I. BÌNH ĐỊNH THỜI SA HUỲNH
1. Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Khác với Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ở Nam Trung Bộ, loại hình di tích đá cũ vẫn chưa được tìm thấy, mà mới chỉ phát hiện được các di tích đá mới tiếp sau văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, nhưng cũng rất ít. Cho đến nay mới chỉ phát hiện và khai quật được một di chỉ duy nhất thuộc giai đoạn này ở ven biển tỉnh Quảng Nam. Bình Định cũng là tỉnh nằm trong dải đất Nam Trung Bộ, nhưng cũng chưa thấy có di tích nào thuộc giai đoạn sơ kỳ đá mới, mà mới chỉ phát hiện được di tích ở giai đoạn hậu kỳ đá mới và những hiện vật mang đặc trưng của giai đoạn này là một vài chiếc rìu bôn phát hiện được một cách ngẫu nhiên ở khu vực Hoài Nhơn và Vân Canh, phát hiện này chưa được thẩm định nghiên cứu. Cho nên, có thể nói văn hóa thời tiền sử và sơ sử Bình Định chỉ, có từ giai đoạn sơ kỳ đến hậu kỳ trong giai đoạn kim khí. Đại diện cho nền văn hóa trong giai đoạn này là “Văn hoá Sa Huỳnh”.
Văn hoá Sa Huỳnh là một nền văn hóa được biết đến khá sớm ở Việt Nam và Đông Nam Á. Có thể chia ra hai giai đoạn nghiên cứu chính về văn hóa này, đó là:
a. Giai đoạn trước năm 1975.
Trong niên giám 1909 của Trường Viễn Đông Bác Cổ, những thông tin nói về phát hiện “một kho chum khoảng 200 chiếc nằm cách mặt đất không sâu, trong cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)”. Tác giả bản thông báo này là Vinet đã dùng từ “kho” để diễn tả nhóm di tích này (Vinet 1909; 123). Năm 1923, được sự bảo trợ của Trường Viễn Đông Bác Cổ, Labarre đã tiến hành các cuộc khai quật tại Sa Huỳnh, nhằm tìm kiếm hiện vật trong các kho chum. Tài liệu công bố này của Labarre hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, sau này được Parmentier giới thiệu trong một bài báo ngắn1 (Parmentier 1924). Năm 1914, Colani được Trường Viễn Đông Bác Cổ phái tới Sa Huỳnh. Tại địa điểm Thạnh Đức, Colani tìm thấy 55 mộ chum gốm và ở Phú Khương 187 chum, Colani còn phát hiện thêm 3 khu mộ chum mà qua phúc tra cũng cho ta biết rằng đó là các địa điểm Động Cườm và Bà Ná, đồng thời, Colani còn được nhân dân cho biết thêm hai địa điểm nữa ở Đông Phù và Phú Nhuận (Colani 1935 a, b, 1937).2
Năm 1935, Colani tới Quảng Bình đã phát hiện thêm mộ chum nữa ở Cương Hà và Cổ Giang (Colani 1936; 138). Năm 1939, nhà khảo cổ học Thụy Điển O.Jansé lại khai quật ở Sa Huỳnh và phát hiện 84 mộ chum ở Phú Khương. Hiện vật này bị lấy đi và báo cáo khoa học thì không được công bố. Về hoạt động của O.Jansé ở Sa Huỳnh, chúng ta chỉ nhận được qua bài thông báo ngắn3
Năm 1951, Maleret đã đến khảo sát và đào thám sát ở Sa Huỳnh nhưng không thu được kết quả gì mới. Năm 1939, ông cho công bố bài viết “Một vài đồ gốm Sa Huỳnh trong mối tương quan với các di chỉ khác ở Đông Nam Á” (Maleret 1959). Trong thập kỷ 60 và đầu 70, những đóng góp của Saurin và Fontaine đã nâng nhận thức về văn hoá Sa Huỳnh lên một bước mới. Năm 1966, Saurin công bố tiếp phát hiện địa điểm Hàng Gòn (Đồng Nai)4. Năm 1972, Fontaine công bố phát hiện một cánh đồng chum mới ở Phú Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai. Năm 1973, Fontaine và Hoàng Thị Thân công bố tiếp một ghi chú mới về khu mộ Phú Hòa5. Những phát hiện mới ở khu vực sông Đồng Nai đã mở rộng địa bàn phân bố văn hóa Sa Huỳnh.
Tóm lại, thời kỳ nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh ở Việt Nam từ 1909 đến 1975 của các học giả nước ngoài đã đóng góp nhất định trong nhận thức chung về nền văn hóa này.
b. Giai đoạn sau năm 1975.
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, đã đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh. Các cuộc điều tra, thám sát tại các địa điểm đã biết trước kia được tăng cường hơn. Hàng loạt cuộc điều tra, thám sát, trên nhiều địa bàn khác nhau như Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận… đã bổ sung nhận thức về văn hóa Sa Huỳnh lên một bước mới, toàn diện và sâu sắc hơn.
Năm 1976 và 1977, tại khu vực Sa Huỳnh xã Phổ Thạnh huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi, Viện Khảo cổ và Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh đã có hai cuộc điều tra thám sát tại khu vực này (Đào Linh Côn 1976, Nguyễn Thành Trai, Trịnh Dương 1978).
Cũng trong năm 1977, Viện Bảo tàng Lịch sử phối hợp với sở Văn hóa thông tin Nghĩa Bình (cũ) khai quật 200m2 tại địa điểm trên gò cát có tên là gò Ma Vương ở thôn Phổ Thạnh II. Đợt khai quật này đã phát hiện một khu cư trú có tầng văn hóa dày 1,8 m, hai lớp đất cách nhau bởi một lớp cát trắng dày 20cm. Trong lớp đất cư trú đã phát hiện được dấu vết còn lại của các chum mà trước đó bị đào phá và 3 mộ chum còn khá nguyên vẹn. Các đợt khai quật tại Sa Huỳnh đã phát hiện được tư liệu có giá trị nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đi trước chưa hề biết.
Năm 1978, di tích Bình Châu thuộc thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được khai quật, phân tích toàn bộ đặc trưng hoa văn gốm, công cụ đá v.v… nhiều tác giả đã xếp di tích này vào hệ thống văn hóa Sa Huỳnh (Đào Linh Côn 1978, Chữ Văn Tần 1978) .
Những năm tiếp theo ở Bình Định, các di tích Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch, thôn Phú Lộc, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ được đào thám sát1. Qua điều tra, những người tham gia khai quật đã có nhận xét đây là nhóm di tích sớm, có niên đại sơ kỳ đồng thau, riêng Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc giai đoạn muộn sơ kỳ sắt.2
Lùi vào phía nam ở các tỉnh Đồng Nai, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, hàng loạt di tích thuộc dạng văn hóa này liên tiếp được phát hiện, khai quật, nghiên cứu và thu được kết quả khả quan. Kết quả nghiên cứu đã được đăng tải rải rác trên tạp chí chuyên ngành và thông báo khoa học hàng năm do Viện Khảo cổ học tổ chức.
Tóm lại, trong 20 năm nghiên cứu về nền văn hóa Sa Huỳnh, đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết ban đầu về cư dân vùng dọc ven biển miền Trung từ Bình Trị Thiên cho đến Đồng Nai, một số địa điểm khác ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên như: Gia Lai, Kon Tum, hay một số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ như: Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước… Đặc biệt đã tìm ra dấu vết cư trú của người Sa Huỳnh mà trong giai đoạn nghiên cứu trước các học giả nước ngoài chưa phát hiện ra.
Dấu vết di tích văn hoá Sa Huỳnh trên đất Bình Định trước năm 1975 có một vài điểm do Colani thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ phát hiện ở Hoài Nhơn vào năm 1934 nhưng tư liệu của bà chưa hề được công bố, và cũng giống như các nơi khác, việc đẩy mạnh nghiên cứu thời tiền sử và sơ sử trên đất Bình Định cũng chỉ mới đạt được từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay. Hàng loạt di tích được khảo sát đào thám sát đã cho ta thấy cả một không gian rộng của thời kỳ tiền sử và sơ sử ở Bình Định.
Không chỉ những dấu tích văn hoá Sa Huỳnh mà gần đây những di vật của văn hoá Đông Sơn cũng đã được phát hiện. Trong những năm 1977-1999, trên đất Bình Định, 14 trống đồng Đông Sơn loại I đã được phát hiện cùng với đồ tùy táng chôn theo ngoài khuyên tai hình vành khăn, còn có một số lượng lớn gốm thô dạng mảnh, mang đậm nét của phong cách văn hóa Sa Huỳnh, là chứng cứ cho ta có thể khẳng định từ trước Công nguyên, người Sa Huỳnh đã có sự giao thương với người Đông Sơn ở phía bắc và người Đồng Nai ở phía nam, hay chăng Bình Định là nơi giao tiếp và hội tụ các dòng chảy văn hóa khác nhau, từ Ấn Độ miền Nam Á đến văn hoá Trung Hoa miền Đông Á.
Từ đó, ta có thể nhìn nhận Bình Định trong giai đoạn tiền sử và sơ sử, trên dọc ven biển, là nơi định cư và sinh sống của cư dân Sa Huỳnh, cùng phát triển trong một khu vực liền khoảnh với Bắc Trung Bộ đến Đông Nam Bộ.
2. Các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định
Từ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, trên vùng đất Bình Định, việc xúc tiến nghiên cứu các nền văn hóa cổ xưa được đẩy mạnh, đã đem lại nhiều kết quả khả quan. Năm 1977, tại địa điểm Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc xã Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ; Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp, thành phố Quy Nhơn, các di tích đã được phát hiện này trong những năm 1977-1978, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. Năm 2001, các di tích thuộc bắc Hoài Nhơn đã được Bảo tàng Bình Định tiến hành khảo sát đào thám sát, các ghi nhận bước đầu của những người tham gia khai quật, khảo sát, phần nào đã hé mở cho ta thấy cả bề dày và bề rộng của không gian lịch sử Bình Định.
- Di tích Động Cườm
Động Cườm là một đồi cát lớn khoảng chừng 5000-6000 ha, trước đây thuộc thôn Tăng Long, Tam Quan, trong quá trình chuyển đổi, xã Tam Quan chia ra thành ba xã gồm Tam Quan, Tam Quan Bắc và Tam Quan Nam. Khu vực Động Cườm chọn điểm đào thám sát thuộc thôn Tăng Long 2, xã Tam Quan Nam, huyện Hoài Nhơn.
Dấu tích văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực Hoài Nhơn đã được Colani (học giả Pháp) thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ tiến hành khảo sát và khai quật năm 1934. Qua nhật ký của bà ghi chép thì ở Hoài Nhơn có các điểm Động Cườm (Tăng Long 2-Tam Quan Nam), Phú Nhuận, động Bàu Năng (Năn) làng Ca Công (Hoài Hương) và động Công Lương (Hoài Mỹ). Ngoài ra còn có Bà Ná, Đông Phù.
Theo tư liệu công bố của bà tại Hội nghị Viễn Đông tổ chức tại Manila (Philippines) năm 1935 thì tại Hoài Nhơn bà đã khai quật hai điểm, đó là Động Cườm (Đồng Cườm) và động Bàu Năng (Ca Công). Theo đánh giá của bà, đây là khu di tích mộ chum phong phú và có giá trị về mặt nghiên cứu.
Di tích Động Cườm - Tăng Long 2 được Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đào thám sát vào cuối tháng 10 đến tuần đầu tháng 11.2001
Hiện vật thu được trong 2 hố đào thám sát. Đây là những đồ tùy táng chôn theo trong mộ trong đó có 23 hiện vật nguyên, bao gồm: nồi, bát đồng, dao găm, kiếm, dọi xe sợi. Không tìm thấy hiện vật đá.
Số mảnh là 134.400 mảnh các loại bao gồm mảnh các loại hình như thân, nắp, mảnh nồi, mảnh miệng…
Qua bước đào thám sát tại Động Cườm, thôn Tăng Long 2, xã Tam Quan Nam và từ kết quả thu được sau đợt đào thám sát đã khẳng định Động Cườm là một khu mộ táng và có thể là cả nơi cư trú của cư dân Sa Huỳnh, một khu di tích rất có giá trị nghiên cứu về những cư dân tiền sử trên đất Bình Định.
- Về mộ: Tại đồi Động Cườm đã phát hiện được 6 mộ, trong đó có 2 mộ còn đồ tùy táng có giá trị nghiên cứu, 4 mộ đã bị đào phá từ trước, không còn đồ tùy táng. Những gì còn lại trong từng ngôi mộ của hố số 1 mà chúng tôi đã xử lý, bước đầu có thể ghi nhận là: Mộ Động Cườm là dạng mộ chum (cũng có tư liệu gọi là mộ vò) với hai kiểu dáng: dáng thân hình bầu tròn, miệng bẻ loe xiên, hoa văn thừng lớn dạng biến thể; và một loại mộ thân hình trụ, đáy bầu tròn, vai hơi bóp vào, miệng bẻ loe xiên, dày, hoa văn trang trí là loại văn thừng nhỏ. Nắp đậy hình nón cụt, miệng bẻ loe, thành hơi bóp, vành vê tròn rồi bẻ loe ra ngoài. Bên ngoài phía trên trang trí hoa văn khắc vạch, mô típ hình thoi cách điệu.
Cách táng tục: Giống như một số di tích mà các nơi đã khai quật, đó là mộ được chôn thẳng hàng với nhau, khoảng cách từ 20-35cm. Sự táng tục thành cụm là sự thể hiẹn dấu vết của tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tính cộng đồng của cư dân Sa Huỳnh trong khi sống và đến lúc chết.
Qua những đồ vật chôn theo trong các mộ chum, ta có thể cảm nhận được thân phận của từng chủ nhân trong từng ngôi mộ. Mặt khác, những hiện vật như nồi nấu, dọi xe sợi đã phản ánh một thực tế đó là: cư dân Động Cườm là cư dân nông nghiệp, đã biết sản xuất, đánh bắt hải sản, xe sợi, đan lưới, dệt vải v.v…
Màu sắc và hoa văn trang trí trên đồ gốm vẫn theo lối truyền thống, đó là gốm tô đỏ màu thổ hoàng và hoa văn tô đen màu chì. Hoa văn trang trí chủ đạo vẫn là kiểu in mép vỏ sò, một ít trang trí theo lối khắc vạch, kiểu trang trí này được thể hiện ở một vài hiện vật như bát bồng miệng bóp và nắp đậy vò mộ.
Đồ án trang trí theo vành tròn, mảng chéo, thẳng đứng, không thấy xuất hiện hoa văn hình sóng nước.
Không thấy xuất hiện đồ đá mà chỉ thấy một vài hiện vật bằng sắt như kiếm, dao găm v.v...
Tầng văn hóa: Quan sát màu sắc các lớp đất thể hiện trên vách hố đào thám sát, chúng tôi cho rằng, cư dân Động Cườm sống và chôn ngay trong tầng văn hóa.
Tầng văn hóa có 2 lớp liền nhau, không cách quãng, chứng tỏ Động Cườm rất có thể là nơi định cư lâu dài và liên tục chứ không phải theo mùa1.
Tuy nhiên để chứng minh cho luận điểm này cần phải kiểm tra thêm khi có khai quật lớn tại khu di tích.
- Di tích Truông Xe
Nằm trên một cồn cát cao từ 7-10m so với mặt ruộng chung quanh, cồn cát này nằm sát ven đầm nước ngọt có tên là đầm Châu Trúc thuộc thôn Phú Lộc xã Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ. Di tích này được phát hiện và đào thám sát năm 1978, tới năm 1982 được khai quật, tại đây đã phát hiện được tầng văn hóa dày 1,3m. Trong tầng văn hóa thu được 1 rìu đá hình răng trâu, 3 rìu tứ giác, bốn đục nhỏ hình lưỡi xòe, 7 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 phác vật đục. Đồng thời, trong hai hố thám sát đã phát hiện 2 mộ vò có dáng hình trứng, và một mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm 2 bình gốm, một nồi minh khí, sau bước khảo sát tại Truông Xe, đoàn đã tiến hành khai quật trên một diện tích 150m2 trong hố khai quật đã phát hiện được 2 vò táng chôn đứng, các vò đều chôn úp vào nhau, tại một hố khác cách khu khai quật 50m, trong hố khai quật đã tìm thấy 1 rìu đá hình chữ nhật, 1 rìu hình răng trâu, 1vòng tay đá và 2 hòn kê (Nguyễn Duy Tỳ 1983).
- Di tích Gò Lồi
Nằm cách di tích Truông Xe 700m về phía đông nam, giáp với bàu nước có tên gọi là Thanh Thủy, thuộc thôn Tư, xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ. Đất ở di tích có màu đen. Qua khảo sát đoàn công tác đã thu được 1 bàn mài, 47 mảnh gốm. Gốm ở đây có màu nâu hoặc xám mốc, độ nung già, xương màu đen pha cát nhỏ. Hoa văn trang trí có khắc vạch, chấm đôi. Các đề tài trang trí thường thể hiện trên vành miệng các hiện vật. Di tích chưa được đào thám sát.
- Di tích Thuận Đạo
Nằm ở bờ cát cao so với mặt ruộng canh tác khoảng 1m, nay là nghĩa trang của dân thuộc phạm vi xóm 2, thôn Thuận Đạo, xã Mỹ Thắng. Hiện vật thu được qua khảo sát không nhiều, chủ yếu dưới dạng gốm mảnh, gốm màu nâu, xương dày pha cát, màu đỏ nhạt, trang trí hoa văn ít. Đồ trang sức tại di tích này thu được một mảnh vòng đeo tay bằng gốm, bên trong phẳng, bên ngoài hình sống trâu.
- Di tích Chánh Trạch
Nằm giữa thôn Thuận Đạo và Tân Phụng thuộc xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ. Di tích nằm sát những khối đá dựng đứng, trong khi khảo sát đoàn công tác đã thu nhặt được 1 bàn mài bằng đá sa thạch đã bị phong hóa thành màu nâu sẫm, ngoài ra còn thu được một số mảnh gốm màu nâu, hoặc xám nhạt, được nung già lửa nên có độ cứng khá cao, xương pha cát mịn. Hoa văn trang trí có loại hình văn chải, khắc vạch, cắt chéo hình ô trám. Theo giới nghiên cứu thì trong 4 di tích được khảo sát trên, hai di tích Truông Xe và Gò Lồi về niên đại thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, hai di tích còn lại là Thuận Đạo và Chánh Trạch thuộc niên đại muộn hơn, sơ kỳ sắt (Phạm Đức Mạnh 1980).
- Di tích Hội Lộc
Vẫn là trên dọc cồn cát ven biển, tại Hội Lộc, (nay thuộc thành phố Quy Nhơn) người ta thấy rải rác nhiều mảnh gốm màu đen xám, người dân ở đây gọi những loại gốm đó là gốm Hời (tức là gốm của người Chàm cổ).
Di tích là một cồn cát dài với diện tích khoảng 6000m2 cách eo Vược 350m về phía đông, cách núi Một chừng 1km về phía tây, thuộc phạm vi khối 8, thôn Hội Lộc. Sau các bước điều tra khảo sát, đoàn công tác đã tiến hành mở hố đào thám sát.
Hố thứ nhất diện tích đào 3m2 và hố thứ hai 1m2. Ở di tích này tầng văn hóa chỉ dày 15cm đến 35cm màu xám nhạt, bên trong có lẫn ít tro than ẩm mịn, ở độ sâu từ 15-35cm thu được một mảnh bàn mài xám nhạt, 24 mảnh cuội vỡ, 500 mảnh gốm các loại. Sau khi phân loại, thấy gốm là những loại bình, vò, nồi. Gốm có xương màu đỏ nhạt, nâu xám, trắng xám, hoa văn không rõ nét.
- Di tích núi Ngang
Nằm cạnh trái núi nhỏ hẹp khá bằng phẳng, cách đầm Thị Nại khoảng 400m về phía tây và cách địa điểm Hội Lộc khoảng 200m về phía nam; cũng thuộc phạm vi thôn Hội Lộc trước đây, hiện tại cát phủ dày trên sườn núi. Khảo sát trên bề mặt thu được 15 mảnh gốm vỡ, là loại gốm thô, gốm màu nâu xám, nâu nhạt, xương màu đen, pha nhiều cát, độ cứng thấp. Di tích chưa được đào thám sát.
Nhìn chung, tại các địa điểm Hội Lộc, Núi Ngang tầng văn hoá mỏng, có thể thời gian ở và định cư của cư dân trên vùng đất này không dài, có khi là theo mùa, nhưng có khi do sự bào mòn của thiên nhiên trong những mùa mưa bão.Về hiện vật, trong những mảnh gốm thu được, cho thấy các vò gốm ở Hội Lộc là những vò nhỏ, không thấy vò kiểu loại hình trứng dùng làm quan tài hỏa táng, mà chỉ là những mảnh dạng bình, vò, nồi có nắp đậy, loại hình hiện vật xuất hiện trong giai đoạn muộn.
- Di tích Đồi Điệp
Thuộc thôn Hội Bình, xóm Hội Giáo, xã Hội Lộc, thành phố Quy Nhơn, tại đây trong khi canh tác nhân dân đã bắt gặp một lớp vỏ sò điệp dày 2m, di tích được khảo sát năm 1997. Tuy chưa được đào thám sát, nhưng do sự xói lở của tự nhiên, chúng tôi cho rằng có thể có sự hoạt động của con người ở đây. Theo những người dân cho biết, trong vùng này chỉ có nơi đây có mà thôi không có nơi nào có cả.Việc xác định có phải đó là thức ăn do người xưa bỏ lại hay không còn phải tiếp tục nghiên cứu, bởi trong các di tích khảo cổ học Bàu Tró (Quảng Bình) và Quỳnh Văn (Nghệ An) đã bắt gặp loại hình di tích như vậy. Loại hình di tích như Đồi Điệp cần phải được tiếp tục nghiên cứu khi có điều kiện.
Cách Đồi Điệp khoảng 300m về phía đông, dưới một di tích bằng gạch Chăm, cũng thấy xuất hiện nhiều vỏ sò điệp như đã thấy ở đồi Điệp. Sự tồn nghi là lẽ dĩ nhiên đối với những người làm nghiên cứu, nhưng với những vỏ sò điệp ở trên một vị trí cao như vậy, rất có thể phải có sự tham gia của con người.
Ngoài những di tích mang sắc thái, đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh, Bình Định là vùng đất nằm giữa trục Bắc Nam cho nên được xem là nơi hội tụ các luồng văn hóa khác nhau, Đông Sơn ở bắc, Phù Nam, Chân Lạp ở nam, cho nên trên mảnh đất này, không chỉ riêng văn hóa Sa Huỳnh như đã thấy, mà còn tìm thấy cả dấu vết của văn hóa Đông Sơn. Những phát hiện ngày càng nhiều trống đồng Đông Sơn, di vật mang sắc thái nền văn hóa này đã chứng minh cho điều đó. Cho đến nay, trên vùng đất Bình Định đã phát hiện được 14 trống đồng Đông Sơn loại I. Tuy chỉ là những phát hiện một cách ngẫu nhiên, nhưng sự có mặt của những hiện vật này trên đất Bình Định là chứng cứ không thể phủ nhận về mối quan hệ giao lưu trao đổi giữa cư dân Sa Huỳnh và Đông Sơn trong quá khứ.
3. Đặc điểm cư trú
Nhìn trên bản đồ phân bố, chúng ta nhận thấy hầu hết các di tích văn hóa Sa Huỳnh đều phân bố chủ yếu dọc ven biển từ miền Trung vào tận Đồng Nai, một số ít ở Tây Nguyên. Các di tích tìm thấy ven biển, thường trên các đồi cát biển và cát núi, thỉnh thoảng cũng bắt gặp các khu mộ táng phân bố ở gần các dòng sông đổ ra biển hoặc trên đảo cát nhỏ gần hồ do các dòng hải lưu tạo nên. Những phát hiện trong những năm gần đây còn cho biết thêm một loại hình Sa Huỳnh núi nằm cách xa biển.
Cùng trong một mẫu số chung ấy, cư dân Sa Huỳnh trên vùng đất Bình Định khi chọn nơi định cư sinh sống cũng không nằm ngoài quy luật. Những di tích được biết cho đến hiện nay nhìn chung được phân bố tương đối dàn trải từ Bắc đến Nam tỉnh. Điểm đầu tiên phát hiện được là Tân Long và Gò Tháp thuộc Tam Quan Nam huyện Hoài Nhơn, về địa lý thì đây là vùng đất tiếp giáp với Long Thạnh (Quảng Ngãi), lùi sâu vào trong phía nam huyện sát với Hoài Nhơn là Phù Mỹ lại phát hiện di tích Truông Xe, Gò Lồi, Chánh Trạch thuộc Mỹ Thắng và Mỹ Lộc. Tại Truông Xe đã tìm thấy di tích cư trú với tầng văn hóa dày 1,3m, vùng này xét dưới góc độ cảnh quan địa lý thì khá giống Long Thạnh (Quảng Ngãi), bởi vùng này cũng một bên là biển, một bên là bàu nước ngọt, thuận lợi cho đánh bắt hải sản và đảm bảo cho một cuộc sống lâu dài hàng nghìn năm liên tục. Cũng tại đây có những di tích như Thuận Đạo, Chánh Trạch, thì tầng văn hóa lại mỏng chỉ dao động trong từ 15-35cm. Thực tế này có ý kiến giới khảo cổ thường cho rằng thời gian định cư sinh sống ngắn hơn nơi có tầng văn hóa dày, và kết luận đó là dấu vết định cư theo mùa. Quan điểm này chỉ đúng một phần, trường hợp di tích mang đặc thù biển như di tích Sa Huỳnh có thể là chưa đúng, bởi vì đã là biển không phải khi nào cũng bình yên, khi mùa mưa bão, sóng to gió lớn có thể cuốn đi tất cả, và tất nhiên những gì còn lại trên đó cũng bị cuốn trôi. Những cư dân sống trên vùng đất đó cũng bị chịu số phận, công việc lại phải bắt tay xây dựng từ đầu, cho nên tầng văn hóa những nơi đó có thể mỏng, nhưng vẫn xem là phát triển liên tục không ngắt quãng. Tuy nhiên phần lớn những di tích có tầng văn hoá mỏng thường là những nơi thời gian định cư ngắn.
Những di tích ven đầm Thị Nại thuộc Tuy Phước và Quy Nhơn, vẫn mang nặng yếu tố biển trong cư trú và mộ táng. Ngoài những di tích mang đậm yếu tố biển, một vài phát hiện đơn lẻ ở Vân Canh, Hoài Sơn (Hoài Nhơn) là những di tích xa biển, các nhà nghiên cứu cho đó là những di tích mang sắc thái núi trong văn hóa.
Với những di tích phân bố trên các vùng khác nhau của văn hoá Sa Huỳnh, đã tạo trong văn hoá Sa Huỳnh một sự đa sắc văn hóa trong khối nền chung.
Từ các di tích được phát hiện, có thể nhận thấy, cư dân Sa Huỳnh trong quá trình vận động đã chiếm lĩnh, hòa điệu, biến cải môi trường sống với thế đứng trước mặt là biển khơi, phía sau là dải đồng bằng trước núi và xa hơn là dãy núi điệp trùng, đã trải qua hàng ngàn năm vật lộn với sóng biển và bão cát, khác nhau về độ cao và quy mô, có xu hướng chuyển dần vào nội địa.
Khác với những di tích được phát hiện trước kia chỉ bao gồm là khu mộ táng, thực ra ở phần lớn các di tích đã biết có khu cư trú liền kề, nhưng do hạn chế về nhận thức và phương pháp của một số nhà nghiên cứu đi trước nên chỉ ghi nhận hiện tượng mộ táng. Hàng loạt các di tích có các khu cư trú dày đã được phát hiện sau khi đất nước thống nhất.
Thực ra trong khu cư trú của người Sa Huỳnh thường kèm theo các khu mộ, trong khu mộ, khi khai quật lại bắt gặp một số mộ muộn chôn ngay trên khu cư trú có giai đoạn sớm. Nhìn chung, trong phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh thì di tích mộ táng chiếm số lượng nhiều hơn. Với người Sa Huỳnh cách thức mai táng dùng vò chum vẫn là nét đặc trưng, ngoài ra vẫn còn tồn tại dạng mộ nồi, vò nhỏ. Về mộ vò cũng đã có sự chuyển biến hình dạng, giai đoạn sau không thấy mộ vò hình trứng của sơ kỳ đồ Đồng, mà phổ biến loại vò hình trụ với nắp đậy hình nón cụt, một loại mộ vò nữa đó là vò hình cầu đáy tròn.
Các địa điểm cư trú của người Sa Huỳnh trên vùng đất Bình Định, các loại mộ vò như đã nói trên cũng đã tìm thấy ở di tích Truông Xe, Gò Lồi, Chánh Trạch, Hội Lộc. Ngoài ra, trong di tích Hội Lộc cũng tìm thấy trong tầng văn hóa một số mảnh nồi vỡ, lẫn lộn bên trong có dấu tro than. Hiện tượng này các nhà nghiên cứu cho rằng đó là dấu tích của một bếp nấu trong khu cư trú.
4. Đặc điểm mộ táng
Cư dân Sa Huỳnh có phong tục mai táng trong vò, chôn trên các cồn cát ven biển, ven sông, gần hoặc ngay trong nơi cư trú. Nhưng hiện nay vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác định đó là tục cải táng hay hỏa táng, chôn nguyên hay chôn từng bộ phận xác. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng: chắc chắn một điều là một bộ phận trong đó dùng để mai táng trẻ em nguyên xác, tức là chôn lần đầu. Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh - Chôn đứng, có nắp đậy, là một trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông Nam Á, đặc biệt là hải đảo Đông Nam Á trong thời đại kim khí.
Trong giai đoạn hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Đồng thau và muộn hơn, mộ vò ở Đông Nam Á có phong cách chôn nguyên và cải táng. Đến giai đoạn Sắt sớm và muộn hơn, tục hỏa táng lan rộng ở Đông Nam Á từ các trung tâm văn minh Trung Quốc, Ấn Độ và vò gốm được dùng rộng rãi để thực hiện nghi lễ này. Trong các mộ táng Sa Huỳnh chưa thấy mộ nào chứa đựng nguyên xương cốt người lớn hoặc xương cốt bị cháy. Việc hỏa táng của các khu mộ Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á cùng thời có thể bị loại trừ.
Tài liệu các khu mộ vò ở Philippines, Triều Tiên, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia... thời đại Đồng thau và Sắt sớm đã nói lên điều này. Dẫu sao các vò táng Sa Huỳnh, kể cả chum lớn, cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn nguyên thi thể người lớn. Việc bố trí đồ tuỳ táng, đặc biệt là đồ gốm cho thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò. Các bình gốm tùy táng được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát, chứng tỏ không có trường hợp chôn người trên các bình gốm tùy táng. Việc không có xương người lớn cũng nói lên điều này. Tuy nhiên, trong các khu mộ Sa Huỳnh không thấy khu mộ nào chôn nguyên xác ngoài việc mai táng trong vò. Do vậy, khả năng cư dân Sa Huỳnh "trả" xác về với thần biển có thể là hợp lý. Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc sống của họ luôn gắn với biển, phụ thuộc vào biển, vì vậy họ tôn thờ thần biển. Đưa người chết về với biển có thể là hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hóa: Con người tự nhiên sinh ra và trở về với tự nhiên (biển). Những ngôi mộ vò trên mặt đất là những mái nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán. Vì vậy, không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà chúng ta thấy các mộ Sa Huỳnh tập trung theo từng nhóm, nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn vào ra. Còn trẻ thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của người lớn, do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú. Quan niệm và tục mai táng này vẫn còn thực hành ở nhiều nơi trên thế giới.1
Vì chưa thể khai quật trên quy mô lớn, nên cũng khó mà đánh giá nhìn nhận hết các loại hình cư trú của người Sa Huỳnh trên vùng đất Bình Định một cách chính xác. Nhưng có thể khẳng định một cách chắc chắn đó là từ hậu kỳ đồ Đồng thau và Sắt sớm Bình Định là nơi định cư và sinh sống của cư dân tiền sử.
Cũng trong giai đoại tiền sử, một loại hình di tích khác mới được phát hiện trên đất Bình Định trong thời gian gần đây, đó là những điểm phát hiện trống đồng Đông Sơn. Sự xuất hiện của trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn đã phản ánh một thực tế, từ sơ kỳ Đồng thau và Sắt sớm, cư dân Sa Huỳnh đã có mối giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông Nam Á, sự tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với các văn hóa rực rỡ trong khu vực kế cận như Đông Sơn (phía bắc) và Dốc Chùa (phía nam) mà còn cả Thái Lan. Đã cho đỉnh cao Sa Huỳnh một mô thức văn hóa đa dạng với sắc thái riêng. Rõ ràng trong mối quan hệ qua lại nhiều chiều của văn hóa Sa Huỳnh ta đã thấy bóng dáng của văn hóa Đông Sơn in đậm trên vùng đất Bình Định.
5. Cuộc sống và cư dân Sa Huỳnh
Khi nhìn nhận về mặt cư trú, giới nghiên cứu gần như đồng nhất với nhau về phạm vi phân bố, nhưng đánh giá về trạng thái kinh tế, xã hội của người Sa Huỳnh cũng còn nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu. Với nguồn tư liệu hiện có chúng tôi thử phác dựng những ý tưởng ban đầu về vấn đề này.
Như chúng ta đã biết, sau khi phát hiện “kho chum” kỳ lạ trong cồn cát ven biển Sa Huỳnh (Đức Phổ - Quảng Ngãi), các học giả phương Tây đã đưa ra nhiều dự đoán về nguồn gốc và bản chất cư trú của người Sa Huỳnh, chẳng hạn, J. Praluski coi Văn hóa Sa Huỳnh là văn minh biển, còn Colani lại giả định văn hóa Sa Huỳnh là văn minh của những người làm ruộng, làm thủ công, có tiếp xúc với văn minh Ấn Độ và Trung Hoa bằng đường biển. Thậm chí, ngay cuối thập kỷ 60 đầu thập kỷ 70, khi E.Saurin và H. Fontaine đã phát hiện được những di tích mộ chum văn hóa Sa Huỳnh ở bậc thềm cao thuộc lưu vực sông Đồng Nai, họ vẫn cho rằng những di tích mộ chum này là ở biển và từ biển vào chôn ở đây.
Như vậy, có một quan niệm hầu như phổ biến trong quan niệm của các học giả phương Tây là vào giai đoạn này cho rằng chủ nhân các di tích mộ chum Sa Huỳnh thuộc đầu thời kỳ sắt và có gắn bó lâu đời với cư dân hải đảo Đông Nam Á. Đại diện cho quan điểm này là nhà khảo cổ học người Mỹ W.G.Solheim II, một chuyên gia về khảo cổ học Đông Nam Á, ông đã liên hệ gốm chum Sa Huỳnh cổ điển (Đức Phổ-Quảng Ngãi) với đồ gốm hang Kalanay (miền Trung Philippines) và đưa ra “truyền thống gốm Sa Huỳnh - Kalanay” ở Đông Nam Á. Solheim đã gắn truyền thống gốm này với nguồn gốc và sự loan truyền của cư dân nói tiếng Malayo-Polynesiens hay Nam Đảo, mà ông gọi là Nusantao, theo ông người Nusantao có quê hương đầu tiên ở vùng quần đảo Indonesia, nam Philippines. Từ khu vực khởi thủy này, người Nusantao có nhiều đợt thiên di vào vùng duyên hải đông nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, và ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam. Trong nhiều đợt thiên di sau này, một bộ phận của họ đã để lại ở đây các di tích “Kho Chum” Sa Huỳnh .
Có thể khẳng định cư dân văn hóa thời đại Kim khí ở Việt Nam là cư dân nông nghiệp, chứng tích khảo cổ học đã nói lên điều đó.Về địa bàn cư trú của người Sa Huỳnh nói chung, Bình Định nói riêng là ven biển, nên cơ tầng kinh tế của người Sa Huỳnh làm nông là chủ yếu trên các khu cư trú của người Sa Huỳnh cũng nằm ven các cửa sông gần biển, các đầm nước ngọt ven biển. Với lớp văn hóa dày 2m như ở Đức Phổ Quảng Ngãi, và trên 1m như ở Truông Xe (Phù Mỹ) chứng tỏ họ đã tụ cư liên tục, ổn định và gắn quyện vào nhau thành một khối cộng đồng. Trong giai đoạn sớm họ đã sử dụng công cụ đá như cuốc, rìu, dao… Nền nông nghiệp dùng cuốc đã chi phối toàn bộ cơ tầng kinh tế của cư dân Sa Huỳnh từ sớm đến muộn. Chỉ khác là giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất, cuốc sắt đã ra đời và tạo nên bước ngoặt lớn trong nông nghiệp. Đồ sắt trong giai đoạn này chủ yếu là công cụ sản xuất như cuốc, thuổng, liềm, dao, rìu. Công cụ bằng đá đã mất hẳn vị trí như trước đây và bóng dáng của chúng không còn in đậm trong nội dung văn hóa giai đoạn này. Trong tầng văn hóa, các hố khai quật các di tích văn hóa Sa Huỳnh cho đến nay chưa tìm thấy hạt lúa nguyên dạng, nhưng trong gốm Sa Huỳnh đã có pha trấu. Rõ ràng lúa là cây lương thực chính. Mặt khác, trên hình vẽ đồ gốm Bình Châu (Bình Sơn-Quảng Ngãi) có hình vẽ cây lúa được thể hiện như một mô típ hoa văn trang trí. Hình bông lúa cũng là một biểu tượng quen thuộc của gốm Sa Huỳnh. Ngoài cây lúa còn có một số cây lương thực khác như khoai, lạc, đậu… mà đất phù sa là loại đất rất thích hợp cho việc canh tác những cây trên. Có thể các loại cây lấy sợi như bông, đay, gai đã được người Sa Huỳnh trồng để lấy sợi dệt vải.Với sự xuất hiện dọi xe chỉ tìm thấy trong hố khai quật đã nói lên sự phát triển nghề thủ công này trong văn hóa Sa Huỳnh.
Ngoài canh tác nông nghiệp, một ngành nghề kinh tế khác được xem phát triển đến trình độ cao của người Sa Huỳnh, đó là: Nghề sản xuất gốm. Các chum gốm lớn, bình, vò có hoa văn thể hiện đẹp, đã chứng tỏ kỹ thuật và óc thẩm mỹ của người Sa Huỳnh khá cao trong việc chế tạo đồ gốm. Nghề thủ công này, không chỉ nhằm đáp ứng đồ dùng trong sinh hoạt thường ngày như: nồi, bình, bát, dĩa, đèn, chum, vại mà gốm được dùng làm quan tài để mai táng người thân “sang thế giới bên kia” nữa.
Đồ gốm có dáng thanh, mềm mại, với thủ pháp trang trí chủ đạo là khắc vạch, những họa tiết đường cong kết hợp với họa tiết văn in mép vỏ sò hay dấu văn thừng và tô màu đỏ, hay màu đen ánh chì thành các băng trang trí trên miệng, vai, thân, hay chân đế gốm hoặc được phủ kín bề mặt gốm. Trong đó tiêu biểu là những chiếc bình lọ hoa duyên dáng và những chiếc bình hình con tiện góc cạnh, vững chãi. Ở giai đoạn muộn đồ gốm vẫn mang đặc trưng truyền thống, nhưng dáng thô, cứng cáp hơn. Hoa văn bớt dần họa tiết đường cong mềm mại, mà tăng họa tiết quy chỉnh. Nhìn chung gốm giai đoạn muộn mang tính thực dụng hơn gốm giai đoạn sớm.
Một hình thái kinh tế khác của người Sa Huỳnh đó là kỹ nghệ luyện kim. Cư dân Sa Huỳnh biết tới kỹ nghệ luyện kim đồng thau khá sớm. Tuy nhiên, sự phát triển của nghề luyện kim đồng thau không thể so sánh được với cư dân Đông Sơn (phía bắc) và Đồng Nai (phía nam). Vì thế, ngoài việc đúc đồng họ đã “nhập” những đồ đồng của Đông Sơn và Đồng Nai vào. Trái lại, nghề rèn sắt của họ lại rất phát triển. Trong tất cả các mộ chum thuộc giai đoạn hậu kỳ đều chôn theo di vật sắt. Ngoài việc rèn sắt, người Sa Huỳnh còn biết đúc gang. Tài liệu khu mộ Đại Lãnh (Quảng Nam) đã phát hiện được những hiện vật này. Đồ sắt Sa Huỳnh không chỉ được dùng tại Sa Huỳnh mà còn được dùng trao đổi, buôn bán với cư dân khác. Các nhà khảo cổ học Philippines đã cho rằng đồ sắt phát hiện trong khu vực này có nguồn gốc từ Sa Huỳnh và có quan hệ mật thiết với Sa Huỳnh1. Chắc chắn đồ sắt Sa Huỳnh bằng việc trao đổi, buôn bán trên biển và đất liền, đã đến nhiều khu vực khác nữa.
Thành tựu lớn của người Sa Huỳnh là biết nấu thủy tinh để làm đồ trang sức như vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi với nhiều kiểu loại, trong đó đặc sắc nhất là khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai ba mấu nhọn. Những khuyên tai này được cư dân Đông Nam Á rất ưa chuộng. Sự có mặt của chúng ở nhiều khu vực khác nhau ở Đông Nam Á đã nói lên điều đó.
Cư dân Sa Huỳnh là người sản xuất ra hàng hóa chính của họ là đồ sắt và đồ thủy tinh, đồ gốm với trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao. Bằng đường bộ, người Sa Huỳnh đã đến Thái Lan,Việt cổ ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bằng đường biển họ đã tới được Philippines, Indonesia, Malaysia… Cũng chính bằng con đường trao đổi người Sa Huỳnh đã mang về những sản phẩm sản xuất từ các nước láng giềng mà họ thích. Với những trống đồng Đông Sơn được phát hiện trên khu vực phân bố cùng với văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà là những chứng cứ sinh động khẳng định cho vấn đề đó.
Như vậy, trên cơ sở hình thái kinh tế nông nghiệp trồng lúa là chính, trong các chặng đường phát triển từ giai đoạn hậu kỳ, cư dân Sa Huỳnh đã biết kết hợp phát triển nghề thủ công và từng bước mở rộng quan hệ giao lưu với cư dân kim khí trong khu vực. Nhờ những nhân tố đó, đặc biệt là sự phát đạt của kỹ nghệ luyện kim sắt, cư dân Sa Huỳnh đã nhanh chóng đạt tới đỉnh cao rực rỡ vào đầu thời đại sắt. Đồng thời, qua đồ tuỳ táng, nhất là sự phong phú đa dạng các loại công cụ sản xuất, vũ khí bằng sắt, đồ trang sức bằng đá quý, bằng thủy tinh, đã cho thấy sức sản xuất của cư dân Sa Huỳnh không kém sức sản xuất của cư dân Đông Sơn. Chắc rằng trong xã hội Sa Huỳnh thời kỳ đó đã xuất hiện một tầng lớp quý tộc có nhiều của cải, giàu đồ trang sức bằng đá quý, bằng thủy tinh. Do vậy, về mặt xã hội, chúng ta có thể cho rằng vào cuối giai đoạn hậu kỳ, cư dân Sa Huỳnh đã bước vào một xã hội có giai cấp và nhà nước sơ khai, có lẽ những cư dân Sa Huỳnh sống trên vùng đất Bình Định là một bộ phận trong nhà nước sơ khai đó.
1 H. Parmentier, Dépôts de jarres Sa huynh (Quảng Ngãi - An Nam). BEFEO Tom IX, Hà Nội, 1924.
2 M. Colani, Le Céramique de Sa huynh, The 2nd congress of Far - Eastern parehistorians, in Manila, 1935.
3 O. Jansé, Some notes on the Sa huynh comples, AP, vol III (1941)
4 E. Saurin, Un site archéologique a Dau giay ( Province Longkhanh, Vietnam), Việt Nam KCH tập san số 4 , Sài Gòn, 1996.
5 H. Fontaine, Noveau Champ de Jarres dans la Province Longkhanh. BESEL, T XL, VII, N0 3 pp 397-486.
1 Nguyễn Duy Tì, Khai quật khảo cổ học Truông Xe (Nghĩa Bình) trong NPHMVKCH, Hà Nội, 1982. tr. 140-142.
2 Phạm Đức Mạnh, Những phát hiện mới ở Phù Mỹ (Nghĩa Bình) trong NPHMVKCH, Hà Nội, 1979, tr. 152-154.
1 Đinh Bá Hoà - Nguyễn Thanh Quang, Báo cáo đào thám sát Động Cườm, Hoài Nhơn, 2001. Tư liệu BTTH. Bình Định.
1 Hà Văn Tấn, Thời đại Kim khí Việt Nam, tập II, NXB. KHXH. Hà Nội, 1999; tr. 347-348
1 R.B. Fox, The Tabon aves. Monographie of Museum N01, Manila, 1970, pp 112-124