn tới hoành tráng và sự lột tả thần thái của hình tượng và chủ đề bằng cách tạo ra ấn tượng chính cho từng tác phẩm. Chính điều đó đã làm cho điêu khắc Chămpa có vị trí riêng biệt trong khu vực Đông Nam Á.

Với số lượng 16 tượng tròn và 30 phù điêu với đủ các loại hình khác nhau như: thần, vũ nữ múa, voi, sư tử, thần điểu, rồng, tượng bò, tượng hộ pháp… được phát hiện trong thời gian gần đây cho thấy chúng đều gần với phong cách điêu khắc tháp Mẫm có niên đại từ thế kỷ XII-XIV.

Qua số lượng hiện vật được phát hiện cho thấy các đề tài thể hiện điêu khắc khá phong phú, phản ánh trung thực đời sống tinh thần, cũng như tín ngưỡng của cộng đồng người Chămpa sinh tụ tại Bình Định. Đó là tiếng nói vật chất quan trọng khẳng định vai trò trọng yếu của vùng đất này trong lịch sử Chămpa.

          Từ Sa Huỳnh đến Chămpa, những cư dân tiền sử và sơ sử trên vùng đất Bình Định đã phải vượt qua bao thử thách lao động và sáng tạo không ngừng, hòa hợp với thiên nhiên, cũng như biến đổi cả thân mình, tạo dựng nên những nền văn hoá nổi tiếng từ thời tiền sử và sơ sử. Tiền sử và sơ sử là thời kỳ những người lao động không tên, đã làm nên những kỳ tích lớn lao trong buổi bình minh của dân tộc. Trải qua mấy nghìn năm, cư dân cổ Sa Huỳnh và cư dân Chămpa tiếp nối sau đó trên vùng đất Bình Định đều có một đặc điểm chung là thích nghi với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý và đất đai, khí hậu thời tiết, biến cải không ngừng để tồn tại và không ngừng phát triển. Cũng chính vì vậy, từ một vùng đất khô cằn, qua lao động cần cù của bao thế hệ Bình Định đã trở thành vùng đất “Nhân dân đông, phẩm vật nhiều, thuyền xe tụ tập, buôn bán đông vui, trong ngoài sông núi bao vây, đánh hay giữ hai đường đều tiện, thật là vùng xung yếu tả kỳ”.

Thời tiền sử và sơ sử luôn giữ một vị trí quan trọng đối với vùng đất Bình Định. Trên cơ sở những tư liệu và kết quả tổng hợp nghiên cứu trong nhiều năm của nhiều tác giả trong và ngoài nước, bước đầu được tập hợp trình bày theo trình tự thời gian; xem đây như những mốc đánh dấu một chặng đường nghiên cứu, lấy điểm xuất phát cho các chặng đường nghiên cứu tiếp theo về một thời kỳ rực rỡ của văn hoá Sa Huỳnh và văn hoá Chămpa.

 

 



1 Nguyễn Tri tồn tập, KHXH, Dư địa chí, phần chú thích, tr. 462-463.

1 Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB. KHXH, 1975, tr. 131.

1 G.Maspéro, Vương quốc Chăm, Paris, Bruxelle, 1928, Tư liệu Viện KCH

2 Con số 30 dặm là không chính xác