II. PHỦ QUY NHƠN DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN (thế kỷ XVII-XVIII)

 

1. Tổ chức cai trị

          Các chúa Nguyễn xuất hiện  trong lịch sử Việt Nam lúc đầu gắn với vùng đất Thuận Hoá, sau đó là Quảng Nam rồi phát triển lập nên xứ Đàng Trong.

          Tháng 11 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn nhậm Thuận Hoá. Năm 1570, vua Lê triệu tổng binh Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An. Chúa Nguyễn Hoàng được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam. Xứ Quảng Nam vào thời điểm Nguyễn Hoàng cai trị có 3 phủ, 9 huyện; phủ Thăng Hoa có 3 huyện: Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang. Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện: Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang. Phủ Hoài Nhơn có 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Chúa Nguyễn Hoàng đeo ấn Tổng trấn tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa3.

          Năm 1578, Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh - một cận thần tin cậy của chúa làm tri huyện Tuy Viễn - huyện xa nhất của phủ Quy Nhơn lúc bấy giờ để lo trị an, giữ vững biên giới. Phủ Hoài Nhơn trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công mở đất vào Phú Yên1.

          Từ khi cai quản đất Quảng Nam, tầm hoạt động của chúa Nguyễn Hoàng mới được nâng cao, thế chiến lược của chúa Nguyễn mới được hình thành. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng sai hoàng tử thứ 6 (sau này là chúa Nguyễn Phúc Nguyên) trấn nhậm xứ Quảng Nam. Xứ Quảng Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Chúa Nguyễn Hoàng thường vào kinh dinh đất Quảng và chúa đã nhận ra được tiềm năng to lớn của vùng đất này: "Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế nộp vào nhiều hơn Thuận Hoá mà số quân thì cũng bằng quá nửa". Có lần qua núi Hải Vân, nhận thấy đây là nơi hiểm yếu, chúa thốt lên rằng: "Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng"2.

          Để nắm thêm tình hình phủ Hoài Nhơn, năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho mời khám lý phủ Hoài Nhơn Trần Đức Hoà (bấy giờ gọi là Cống quận công, con của Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân - Phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến. Trần Đức Hoà được chúa đãi rất hậu, sau đó, chúa trở về Thuận Hoá3.

          Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn.

          Năm 1611, Chiêm Thành cho quân xâm lấn biên giới phía nam, chúa Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong đem quân đánh chiếm phần đất phía nam đèo Cù Mông, lập phủ Phú Yên, gồm 2 huyện: Đồng Xuân và Tuy Hoà4.

          Thế Thuận - Quảng đã vững chắc có thể đương đầu với họ Trịnh để xây dựng cơ nghiệp lâu dài cho con cháu họ Nguyễn về sau.

          Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng căn dặn Nguyễn Phúc Nguyên và các cận thần: "Đất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn và sông Linh Giang hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá, muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì cũng đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chớ đừng bỏ qua lời dặn của ta"5. Qua đó, chứng tỏ sức sống và vị thế của đất Thuận - Quảng cùng tầm nhìn chiến lược phát triển Đàng Trong lâu dài của chúa Nguyễn Hoàng.

          Năm 1651, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, chúa cho đổi phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn và vẫn được gọi suốt thời kỳ Tây Sơn.

          Các chúa Nguyễn đã có chính sách tích cực đẩy mạnh việc khai phá, phát triển vùng đất mới phía nam. Năm 1578, sau khi kiêm quản đất Quảng Nam 8 năm, chúa Nguyễn Hoàng đã bổ nhiệm Lương Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn để đưa dân vào khai phá, lập làng ở ngay dưới chân đèo Cù Mông mở đường cho cuộc di dân vào Phú Yên .

          Năm 1648, có một đợt di dân lớn trong lịch sử vào vùng đất Quảng Nam, đó là năm chúa Nguyễn đánh thắng quân Trịnh bắt hơn 3 vạn tù binh vào khai phá miền đất mới này. Chúa Nguyễn Phúc Lan đã có một tầm nhìn sáng suốt, chúa cho rằng: "Hiện nay, từ miền Thăng (tức phủ Thăng Bình), Điện (tức phủ Điện Bàn) trở vào nam đều là đất cũ của người Chămpa, dân cư thưa thớt, nếu đem chúng an tháp vào đất ấy, cấp cho canh ngưu điền khí chia ra từng hộ, từng xóm, tính nhân khẩu cấp cho lương ăn để chúng khai khẩn ruộng hoang thì trong khoảng mấy năm, thuế má thu được có thể giúp quốc dụng về sau 20 năm, sinh sản ngày càng nhiều, có thể cho vào quân số có ấp mà lo về sau"1.

          Thực hiện chủ trương này, số tù binh được phân chia ra nhiều nơi, chia nhóm 50 người thành lập một ấp đều cấp cho lương ăn nửa năm, lại ra lệnh cho mỗi ấp những gia đình giàu có bỏ thóc ra cho họ vay và ưu tiên cho họ khai thác các nguồn lợi về núi, đầm để sinh sống. Quyết định này ban hành đã có khoảng 600 làng mới được thành lập sau năm 1648 ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên... từ đó ruộng đồng phát triển, làng mạc đông vui.

          Sau thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn này, vào khoảng niên hiệu Thịnh Đức (1653-1657), chúa Nguyễn Phúc Tần quyết định cho quân vượt sông Gianh đánh ra vùng Nghệ An để bắt tù binh và nông dân vùng sông Lam đưa họ về Nam khai phá  đất đai, lập làng, bổ sung cho lực lượng lao động ở Đàng Trong. Một bộ phận trong số này được đưa vào vùng chân núi, ven đầm, gần biển ở phủ Quy Ninh (Quy Nhơn), trong đó, có tổ tiên của dòng họ Hồ được đưa về lập ấp ở An Khê, đó là ấp Tây Sơn Thượng.

          Các vùng đất mới mở chia thành nhiều thôn, ấp, nậu họp lại lập thành thuộc. Thuộc là đơn vị tương đương cấp tổng ở vùng đồng bằng đã khai thác từ lâu đời. Phủ Quy Ninh vào năm 1726 có 13 thuộc. Nếu thuộc có 500 người trở lên đặt 1 cai thuộc, 1 ký thuộc; 450 người trở xuống đặt 1 lý thuộc; 100 người đặt 1 tướng thần1.

2. Sử dụng nhân tài

          Dưới thời các chúa Nguyễn, việc sử dụng nhân tài ở Đàng Trong nói chung, ở Bình Định nói riêng đều được quan tâm, chú trọng nhằm tìm ra những người có tài và đức, có chí hướng chung lưng đấu cật cùng các chúa để xây dựng, phát triển về kinh tế mở mang sự nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

          Trong việc sử dụng nhân tài của các chúa, đặc biệt là chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên... đã rất chú tâm đến khả năng thực lực mà trọng dụng một cách đích đáng, có hiệu quả trong từng công việc.

          Với phủ Quy Nhơn - mảnh đất đầy thăng trầm, đau thương, chồng chất những khó khăn bộn bề của người mới tiếp quản. Nhưng đó cũng là mảnh đất hứa hẹn  một tiềm năng to lớn về tài nguyên, sản vật cũng như về an ninh, quốc phòng, đòi hỏi phải có bàn tay, khối óc con người trong buổi đầu mới khai phá.

          Trong bối cảnh ấy, các chúa Nguyễn phải có tầm nhìn sâu sắc về chiêu hiền đãi sĩ để cùng gánh vác “giang sơn”. Chính vì thế, các chúa Nguyễn đã có chính sách chọn người tài thực sự. Đã xuất hiện những nhân tài  tiêu biểu của phủ Quy Nhơn như: Lương Văn Chánh, Trần Đức Hoà, Đào Duy Từ... đã cùng các chúa Nguyễn làm nên nghiệp lớn trên đất Bình Định xưa.

          Với tài năng dùng người của chúa Nguyễn Hoàng, Lương Văn Chánh đã: “Vỗ yên dân chúng” ở huyện Tuy Viễn- một huyện xa nhất của phủ Quy Nhơn hồi đó nhằm lo trị an, giữ vững biên giới và chuẩn bị quân, dân vào sinh sống, lập làng ở phía nam đèo Cù Mông. Như vậy, phủ Hoài Nhơn đã trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công mở đất vào Phú Yên2.

          Đối với Trần Đức Hoà, chúa Nguyễn Hoàng rất hài lòng về tầm nhìn, tài năng, đức độ của quan Khám lý phủ Hoài Nhơn (tương đương chức quan đầu tỉnh Bình Định sau này) và chúa rất yên tâm khi giao trọng trách cai quản phủ Quy Nhơn cho ông. Với tài đức của mình, ông không những biết vỗ yên dân chúng, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo đảm hậu phương về phía nam mà còn tham mưu cùng chúa Nguyễn Phúc Nguyên mưu tính đại sự cho nghiệp vương bá và kinh bang tế thế. Chúa rất tin dùng và thường gọi ông là “nghĩa đệ”. Vì vậy, sử nhà Nguyễn đã hết lời ngợi ca ông: “Trong thì vỗ yên dân chúng, ngoài thì cung cấp quân lương. Phủ chúa rất trông cậy”1.

Năm 1627, khi nghe tin thắng quân Trịnh trận đầu, Trần Đức Hoà đến mừng và tiến cử  Đào Duy Từ cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Từ đó, Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên trọng dụng, trao cho chức Nội tán Lộc Khê hầu. Nhờ có Đào Duy Từ, việc dựng luỹ ở Quảng Bình, soạn thảo binh thư cho quân đội, tham mưu cho chiến lược chống quân Trịnh, phát triển kinh tế, mở rộng lãnh thổ về phía nam đều thắng lợi. Đào Duy Từ vì xuất thân từ con nhà xướng ca mà bị chế độ Lê - Trịnh vứt bỏ một tài năng hiếm có; còn ở Bình Định, được tiến cử với chúa Nguyễn thì lại được trọng dụng xứng với tài năng của ông, trở thành bậc thầy trong thiên hạ. Sự nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Nguyên sẽ khó khăn nếu không có những người như Trần Đức Hoà, Đào Duy Từ. Bình Định - một vùng đất vốn có bề dày về lịch sử, với tinh thần phóng khoáng, canh tân, vượt qua sự nghiệt ngã của các số phận và bất công đã  hun đúc, nuôi dưỡng hiền tài mà lịch sử  đã chứng minh  như các trường hợp: Lương Văn Chánh, Trần Đức Hoà,  Đào Duy Từ... sau này còn có Nguyễn Huệ và các thủ lĩnh Tây Sơn...

3. Hoạt động kinh tế

          Dưới thời các chúa Nguyễn đánh dấu một bước phát triển kinh tế  của phủ Quy Nhơn từ nông nghiệp đến các ngành công, thương nghiệp.

          * Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp

Từ thời chúa Nguyễn Hoàng, do hiệu quả của chính sách khai hoang, di dân lập ấp cho đến tận đèo Cù Mông (1578), cùng các đợt di dân tiếp theo vào thế kỷ XVII đã hình thành nhiều làng mạc, lấp dần những mảng trống dân cư ở các vùng chân núi phía tây và ven biển phía đông. Kết quả của các đợt khai hoang lập làng đã thành lập được 13 thuộc. Thuộc là đơn vị tương đương cấp tổng dưới thời các chúa Nguyễn. Những phần đất khai hoang phần lớn trở thành phần đất sở hữu tư nhân của những nông dân và điền chủ được giao tổ chức khai phá. Dưới thời các chúa Nguyễn cũng trưng dụng ruộng đất làng xã để ban cấp tự điền cho các công thần như năm 1694: "Trưng cấp tự điền và tư nhân cho Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật. Nguyễn Hữu Tiến được cấp 19 mẫu tự điền ở 2 xã Bồ Đề và Tùng Châu, tự dân 100 người ở xã Nghĩa An. Nguyễn Hữu Dật được cấp 3 mẫu tự điền ở xã Vinh Quang, tự dân 100 người ở xã Bao La"1.

          Năm 1716, cấp tư điền 10 mẫu cho cháu của Khám lý Trần Đức Hoà2. Vào thế kỷ XVIII, đất thực trưng canh tác toàn phủ Quy Nhơn là 72.600 mẫu 5 sào, 12 thước 8 tấc 5 phân3, bằng ruộng đất tư Thuận Hoá.

          Giáo sĩ Borri đã mô tả nền sản xuất nông nghiệp thịnh vượng ở đây như sau: “Nhờ lụt nên đất đai màu mỡ, mỗi năm người ta gặt 3 vụ lúa, với sự sung túc do nghề nông mang lại đã cho dân chúng cuộc sống no đủ, nên ở đây không ai muốn làm viên chức ăn lương”4

          * Sự phát triển kinh tế hàng hoá

Dưới thời các chúa Nguyễn, điều kiện giao thông đường bộ và đường thuỷ ở phủ Quy Nhơn phát triển khá thuận lợi cho việc đi lại và lưu thông hàng hoá.

Đường bộ theo chiều nam - bắc qua phủ Quy Nhơn có hai con đường. Đường Thiên lý đi theo miệt đồng bằng làng xã gọi là đường Hạ đạo - tiền thân của Quốc lộ 1 hiện nay; phía bắc giáp với Quảng Ngãi, vào nam giáp Phú Yên, mất 5 ngày rưỡi đi bộ qua các quán Bến Đá, Bồ Đề, Phủ Cũ, Quán Tre, Lang Kha, Quán Chùa, Quán Mới, Canh Hàn, Phú Bình, cuối cùng là chân đèo Truông Ninh - giáp giới của phủ Phú Yên.

Đường Thượng đạo, từ Bến Đá (Quảng Ngãi), qua các nguồn Đồng Duệ, Đồng Hươu, Cầu Bông, ấp Tây Sơn thượng xuống Quán Lạc mất 6 ngày5.

Đường thuỷ phủ Quy Nhơn có nhiều sông và hơn 100 km bờ biển với nhiều cửa khẩu và đầm phá rất thuận tiện cho việc  neo đậu và việc ghi thuyền bè, lưu thông hàng hoá nội địa. Số thuyền vận tải của phủ Quy Nhơn năm 1768 có 93 chiếc. Đó là số  thuyền nhiều nhất so với các phủ khác ở Đàng Trong.[1]

Sản xuất hàng hoá:

Vào thế kỷ XVII, phủ Quy Nhơn đã là một vùng đất giàu sản vật, tài nguyên. Người dân ở đây đã sản xuất ra nhiều mặt hàng phong phú, được giáo sĩ Borri sống ở Đàng Trong mà chủ yếu ở Hội An và phủ Quy Nhơn trong một thời gian khá dài (1618-1621), ông đã nhận xét về nguồn tài nguyên ở đây như sau: "Xứ Đàng Trong rất giàu về mọi thứ cần thiết cho sự nuôi sống con người.Dân chúng xứ họ không tò mò, cũng không có khuynh hướng tìm đến các xứ khác để buôn bán. Chính vì thế, khi đi biển họ không bao giờ đi xa khỏi tầm nhìn của bờ biển; tuy nhiên họ sẵn sàng cung cấp cho các cảng, tiếp tế cho người ngoại quốc. Họ rất sung sướng khi nhìn thấy những người không những từ các tỉnh, các vương quốc lân cận mà cả những vùng xa hơn đất họ để giao dịch buôn bán"1.

Vào thế kỷ XVIII, phủ Quy Nhơn có vị trí vượt trội  về các mặt hàng phong phú, đa dạng về các chủng loại. Lê Quý Đôn đã cho biết điều đó: "Ở vùng này có nhiều thóc gạo, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng, bạc, đồi mồi, trai, ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu sơn, cau, cá, muối, gỗ, lạt. Ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Gia Định thóc gạo không kể xiết, khách Bắc buôn bán quen khen bao không ngớt"2.

Ở phủ Quy Nhơn còn có nghề dệt chiếu cũng  khá phát triển. Nổi tiếng là: "Xã Nha Phiên, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn có đội dệt chiếu thảm (cù du), mỗi năm nộp thuế 30 đôi"3.

- Về lâm sản

 Núi rừng Bình Định dưới thời các chúa Nguyễn có nhiều lâm thổ sản và thú vật có giá trị kinh tế; là nơi có nhiều trầm hương, gỗ quý cho xuất khẩu và vật liệu xây dựng. Rừng núi phủ Quy Nhơn xưa có rất nhiều ngựa góp phần vào việc vận chuyển hàng hoá và chiến đấu.

Lâm sản ở phủ Quy Nhơn cũng rất phong phú về các chủng loại như tre, gỗ, các loại nấm quý, trầm hương, măng, mật ong… Trong đó, gỗ có một giá trị xuất khẩu cao.Ở phủ Quy Nhơn có 2 loại gỗ có giá trị  trong tiêu dùng và xuất khẩu là gỗ ó và gỗ hương: "Về một thứ gỗ được đánh giá là món hàng quý giá nhất mà người ta lấy từ Đàng Trong để bán cho các vương quốc khác, đó là thứ gỗ nổi tiếng tên là gỗ ó (bois d'aigle)". Borri còn cho biết: "Một chuyến tàu chở gỗ ó mua ở Đàng Trong có thể trở nên giàu có suốt đời".

Đối với trầm hương (calambà) cũng  là mặt hàng có giá trị  trong dược liệu  và xuất khẩu. Giáo sĩ Borri đã có nhận xét như sau: "Calambà là một món hàng dành riêng cho nhà vua vì giá trị của nó đưa hương thơm và các đặc tính của nó. Tại chỗ người ta nhặt nó rất thơm và dịu dù chỉ lấy vài miếng nhỏ để thử. Tôi đã chôn xuống đất hơn 7 palmes (thước xưa) mà còn thấy thơm. Calambà trị giá 5 ducart (một loại tiền vàng xưa) 1 livre (cân Anh) tại chỗ. Ơ các hải cảng Đàng Trong, nơi người ta đưa ra thị trường với giá rất đắt 16 ducart/1 livre; đến Nhật trị giá 200 ducart/ 1 livre. Ở Nhật, người ta có thể mua đến 300-400 ducart /1 livre để làm gối đầu. Gối bằng gỗ calambà xứng đáng của một ông vua hay là một vị quan lớn"1.

          Bên cạnh các mặt hàng trên, các mỏ vàng ở đây cũng được khai thác dùng để xuất khẩu.

 Nhìn chung, các mặt hàng đã nói trên của Đàng Trong nói chung, phủ Quy Nhơn nói riêng đều rất đa dạng, phong phú về chủng loại và đặc biệt rất có giá trị trong việc xuất khẩu. Borri đã nhận xét về điều này như sau: "Các thương gia người Âu đã đến buôn bán ở đây nói rằng các nguồn tài nguyên giàu có của xứ Đàng Trong còn lớn hơn của chính Trung Hoa như chúng ta biết về mọi thứ"2.

          4. Chuyển biến về xã hội và văn hóa

a. Về xã hội.

     Từ thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong nói chung, Bình Định nói riêng đã có sự phân hoá giàu nghèo, địa vị khác nhau của các tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt vào đầu thế kỷ XVII, vấn đề trên càng trở nên sâu sắc. Giáo sĩ Borri đã mô tả về các mối quan hệ xã hội ở đây, trong đó, ông chú ý đến việc tôn trọng người già và tập quán của người ngoại quốc của người dân phủ Quy Nhơn: "Tuổi tác được coi trọng hơn thứ bậc và người ta cho người cũ có địa vị cao hơn người trẻ. Từ đó đưa đến việc một vài vị quan lớn đến thăm chúng tôi thường đến với vị linh mục lớn tuổi hơn những người khác mà ông ta cho là bề trên. Họ không bao giờ tỏ thái độ cung kính một vị linh mục trẻ ở vị thế bề trên trước một vị linh mục già... Trong mọi gia đình dù nghèo đến đâu, người dân ở đây đều quy định 3 vị trí chỗ ngồi ứng với các quan hệ xã hội. Cách đầu tiên là cách thấp nhất là ngồi xổm trên một chiếc chiếu trải trên nền nhà, đó là những người cùng trong một gia đình, cùng vị trí xã hội. Còn những nhân vật quan trọng hơn lại ngồi trên mặt chiếc chiếu có phủ một tấm vải mịn. Cách thứ ba là ngồi trên một cái bàn (sập, bệ) cao 3 palmes so với mặt đất theo hình cái giường. Đây là chỗ ngồi của vị trấn thủ, các quan lớn ở địa phương, các vị  chức sắc tôn giáo, chính đây là chỗ các vị linh mục chúng ta được mời ngồi"1.

Đó là đạo đức, tập trung mạng nặng ý thức hệ phong kiến. Chế độ gia trưởng và công xã trong xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân. Bến cạnh sự tôn trọng tuổi tác, thứ bậc trong xã hội, cái hạn chế vẫn là sự đối xử bất công giữa các tầng lớp người nghèo và thân phận của người phụ nữ. Do đó, quá trình phân hoá xã hội dẫn đến các mâu thuẫn sâu sắc trong các tầng lớp nhân dân: nông dân, thương nhân, thợ thủ công đối với giai cấp thống trị và bóc lột thời bấy giờ. Điều đó đã làm cho những cuộc nổi dậy tự phát của các thương nhân ở hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn vào năm Ất Hợi (1695): "Người lái buôn ở Quảng Ngãi tên là Linh (không rõ họ) tụ đảng hơn 100 người, tự xưng là Linh Vương, tạo chiến thuyền, đúc binh khí cùng một người Quy Ninh (tức phủ Quy Nhơn) là Quảng Phú (không rõ họ) hợp đảng, ra vào núi rừng, hoành hành cướp bóc, quan lại địa phương không dẹp được, sợ hãi báo lên. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai dinh Quảng Nam hợp với hai phủ Quảng Ngãi, Quy Ninh đem quân đi đánh. Khi các đạo quân xông tới sơn trang thì Linh đã chết, Quảng Phú cả sợ trốn vào Phú Yên, bị dân Man (mọi) bắt nộp. Chúa sai giết cùng với đồ đảng 20 người và hậu thưởng cho dân Man"2.

Qua sử cũ, nhà Nguyễn đã cho chúng ta thấy, ngoài nông dân, tầng lớp thương nhân ở hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn đã phát triển mạnh mẽ, do có sự mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời nên đã liên kết khởi nghĩa. Lực lượng thương nhân đã dựa vào nguồn tài chính của mình để mua sắm  chiến thuyền, vũ khí chống lại chế độ thống trị của chúa Nguyễn.Từ đó cũng đã hình thành nên cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn trên địa bàn xứ Quảng Nam. Vì không liên kết với các tầng lớp khác của xã hội vốn có mâu thuẫn với chế độ địa chủ phong kiến là nông dân nên không tạo được sức mạnh to lớn, uy hiếp được chế độ chúa Nguyễn, nhưng đã thể hiện được cuộc đấu tranh quyết liệt của tầng lớp  thương nhân - và đây là cuộc khởi nghĩa của thương nhân duy nhất ở nước ta vào thế kỷ XVII.

  Thế kỷ XVIII, đặc biệt đến trước khởi nghĩa Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Lía tại qu mẹ thôn Phú Lạc- cũng là quê ngoại của các thủ lĩnh Tây Sơn. Lúc nhỏ, Lía ở chăn trâu cho một phú hộ, nhờ có sức khỏe, tài võ nghệ, Lía đánh chết một tên lính khi hắn hống hách bức hiếp dân. Lía trốn vào rừng cùng đảng cướp Cha Hồ chú Nhẫn cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo, do đó, lực lượng theo Lía ngày càng đông. Lía cho quân đánh phủ thành Quy Nhơn, đánh phá dinh trại, chém đầu quan tuần phủ, bắt người thiếp của tuần phủ về làm vợ. Chúa Nguyễn cho quân vào đàn áp, Lía rút quân về cố thủ ở căn cứ Truông Mây. Đánh mãi không phá được căn cứ, quân Triều đình mật cho vợ của Lía (người thiếp trước đây của quan tuần phủ Quy Nhơn) bỏ thuốc mê vào rượu cho Lía và binh sĩ uống. Lúc tỉnh dậy, thấy quân Nguyễn tấn công vào, Lía thấy thân mình bị buộc chặt vào tấm phản mới biết là bị lừa. Lía cố sức thoát khỏi vòng vây, nhưng căn cứ  đã bị  bao vây, binh sĩ bị giết, Lía phẫn uất tự sát không chịu khuất phục trước quân Nguyễn.

          Cuộc khởi nghĩa của Lía, là cuộc khởi nghĩa tự phát của  người nông dân đã dám dũng cảm đứng lên chống lại bất công của cường quyền lúc bấy giờ và là  hình ảnh tiêu biểu cho tầng lớp anh hùng nông dân ở Bình Định.

* Văn hóa

          Dưới thời các chúa Nguyễn, ở phủ Quy Nhơn có những chuyển biến về văn hoá được thể hiện qua văn hoá ẩm thực, trang phục, nghi lễ… được giáo sĩ Borri đã mô tả về sinh hoạt văn hoá ở đây như sau:

          Về ăn uống: Thịt có số lượng thật đáng kể, không phải chỉ do vô số con vật  gia súc như: bò, dê, heo, trâu mà còn thêm các thú rừng như nai, heo rừng và các loại chim, gà nhà, gà rừng có đầy đồng, cu gáy, bồ câu, vịt, ngỗng và hạc khá ngon, nhiều loại khác không có ở châu Âu.

Nghề chài lưới cũng rất phồn thịnh. Cá ở đây rẻ và ngon. Tôi đã đi biển nhiều, qua biết bao nhiêu xứ sở, nhưng tôi chưa thấy có nhiều cá ngon như ở Đàng Trong... Người Đàng Trong ưa ăn cá hơn ăn thịt, vì thế, họ chuyên tâm về nghề chài lưới, nghề này đem lại cho họ một thứ gia vị gọi là nước mắm (balaciam) được làm bằng cá ướp muối, ngâm và để rữa ra trong nước. Đó là một thứ chất lỏng có mùi vị rất  mạnh gần giống với mù - tạt và người ta dự trữ ở trong nhà rất nhiều, đều phải dùng thùng, vò để đựng như chúng ta dự trữ  rượu nho ở phần lớn châu Âu. Thứ gia vị này không chỉ là một món ăn mà chúng được dùng để kích thích sự tạo ra ngon miệng khi ăn cơm, nếu không có nó thì không ăn được cơm. Cơm và nước mắm là thức ăn cần thiết ở Đàng Trong nên nước mắm cần được sản xuất rất nhiều và cũng vì thế việc đánh cá phải được đẩy mạnh"1. Nước mắm là một đặc sản có giá trị kinh tế và dinh dưỡng mang tính truyền thống của nhân dân Bình Định.

- Về cách chế biến yến sào.

          Việc khai thác yến sào, Borri đã mô tả như sau: "Ở xứ này có loài chim yến. Chim này làm tổ trên dãy đá ngầm và vực thẳm trên biển nơi sóng đánh vào. Con chim nhỏ này với mỏ của mình đã lấy bọt của sóng biển và một thứ dịch mà nó tiết ra từ  dạ dày, tôi không biết nó kéo ra hay nhổ ra để làm thành tổ của mình. Tổ này sau khi khô thì cứng lại và trong suốt có màu trắng muốt (giữa xanh và vàng). Người dân thu hái tổ này, ngâm mềm trong nước, dùng như gia vị với các thực phẩm có thịt, rau, quả hay các thứ  khác và hợp cùng từng thứ tạo nên một thứ mùi vị thơm ngon riêng biệt theo từng thứ, giống như người ta đã nấu với tiêu, quế, đinh hương và các thứ  gia vị quý hiếm nhất, cho đến nỗi người ta không thể thêm muối, dầu, mỡ hay các thứ gia vị khác mà chỉ một thứ tổ này cũng đã làm thơm ngon mọi thứ thịt. Chính vì lẽ đó mà tôi cho rằng nó giống với thực phẩm mà chúa ban ở sa mạc. Nó tập trung mọi  hương vị thơm ngon của những món ăn ngon nhất. Đây là tác phẩm của một con chim yến  còn cái kia là của đấng tối cao thần linh - Thượng đế. Người ta tìm được tổ này với số lượng khá lớn, chính tôi đã thấy 10 thuyền chở đầy tổ này thu lượm ở các mỏm đá ngầm trong khoảng đến một ngàn thước. Đây là một thứ rất quý hiếm, chỉ nhà vua được quyền buôn bán nó với những khách hàng đặc biệt là vua Trung Hoa rất ưa chuộng loại mặt hàng cao cấp này"1.

          Yến sào hiện vẫn còn là  loại đặc sản của vùng biển Bình Định có giá trị xuất khẩu, dinh dưỡng và thưởng ngoạn rất cao.

          - Cỗ bàn

          Cỗ bàn được dọn và thiết triều trong thế kỷ XVII được Borri mô tả rất đặc sắc, phản ánh một nếp sống văn hoá ẩm thực khá cao của nhân dân ở đây: "Họ ngồi ăn trên đất, chân tréo, trước mặt có một cái bàn cao khoảng ngang ngực họ. Bàn này trang hoàng rất đẹp, chạm, khắc, đôi khi có dát mạ bạc hay vàng tuỳ theo hạng bậc và khả năng của người chủ. Bàn này không lớn, theo tập quán mỗi người có một bàn riêng của mình. Trong bữa tiệc, có bao nhiêu khách mời thì có bấy nhiêu cái bàn. Nhìn chung là người ta dùng trong những dịp lễ tiệc như thế. Nếu chỉ bữa cơm gia đình thì cha mẹ, con cái dùng chung một cái bàn, Họ không dùng dao, nĩa vì thức ăn để lên mâm đã chật như khi nấu nướng. Họ thay dao, nĩa bằng đôi đũa gỗ đã bào nhẵn đặt giữa các ngón tay với hai chiếc đũa, họ gắp thức ăn rất duyên dáng, khéo léo đến nỗi họ không cần dùng khăn ăn, vì họ không bẩn tay vì tay không đụng đến đồ ăn.

          Các bữa tiệc giữa láng giềng với nhau thường tổ chức thường xuyên và người ta dọn ra các món ăn rất đặc sắc, phong phú. Tại đây người ta không ăn cơm vì họ nghĩ rằng mỗi người đã có cơm từ nhà họ rồi. Dù nghèo như thế nào, chủ tiệc vẫn thấy thiếu bổn phận nếu như không dọn  mỗi người khách một mâm 100 món ăn. Họ có thói quen mời tất cả bà con, người quen, bạn bè, láng giềng cùng dự tiệc. Có bữa tiệc tụ tập đến hàng trăm có khi đến vài ba trăm người dự. Có hôm tôi có mặt dự một bữa tiệc long trọng, không dưới hai ngàn khách ăn. Các bữa tiệc này cần chỗ rộng rãi trên một cánh đồng để thiết trí cỗ bàn. Ai không lạ lùng rằng, với những chiếc bàn nhỏ như thế mà người ta để được hàng trăm món ăn.Trên một chiếc bàn nhỏ họ sắp xếp thức ăn  thành một  lâu đài bằng nứa thật kỳ diệu. Trên mỗi tầng để các  đĩa thức ăn rất mỹ quan. Các đĩa này chứa đầy các đặc sản trong xứ: Thịt, cá rất nhiều, thú rừng, thú nhà, con 4 chân, con 2 chân, con có cánh, con biết bơi cùng tất cả các chủng loại trái cây trong mùa. Nếu thực khách dùng còn thừa một món ăn, chủ tiệc coi như là không thành công, chưa đáng gọi là bữa tiệc..."1 Đây là một  nền văn hoá ẩm thực độc đáo mỗi người mỗi mâm  với "mâm cao cỗ đầy" phải chăng đã phản ánh một thực tế đó. Hiện tượng mỗi người mỗi bàn, mỗi mâm gần đây chúng ta thấy không còn tồn tại nữa ở Bình Định.      

          Về thức uống, Borri cho biết người Đàng Trong ưa uống rượu gạo và rễ chè  - một loại hình văn hoá ẩm thực không có ở phương Tây, Trung Quốc và Nhật Bản. Ở đây không có nho để uống thứ rượu như rượu nho, họ dùng một thứ rượu nấu bằng gạo, nó có mùi vị của rượu mạnh, có vị cay nồng. Thứ rượu này có rất nhiều và họ dùng bất cứ lúc nào họ muốn. Và nếu say cũng như say rượu nho. Những người biết tự trọng, những chủ nhà giàu có, họ chưng cất rượu này với trầm hương tạo thành một loại rượu hỗn hợp có mùi hương rất thơm ngon, tạo thành một loại nước có giá trị.

          Hàng ngày họ có một thói quen dùng một thứ nước rất nóng, trong đó họ nấu một thứ rễ của loại cỏ mà họ gọi là trà (chìa). Đó là một thứ uống bổ, nó giúp tiết ra dịch vị dạ dày và làm nhuận trường. Người Nhật và người Trung Hoa cũng uống thứ nước này. Người Trung Hoa thay vì uống rễ thì họ uống  bằng lá cây này, hiệu quả đều giống nhau"2.

           Bình Định là một trong những tỉnh nổi tiếng về trồng cau, trầu và tục ăn trầu cũng hết sức phổ biến. "Miếng trầu là đầu câu chuyện" trong cuộc sống hàng ngày, trong dịp lễ tết, cưới xin, đình đám... là tập tục đã có từ lâu đời của người dân Việt Nam. Về cách thức ăn cau trầu ở Bình Định, Borri đã mô tả một cách rất chi tiết: "Người ta để đầy trầu cau trong một cái hộp và nhai suốt ngày, không những ở trong nhà mà cả khi đi ngoài đường, ngay trong lúc nói chuyện, nhưng người ta không nuốt mà nhổ nó ra sau khi đã nghiền nát. Người ta chỉ thu nhận hương vị và tinh chất, nó bồi bổ cho dạ dày. Việc ăn các thứ này rất phổ biến đến nỗi một người đến thăm một người khác thì đem theo một hộp cau trầu và mời người viếng. Người này thường gọi người giúp việc lo chuyện trầu cau, đem hộp trầu cau ra mời khách để đáp lễ. Như vậy cau trầu được chuẩn bị trước rất chu đáo. Lượng tiêu thụ cau trầu rất lớn đến nỗi nguồn lợi chính của xứ này là do việc trồng cau"1. 

          Tục ăn trầu ở Bình Định cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá và đồng thời phản ánh bản sắc văn hoá của vùng đất này trước đây.

 Về trang phục

          Vào thế kỷ XVII, trang phục ở Bình Định có một sắc thái đặc trưng riêng cho cả phái nam và nữ: kín đáo mà lộng lẫy nhưng không kém phần trang trọng. Điều đó đã khiến cho Borri phải sửng sốt trước những vẻ đẹp này: "Họ dùng rất nhiều lụa cho trang phục nữ, đó là y phục trang nhã nhất so với khắp xứ  Ấn Độ. Dù bị sức nóng quá của nhiệt độ ngoài trời mà phải chịu đựng, nhưng không có phần thân thể nào của họ để lộ ra ngoài. Họ mặc cùng lúc đến 5, 6 cái áo. Cái này choàng lên cái kia và mỗi cái có màu sắc khác nhau. Cái đầu tiên là cái áo choàng ngoài được mặc hết sức trang trọng như một lễ phục hết sức nghiêm minh đến nỗi người ta không thấy một ngón chân của họ. Cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất một ít; cái thứ ba lại ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế cho đến chiếc áo trong cùng, với mỗi chiếc có màu sắc và kiểu cách riêng; chiếc cuối cùng là chiếc áo đến thắt lưng, một tấm vải ô vuông có màu sắc thay đổi có thể xem là cái nịt ngực; phía trên họ khoác một tấm voan, chất vải mịn và trong. Quanh thân thể người phụ nữ để lộ những thứ trang sức sang trọng, đoan trang, tề chỉnh thích hợp với từng người tuỳ theo sở thích và ngoại hình của họ mà người xem có cảm tưởng đang ngắm một mùa xuân trăm hoa đua nở. Họ có mái tóc dài, uốn lượn bên bờ vai, buông dài đến tận đất, tóc càng dài được coi càng đẹp. Trên đầu họ đội một cái nón rộng che hết cả mặt, họ chỉ thấy được 3 hay 4 bước trước mặt. Những chiếc nón này được làm bằng lụa và vàng tuỳ  theo thứ bậc trong xã hội, chỉ khi chào hỏi, các bà giở nón lên để nhìn nhau...

          Về trang phục đàn ông, thay thế băng ngang vai bằng một tấm vải nguyên. Họ mặc cùng lúc 5, 6 chiếc áo dài và rộng bằng lụa mịn, nhiều màu khác nhau với cánh tay rộng như áo của linh mục. Cái áo từ thắt lưng trở xuống được cắt và xẻ thành những dải rất đẹp khi chúng lay động thấy các màu sắc trộn lẫn vào nhau rất ngoạn mục. Lúc có cơn gió nhẹ thổi đến chúng tung lên trông giống hệt con công, khi nó xoè đuôi thành vòng tròn duyên dáng. Đàn ông cũng để tóc dài như phụ nữ và xoã đến tận gót chân và cũng đội nón. Những người nào có râu thì để dài, không cạo, nhưng số người này rất hiếm. Họ để móng tay dài như người Trung Hoa, nhất là đối với người quyền quý và dùng để phân biệt với dân lao động. Học trò và các tiến sĩ có trang phục chỉnh tề hơn. Áo không có tua và không màu sặc sỡ. Choàng ngoài là một chiếc áo da lạc đà đen, ở cổ choàng khăn và một chiếc khăn màu xanh vắt ở cánh tay, đầu đội một thứ mũ trùm  giống chiếc mũ lễ của các giám mục.

          Đàn ông, đàn bà đều cầm quạt tay giống chiếc quạt các phu nhân dùng ở châu Âu. Nhưng ở đây có ý nghĩa là đồ trang sức hơn là một vật sử dụng cần thiết.

          Lúc tang chế họ không mặc đồ đen như ở châu Âu mà lại mặc đồ trắng. Khi chào họ không để đầu trần vì họ cho rằng đó là bất lịch sự. Dân ở đây không mang tất, không mang giày. Họ bảo vệ lòng bàn chân bằng một tấm da buộc vào chân với dây lụa buộc qua các ngón như kiểu xăng đan. Đi chân trần họ chỉ xem là một khó chịu nhỏ, nhất là lúc ban đầu, có lẽ là do sự ẩm ướt của đất và không quen mang giày, sau dần dần họ quen đi, da chân chai cứng có thể đi trên đá, hay trên gai nhọn cũng không thấy đau".1

          Vào đầu thế kỷ XVII, ở phủ Quy Nhơn còn có các thú tiêu khiển vui nhộn và độc đáo, biểu hiện nét văn hoá ẩm thực mang đượm tính cách riêng của người dân nơi đây. Borri thích nhất là săn thú và đấu thú. Ông đã mục kích quan Khám lý Trần Đức Hoà dùng voi để chiến đấu với một con tê giác hung dữ: "Tê giác là một con vật có hình dáng trung gian giữa con bò và con ngựa. Dáng tê giác to như một con voi con, mình đầy những vỏ cứng như được trang bị bằng những lưỡi kim khí để tự vệ. Nó có một sừng thẳng hình kim tự tháp ngay giữa trán, chân và mình giống con bò. Khi tôi ở phố Nước Mặn, thuộc phủ Quy Nhơn, vị trấn thủ một lần kia đi săn một con tê giác ở trong một cánh rừng bên cạnh nơi cư trú của chúng tôi. Ông ta đem theo hơn 100 người, một phần đi bộ, một phần đi ngựa và có từ 8-10 con voi. Con tê giác ra khỏi rừng và thấy bao nhiêu là kẻ thù, không những nó không tỏ vẻ sợ hãi gì mà còn dũng cảm lao vào chống lại tất cả. Đoàn người chia thành các cánh quân. Con tê giác  chạy giữa các cánh quân nhằm thẳng toán tập hậu nơi có vị tổng trấn đang ngồi trên mình voi đợi giết nó. Con voi dùng vòi để bắt nó nhưng con tê giác đã khôn khéo dùng các thế thủ để tránh né. Con tê giác lại dùng sừng để tấn công con voi của vị trấn thủ. Vị Trấn thủ biết rằng con tê giác không thể bị hạ vì lớp vỏ bọc thân như thép của nó nên ông ta có thể tấn công nó ở một thế cạnh sườn. Ông đợi nó nhảy vọt thừa lúc nó sơ hở, ông tổng trấn khéo léo, tài tình dùng ngọn lao phóng đâm thủng vào mạn sườn con tê giác trong tiếng hoan hô và nỗi vui mừng của những người có mặt hôm đó. Một đống lửa được đốt lên, con vật được thui nướng chín thơm phức. Những người tham dự múa ở xung quanh như một cuộc lễ hội. Sau đó họ cắt xẻ từng phần thịt con vật để ăn. Các thứ như tim, gan, não con tê giác được làm thành một đĩa rất đẹp mắt để dâng vị tổng trấn đang ngồi ở một chỗ cao, thích thú ngắm nhìn cuộc vui này. Tôi có mặt ở đó và nhận ở vị trấn thủ chiếc móng của con vật này mà người ta nghĩ rằng nó có đặc tính và khả năng như của một vật linh thiêng và chiếc sừng của nó cũng rất tốt để chống nọc độc như  sừng  của  con kỳ lân"1.

          c. Về tôn giáo

          Bình Định là địa bàn xuất hiện các tôn giáo khá sớm so với các tỉnh khác ở Đàng Trong. Thiên chúa giáo được truyền từ  đầu  thế kỷ XVII. Phật giáo phái Lâm tế chánh tông được truyền vào nửa sau thế kỷ XVII.

          - Phật giáo:

          Phật giáo thời Chămpa còn bảo lưu trong một số ngôi chùa cổ ở Bình Định như chùa Nhạn Tháp, chùa Hàm Long tồn tại qua lớp cư dân Đại Việt thời Lê. Vào đầu thế kỷ XVII, Borri đã cho rằng: "Một địa điểm nhỏ đến đâu cũng có đền chùa thờ thần Phật. Có những pho tượng rất lớn có vàng, bạc tàng trữ ở bên trong". Dưới thời các chúa Nguyễn, phái Lâm tế đã sớm truyền vào phủ Quy Nhơn do một nhà sư Trung Quốc là Tạ Nguyên Thiều, huyện Triều Châu, tỉnh Quảng Đông. Nhà sư có hiệu là Hoán Bích - đời thứ 33 của phái Lâm tế. Năm 1665, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, sư đã đến hành đạo ở phủ Quy Nhơn2. Năm 1683, sư Nguyên Thiều đã dựng chùa Thập Tháp. Năm 1691, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho chùa tấm biển Thập Tháp di đà tự và sư được chúa ái mộ. Sư Nguyên Thiều được mời ra lập chùa Hà Trung, Quốc Ân ở Phú Xuân, Giác Duyên ở Gia Định. Trụ trì Thập Tháp và việc hoằng pháp ở phủ Quy Nhơn, sư Nguyên Thiều uỷ thác lại cho Hoà thượng Đạo Nguyên (1656-1716) và Hoà thượng Kỳ Nguyên (1682-1744). Hiện nay ở chùa Thập Tháp còn giữ được 3 bộ kinh cổ do sư Nguyên Thiều thỉnh qua Việt Nam vào thời chúa Nguyễn.

Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, Phù Cát cũng là một   ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1702). Vị sư dựng chùa có tên là Lê Ban (tục gọi là ông Núi). Năm 1733, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho vị sư lão trụ trì là Tĩnh giác thiện trì đại lão ông thiền sư 1.  

          Chùa Long Khánh ở thành phố Quy Nhơn được Hoà thượng Đức Sơn (1651-1742) lập nên. Di vật còn lại thuở khai sơn ngôi cổ tự này là khánh đồng được đúc vào năm Kỷ Mùi (1739)2. Chùa Long Khánh hiện là một danh lam nổi tiếng của tỉnh Bình Định.

- Thiên chúa giáo. 

          Thiên chúa giáo cũng được truyền vào phủ Quy Nhơn từ đầu thế kỷ XVII, chỉ sau Hội An ở Đàng Trong. Năm 1618, Khám lý Trần Đức Hoà mời giáo sĩ Borri đến lập giáo xứ ở phố Nước Mặn để truyền đạo và cho xây dựng "một ngôi nhà thờ bằng gỗ khá tiện nghi tại thành phố Nước Mặn"3. Tháng 7 năm 1618, các giáo sĩ khác như: Buzomi, Pina, Augustin cũng được Trần Đức Hoà mời từ  Hội An vào Nước Mặn để truyền giáo. Các giáo sĩ này cho biết: "Quan trấn thủ cho xây một ngôi nhà bằng gỗ rộng rãi ở Nước Mặn. Ông dùng voi đưa các linh mục tới nhà mới, từ đó các linh mục có cơ sở hoạt động và được dân chúng kính nể. Cũng năm đó Thánh đường làm sẵn dựng lên ở phố Nước Mặn và ráp trong vòng 1 ngày trước sự bỡ ngỡ và thán phục của những nhà truyền giáo".

          Phố Nước Mặn dài chừng 1 km, rộng 0,5 km, nay ở xã Phước Quang, huyện Tuy Phước.

          Sau đó, giáo sĩ Alexandre de Rhodes cũng thường vào Nước Mặn (phủ Quy Nhơn) để giảng đạo và trở thành một trong nhng nơi ra đời Từ điển tiếng Việt - Bồ - la đầu tiên ở Việt Nam. Quy Nhơn là nơi góp phần hình thành chữ Quốc ngữ dưới thời các giáo sĩ phương Tây mà tiêu biểu là Alexandre de Rhodes.

          Phủ Quy Nhơn dưới thời Lê và các chúa Nguyễn (từ thế kỷ XV-XVIII) là giai đoạn có nhiều ý nghĩa trong lịch sử tỉnh Bình Định. Là thời kỳ tiếp quản từ một kinh đô của Chămpa với nhiều di sản lịch sử và văn hoá xã hội  được hoà nhập trong cộng đồng văn hoá Đại Việt cho đến nay vẫn còn bảo lưu  trong đời sống của nhân dân Bình Định. Thời Lê với việc thành lập phủ Quy Nhơn có 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, tạo nên một bản lề chính trị sắc sảo và vững chắc để các chúa Nguyễn xây dựng phủ Quy Nhơn (1602) lớn mạnh và trù phú là bàn đạp để các chúa Nguyễn m đất Đàng Trong. Cảng thị Nước Mặn ra đời trở thành trung tâm thương nghiệp, quan hệ với nhiều thị trường trên thế giới. Nhiều ngành nghề thủ công và khai thác đặc sản phát triển tạo thành những mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Xã hội phân hoá tạo thành những mâu thuẫn sâu sắc, nhất là giữa nhân dân lao động với tầng lớp cường quyền áp bức bóc lột và trở thành nguyên nhân để vùng đất Bình Định xuất hiện nhiều hào kiệt, những nghĩa hiệp xả thân, cứu đời giúp nước. Dưới thời các chúa Nguyễn, phủ Quy Nhơn giữ vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế đối với vùng đất mới ở Đàng Trong và là nơi có những sắc thái xã hội, văn hoá độc đáo của vùng đất tiền Tây Sơn khởi nghĩa.

 

 



3 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 38.

1 Theo ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 6.

2 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 42.

3 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 43.

4 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 43-44.

5 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 44.

1 ĐNTLTB, sđd, tr. 78.

1 ĐNTLTB, sđd, tr. 191.

2 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 6.

1 ĐNLTTB, sđd, tr. 136.

1 ĐNTLTB, sđd, tr. 149.

2 ĐNTLTB, sđd, tr. 185.

3 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (PBTL), Khoa học, Hà Nội, 1964, tr. 146.

4 Borri, sđd, tr. 290.

5 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 351, 372.

[1] Lê Quý Đôn, sđd, tr. 146.

1 Borri (C), Relation de la nouvelle Mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, BAVH, 1931, tr. 331, bản dịch của Nguyễn Cửu Sà.

2 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 371.

3 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 356

1 Borri, sđd, tr. 300.

2 Borri, sdd, tr. 299-300.

1 Borri, sđd, tr. 310.

2 ĐNTLTB, sđd, tr. 152.

1 Borri, sđd, tr. 295, 296.

1 Borri, sđd, tr. 297.

1 Borri, sđd, tr. 314. Thông thường các bữa tiệc lớn có người hầu đi theo, họ cùng ăn với chủ. Nếu ăn không hết người hầu bỏ vào túi mang về chia cho con cái và những người thân khác.

2 Borri, sđd, tr. 315.

1 Borri, sđd, tr. 294-295.

1 Borri, sđd, tr. 310-311, 307-313.

1 Borri, sđd, tr. 307.

2 ĐNNTC, tập III, sđd, tr. 48. Cĩ ti liệu cho rằng  năm 1677.

1 ĐNNTC, tập III, sđd, tr. 48.

2 Borri, sđd, tr. 350.

3 Bastali, Istons della compogne de Jesus. Magoli 1859. Tài liệu của chủng viện Quy Nhơn, dẫn lại trong Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII của Đỗ Bang. Thuận Hoá- Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1996, tr. 157.