Có một giai đoạn lịch sử hoành tráng tiêu biểu cho khí phách hào hùng của nhân dân, của địa linh Bình Định đó là thời kỳ Tây Sơn (1771-1802). Đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ, đã để lại những thành tựu quan trọng của lịch sử dân tộc Việt Nam thời quân chủ.
I. PHONG TRÀO TÂY SƠN VỚI QUÊ HƯƠNG BÌNH ĐỊNH
1. Khởi nghĩa Tây Sơn
Đàng Trong thế kỷ XVII là nạn nhân của sự bột phát khốc liệt của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Để tồn tại trong thế đối trọng với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phải ra sức mở mang phát triển lãnh thổ và kinh tế. Chiến tranh chấm dứt (1672), Đàng Trong khẳng định được mình qua những thập kỷ lớn mạnh, trưởng thành và thử thách. Các chúa Nguyễn đã thắng khi chặn được quân Trịnh với sức áp đảo từ phía bắc Sông Gianh, thu phục được người Miên, người Hoa để mở cõi về phía nam và đưa dân vào sinh sống, làm ăn ở vùng Đồng Nai, Gia Định. Nhưng các chúa Nguyễn cũng chuẩn bị đương đầu với một nguy cơ mới nảy sinh trong lòng xã hội Đàng Trong, đó là các cuộc khởi nghĩa của người nông dân - vốn là nạn nhân của chế độ phong kiến. Họ là những di dân vào Thuận- Quảng làm ăn nên đã đồng tình với các chúa Nguyễn, đánh Trịnh để bảo vệ quê hương, bảo vệ thành quả lao động và cuộc sống của mình. Sau chiến tranh, các chúa Nguyễn tiếp tục gia tăng cường độ bóc lột qua các chính sách thuế má, phu dịch để xây dựng dinh phủ, nuôi sống bộ máy cai trị; một bộ phận quan chức trở nên nhũng lạm, xa hoa, xã hội với nhiều mâu thuẫn nảy sinh. Phủ Quy Nhơn là một trong những nơi chịu áp bức bóc lột nặng nề nhất. Nông dân, thương nhân, các dân tộc ít người đều căm phẫn tột độ. Năm 1695, một thương nhân ở Quy Nhơn là Quảng Phú đã liên kết với thương nhân ở phủ Quảng Ngãi là Linh Vương mua sắm binh thuyền, vũ khí khởi nghĩa chống chúa Nguyễn. Thế kỷ XVIII, cuộc khởi nghĩa của Lía ở phủ Quy Nhơn đã nói lên một khí thế đấu tranh quyết liệt của người nông dân chống địa chủ và cường quyền áp bức. Đó là khúc nhạc dạo đầu của bản anh hùng ca hoành tráng của các thủ lĩnh nông dân Tây Sơn khi Nguyễn Nhạc đã tụ nghĩa ở đất Tây Sơn với những người có nghĩa khí, chống áp bức đã dấy lên cuộc khởi nghĩa (1771) làm rung chuyển cả cơ đồ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Nguyễn Nhạc đã thành công hơn Lía và các thủ lĩnh nông dân khác ở Đàng Ngoài khi chọn được căn cứ địa ở vùng Tây Sơn thượng đạo an toàn, bí mật, vững chắc, được nhiều tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Nông dân nghèo, hào phú, thương nhân, các dân tộc ít người... ra sức ủng hộ. Nguyễn Nhạc có nghệ thuật thu phục lòng người, có nghĩa cử với dân nghèo nên đã đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi có ý nghĩa trong buổi đầu của phong trào Tây Sơn.
2. Đánh quân Nguyễn, giải phóng Đàng Trong
Mùa thu năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn mở rộng căn cứ xuống vùng Tây Sơn hạ đạo, lấy ấp Kiên Thành, sinh quán các thủ lĩnh Tây Sơn làm đại bản doanh. Năm đó, Nguyễn Nhạc quyết định cho nghĩa quân đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn, nay ở Châu Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn. Nhờ mưu lược của Giáo Hiến, mạo hiểm của Nguyễn Nhạc, sự đồng lòng của các tướng lĩnh và nghĩa quân, Nguyễn Nhạc đã cho nghĩa quân đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên bỏ thành trốn. Nguyễn Nhạc cho nghĩa quân đánh chiếm kho Càn Dương và Đạm Thủy. Phủ Quy Nhơn hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn.
Quân Tây Sơn chọn màu đỏ làm cờ nghĩa, lấy dân nghèo làm lực lượng đấu tranh và mục tiêu phục vụ, lấy công bằng xã hội làm phương châm. Đối tượng cuộc đấu tranh là bọn địa chủ, quan lại bóc lột hà hiếp nhân dân. Quân Tây Sơn đến đâu các hào kiệt đều theo về, dân chúng nô nức hưởng ứng, uy thế ngày mỗi tăng. Tập Đình và Lý Tài là 2 thương gia người Hoa lập binh lực để đánh cướp cũng xin tham gia dưới trướng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc cho đặt 2 đội quân này là Trung nghĩa quân và Hoà nghĩa quân. Một đạo quân dân tộc Bana cũng tham gia chiến đấu. Nữ chúa Thị Hoả cũng về theo, thanh thế Tây Sơn thật lừng lẫy.
Nhằm phân hoá nội tình chúa Nguyễn, quân Tây Sơn tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương để công kích Quốc phó Trương Phúc Loan - tên gian thần mà mọi người đều căm ghét. Trong dân gian lan truyền câu:
"Binh Triều, binh Quốc phó
Binh Ó, binh Hoàng tôn"1
Để chỉ bọn gian tặc, hung ác dưới trướng Trương Phúc Loan.
Nghĩa quân Tây Sơn được mệnh danh là binh lính của Hoàng tôn, với khí thế ra quân nô nức lòng người.
Đầu tháng 11 năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn ra đánh chiếm phủ Quảng Ngãi, quân Triều bị bại, rút ra Quảng Nam, về cố thủ ở thủ Hội An để liệu đường rút ra cửa biển. Quân Tây Sơn tiến ra Hội An, rồi Đà Nẵng. Binh Triều và quân khởi nghĩa đánh nhau nhiều trận vào cuối tháng 12, sau đó, quân Tây Sơn phải rút lui khỏi mặt trận Quảng Nam2.
Năm 1774, chúa Nguyễn cử đạo binh vào đánh Tây Sơn, quân Triều tiến thẳng đến phủ Quy Nhơn, nhưng gặp sự phản công mãnh liệt của Tây Sơn nên đã bại trận phải rút lui. Quân Tây Sơn thừa thắng tiến ra đánh chiếm lại Quảng Nam với một lực lượng đông đảo 26.000 nghĩa quân. Quân Triều bị chết rất nhiều, 82 đại bác mua của Hà Lan và người Anh bị quân Tây Sơn chiếm đoạt, cùng 45 voi, nhiều khí giới, trống cờ... là chiến lợi phẩm có ý nghĩa trong mặt trận Quảng Nam. Năm 1774, quân Triều triệt thoái về giữ đô thành Phú Xuân.
Về phía nam, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ toàn bộ tỉnh Phú Yên ngày nay.
Trong lúc Quảng Nam lâm trận, Phú Xuân lâm nguy thì chúa Trịnh sai Hoàng Ngũ Phúc cầm đầu 30.000 quân vào đánh chúa Nguyễn. Đêm 29 Tết năm Giáp Ngọ (30-1-1775), chúa Nguyễn Phúc Thuần, Tôn thất và Triều thần lặng lẽ xuống thuyền ra cửa Tư Hiền xuôi vào Gia Định để ẩn tránh. Chiếm xong Phú Xuân, Hoàng Ngũ Phúc cho quân đánh chiếm Quảng Nam, quân Tây Sơn thua bỏ Điện Bàn, bỏ Hội An... rút về Quảng Ngãi. Quân Trịnh tiến đuổi theo, đến địa giới Quảng Ngãi do không quen thủy thổ, binh sĩ bị dịch tả chết rất nhiều. Mùa hè năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nhạc giảng hòa. Nguyễn Nhạc được nhậm chức, phong tước hiệu như một đại thần của Lê- Trịnh trấn nhậm xứ Quảng Nam.
Từ một thế tiến công, đắc thắng đến đầu năm 1775, bị quân Trịnh và quân Nguyễn vây từ 2 phía bắc- nam có nguy cơ bị tiêu diệt, nay đã ổn định với quân Trịnh ở phía bắc nên Tây Sơn đã rảnh tay đối phó và tấn công quân Nguyễn ở phía nam.
Vấn đề chính trị mới nảy sinh làm khó cho Nguyễn Nhạc là lúc khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc giương ngọn cờ Hoàng Tôn Dương (Nguyễn Phúc Dương- được triều chúa lập Đông cung Thế tử) để phân hoá nội bộ phủ chúa. Nay chúa Duệ tôn Nguyễn Phúc Thuần vào Gia Định giao Nguyễn Phúc Dương ở lại giữ đất Quảng Nam. Vào đến Hội An, Phúc Dương bị Tây Sơn bắt, Tập Đình định giết Phúc Dương, được Lý Tài can ngăn nên mới khỏi bị bỏ mạng. Nguyễn Nhạc đưa Phúc Dương về Quy Nhơn, ngọn cờ Hoàng Tôn Dương lúc này lại trở nên gay cấn(?).
Khi quân Trịnh tấn công phía bắc, quân Nguyễn hùng cứ phía nam đều sẵn sàng đánh Quy Nhơn. Châu Văn Tiếp cùng một số tướng lĩnh Tây Sơn đã bỏ theo Nguyễn Ánh vì thấy Nguyễn Nhạc không thật lòng. Nay tiếp tục tôn phò thì không còn ý nghĩa mà phế bỏ thì thất sách. Trong khi đó, quân Nguyễn từ phía nam do Tống Phúc Hạp chỉ huy đã chiếm lại đất Phú Yên, đưa người ra Quy Nhơn đòi trả Phúc Dương lại cho quân chúa Nguyễn. Để phân hoá quân Nguyễn, Nguyễn Nhạc gả con gái là Thọ Hương cho Phúc Dương1. Năm 1776, lại đưa Phúc Dương về ngự ở chùa Thập Tháp. Đây là cơ hội để Phúc Dương trốn quân Tây Sơn vào Nam. Phúc Dương đến Sài Gòn được quân Lý Tài tung hô nồng hậu2.
* Nguyễn Huệ đánh quân Nguyễn ở Phú Yên (1775).
Tháng 8 năm Ất Mi (1775), Tống Phúc Hạp chỉ huy quân Chúa Nguyễn chiếm lại Phú Yên, đòi lại Hoàng Tôn Dương nhưng do sơ hở, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ vào đánh úp. Cai đội Nguyễn Văn Hiền bị giết, cai cơ Nguyễn Khoa Kiến bị bắt. Nguyễn Huệ cho lưu Lý Tài đóng giữ đất Phú Yên3. Lý Tài về sau làm phản, vào Nam ủng hộ Nguyễn Phúc Dương.
* Đánh quân Nguyễn ở Gia Định lần thứ nhất (1776).
Sau khi hoà giải với quân Trịnh, Trịnh về bên kia đèo Hải Vân. Năm 1776, Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn, quân Nguyễn lùi về sau núi Thạch Bi rồi cầm giữ Nguyễn Phúc Dương ở chùa Thập Tháp, Nguyễn Nhạc xưng vương, đúc ấn, đóng đô ở thành Đồ Bàn. Sau đó cử Nguyễn Lữ đưa quân vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Ở Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Thuần dựa vào đạo quân Ngũ dinh của Tống Phúc Hạp nhưng Hạp đóng quân ở Bình Thuận, Phú Yên nên Chúa đành dựa vào đội quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân từ Thuận Hoá vào với Chúa. Lực lượng Mạc Thiên Tứ ra sức ủng hộ, được chúa Nguyễn đặt làm Đốc trấn Hà Tiên.
Năm 1776, thuỷ quân Ty Sơn vào đánh chiếm Sài Côn (Sài Gòn). Các lực lượng của chúa đều ở xa, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, suýt bị bắt. May cùng lúc Đỗ Thanh Nhân, Tống Phúc Hạp và Mạc Thiên Tứ đem quân ứng cứu, quân chúa lấy lại được Sài Côn.
Trước sức mạnh của quân Nguyễn được hợp lực tăng cường, Nguyễn Lữ đành phải triệt phá Sài Côn, rồi chở hơn 200 thuyền đầy thóc ra Quy Nhơn.1
* Đánh quân Nguyễn ở Gia Định lần thứ 2 (1777).
Cuối năm 1776, khi Nguyễn Lữ đã rút quân về Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Dương cùng chúa Nguyễn Phúc Thuần có mặt ở Sài Côn. Một cuộc nhân nhượng trong nội bộ đã làm đẹp lòng những người theo chúa Nguyễn. Chúa Duệ Tôn Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho Nguyễn Phúc Dương xưng là Tân Chính Vương, còn mình tôn lên làm Thái Thượng Vương. Vấn đề một triều hai chúa sắp xếp như vậy là tạm ổn, tránh được cuộc xung đột nội bộ khi 2 viên tướng của chúa Nguyễn là Lý Tài và Đỗ Thanh Nhân mâu thuẫn kịch liệt với nhau. Nhưng sau đó không lâu Nguyễn Phúc Thuần lại trở về bản doanh ở Tam Phụ với quân Đông Sơn còn Nguyễn Phúc Dương ở lại Sài Côn với đội quân của Lý Tài. Nguyễn Ánh tỏ ra không ủng hộ Nguyễn Phúc Dương mà tìm lợi thế ở đội quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân nên cũng về Tam Phụ. Nguyễn Phúc Dương lo củng cố lực lượng để chống Tây Sơn ở vng Sài Côn.
Tháng 4 năm Đinh Dậu (1777), Nguyễn Huệ chỉ huy 2 đội quân thuỷ bộ vào đánh quân Nguyễn ở Gia Định.
Nguyễn Phúc Dương đưa quân lên Trấn Biên nghinh chiến. Dương không gặp Tây Sơn, nhưng quân thuỷ Tây Sơn đã vào Sài Côn, Lý Tài hội binh với Phúc Dương giữ Sài Côn, nhưng sau đó thua chạy về Tam Phụ. Lý Tài bị quân Đông Sơn giết chết. Quân Tây Sơn truy đuổi Duệ Tôn Nguyễn Phúc Thuần, Phúc Thuần thoát chết ở miệt Định Tường, rồi qua Cần Thơ. Chúa Nguyễn Phúc Dương cũng bị truy kích ráo riết chạy về Trà Tân (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Các tướng sĩ của Nguyễn Phúc Dương bị tiêu hao dần. Tuyệt vọng, Nguyễn Phúc Dương đầu hàng rồi tự sát vào tháng 8 năm Đinh Dậu (1777)2.
Quân Tây Sơn thừa thắng kéo xuống Cần Thơ, Phúc Thuần phải chạy qua Long Xuyên, tại đây Phúc Thuần bị bắt đem về Sài Côn và bị giết vo tháng 9 năm Đinh Dậu (1777)1.
Năm 1777, về cơ bản, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh bại quân Nguyễn, kết thúc đời chúa cuối cùng ở Đàng Trong.
* Nguyễn Ánh củng cố thế lực ở Gia Định (1778-1781)
Tháng 9 năm Đinh Dậu (1777), chúa Nguyễn Phúc Thuần bị bắt rồi bị giết. Nguyễn Ánh mới 15 tuổi trốn thoát được nhờ Giám mục Bá Đa Lộc cưu mang. Dựa vào quân Đông Sơn, Nguyễn Ánh bắt đầu củng cố thế lực. Năm 1778, Nguyễn Ánh xưng chúa. Quân Tây Sơn do Tổng đốc Châu chỉ huy vào đánh, bị quân Nguyễn đánh bại phải rút lui về Quy Nhơn.
Trong những năm 1779, 1780,1781, Tây Sơn không đem quân vào đánh ở Gia Định nên thế của Nguyễn Ánh ở Gia Định ngày càng tăng nhờ tướng Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân và viên huấn luyện thuỷ quân người Pháp Manuel (sử Việt Nam gọi là Mãn Noài) do Bá Đa Lộc giới thiệu. Nhưng Nguyễn Ánh cảm thấy khó xử khi thấy viên cận tướng này càng trở nên lộng quyền, kiêu căng. Nguyễn Ánh đã sai lầm khi giết Đỗ Thanh Nhân, làm đội quân Đông Sơn tan rã, một số thuộc tướng của Nhân đem quân chống lại Nguyễn Ánh. Manuel do tham vọng muốn độc quyền chỉ huy tàu phương Tây và huấn luyện thuỷ thủ cho Chúa nên đã giết chủ tàu và 27 thuỷ thủ người Bồ làm cho hai chiếc tàu nữa phải bỏ chạy. Sự sa sút trong nội bộ này cũng là một nguy cơ của quân Nguyễn khi Nguyễn Ánh mua, thuê người và tàu để tăng cường lực lượng cho quân Nguyễn.
* Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Ánh (1782).
Đầu năm Nhâm Dần (1782), thuỷ binh Tây Sơn tiến vào cửa Cần Giờ. Nguyễn Ánh đưa 47 thuyền chiến và 1 chiếc tàu Bồ Đào Nha do Manuel ra nghinh chiến. Hai bên chiến đấu rất hăng thì một thuộc tướng của Đông Sơn là Nhàn Trập ra hàng Tây Sơn. Quân Nguyễn Ánh bị rối loạn. nh cho rút quân về ngã Bảy. Tây Sơn tiếp tục truy kích giết được Manuel, thiêu huỷ tàu chiến của Bồ. Tây Sơn tiếp tục truy kích Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ cho quân phục binh đã đánh bại quân Nguyễn Ánh ở ngã Bốn (Tứ Kỳ Giang). Ánh trốn qua Lật Giang, Kiên Giang tìm đường trốn chạy qua Chân Lạp. Nhưng bị vây đuổi vì Tây Sơn liên kết với Chân Lạp để tiêu diệt quân Nguyễn. Một đoàn đi cầu viện Xiêm chừng 150 người do Nguyễn Ánh cử, khi qua ngả Chân Lạp đã bị người Chân Lạp giết sạch. Thất vọng, Nguyễn Ánh vượt biển trốn ra đảo Phú Quốc.
Sau những chiến công lừng lẫy, tháng 6 năm Nhm Dần (1782), Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đưa quân về Quy Nhơn để hàng tướng Nhàn Trập ở lại giữ Gia Định.
* Nguyễn Ánh bị đánh bại lần thứ 2 (1783).
Tháng 9 năm Quý Mo (1783), Châu Văn Tiếp ở miệt Bình Khang đem quân vào cứu Nguyễn Ánh. Quân của Tiếp đánh bại quân Tây Sơn do Nhàn Trập chỉ huy, rồi tự thân ra Phú Quốc rước Nguyễn Ánh về Sài Côn, Nguyễn Ánh làm chủ Gia Định được mấy tháng.
Tháng 2 năm Quý Mão (1783), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ chỉ huy kéo vào cửa Cần Giờ. Nguyễn Ánh dồn mọi sức lực ra nghinh chiến. Vừa xáp trận, quân Nguyễn bị đánh tan tành. Kế hoả công do Nguyễn Ánh bày ra đã không gặp thời khi gió bất ngờ đổi chiều lại đốt chìm các chiến thuyền của mình làm cho đội hình tan vỡ, quân sĩ tán loạn. Các tướng sĩ phần lớn bị chết. Châu Văn Tiếp trốn thẳng qua Xiêm xin cầu viện. Số lính còn lại của Nguyễn Ánh chưa đến một trăm người cùng Nguyễn Ánh vội vàng băng qua Mỹ Tho rồi kiếm thuyền trốn ra đảo Phú Quốc. Nơi đây có Giám mục Bá Đa Lộc và nhiều giáo sĩ khác đang trú ẩn.
Tháng 7 năm Quý Mão (1783), quân Tây Sơn tấn công Phú Quốc, Nguyễn Ánh bị vây. Trong thế tuyệt vọng, viên cai cơ Lê Phúc Điển lấy áo Nguyễn Ánh mặc vào đóng vai "Lê Lai cứu chúa". Tướng Tây Sơn là Phan Tiến Thận hô hào tướng sĩ xông lên thuyền bắt sống Nguyễn Ánh. Khi quân Tây Sơn nhận ra đó là Lê Phúc Điển thì Nguyễn Ánh đã trốn qua đảo Cổ Long. Quân Nguyễn một lần nữa tan tác. Tìm được nơi ẩn náu của Nguyễn Ánh, tháng 8, tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa mang binh thuyền vây đảo Cổ Long. Đảo bị vây 3 vòng thuyền, Nguyễn Ánh bị triệt đường tẩu thoát. Không ngờ một trận mưa bão nổi lên, thuyền bè và binh sĩ Tây Sơn bị nhấn chìm. Nguyễn Ánh trốn sang đảo Cổ Cốt, sau đó trở lại Phú Quốc. Nguyễn Huệ cho quân rút về Quy Nhơn, để Trương Văn Đa ở lại đất Gia Định. Quân Nguyễn tiếp tục bị đánh tơi bời. Nguyễn Ánh trốn sang đảo Thổ Châu. Toàn bộ quân Nguyễn bị đuổi ra khỏi đất liền. Đầu năm 1784, Nguyễn Ánh trốn sang Xiêm xin cầu viện. Về cơ bản, phần đất Đàng Trong từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên thuộc quyền kiểm soát của quân đội Tây Sơn.
1. Đánh Xiêm bảo vệ nền độc lập dân tộc (1785)
Vào thế kỷ XVIII, Xiêm là một đế chế hùng mạnh ở Đông Nam Á. Nhiều lần quân Xiêm xâm lấn, đánh chiếm Ai Lao, Chân Lạp và đất Đàng Trong. Khi nhận được sự cầu viện của Nguyễn Ánh - một cơ hội để quân Xiêm xâm lược nước ta. Tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), vua Xiêm Chakri1 "cử 5 vạn quân 2 vạn quân thuỷ do Chiêu Tăng và Chiêu Sương đi theo ngả vịnh Hà Tiên tấn công lên; 3 vạn quân bộ do tướng Lục Côn tấn công qua đường Chân Lạp2. Cuối năm 1784, quân Xiêm chiếm gần toàn bộ miền Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, từ Cà Mau đến sông Tiền. Quân Xiêm hầu như không bị vấp phải sự kháng cự nào đáng kể, chỉ có tướng Nguyễn là Châu Văn Tiếp được Nguyễn Ánh phong chức Bình Tây Đại đô đốc bị quân Trương Văn Đa giết chết. Quân Xiêm xông vào nhà dân cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát tạo thành một làn sóng bức bối, hận thù gay gắt giữa nhân dân ta và quân xâm lược; mâu thuẫn giữa quân Xiêm và Nguyễn Ánh. Chính điều này đã làm cho nhân dân càng thêm căm ghét Nguyễn Ánh và quân Xiêm. Sau những chiến thắng dễ dàng ban đầu, quân Xiêm càng tự đắc, chủ quan.
Sau khi chờ quân Xiêm bộc lộ lực lượng, bộc lộ bản chất xâm lược tàn ác của chúng, đầu năm 1785, Nguyễn Huệ chỉ huy 2 vạn quân Tây Sơn theo đường thuỷ lên đóng bản doanh ở Mỹ Tho- nơi cách sở chỉ huy của quân Xiêm tại Trà Tân khoảng 40 km, cũng trên tả ngạn sông Tiền. Nguyễn Huệ chủ trương thực hiện trận quyết chiến chiến lược, nhanh chóng đưa đến thắng lợi để đưa quân về giữ Quy Nhơn trước sự đe doạ thường xuyên của quân Trịnh ở Phú Xuân. Để thực hiện một trận địa mai phục ở sông Tiền, đoạn ở cù lao Thới Sơn - nơi có Rạch Xoài Mút (nay là Xoài Hột) và Rạch Gầm, cách nhau khoảng 7 km và Rạch Xoài Mút cách Mỹ Tho chừng 6 km, thật hiệu quả. Nguyễn Huệ đã lợi dụng thuỷ triều, con nước, sức gió, ánh trăng để giấu quân, mai phục. Tại Mỹ Tho, Nguyễn Huệ cho mở cuộc diễu binh phô trương lực lượng để tăng tinh thần chiến đấu của binh sĩ, mời các tướng lĩnh Xiêm đến thăm, chiêu đãi, tặng quà biếu để tăng sự chủ quan, khinh thường của địch. Nguyễn Huệ hẹn với quân Xiêm đánh nhau vào ngày 8 tháng chạp năm Giáp Thìn, tức ngày 18 tháng 1 năm 1785. Đây là tháng nước kém nhất của sông Tiền khi thuỷ triều hạ vào tảng sáng.
Đêm 18 tháng 1 năm 1785, lợi dụng ánh trăng, binh thuyền, pháo binh Tây Sơn đã vào trận mai phục ở cồn Thới Sơn, Rạch Xoài Mút, Rạch Gầm, hai bên sông Tiền. Một đội binh thuyền khác có nhiệm vụ lên tận Trà Tân khiêu chiến, kéo địch ra khỏi hang ổ, dẫn chúng vào trận địa mai phục. Quân Xiêm hăng máu tấn công. Đợi đến lúc toàn bộ binh thuyền của địch lọt vào trận địa thì trời vừa sáng. Vừa lúc thuỷ triều dâng lên và thuận gió, Nguyễn Huệ từ Mỹ Tho đưa binh thuyền lên đánh vỗ mặt; thuỷ binh từ Rạch Xoài Mút và Rạch Gầm phóng ra chặn đầu, khoá đuôi, toàn bộ binh thuyền địch làm mục tiêu cho pháo binh Tây Sơn ở cù lao Thới Sơn và tả ngạn sông Tiền tiêu diệt. Nguyễn Huệ dùng cả hoả công để diệt địch và dùng bè mảng để chặn đường tháo lui của chúng. Quân Xiêm không còn đường thoát, đa số bị tiêu diệt ở trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Tướng Lục Côn bị chém đầu, chỉ còn Chiêu Tăng và Chiêu Sương và vài ngàn binh tẩu thoát được về nước theo đường bộ. Trong trận này Nguyễn Ánh trốn ở chùa Long Tuyền (gần Rạch Xoài Mút) nhờ nhà chùa che chở nên mới thoát chết. Nguyễn Ánh chạy đến Rạch Giá bị quân Tây Sơn bắt giam trên thuyền, giao cho Chưởng cơ Trân trông coi. Chưởng cơ Trân của Tây Sơn đã ngả lòng, cởi trói nên Nguyễn Ánh thoát được1.
Đánh bại quân Xiêm xâm lược, ổn định chiến trường miền Nam, Nguyễn Huệ cho rút quân về Quy Nhơn, chuẩn bị kế hoạch tấn công quân Trịnh ở phía bắc.
4. Đánh Trịnh giải phóng Phú Xuân- Thuận Hoá (1786)
Trong hơn 10 năm (1775-1786), mối quan hệ Phú Xuân và Quy Nhơn giữa quân Trịnh và Tây Sơn bên ngoài là giao hảo, phụ thuộc của Tây Sơn nhưng thực chất là thời kỳ chiến tranh lạnh âm ỉ, sẽ có cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau.
Về phía quân Trịnh: Có 3 vạn quân thường trực đóng ở Phú Xuân và rải ra khắp địa bàn của Thuận Hoá với các viên tướng lão luyện như: Phạm Ngô Cầu, Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Quyền... trấn đóng. Các hệ thống phòng thủ phía nam thành Phú Xuân như ở đèo Hải Vân, cửa Tư Hiền, cửa Eo, dọc theo đường Thiên Lý, dọc phá Tam Giang. Đặc biệt, việc xây dựng đồn An Nông cách thành Phú Xuân hơn 20 km làm sở chỉ huy các đồn luỹ của quân Trịnh đóng ở phía Nam và cũng là yết hầu của thành Phú Xuân.
Lãnh tụ Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ được vua Lê ban cờ quạt, sắc phong, tướng hiệu... hàng năm cử người vào Quy Nhơn thu thuế. Đáp lại, Tây Sơn lại cử sứ giả ra Phú Xuân đáp lễ, nộp thuế, nhưng thực chất là các hoạt động tình báo để theo dõi tình hình đối phương.
Năm 1775, Nguyễn Hữu Chỉnh được vua Lê giao cầm đầu sứ giả vào Quy Nhơn ban sắc phong cho Nguyễn Nhạc, thì năm 1782, Nguyễn Hữu Chỉnh đưa cả gia đình vào Quy Nhơn tham gia Tây Sơn, đã nói lên mối quan hệ này vốn chứa đựng những vấn đề vô cùng phức tạp, gay gắt.
Về phía Tây Sơn, sau cuộc kháng chiến chống quân Xiêm thắng lợi (1.1785), phong trào Tây Sơn đã trưởng thành và phát triển về ý thức đấu tranh chống áp bức và giải phóng dân tộc. Nhiều tướng lĩnh tài ba đã rèn luyện qua chiến tranh như Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Cái khó của Tây Sơn là đánh quân Trịnh với một lực lượng mạnh đã từng đánh bại quân Tây Sơn ở mặt trận Quảng Nam (1775) và có hệ thống phòng vệ kiên cố, có cấp chỉ huy lão luyện. Điều đáng quan tâm hơn là một chiến trường mới với những thế đất, tình người còn xa lạ với quân đội Tây Sơn. Tất cả những điều đó đã làm cho Nguyễn Huệ phải có những kế sách mới để đánh thắng được quân Trịnh. Cẩn thận hơn, trước khi xuất quân, Nguyễn Huệ đã cử một nghĩa quân đóng vai pháp sư người Hoa ra gặp Trấn tướng Phạm Ngô Cầu, khuyên Phạm Ngô Cầu mở đại lễ chay đàn một tuần ở chùa Thiên Mụ để cầu an trong mùa hè nhằm mong tai qua nạn khỏi. Vốn là một tướng già cầu an, tinh thần bạc nhược, Phạm Ngô Cầu đã trúng kế "điệu hổ ly sơn" của Nguyễn Huệ, y đã điều hết binh lính ở thành Phú Xuân lên phục dịch chay đàn ở chùa Thiên Mụ. Nguyễn Hữu Chỉnh lại viết thư cho Phó tướng Hoàng Đình Thể để khuyên Thể đem thành ra hàng nhằm bảo tồn phú quý và danh vọng. Người lính Tây Sơn theo lời dặn lại mang thư đến cho Phạm Ngô Cầu - 2 viên chánh tướng và phó tướng vốn có mâu thuẫn. Cầu đọc thư xong và giữ lấy không báo cho Thể biết, thế là kế ly gián đã thành công.
Tháng 5 năm 1786, 3 vạn quân Tây Sơn xuất phát từ Quy Nhơn theo hai đường thuỷ bộ ra đánh Phú Xuân - Thuận Hoá. Nguyễn Huệ làm Tổng chỉ huy dẫn quân theo đường Thiên Lý ra đánh Hải Vân, đồn An Nông, rồi phối hợp với quân thuỷ đánh chiếm thành Phú Xuân.
Nguyễn Hữu Chỉnh được đặt làm Hữu quân Đô đốc dẫn quân tiên phong mở đường. Ở Thượng đạo có tượng binh, kỵ binh, bộ binh cùng tiến ra mở mũi đánh cạnh sườn các đồn An Nông, Phú Xuân.
Nguyễn Lữ làm Phó tướng chỉ huy quân thuỷ tiến vào cửa Tư Hiền, cửa Eo hợp lực với quân bộ của Nguyễn Huệ đánh vào đồn An Nông, Phú Xuân... có Võ Văn Dũng và Nguyễn Văn Lộc cùng giúp.
Võ Văn Nhậm1 được đặt Tả quân Đô đốc chỉ huy quân thuỷ, tiến thẳng ra cửa Gianh chặn viện và truy quét các đồn luỹ quân Trịnh trên đất Quảng Bình.
Trần Quang Diệu được cử mở đường núi và chỉ huy cánh quân Thượng Đạo tiến ra.
Nguyễn Huệ cho đại binh đánh phá đồn Hải Vân rồi tiến ra vây đồn An Nông. Tướng giữ đồn là Hoàng Nghĩa Quyền kháng cự quyết liệt hòng giữ đồn. Nguyễn Huệ để một bộ phận vây hãm đồn An Nông và tự mình dẫn quân ra phối hợp với quân thuỷ vây đánh thành Phú Xuân1.
Việc phòng vệ của quân Trịnh ở thành Phú Xuân trong những ngày phục dịch đại lễ cầu an ở chùa Thiên Mụ tuy có chểnh mảng, nhưng quân Tây Sơn đã không phá được thành trong ngày tấn công đầu tiên. Phó tướng Hoàng Đình Thể đem quân ra ngoài thành nghinh chiến ở vùng Lạc Nô2 bị đánh bại thảm hại. Ngày hôm sau, đại bác Tây Sơn công phá thành Phú Xuân, quân bộ tràn vào thành, làm chủ được Phú Xuân. Nhân dân Thuận Hoá nổi dậy hưởng ứng truy quét tàn quân Trịnh. Gần toàn bộ quân Trịnh đóng ở Phú Xuân bị tiêu diệt, Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng ra hàng, bị Tây Sơn đưa về Quy Nhơn rồi giết.
Ở phía bắc, cánh quân Võ Văn Nhậm sau khi tiêu diệt các đồn luỹ quân Trịnh ở trên đất Quảng Bình có nhân dân nổi dậy hưởng ứng đã kéo vào đánh đồn Dinh Cát (Quảng Trị ) - đồn luỹ cuối cùng của quân Trịnh ở Thuận Hoá bị tiêu diệt vào ngày 21.6.1786. Chế độ thống trị của chúa Nguyễn, chúa Trịnh ở Thuận Hoá sau hơn 200 năm (1558-1786) chỉ sau một tuần tấn công của quân đội Tây Sơn, đã bị xoá bỏ. Trần Văn Kỷ, Ngô Thế Lân... cùng nhiều trí thức, thanh niên ở Thuận Hoá ra tham gia lãnh đạo phong trào Tây Sơn và bổ sung lực lượng nghĩa quân làm cho thế lực Tây Sơn lớn mạnh hẳn lên về mọi phương diện.
1 ĐNCBLT, Q.30, t.2b, bản dịch Tạ Quang Phát, Sài Gòn, 1970, tr. 13.
2 Theo thư của giáo sĩ Jumila, viết từ Đà Nẵng, BSEI, tập 15, 1940.
1 Theo ĐNCBLT. Q.30, sđd, tr. 31; còn Quách Tấn... viết: Thọ Hương gả cho Võ Văn Nhậm (Nhà Tây Sơn), Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình, 1988, tr. 69).
2 ĐNTLTB, Viện Sử học, 1962, tr. 258-259.
3 ĐNTLTB, sđd, tr. 254. Năm 1775, Nguyễn Huệ xuất tướng và đại thắng lúc 22 tuổi.
1 ĐNTLTB, sđd, tr. 357.
2 Ngô Giáp Đậu, Hoàng Việt Long Hưng chí, bản dịch Văn học, Hà Nội, 1993, tr. 74.
1 ĐNTLTB, sđd, tr. 263, Ngô Giáp Đậu, sđd, tr. 75.
1 Có tài liệu ghi tên là P'hut Yodja, Sử Việt Nam ghi là Chất Tri.
2 Ngô Giáp Đậu ghi 3 vạn quân thuỷ, 300 chiến thuyền, sđd, tr. 118.
1 Theo Ngô Giáp Đậu, sđd, tr.122. Chưởng cơ Trân nghĩ rằng thuở ông cha được chúa Nguyễn đưa vào lập nghiệp ở miền Nam nên đành thả Nguyễn Ánh rồi nhảy xuống sông tự tử.
1 Một tướng lĩnh có tài, được Nguyễn Nhạc trọng dụng và gả con gái cho.
1 Đỗ Bang, Chiến trận Hải Vân, An Nông của nghĩa quân Tây Sơn năm 1786, NCLS, số 2, tr. 36-41, Hà Nội, 1987
2 Nay còn có tên xóm Nhạc Hộ, phía đông chùa Diệu Đế.