I. PHỦ HOÀI NHƠN DƯỚI THỜI LÊ

 

Phủ Hoài Nhơn có thành Đồ Bàn - Kinh đô của Vương quốc Chămpa từ thế kỷ XI-XV. Dân tộc Chămpa tự hào về kỷ nguyên Vijaya (Đồ Bàn) và thái tử Harijit (Chế Mân) đã đẩy lùi đội quân xâm lược Mông Nguyên do Toa Đô chỉ huy đánh vào kinh thành từ hướng Thị Nại (năm 1282) bằng hệ thống thành quay kỳ diệu - một sáng tạo của nền quốc phòng Chămpa làm cho quân Nguyên bất ngờ, choáng váng và thất bại.

Thế kỷ XIV, kinh thành Vijaya dưới thời Chế Bồng Nga đã có một sự phát triển đáng kể và chính Chế Bồng Nga 3 lần đưa quân đánh phá Thăng Long (vào các năm 1371, 1377, 1383), vua tôi nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô (như thế kỷ trước từng phải tạm lùi bước trước quân Nguyên). Vua Trần quyết cho quân đánh vào thành Đồ Bàn, nhưng bị Chế Bồng Nga dùng kế trá hàng đẩy vua Trần Duệ Tông vào trận địa mai phục trên đường tiến vào thành. Vua Trần chủ quan, bị chém tại trận, quân Trần thất bại (năm 1377).1 Nhưng cuối cùng, số phận của Chế Bồng Nga cũng đã bị chôn vùi trong trận đánh vào Kinh thành Thăng Long tháng Giêng năm 1390. Sau khi Chế Bồng Nga chết, vương quốc Chămpa suy yếu hẳn.

Năm 1402, triều Hồ cho quân đánh chiếm đất Chiêm Động và Cổ Luỹ mở thêm đất hai châu Thăng Hoa và Tư Nghĩa (ở phía nam sông Thu Bồn). Người Việt bắt đầu vào lập làng trên phần đất mới mở (Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay).

          Gần bảy mươi năm sau vào thời cực thịnh của nhà Lê, vua Lê Thánh Tông chỉ huy đánh chiếm kinh thành Vijaya, bắt vua Chiêm là Trà Toàn và hơn 3 vạn người làm tù binh. Ngày mồng 1 tháng 3 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), nước Đại Việt mở đất đến núi Thạch Bi,1 chia đất từ phía bắc đèo Cù Mông đặt làm phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn.

          Nước Chămpa suy yếu, bại trận lại  bị chia làm 3 tiểu vương quốc:

- Chiêm Thành: Từ núi Thạch Bi trở về nam phân cho Bố Trì Trì - một tướng  Chiêm xin hàng phục Đại Việt cai quản.

- Nam Bàn: Từ núi Thạch Bi trở về phía tây giao cho dòng dõi vua Chiêm                 cai quản.

- Hoa Anh: Nước này nhanh chóng bị suy yếu, tàn lụi nên chưa xác minh được.[1]

          Từ năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho lập phủ Hoài Nhơn -lãnh thổ chỉ đến đèo Cù Mông: "Phủ Hoài Nhơn lệ vào Quảng Nam thừa tuyên, nhưng từ  núi Cù Mông về nam vẫn là người Man, người Lạo ở, chưa có thì giờ để kinh lý đến"3.

          Như vậy, nhà Lê đã có một chính sách khoan dung, tạo vùng đệm cho phần đất biên ải phía nam, trên danh nghĩa là đất của Đại Việt nhưng vẫn để cho người Chămpa và các dân tộc khác ở. Điều này, chúng ta đã thấy ở thời điểm sau năm 1402, nhà Hồ đặt 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa gọi là vùng nam giới. Sách Cương mục chỉ rõ: "Vùng nam giới chỉ chép hờ vào bản đồ mà thôi, thực tế vẫn là đất người Chiêm Thành chiếm giữ” Rõ ràng chính sách tạo vùng đệm từ Cù Mông đến núi Thạch Bi là xác định chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt, có mốc giới trên bản đồ nhưng thực tế chưa có dân người Việt vào ở.

          Sau chiến thắng năm 1471, vua Lê Thánh Tông có những biện pháp kiên quyết và kịp thời đối với những vùng đất mới chiếm ở phía nam.

          Sau khi trở về kinh đô Thăng Long, tháng 7 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành mới chiếm đặt Quảng Nam Thừa tuyên  và vệ Thăng Hoa, đặt 3 ty4 để trông coi việc dân, việc nước ở Quảng Nam Thừa tuyên.    Quảng Nam Thừa tuyên bao gồm 3 phủ, 9 huyện:

- Phủ Thăng Hoa có 3 huyện: Lê Giang, Hà Đông và Hy Giang5.

          - Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện: Bình Sơn, Mộ Hoa và Nghĩa Giang1.

- Phủ Hoài Nhơn có 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn2.

Vậy phủ Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định sau này) ra đời từ tháng 7 năm (Tân Mão) 1471. Tháng 10 năm Quý Dậu (1813), ở Bình Định có phát hiện một ấn đồng cổ, một mặt khắc bốn chữ Phù Ly huyện ấn, mặt kia khắc dòng chữ Hồng Đức thập tam niên tạo (1482).[2] Đó là chứng tích về tổ chức bộ máy Nhà nước cấp huyện của phủ Hoài Nhơn ra đời từ năm 1471. Từ đó, người Việt bắt đầu tiến dần vào sinh sống ở phủ Hoài Nhơn. Ngoài dân nghèo vào lập nghiệp còn có lực lượng quân đội, đặc biệt là các phạm nhân bị tội lưu đày cũng được quân đội hoá thành lực lượng chiến đấu và sản xuất ở phủ Hoài Nhơn.

Tháng 4 năm Giáp Ngọ (1474), vua Lê Thánh Tông có sắc chỉ rằng: "Các tù tội lưu; lưu châu gần sung vệ Thăng Hoa, lưu châu ngoài sung vệ Tư Nghĩa, lưu châu xa thì sung vệ ở Hoài Nhơn, kẻ nào được tha tội chết cũng sung quân ở vệ Hoài Nhơn”. Như vậy, sau khi lập phủ Hoài Nhơn (1471), vua Lê Thánh Tông đã hết sức quan tâm đến việc đưa người Việt vào khẩn hoang lập ấp ở vùng đất mới mở ở phía nam và tổ chức bộ máy cai trị ở đây.

 Chúng ta thấy đó là lớp cư dân đầu tiên của người Việt vào thế kỷ XV di dân đến phủ Hoài Nhơn, một cộng đồng nông dân nghèo, binh lính và phạm nhân trọng tội được đặc ân cho lưu đày đến đây khai phá, lập nghiệp. Các làng xã từ đó cũng được hình thành. Lúc mới thành lập, 3 huyện của phủ Hoài Nhơn có 33 xã: Bồng Sơn:7 xã, Phù Ly: 8 xã, Tuy Viễn: 18 xã[3].

Năm 1490 (chưa đầy 20 năm sau), theo Thiên Nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và hơn 100 xã: huyện Bồng Sơn có 7 tổng, 32 xã; huyện Phù Ly có 6 tổng, 60 xã; huyện Tuy Viễn có 6 tổng[4]...

  So sánh giữa hai thời điểm năm 1471 và năm 1490 về dân cư  các huyện cho thấy đơn vị hành chính - dân cư  ở huyện Tuy Viễn đã chiếm một định lượng quan trọng so với các phủ khác trong phủ Quy Nhơn.

Tháng 8 năm Mậu Ngọ (1498), nhà Lê cho đặt các sở hiệu của 3 vệ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn thuộc đô ty Quảng Nam.

 Sau một thế kỷ mở đất, người Việt đã vào lập làng ở các vùng đất của phủ Hoài Nhơn nay là tỉnh Bình Định.

Năm 1578, dưới triều Lê, Nguyễn  Hoàng bổ nhiệm Lương Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn: "để dẹp yên biên trấn và chiêu tập dân phiêu tán đến Cù Mông và Bà Đài (nay là Xuân Đài) khai khẩn ruộng hoang ở sông Đà Diễn"1. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng mới cho quân chiếm trọn vùng đất từ  Cù Mông đến núi Thạch Bi. Như vậy, Nguyễn Hoàng chỉ thu phục lại phần đất của Đại Việt có từ thời Lê: "Phần đất đó là của tiểu quốc Hoa Anh sớm bị diệt vong"2. Và cũng từ năm 1578, người Việt đã đến sinh sống, lập làng ở cả bên kia đèo Cù Mông, nay là tỉnh Phú Yên, chính thức xoá bỏ "vùng đệm" của thời vua Lê Thánh Tông.

 

 



1 Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), tập II, KHXH, Hà Nội, 1971, tr.186-187.

1 - Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC), tập III, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 6.

          - Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, KHXH, HN, 1972, tr. 236-237.

[1] Có ý kiến cho rằng, cư dân của tiểu vương quốc này sinh sống ở Phú Yên.

3 Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), sđd, tr.238, Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, dư địa chí, KHXH (LTHCLC), 1992, tập I, tr.165.

4 ĐVSKTT, sđd, tr.239, 3 ty là: Đô ty, Thừa ty, Hiến ty.

5 Nay là đất của tỉnh Quảng Nam.

1 Nay là đất của tỉnh Quảng Ngãi.

2 Nay là đất của tỉnh Bình Định. Bồng Sơn nay là huyện Hoài Nhơn; Hoài Ân, An Lão; Phù Ly nay là huyện Phù Mỹ, Phù Cát. Tuy Viễn nay là huyện Tuy Phước, An Nhơn, Tây Sơn, Vĩnh Canh, Vĩnh Thạnh, An Khê và Thành phố Quy Nhơn.

[2] Đại Nam thực lục chính biên (ĐNTLCB), đệ nhất kỷ, tập III, tr. 200.

[3] Nguyễn Trãi, Dư địa chí trong Nguyễn Trãi toàn tập, KHXH, HN, tr.235 (Nguyễn Trãi phần cẩn án có lẽ do người sau chép bổ sung sau năm 1471).

[4] Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Dư địa chí ghi số xã hai huyện Bồng Sơn và Phù Ly như trên, riêng huyện Tuy Viễn chép là 2 xã và 30 thôn ấp (Bản dịch Nguyễn Thọ Dực, Sài Gòn, 1972, tr.361).

1 ĐNNTC, tập 3, sđd, tr. 6.

2 Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Khai Trí, Sài Gòn, 1967, tr. 108.