II. PHỦ QUY NHƠN DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN (thế kỷ XVII-XVIII)
1. Tổ chức cai trị
Các chúa Nguyễn xuất hiện trong lịch sử Việt
Tháng 11 năm Mậu Ngọ
(1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn nhậm Thuận Hoá.
Năm 1570, vua Lê triệu tổng binh Quảng
Năm 1578, Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh - một cận thần tin cậy của chúa làm
tri huyện Tuy Viễn - huyện xa nhất của phủ Quy Nhơn lúc bấy giờ để lo trị an,
giữ vững biên giới. Phủ Hoài Nhơn trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công mở đất
vào Phú Yên1.
Từ khi cai quản đất Quảng
Để nắm thêm tình hình phủ Hoài Nhơn, năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho mời khám lý
phủ Hoài Nhơn Trần Đức Hoà (bấy giờ gọi là Cống quận công, con của Dương Đàm hầu
Trần Ngọc Phân - Phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến. Trần Đức Hoà được chúa
đãi rất hậu, sau đó, chúa trở về Thuận Hoá3.
Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn.
Năm 1611, Chiêm Thành cho quân xâm lấn biên giới phía nam, chúa Nguyễn Hoàng sai
chủ sự Văn Phong đem quân đánh chiếm phần đất phía nam đèo Cù Mông, lập phủ Phú
Yên, gồm 2 huyện: Đồng Xuân và Tuy Hoà4.
Thế Thuận - Quảng đã vững chắc có thể đương đầu với họ Trịnh để xây dựng cơ
nghiệp lâu dài cho con cháu họ Nguyễn về sau.
Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng căn dặn Nguyễn Phúc Nguyên và các cận
thần: "Đất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn và sông Linh Giang hiểm trở, phía
nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá, muối,
thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống
chọi với họ Trịnh thì cũng đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không
địch được thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chớ đừng bỏ qua lời dặn của ta"5.
Qua đó, chứng tỏ sức sống và vị thế của đất Thuận
- Quảng cùng tầm nhìn chiến lược phát triển Đàng Trong lâu
dài của chúa Nguyễn Hoàng.
Năm 1651, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, chúa cho đổi phủ Quy Nhơn thành phủ
Quy Ninh. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn và vẫn
được gọi suốt thời kỳ Tây Sơn.
Các chúa Nguyễn đã có chính sách tích cực đẩy mạnh việc khai phá, phát triển
vùng đất mới phía nam. Năm 1578, sau khi kiêm quản đất Quảng Nam 8 năm, chúa
Nguyễn Hoàng đã bổ nhiệm Lương Văn Chánh làm tri huyện Tuy Viễn để đưa dân vào
khai phá, lập làng ở ngay dưới chân đèo Cù Mông mở đường cho cuộc di dân vào Phú
Yên .
Năm 1648, có một đợt di dân lớn trong lịch sử vào vùng đất Quảng Nam, đó là năm
chúa Nguyễn đánh thắng quân Trịnh bắt hơn 3 vạn tù binh vào khai phá miền đất
mới này. Chúa Nguyễn Phúc Lan đã có một tầm nhìn sáng suốt, chúa cho rằng: "Hiện
nay, từ miền Thăng (tức phủ Thăng Bình), Điện (tức phủ Điện Bàn) trở vào nam đều
là đất cũ của người Chămpa, dân cư thưa thớt, nếu đem chúng an tháp vào đất ấy,
cấp cho canh ngưu điền khí chia ra từng hộ, từng xóm, tính nhân khẩu cấp cho
lương ăn để chúng khai khẩn ruộng hoang thì trong khoảng mấy năm, thuế má thu
được có thể giúp quốc dụng về sau 20 năm, sinh sản ngày càng nhiều, có thể cho
vào quân số có ấp mà lo về sau"1.
Thực hiện chủ trương này, số tù binh được phân chia ra nhiều nơi, chia nhóm 50
người thành lập một ấp đều cấp cho lương ăn nửa năm, lại ra lệnh cho mỗi ấp
những gia đình giàu có bỏ thóc ra cho họ vay và ưu tiên cho họ khai thác các
nguồn lợi về núi, đầm để sinh sống. Quyết định này ban hành đã có khoảng 600
làng mới được thành lập sau năm 1648 ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
và Phú Yên... từ đó ruộng đồng phát triển, làng mạc đông vui.
Sau thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn này, vào khoảng niên hiệu Thịnh Đức
(1653-1657), chúa Nguyễn Phúc Tần quyết định cho quân vượt sông Gianh đánh ra
vùng Nghệ An để bắt tù binh và nông dân vùng sông Lam đưa họ về Nam khai phá
đất đai, lập làng, bổ sung cho lực lượng lao động ở Đàng Trong. Một bộ
phận trong số này được đưa vào vùng chân núi, ven đầm, gần biển ở phủ Quy Ninh
(Quy Nhơn), trong đó, có tổ tiên của dòng họ Hồ được đưa về lập ấp ở An Khê, đó
là ấp Tây Sơn Thượng.
Các vùng đất mới mở chia thành nhiều thôn, ấp, nậu họp lại lập thành thuộc.
Thuộc là đơn vị tương đương cấp tổng ở vùng đồng bằng đã khai thác từ lâu đời.
Phủ Quy Ninh vào năm 1726 có 13 thuộc. Nếu thuộc có 500 người trở lên đặt 1 cai
thuộc, 1 ký thuộc; 450 người trở xuống đặt 1 lý thuộc; 100 người đặt 1 tướng
thần1.
2. Sử dụng nhân tài
Dưới thời các chúa Nguyễn, việc sử dụng nhân tài ở Đàng Trong nói chung, ở Bình
Định nói riêng đều được quan tâm, chú trọng nhằm tìm ra những người có tài và
đức, có chí hướng chung lưng đấu cật cùng các chúa để xây dựng, phát triển về
kinh tế mở mang sự nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Trong việc sử dụng nhân tài của các chúa, đặc biệt là chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn
Phúc Nguyên... đã rất chú tâm đến khả năng thực lực mà trọng dụng một cách đích
đáng, có hiệu quả trong từng công việc.
Với phủ Quy Nhơn - mảnh đất đầy thăng trầm, đau thương, chồng chất những khó
khăn bộn bề của người mới tiếp quản. Nhưng đó cũng là mảnh đất hứa hẹn một tiềm năng to lớn về tài nguyên, sản
vật cũng như về an ninh, quốc phòng, đòi hỏi phải có bàn tay, khối óc con người
trong buổi
đầu mới khai phá.
Trong bối cảnh ấy, các chúa Nguyễn phải có tầm nhìn sâu sắc về chiêu hiền đãi sĩ
để cùng gánh vác “giang sơn”. Chính vì thế, các chúa Nguyễn đã có chính sách
chọn người tài thực sự. Đã xuất hiện những nhân tài
tiêu biểu của phủ Quy Nhơn như: Lương Văn Chánh, Trần Đức Hoà, Đào Duy Từ... đã
cùng các chúa Nguyễn làm nên nghiệp lớn trên đất Bình Định xưa.
Với tài năng dùng người của chúa Nguyễn Hoàng, Lương Văn Chánh đã: “Vỗ yên dân
chúng” ở huyện Tuy Viễn- một huyện xa nhất của phủ Quy Nhơn hồi đó nhằm lo trị
an, giữ vững biên giới và chuẩn bị quân, dân vào sinh sống, lập làng ở phía nam
đèo Cù Mông. Như vậy, phủ Hoài Nhơn đã trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công mở
đất vào Phú Yên2.
Đối với Trần Đức Hoà, chúa Nguyễn Hoàng rất hài lòng về tầm nhìn, tài năng, đức
độ của quan Khám lý phủ Hoài Nhơn (tương đương chức quan đầu tỉnh Bình Định sau
này) và chúa rất yên tâm khi giao trọng trách cai quản phủ Quy Nhơn cho ông. Với
tài đức của mình, ông không những biết vỗ yên dân chúng, phát triển kinh tế, giữ
vững an ninh quốc phòng, bảo đảm hậu phương về phía nam mà còn tham mưu cùng
chúa Nguyễn Phúc Nguyên mưu tính đại sự cho nghiệp vương bá và kinh bang tế thế.
Chúa rất tin dùng và thường gọi ông là “nghĩa đệ”. Vì vậy, sử nhà Nguyễn đã hết
lời ngợi ca ông: “Trong thì vỗ yên dân chúng, ngoài thì cung cấp quân lương. Phủ
chúa rất trông cậy”1.
Năm 1627, khi nghe tin thắng quân Trịnh trận đầu, Trần
Đức Hoà đến mừng và tiến cử Đào Duy
Từ cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Từ đó, Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên
trọng dụng, trao cho chức Nội tán Lộc Khê hầu. Nhờ có Đào Duy Từ, việc dựng luỹ
ở Quảng Bình, soạn thảo binh thư cho quân đội, tham mưu cho chiến lược chống
quân Trịnh, phát triển kinh tế, mở rộng lãnh thổ về phía nam đều thắng lợi. Đào
Duy Từ vì xuất thân từ con nhà xướng ca mà bị chế độ Lê - Trịnh vứt bỏ một tài
năng hiếm có; còn ở Bình Định, được tiến cử với chúa Nguyễn thì lại được trọng
dụng xứng với tài năng của ông, trở thành bậc thầy trong thiên hạ. Sự nghiệp của
chúa Nguyễn Phúc Nguyên sẽ khó khăn nếu không có những người như Trần Đức Hoà,
Đào Duy Từ. Bình Định - một vùng đất vốn có bề dày về lịch sử, với tinh thần
phóng khoáng, canh tân, vượt qua sự nghiệt ngã của các số phận và bất công đã
hun đúc, nuôi dưỡng hiền tài mà lịch sử đã chứng minh như các trường hợp: Lương Văn Chánh, Trần
Đức Hoà,
Đào Duy Từ... sau này còn có Nguyễn Huệ và các thủ lĩnh Tây Sơn...
3. Hoạt động kinh tế
Dưới thời các chúa Nguyễn đánh dấu một
bước phát triển kinh tế của phủ Quy Nhơn từ nông nghiệp đến các ngành công, thương nghiệp.
* Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
Từ thời chúa Nguyễn Hoàng, do hiệu quả của chính
sách khai hoang, di dân lập ấp cho đến tận đèo Cù Mông (1578), cùng các đợt di
dân tiếp theo vào thế kỷ XVII đã hình thành nhiều làng mạc, lấp dần những mảng
trống dân cư ở các vùng chân núi phía tây và ven biển phía đông. Kết quả của các
đợt khai hoang lập làng đã thành lập được 13 thuộc. Thuộc là đơn vị tương đương
cấp tổng dưới thời các chúa Nguyễn. Những phần đất khai hoang phần lớn trở thành
phần đất sở hữu tư nhân của những nông dân và điền chủ được giao tổ chức khai
phá. Dưới thời các chúa Nguyễn cũng trưng dụng ruộng đất làng xã để ban cấp tự
điền cho các công thần như năm 1694: "Trưng cấp tự điền và tư nhân cho Tiết chế
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật. Nguyễn Hữu Tiến được cấp 19 mẫu tự điền ở 2
xã Bồ Đề và Tùng Châu, tự dân 100 người ở xã Nghĩa An. Nguyễn Hữu Dật được cấp 3
mẫu tự điền ở xã Vinh Quang, tự dân 100 người ở xã Bao La"1.
Năm 1716, cấp tư điền 10 mẫu cho cháu của Khám lý Trần Đức Hoà2.
Vào thế kỷ XVIII, đất thực trưng canh tác toàn phủ Quy Nhơn là 72.600 mẫu 5 sào,
12 thước 8 tấc 5 phân3,
bằng ruộng đất tư Thuận Hoá.
Giáo sĩ Borri đã mô tả nền sản xuất nông nghiệp thịnh vượng ở đây như sau: “Nhờ
lụt nên đất đai màu mỡ, mỗi năm người ta gặt 3 vụ lúa, với sự sung túc do nghề
nông mang lại đã cho dân chúng cuộc sống no đủ, nên ở đây không ai muốn làm viên
chức ăn lương”4
* Sự phát triển kinh tế hàng hoá
Dưới thời các chúa Nguyễn, điều kiện giao thông đường bộ và đường thuỷ ở phủ
Quy Nhơn phát triển khá thuận lợi cho việc đi lại và lưu thông hàng hoá.
Đường bộ theo chiều nam - bắc qua phủ Quy Nhơn có hai con đường. Đường Thiên
lý đi theo miệt đồng bằng làng xã gọi là đường Hạ đạo - tiền thân của Quốc lộ 1
hiện nay; phía bắc giáp với Quảng Ngãi, vào nam giáp Phú Yên, mất 5 ngày rưỡi đi
bộ qua các quán Bến Đá, Bồ Đề, Phủ Cũ, Quán Tre, Lang Kha, Quán Chùa, Quán Mới,
Canh Hàn, Phú Bình, cuối cùng là chân đèo Truông Ninh - giáp giới của phủ Phú
Yên.
Đường Thượng đạo, từ Bến Đá (Quảng Ngãi), qua các nguồn Đồng Duệ, Đồng Hươu,
Cầu Bông, ấp Tây Sơn thượng xuống Quán Lạc mất 6 ngày5.
Đường thuỷ phủ Quy Nhơn có nhiều sông và hơn 100 km bờ biển với nhiều cửa
khẩu và đầm phá rất thuận tiện cho việc neo đậu và việc ghi thuyền bè, lưu thông
hàng hoá nội địa. Số thuyền vận tải của phủ Quy Nhơn năm 1768 có 93 chiếc. Đó là
số thuyền nhiều nhất so với các phủ
khác ở Đàng Trong.[1]
Sản xuất hàng hoá:
Vào thế kỷ XVII, phủ Quy Nhơn đã là một vùng đất giàu sản vật, tài nguyên.
Người dân ở đây đã sản xuất ra nhiều mặt hàng phong phú, được giáo sĩ Borri sống
ở Đàng Trong mà chủ yếu ở Hội An và phủ Quy Nhơn trong một thời gian khá dài
(1618-1621), ông đã nhận xét về nguồn tài nguyên ở đây như sau: "Xứ Đàng Trong
rất giàu về mọi thứ cần thiết cho sự nuôi sống con người.Dân chúng xứ họ không
tò mò, cũng không có khuynh hướng tìm đến các xứ khác để buôn bán. Chính vì thế,
khi đi biển họ không bao giờ đi xa khỏi tầm nhìn của bờ biển; tuy nhiên họ sẵn
sàng cung cấp cho các cảng, tiếp tế cho người ngoại quốc. Họ rất sung sướng khi
nhìn thấy những người không những từ các tỉnh, các vương quốc lân cận mà cả
những vùng xa hơn đất họ để giao dịch buôn bán"1.
Vào thế kỷ XVIII, phủ Quy Nhơn có vị trí vượt trội
về các mặt hàng phong phú, đa dạng về các chủng loại. Lê Quý Đôn đã cho biết
điều đó: "Ở vùng này có nhiều thóc gạo, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi,
vàng, bạc, đồi mồi, trai, ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu sơn, cau, cá, muối, gỗ,
lạt. Ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Gia Định thóc gạo không kể xiết, khách Bắc
buôn bán quen khen bao không ngớt"2.
Ở phủ Quy Nhơn còn có nghề dệt chiếu
cũng khá phát triển. Nổi tiếng là:
"Xã Nha Phiên, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn có đội dệt chiếu thảm (cù du), mỗi năm
nộp thuế 30 đôi"3.
- Về lâm sản
Núi rừng Bình Định dưới thời các chúa
Nguyễn có nhiều lâm thổ sản và thú vật có giá trị kinh tế; là nơi có nhiều trầm
hương, gỗ quý cho xuất khẩu và vật liệu xây dựng. Rừng núi phủ Quy Nhơn xưa có
rất nhiều ngựa góp phần vào việc vận chuyển hàng hoá và chiến đấu.
Lâm sản ở phủ Quy Nhơn cũng rất phong phú về các chủng loại như tre, gỗ, các
loại nấm quý, trầm hương, măng, mật ong… Trong đó, gỗ có một giá trị xuất khẩu
cao.Ở phủ Quy Nhơn có 2 loại gỗ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu là gỗ ó
và gỗ hương: "Về một thứ gỗ được đánh giá là món hàng quý giá nhất mà
người ta lấy từ Đàng Trong để bán cho các vương quốc khác, đó là thứ gỗ nổi
tiếng tên là gỗ ó (bois d'aigle)". Borri còn cho biết: "Một chuyến tàu chở gỗ ó
mua ở Đàng Trong có thể trở nên giàu có suốt đời".
Đối với trầm hương (calambà) cũng là mặt hàng có giá trị trong dược liệu và xuất khẩu. Giáo sĩ Borri đã có nhận
xét như sau: "Calambà là một món hàng dành riêng cho nhà vua vì giá trị của nó
đưa hương thơm và các đặc tính của nó. Tại chỗ người ta nhặt nó rất thơm và dịu
dù chỉ lấy vài miếng nhỏ để thử. Tôi đã chôn xuống đất hơn 7 palmes (thước xưa)
mà còn thấy thơm. Calambà trị giá 5 ducart (một loại tiền vàng xưa) 1 livre (cân
Anh) tại chỗ. Ơ các hải cảng Đàng Trong, nơi người ta đưa ra thị trường với giá
rất đắt 16 ducart/1 livre; đến Nhật trị giá 200 ducart/ 1 livre. Ở Nhật, người
ta có thể mua đến 300-400 ducart /1 livre để làm gối đầu. Gối bằng gỗ calambà
xứng đáng của một ông vua hay là một vị quan lớn"1.
Bên cạnh các mặt hàng trên, các mỏ vàng ở đây cũng
được khai thác dùng để xuất khẩu.
Nhìn chung, các mặt hàng đã nói trên
của Đàng Trong nói chung, phủ Quy Nhơn nói riêng đều rất đa dạng, phong phú về
chủng loại và đặc biệt rất có giá trị trong việc xuất khẩu. Borri đã nhận xét về
điều này như sau: "Các thương gia người Âu đã đến buôn bán ở đây nói rằng các
nguồn tài nguyên giàu có của xứ Đàng Trong còn lớn hơn của chính Trung Hoa như
chúng ta biết về mọi thứ"2.
4. Chuyển biến về xã hội và
văn hóa
a. Về xã hội.
Từ thời các chúa
Nguyễn, ở Đàng Trong nói chung, Bình Định nói riêng đã có sự phân hoá giàu
nghèo, địa vị khác nhau của các tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt vào đầu thế kỷ
XVII, vấn đề trên càng trở nên sâu sắc. Giáo sĩ Borri đã mô tả về các mối quan
hệ xã hội ở đây, trong đó, ông chú ý đến việc tôn trọng người già và tập quán
của người ngoại quốc của người dân phủ Quy Nhơn: "Tuổi tác được coi trọng hơn
thứ bậc và người ta cho người cũ có địa vị cao hơn người trẻ. Từ đó đưa đến việc
một vài vị quan lớn đến thăm chúng tôi thường đến với vị linh mục lớn tuổi hơn
những người khác mà ông ta cho là bề trên. Họ không bao giờ tỏ thái độ cung kính
một vị linh mục trẻ ở vị thế bề trên trước một vị linh mục già... Trong mọi gia
đình dù nghèo đến đâu, người dân ở đây đều quy định 3 vị trí chỗ ngồi ứng với
các quan hệ xã hội. Cách đầu tiên là cách thấp nhất là ngồi xổm trên một chiếc
chiếu trải trên nền nhà, đó là những người cùng trong một gia đình, cùng vị trí
xã hội. Còn những nhân vật quan trọng hơn lại ngồi trên mặt chiếc chiếu có phủ
một tấm vải mịn. Cách thứ ba là ngồi trên một cái bàn (sập, bệ) cao 3 palmes so
với mặt đất theo hình cái giường. Đây là chỗ ngồi của vị trấn thủ, các quan lớn
ở địa phương, các vị chức sắc tôn
giáo, chính đây là chỗ các vị linh mục chúng ta được mời ngồi"1.
Đó là đạo đức, tập trung mạng nặng ý thức hệ phong kiến. Chế độ gia trưởng và
công xã trong xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân. Bến cạnh
sự tôn trọng tuổi tác, thứ bậc trong xã hội, cái hạn chế vẫn là sự đối xử bất
công giữa các tầng lớp người nghèo và thân phận của người phụ nữ. Do đó, quá
trình phân hoá xã hội dẫn đến các mâu thuẫn sâu sắc trong các tầng lớp nhân dân:
nông dân, thương nhân, thợ thủ công đối với giai cấp thống trị và bóc lột thời
bấy giờ. Điều đó đã làm cho những cuộc nổi dậy tự phát của các thương nhân ở hai
phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn vào năm Ất Hợi (1695): "Người lái buôn ở Quảng Ngãi
tên là Linh (không rõ họ) tụ đảng hơn 100 người, tự xưng là Linh Vương, tạo
chiến thuyền, đúc binh khí cùng một người Quy Ninh (tức phủ Quy Nhơn) là Quảng
Phú (không rõ họ) hợp đảng, ra vào núi rừng, hoành hành cướp bóc, quan lại địa
phương không dẹp được, sợ hãi báo lên. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai dinh Quảng
Qua sử cũ, nhà Nguyễn đã cho chúng ta thấy, ngoài nông dân, tầng lớp thương
nhân ở hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn đã phát triển mạnh mẽ, do có sự mâu thuẫn
sâu sắc với xã hội đương thời nên đã liên kết khởi nghĩa. Lực lượng thương nhân
đã dựa vào nguồn tài chính của mình để mua sắm
chiến thuyền, vũ khí chống lại chế độ thống trị của chúa Nguyễn.Từ đó cũng đã
hình thành nên cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn trên địa bàn xứ Quảng
Thế kỷ XVIII, đặc biệt đến trước
khởi nghĩa Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong đó tiêu
biểu là cuộc khởi nghĩa của Lía tại qu mẹ
ở thôn Phú Lạc- cũng là quê ngoại của
các thủ lĩnh Tây Sơn. Lúc nhỏ, Lía ở chăn trâu cho một phú hộ, nhờ có sức khỏe,
tài võ nghệ, Lía đánh chết một tên lính khi hắn hống hách bức hiếp dân. Lía trốn
vào rừng cùng đảng cướp Cha Hồ chú Nhẫn cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo, do
đó, lực lượng theo Lía ngày càng đông. Lía cho quân đánh phủ thành Quy Nhơn,
đánh phá dinh trại, chém đầu quan tuần phủ, bắt người thiếp của tuần phủ về làm
vợ. Chúa Nguyễn cho quân vào đàn áp, Lía rút quân về cố thủ ở căn cứ Truông Mây.
Đánh mãi không phá được căn cứ, quân Triều đình mật cho vợ của Lía (người thiếp
trước đây của quan tuần phủ Quy Nhơn) bỏ thuốc mê vào rượu cho Lía và binh sĩ
uống. Lúc tỉnh dậy, thấy quân Nguyễn tấn công vào, Lía thấy thân mình bị buộc
chặt vào tấm phản mới biết là bị lừa. Lía cố sức thoát khỏi vòng vây, nhưng căn
cứ đã bị bao vây, binh sĩ bị giết, Lía phẫn uất tự
sát không chịu khuất phục trước quân Nguyễn.
Cuộc khởi nghĩa của Lía, là cuộc khởi nghĩa tự phát của
người nông dân đã dám dũng cảm đứng lên chống lại bất công của cường quyền lúc
bấy giờ và là hình ảnh tiêu biểu cho tầng lớp anh hùng
nông dân ở Bình Định.
* Văn hóa
Dưới thời các chúa Nguyễn, ở phủ Quy Nhơn có những chuyển biến về văn hoá được
thể hiện qua văn hoá ẩm thực, trang phục, nghi lễ… được giáo sĩ Borri đã mô tả
về sinh hoạt văn hoá ở đây như sau:
Về ăn uống: Thịt có số lượng thật đáng kể, không phải chỉ do vô
số con vật gia súc như: bò, dê, heo, trâu mà còn
thêm các thú rừng như nai, heo rừng và các loại chim, gà nhà, gà rừng có đầy
đồng, cu gáy, bồ câu, vịt, ngỗng và hạc khá ngon, nhiều loại khác không có ở
châu Âu.
Nghề chài lưới cũng rất phồn thịnh. Cá ở đây rẻ và
ngon. Tôi đã đi biển nhiều, qua biết bao nhiêu xứ sở, nhưng tôi chưa thấy có
nhiều cá ngon như ở Đàng Trong... Người Đàng Trong ưa ăn cá hơn ăn thịt, vì thế,
họ chuyên tâm về nghề chài lưới, nghề này đem lại cho họ một thứ gia vị gọi là
nước mắm (balaciam) được làm bằng cá ướp muối, ngâm và để rữa ra trong nước. Đó
là một thứ chất lỏng có mùi vị rất mạnh gần giống với mù - tạt và người ta
dự trữ ở trong nhà rất nhiều, đều phải dùng thùng, vò để đựng như chúng ta dự
trữ rượu nho ở phần lớn châu Âu. Thứ
gia vị này không chỉ là một món ăn mà chúng được dùng để kích thích sự tạo ra
ngon miệng khi ăn cơm, nếu không có nó thì không ăn được cơm. Cơm và nước mắm là
thức ăn cần thiết ở Đàng Trong nên nước mắm cần được sản xuất rất nhiều và cũng
vì thế việc đánh cá phải được đẩy mạnh"1.
Nước mắm là một đặc sản có giá trị kinh tế và dinh dưỡng mang tính truyền thống
của nhân dân Bình Định.
- Về cách chế biến yến sào.
Việc khai thác yến sào, Borri đã mô tả như sau: "Ở xứ này có loài chim yến. Chim
này làm tổ trên dãy đá ngầm và vực thẳm trên biển nơi sóng đánh vào. Con chim
nhỏ này với mỏ của mình đã lấy bọt của sóng biển và một thứ dịch mà nó tiết ra
từ dạ dày, tôi không biết nó kéo ra hay nhổ
ra để làm thành tổ của mình. Tổ này sau khi khô thì cứng lại và trong suốt có
màu trắng muốt (giữa xanh và vàng). Người dân thu hái tổ này, ngâm mềm trong
nước, dùng như gia vị với các thực phẩm có thịt, rau, quả hay các thứ
khác và hợp cùng từng thứ tạo nên một thứ mùi vị thơm ngon riêng biệt
theo từng thứ, giống như người ta đã nấu với tiêu, quế, đinh hương và các thứ
gia vị quý hiếm nhất, cho đến nỗi người ta không thể thêm muối, dầu, mỡ hay các
thứ gia vị khác mà chỉ một thứ tổ này cũng đã làm thơm ngon mọi thứ thịt. Chính
vì lẽ đó mà tôi cho rằng nó giống với thực phẩm mà chúa ban ở sa mạc. Nó tập
trung mọi hương vị thơm ngon của
những món ăn ngon nhất. Đây là tác phẩm của một con chim yến còn cái kia là của đấng tối cao thần linh
- Thượng đế. Người ta tìm được tổ này với số lượng khá lớn, chính tôi đã thấy 10
thuyền chở đầy tổ này thu lượm ở các mỏm đá ngầm trong khoảng đến một ngàn
thước. Đây là một thứ rất quý hiếm, chỉ nhà vua được quyền buôn bán nó với những
khách hàng đặc biệt là vua Trung Hoa rất ưa chuộng loại mặt hàng cao cấp này"1.
Yến sào hiện vẫn còn là loại đặc sản của vùng biển Bình Định có
giá trị xuất khẩu, dinh dưỡng và thưởng ngoạn rất cao.
-
Cỗ bàn
Cỗ bàn được dọn và thiết triều trong thế kỷ XVII
được Borri mô tả rất đặc sắc, phản ánh một nếp sống văn hoá ẩm thực khá cao của
nhân dân ở đây: "Họ ngồi ăn trên đất, chân tréo, trước mặt có một cái bàn cao
khoảng ngang ngực họ. Bàn này trang hoàng rất đẹp, chạm, khắc, đôi khi có dát mạ
bạc hay vàng tuỳ theo hạng bậc và khả năng của người chủ. Bàn này không lớn,
theo tập quán mỗi người có một bàn riêng của mình. Trong bữa tiệc, có bao nhiêu
khách mời thì có bấy nhiêu cái bàn. Nhìn chung là người ta dùng trong những dịp
lễ tiệc như thế. Nếu chỉ bữa cơm gia đình thì cha mẹ, con cái dùng chung một cái
bàn, Họ không dùng dao, nĩa vì thức ăn để lên mâm đã chật như khi nấu nướng. Họ
thay dao, nĩa bằng đôi đũa gỗ đã bào nhẵn đặt giữa các ngón tay với hai chiếc
đũa, họ gắp thức ăn rất duyên dáng, khéo léo đến nỗi họ không cần dùng khăn ăn,
vì họ không bẩn tay vì tay không đụng đến đồ ăn.
Các bữa tiệc giữa láng giềng với nhau thường tổ chức thường xuyên và người ta
dọn ra các món ăn rất đặc sắc, phong phú. Tại đây người ta không ăn cơm vì họ
nghĩ rằng mỗi người đã có cơm từ nhà họ rồi. Dù nghèo như thế nào, chủ tiệc vẫn
thấy thiếu bổn phận nếu như không dọn
mỗi người khách một mâm 100 món ăn. Họ có thói quen mời tất cả bà con, người
quen, bạn bè, láng giềng cùng dự tiệc. Có bữa tiệc tụ tập đến hàng trăm có khi
đến vài ba trăm người dự. Có hôm tôi có mặt dự một bữa tiệc long trọng, không
dưới hai ngàn khách ăn. Các bữa tiệc này cần chỗ rộng rãi trên một cánh đồng để
thiết trí cỗ bàn. Ai không lạ lùng rằng, với những chiếc bàn nhỏ như thế mà
người ta để được hàng trăm món ăn.Trên một chiếc bàn nhỏ họ sắp xếp thức ăn
thành một lâu đài bằng nứa thật kỳ diệu. Trên mỗi
tầng để các đĩa thức ăn rất mỹ quan. Các đĩa này chứa
đầy các đặc sản trong xứ: Thịt, cá rất nhiều, thú rừng, thú nhà, con 4 chân, con
2 chân, con có cánh, con biết bơi cùng tất cả các chủng loại trái cây trong mùa.
Nếu thực khách dùng còn thừa một món ăn, chủ tiệc coi như là không thành công,
chưa đáng gọi là bữa tiệc..."1
Đây là một nền văn hoá ẩm thực độc đáo mỗi người mỗi
mâm với "mâm cao cỗ đầy" phải chăng đã phản
ánh một thực tế đó. Hiện tượng mỗi người mỗi bàn, mỗi mâm gần đây chúng ta thấy
không còn tồn tại nữa ở Bình Định.
Về thức uống, Borri cho biết người Đàng Trong ưa uống rượu gạo và rễ chè
- một loại hình văn hoá ẩm thực không có ở phương Tây, Trung Quốc và Nhật Bản. Ở
đây không có nho để uống thứ rượu như rượu nho, họ dùng một thứ rượu nấu bằng
gạo, nó có mùi vị của rượu mạnh, có vị cay nồng. Thứ rượu này có rất nhiều và họ
dùng bất cứ lúc nào họ muốn. Và nếu say cũng như say rượu nho. Những người biết
tự trọng, những chủ nhà giàu có, họ chưng cất rượu này với trầm hương tạo thành
một loại rượu hỗn hợp có mùi hương rất thơm ngon, tạo thành một loại nước có giá
trị.
Hàng ngày họ có một thói quen dùng một thứ nước rất nóng, trong đó họ nấu một
thứ rễ của loại cỏ mà họ gọi là trà (chìa). Đó là một thứ uống bổ,
nó giúp tiết ra dịch vị dạ dày và làm nhuận trường. Người Nhật và người Trung
Hoa cũng uống thứ nước này. Người Trung Hoa thay vì uống rễ thì họ uống bằng lá cây này, hiệu quả đều giống nhau"2.
Bình Định là một trong những tỉnh nổi tiếng về
trồng cau, trầu và tục ăn trầu cũng hết sức phổ biến. "Miếng trầu là đầu câu
chuyện" trong cuộc sống hàng ngày, trong dịp lễ tết, cưới xin, đình đám... là
tập tục đã có từ lâu đời của người dân Việt Nam. Về cách thức ăn cau trầu ở Bình
Định, Borri đã mô tả một cách rất chi tiết: "Người ta để đầy trầu cau trong một
cái hộp và nhai suốt ngày, không những ở trong nhà mà cả khi đi ngoài đường,
ngay trong lúc nói chuyện, nhưng người ta không nuốt mà nhổ nó ra sau khi đã
nghiền nát. Người ta chỉ thu nhận hương vị và tinh chất, nó bồi bổ cho dạ dày.
Việc ăn các thứ này rất phổ biến đến nỗi một người đến thăm một người khác thì
đem theo một hộp cau trầu và mời người viếng. Người này thường gọi người giúp
việc lo chuyện trầu cau, đem hộp trầu cau ra mời khách để đáp lễ. Như vậy cau
trầu được chuẩn bị trước rất chu đáo. Lượng tiêu thụ cau trầu rất lớn đến nỗi
nguồn lợi chính của xứ này là do việc trồng cau"1.
Tục ăn trầu ở Bình Định cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá và
đồng thời phản ánh bản sắc văn hoá của vùng đất này trước đây.
Về trang phục
Vào thế kỷ XVII, trang phục ở Bình Định có một sắc thái đặc trưng riêng cho cả
phái nam và nữ: kín đáo mà lộng lẫy nhưng không kém phần trang trọng. Điều đó đã
khiến cho Borri phải sửng sốt trước những vẻ đẹp này: "Họ dùng rất nhiều lụa cho
trang phục nữ, đó là y phục trang nhã nhất so với khắp xứ
Ấn Độ. Dù bị sức nóng quá của nhiệt độ ngoài trời mà phải chịu đựng, nhưng không
có phần thân thể nào của họ để lộ ra ngoài. Họ mặc cùng lúc đến 5, 6 cái áo. Cái
này choàng lên cái kia và mỗi cái có màu sắc khác nhau. Cái đầu tiên là cái áo
choàng ngoài được mặc hết sức trang trọng như một lễ phục hết sức nghiêm minh
đến nỗi người ta không thấy một ngón chân của họ. Cái thứ hai ngắn hơn cái thứ
nhất một ít; cái thứ ba lại ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế cho đến chiếc áo
trong cùng, với mỗi chiếc có màu sắc và kiểu cách riêng; chiếc cuối cùng là
chiếc áo đến thắt lưng, một tấm vải ô vuông có màu sắc thay đổi có thể xem là
cái nịt ngực; phía trên họ khoác một tấm voan, chất vải mịn và trong. Quanh thân
thể người phụ nữ để lộ những thứ trang sức sang trọng, đoan trang, tề chỉnh
thích hợp với từng người tuỳ theo sở thích và ngoại hình của họ mà người xem có
cảm tưởng đang ngắm một mùa xuân trăm hoa đua nở. Họ có mái tóc dài, uốn lượn
bên bờ vai, buông dài đến tận đất, tóc càng dài được coi càng đẹp. Trên đầu họ
đội một cái nón rộng che hết cả mặt, họ chỉ thấy được 3 hay 4 bước trước mặt.
Những chiếc nón này được làm bằng lụa và vàng tuỳ theo thứ bậc trong xã hội, chỉ khi chào
hỏi, các bà giở nón lên để nhìn nhau...
Về trang phục đàn ông, thay thế băng ngang vai bằng một tấm vải nguyên. Họ mặc
cùng lúc 5, 6 chiếc áo dài và rộng bằng lụa mịn, nhiều màu khác nhau với cánh
tay rộng như áo của linh mục. Cái áo từ thắt lưng trở xuống được cắt và xẻ thành
những dải rất đẹp khi chúng lay động thấy các màu sắc trộn lẫn vào nhau rất
ngoạn mục. Lúc có cơn gió nhẹ thổi đến chúng tung lên trông giống hệt con công,
khi nó xoè đuôi thành vòng tròn duyên dáng. Đàn ông cũng để tóc dài như phụ nữ
và xoã đến tận gót chân và cũng đội nón. Những người nào có râu thì để dài,
không cạo, nhưng số người này rất hiếm. Họ để móng tay dài như người Trung Hoa,
nhất là đối với người quyền quý và dùng để phân biệt với dân lao động. Học trò
và các tiến sĩ có trang phục chỉnh tề hơn. Áo không có tua và không màu sặc sỡ.
Choàng ngoài là một chiếc áo da lạc đà đen, ở cổ choàng khăn và một chiếc khăn
màu xanh vắt ở cánh tay, đầu đội một thứ mũ trùm
giống chiếc mũ lễ của các giám mục.
Đàn ông, đàn bà đều cầm quạt tay giống chiếc quạt các phu nhân dùng ở châu Âu.
Nhưng ở đây có ý nghĩa là đồ trang sức hơn là một vật sử dụng cần thiết.
Lúc tang chế họ không mặc đồ đen như ở châu Âu mà lại mặc đồ trắng. Khi chào họ
không để đầu trần vì họ cho rằng đó là bất lịch sự. Dân ở đây không mang tất,
không mang giày. Họ bảo vệ lòng bàn chân bằng một tấm da buộc vào chân với dây
lụa buộc qua các ngón như kiểu xăng đan. Đi chân trần họ chỉ xem là một khó chịu
nhỏ, nhất là lúc ban đầu, có lẽ là do sự ẩm ướt của đất và không quen mang giày,
sau dần dần họ quen đi, da chân chai cứng có thể đi trên đá, hay trên gai nhọn
cũng không thấy đau".1
Vào đầu thế kỷ XVII, ở phủ Quy Nhơn còn có các thú tiêu khiển vui nhộn và độc
đáo, biểu hiện nét văn hoá ẩm thực mang đượm tính cách riêng của người dân nơi
đây. Borri thích nhất là săn thú và đấu thú. Ông đã mục kích quan Khám lý Trần
Đức Hoà dùng voi để chiến đấu với một con tê giác hung dữ: "Tê giác là một con
vật có hình dáng trung gian giữa con bò và con ngựa. Dáng tê giác to như một con
voi con, mình đầy những vỏ cứng như được trang bị bằng những lưỡi kim khí để tự
vệ. Nó có một sừng thẳng hình kim tự tháp ngay giữa trán, chân và mình giống con
bò. Khi tôi ở phố Nước Mặn, thuộc phủ Quy Nhơn, vị trấn thủ một lần kia đi săn
một con tê giác ở trong một cánh rừng bên cạnh nơi cư trú của chúng tôi. Ông ta
đem theo hơn 100 người, một phần đi bộ, một phần đi ngựa và có từ 8-10 con voi.
Con tê giác ra khỏi rừng và thấy bao nhiêu là kẻ thù, không những nó không tỏ vẻ
sợ hãi gì mà còn dũng cảm lao vào chống lại tất cả. Đoàn người chia thành các
cánh quân. Con tê giác chạy giữa các
cánh quân nhằm thẳng toán tập hậu nơi có vị tổng trấn đang ngồi trên mình voi
đợi giết nó. Con voi dùng vòi để bắt nó nhưng con tê giác đã khôn khéo dùng các
thế thủ để tránh né. Con tê giác lại dùng sừng để tấn công con voi của vị trấn
thủ. Vị Trấn thủ biết rằng con tê giác không thể bị hạ vì lớp vỏ bọc thân như
thép của nó nên ông ta có thể tấn công nó ở một thế cạnh sườn. Ông đợi nó nhảy
vọt thừa lúc nó sơ hở, ông tổng trấn khéo léo, tài tình dùng ngọn lao phóng đâm
thủng vào mạn sườn con tê giác trong tiếng hoan hô và nỗi vui mừng của những
người có mặt hôm đó. Một đống lửa được đốt lên, con vật được thui nướng chín
thơm phức. Những người tham dự múa ở xung quanh như một cuộc lễ hội. Sau đó họ
cắt xẻ từng phần thịt con vật để ăn. Các thứ như tim, gan, não con tê giác được
làm thành một đĩa rất đẹp mắt để dâng vị tổng trấn đang ngồi ở một chỗ cao,
thích thú ngắm nhìn cuộc vui này. Tôi có mặt ở đó và nhận ở vị trấn thủ chiếc
móng của con vật này mà người ta nghĩ rằng nó có đặc tính và khả năng như của
một vật linh thiêng và chiếc sừng của nó cũng rất tốt để chống nọc độc như
sừng của con kỳ lân"1.
c. Về tôn giáo
Bình Định là địa bàn xuất hiện các tôn giáo khá sớm so với các tỉnh khác ở Đàng
Trong. Thiên chúa giáo được truyền từ
đầu thế kỷ XVII. Phật giáo phái Lâm tế chánh
tông được truyền vào nửa sau thế kỷ XVII.
- Phật giáo:
Phật giáo thời Chămpa còn bảo lưu trong
một số ngôi chùa cổ ở Bình Định như chùa Nhạn Tháp, chùa Hàm Long tồn tại qua
lớp cư dân Đại Việt thời Lê. Vào đầu thế kỷ XVII, Borri đã cho rằng: "Một địa
điểm nhỏ đến đâu cũng có đền chùa thờ thần Phật. Có những pho tượng rất lớn có
vàng, bạc tàng trữ ở bên trong". Dưới thời các chúa Nguyễn, phái Lâm tế đã sớm
truyền vào phủ Quy Nhơn do một nhà sư Trung Quốc là Tạ Nguyên Thiều, huyện Triều
Châu, tỉnh Quảng Đông. Nhà sư có hiệu là Hoán Bích - đời thứ 33 của phái Lâm tế.
Năm 1665, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, sư đã đến hành đạo ở phủ Quy Nhơn2.
Năm 1683, sư Nguyên Thiều đã dựng chùa Thập Tháp. Năm 1691, chúa Nguyễn Phúc Chu
đã ban cho chùa tấm biển Thập Tháp di đà tự và sư được chúa ái mộ. Sư
Nguyên Thiều được mời ra lập chùa Hà Trung, Quốc Ân ở Phú Xuân, Giác Duyên ở Gia
Định. Trụ trì Thập Tháp và việc hoằng pháp ở phủ Quy Nhơn, sư Nguyên Thiều uỷ
thác lại cho Hoà thượng Đạo Nguyên (1656-1716) và Hoà thượng Kỳ Nguyên
(1682-1744). Hiện nay ở chùa Thập Tháp còn giữ được 3 bộ kinh cổ do sư Nguyên
Thiều thỉnh qua Việt Nam vào thời chúa Nguyễn.
Chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, Phù Cát cũng là một
ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1702). Vị sư dựng chùa
có tên là Lê Ban (tục gọi là ông Núi). Năm 1733, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong
cho vị sư lão trụ trì là Tĩnh giác thiện trì đại lão ông thiền sư
1.
Chùa Long Khánh ở thành phố Quy Nhơn được Hoà thượng Đức Sơn (1651-1742) lập
nên. Di vật còn lại thuở khai sơn ngôi cổ tự này là khánh đồng được đúc vào năm
Kỷ Mùi (1739)2.
Chùa Long Khánh hiện là một danh lam nổi tiếng của tỉnh Bình Định.
- Thiên chúa
giáo.
Thiên chúa giáo cũng được truyền vào phủ Quy Nhơn từ đầu thế kỷ XVII, chỉ sau
Hội An ở Đàng Trong. Năm 1618, Khám lý Trần Đức Hoà mời giáo sĩ Borri đến lập
giáo xứ ở phố Nước Mặn để truyền đạo và cho xây dựng "một ngôi nhà thờ bằng gỗ
khá tiện nghi tại thành phố Nước Mặn"3.
Tháng 7 năm 1618, các giáo sĩ khác như: Buzomi, Pina, Augustin cũng được Trần
Đức Hoà mời từ Hội An vào Nước Mặn để truyền giáo. Các
giáo sĩ này cho biết: "Quan trấn thủ cho xây một ngôi nhà bằng gỗ rộng rãi ở
Nước Mặn. Ông dùng voi đưa các linh mục tới nhà mới, từ đó các linh mục có cơ sở
hoạt động và được dân chúng kính nể. Cũng năm đó Thánh đường làm sẵn dựng lên ở
phố Nước Mặn và ráp trong vòng 1 ngày trước sự bỡ ngỡ và thán phục của những nhà
truyền giáo".
Phố Nước Mặn dài chừng 1 km, rộng 0,5 km, nay ở xã Phước Quang, huyện Tuy Phước.
Sau đó, giáo sĩ Alexandre de Rhodes cũng thường vào Nước Mặn (phủ Quy Nhơn) để
giảng đạo và trở thành một
trong những nơi ra đời Từ điển tiếng Việt - Bồ
- la đầu tiên ở Việt Nam. Quy Nhơn là nơi
góp phần hình thành chữ Quốc ngữ dưới thời các giáo sĩ phương Tây mà tiêu biểu
là Alexandre de Rhodes.
Phủ Quy Nhơn dưới thời Lê và các chúa Nguyễn (từ thế kỷ XV-XVIII) là giai đoạn
có nhiều ý nghĩa trong lịch sử tỉnh Bình Định. Là thời kỳ tiếp quản từ một kinh
đô của Chămpa với nhiều di sản lịch sử và văn hoá xã hội
được hoà nhập trong cộng đồng văn hoá Đại Việt cho đến nay vẫn còn bảo lưu trong đời sống của nhân dân Bình Định.
Thời Lê với việc thành lập phủ Quy Nhơn có 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy
Viễn, tạo nên một bản lề chính trị sắc sảo và vững chắc để các chúa Nguyễn xây
dựng phủ Quy Nhơn (1602) lớn mạnh và trù phú là bàn đạp để các chúa Nguyễn mở
đất Đàng Trong. Cảng thị Nước Mặn ra
đời trở thành trung tâm thương nghiệp, quan hệ với nhiều thị trường trên thế
giới. Nhiều ngành nghề thủ công và khai thác đặc sản phát triển tạo thành những
mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Xã hội phân hoá tạo thành những mâu thuẫn sâu
sắc, nhất là giữa nhân dân lao động với tầng lớp cường quyền áp bức bóc lột và
trở thành nguyên nhân để vùng đất Bình Định xuất hiện nhiều hào kiệt, những
nghĩa hiệp xả thân, cứu đời giúp nước. Dưới thời các chúa Nguyễn, phủ Quy Nhơn
giữ vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế đối với vùng đất mới ở Đàng Trong và
là nơi có những sắc thái xã hội, văn hoá độc đáo của vùng đất tiền Tây Sơn khởi
nghĩa.
3 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 38.
1 Theo ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 6.
2 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 42.
3 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 43.
4 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 43-44.
5 ĐNTLTB, sđd, Sử học, Hà Nội, 1962, tr. 44.
1 ĐNTLTB, sđd, tr. 78.
1 ĐNTLTB, sđd, tr. 191.
2 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 6.
1 ĐNLTTB, sđd, tr. 136.
1 ĐNTLTB, sđd, tr. 149.
2 ĐNTLTB, sđd, tr. 185.
3 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (PBTL), Khoa học, Hà Nội, 1964, tr. 146.
4 Borri, sđd, tr. 290.
5 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 351, 372.
[1] Lê Quý Đôn, sđd, tr. 146.
1 Borri (C), Relation de la nouvelle Mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, BAVH, 1931, tr. 331, bản dịch của Nguyễn Cửu Sà.
2 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 371.
3 Lê Quý Đôn, sđd, tr. 356
1 Borri, sđd, tr. 300.
2 Borri, sdd, tr. 299-300.
1 Borri, sđd, tr. 310.
2 ĐNTLTB, sđd, tr. 152.
1 Borri, sđd, tr. 295, 296.
1 Borri, sđd, tr. 297.
1 Borri, sđd, tr. 314. Thông thường các bữa tiệc lớn có người hầu đi theo, họ cùng ăn với chủ. Nếu ăn không hết người hầu bỏ vào túi mang về chia cho con cái và những người thân khác.
2 Borri, sđd, tr. 315.
1 Borri, sđd, tr. 294-295.
1 Borri, sđd, tr. 310-311, 307-313.
1 Borri, sđd, tr. 307.
2 ĐNNTC, tập III, sđd, tr. 48. Cĩ ti liệu cho rằng năm 1677.
1 ĐNNTC, tập III, sđd, tr. 48.
2 Borri, sđd, tr. 350.
3 Bastali, Istons della compogne de Jesus. Magoli 1859. Tài liệu của chủng viện Quy Nhơn, dẫn lại trong Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII của Đỗ Bang. Thuận Hoá- Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1996, tr. 157.