III. TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ BÌNH ĐỊNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
1. Xã hội
a. Các thành phần xã hội.
Vào thế kỷ XIX, ngoài đa số dân cư Bình
Định là người Kinh, ở đây còn có người Hoa và các dân tộc thiểu số như Bana,
H'rê, người Chăm H' roi.
- Người Kinh:
Người Kinh là đại bộ phận dân cư chính
phản ánh nhiều qua sử sách và được triều Nguyễn thực thi nhiều chính sách xã
hội.
Về dân số: Dưới thời Nguyễn tuy không có biểu kê
dân số đầy đủ, nhưng việc báo số đinh để thu thuế, nắm nguồn nhân lực, điều
binh... thì được tiến hành thường xuyên và khá chặt chẽ. Theo Đại
Năm 1819 có: 33.300 đinh
tráng.1
Năm 1829 có: 39. 965
đinh tráng.2
Năm 1847 có: 52.110 đinh
tráng.3
Dân đinh có nghĩa vụ đi lính cho Nhà
nước. Năm 1806, Gia Long có quy định: "Các dinh từ Quảng Bình đến Bình Thuận đều
chiếu theo số đinh, cứ 3 đinh lấy 1 bổ vào các quân thủy, bộ trong, ngoài; số
còn lại vẫn để ở dân hạng chịu giao dịch.4
Năm 1836, tỉnh Bình Định có 6.646 dân đinh được tuyển vào quân đội. Binh
lính ngoài lương được hưởng hàng tháng (tiền 1 quan, gạo 1 phương), ở quê còn
được cấp lương điền là ruộng tốt để động viên người lính trong quân đội.
Năm 1848, tổng đốc Bình
Phú tâu: "Phụng chiếu, trong tỉnh Bình Định cộng 675 thôn số ngạch lính tại Kinh
và ở tỉnh hơn 1 vạn 1 ngàn 1 trăm tên".1
Ngoài thuế thân (đinh) và dân đinh, phải
đóng hàng năm tuỳ theo chính hộ (chính cư) hay khách hộ (ngụ cư) thời Gia Long,
hay dân có ruộng công và không có ruộng công thời Minh Mạng, hàng năm dân đinh
phải đóng công sưu để xây dựng các công trình cho Nhà nước gọi là dao dịch
như: đắp thành luỹ, làm cầu đường, làm gỗ, nung gạch ngói...
Năm 1805, để xây dựng Kinh thành Huế,
Công đồng đã truyền cho dinh Bình Định: "bắt dân làm công sưu, đến thượng tuần
tháng 2 lên núi đốn gỗ. Gỗ làm xong đem xuống cửa Thị Nại để đưa về kinh cho kịp
dùng"2.
Sau đó, triều đình tiếp tục có lệnh điều dân Bình Định ra Huế để xây dựng kinh
đô: "Nay phụng chiếu xây đắp kinh thành, vậy nên sức đòi 2.436 quân dân, hạn đến
ngày 20 tháng 4 có mặt tại Kinh để điểm danh khởi công".3
Năm 1810, triều đình dời trấn thành Bình Định từ
Đồ Bàn đến Tân An (nay thuộc huyện An Nhơn) tuyển dụng 17.500 người chia làm 2
ban, 10 ngày thay 1 lần để đắp thành.4
Năm 1827, trấn thân Bình
Định tâu xin phái 3.000 dân sửa đắp đường quan và cầu cống.5
Dân đinh các hạng chỉ hưởng mức khẩu
phần chia ruộng công từ 5,5 đến 6,5 phần ruộng. Trong khi lính và quan chức các
hạng từ 7 đến 18 phần ruộng công. Đó là sự bất công trong chính sách xã hội của
triều Nguyễn.
- Các dân tộc thiểu số:
Các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời tại miền núi phía tây Bình Định như:
Bana, H'rê, Chăm H'roi chuyên khai thác lâm thổ sản và nộp cống cho triều
Nguyễn. Các dân tộc này sống gần các nguồn Trà Vân, Trà Bình, Thạch Bàn, Phương
Kiệu, Lộc Đổng, Hà Thanh, An Tượng. Phía tây tỉnh Bình Định có
2 tiểu quốcThủy Xá và Hỏa Xá, khoảng 50 thôn bản ở trong núi Bà Nam. Thủy vương
ở phía đông, Hỏa vương ở phía tây núi. Hai tiểu quốc này từ thời chúa Nguyễn đã
lệ vào Đàng Trong, nay vẫn tiếp tục triều cống.1
Triều Nguyễn thường đặt các đồn bảo để khống chế
và trấn áp những thế lực chống đối triều đình. Năm 1834, có cuộc nổi dậy của
người dân tộc kéo xuống nguồn Trà Vân uy hiếp binh dân rồi rút đi. Viên thủ ngự
bị triều đình Huế cách chức.2
- Người Hoa
Người Hoa ở Bình Định chia làm 2 hạng:
Người Minh Hương: đến Bình Định từ sớm, có thể từ thế kỷ XVII-XVIII ở vùng
phố Nước Mặn, An Thái. Họ nhập tịch Việt, hưởng các quyền lợi học hành, thi cử,
làm quan như người Việt, phải đóng thuế thân bằng vải và tiền hoặc bạc nặng hơn
người Việt.
Người Hoa kiều trong các Bang là bộ phận mới nhập cư vào đầu triều Nguyễn.
Họ có quy chế riêng. Năm 1814, họ được Nhà nước cho lập nhóm Đại Minh: "Chuẩn y
lời tâu cho trấn Bình Định có người Đường từ hai tỉnh Quảng Đông và
Phúc Kiến phiêu lưu tới, bọn Dư Thịnh Hợp gom góp được chừng 30 người trở lên
nhập làm nhóm Đại Minh".3
Năm 1842, vua Thiệu Trị quy định lập Bang cho số người Hoa mới nhập cư để phân
biệt với người Minh Hương: "Các địa phương có người Hoa kiều đến cư ngụ phải
đăng tên vào sổ hàng Bang để chịu thuế. Nhưng con cháu người trong Bang sinh ra
đều không được róc tóc bím; hễ đến 18 tuổi, viên quan trưởng ấy phải trình lên
quan để biên tên vào sổ đinh người Minh Hương mà chịu thuế".4
Năm 1847, ở Bình Định có 7 bang Hoa Kiều,
đặt 1 thuộc trưởng, được cấp một cái triện bằng gỗ.5
a. Mâu thuẫn xã hội và đấu
tranh xã hội.
Vốn là vùng đất đối trọng của triều Nguyễn nên các vua Nguyễn có chính
sách cai trị ở Bình Định rất h khắc, cứng rắn nhằm ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa
của nhân dân. Nhưng cũng không đè bẹp được ý chí, tinh thần đấu tranh của các
tầng lớp nhân dân bị áp bức trong xã hội: hậu duệ của triều Tây Sơn, nông dân,
dân tộc ít người, tiểu quan chức...
Năm 1799, sau khi chiếm thành Quy Nhơn,
Nguyễn Ánh cho đổi làm thành Bình Định, sau đó đặt dinh Bình Định (1802). Năm
1819, đổi tên ấp Tây Sơn - nơi xuất phát cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thành ấp An
Tây.
Tháng 4 năm Nhm Tuất
(1802),
Nguyễn Văn Vân (tướng của Nguyễn Ánh) bắt được 3 người con của Nguyễn Nhạc là
Thanh, Hán và Dũng đem dâng lên vua. Gia Long sai giết hết cả.1
Năm 1806, Nguyễn Văn Khống lập căn cứ ở
Tượng Sơn tự xưng chức tức mưu đánh trấn thành Bình Định. Việc bị lộ, quân nổi
dậy đã bị đàn áp khốc liệt, Nguyễn Văn Khống bị bắt chém. Chứng tỏ vo
thời kỳ này, ở Bình Định cĩ nhiều mu thuẫn với triều Nguyễn, đồng tiền Tây Sơn
vẫn được lưu hành. Cho đến năm 1823, triều đình Huế bắt chở 30.000 hộc thóc và
thu hơn 59.200 quan tiền đồng Tây Sơn về Kinh.2
Năm 1826, ở Bình Định có
Vũ Văn Nguyên trốn vào ấp An Tây cùng với các con Thái sư Bùi Đắc Tuyên của Tây
Sơn là Bùi Đắc Khuông và Đắc Trí luyện tập võ nghệ, chiêu quân. Nghe tin, vua
Minh Mạng bảo rằng: "Bọn ấy là đồ vô lại, nếu để yên không hỏi tới thì ngày khác
lại như Ngụy Tây, khi ấy còn hỏi tội được sao? Nên sai Trấn thần bắt và xử tội
chết".3
Tháng 1 năm 1831, Nguyễn
Văn Thể (người Bình Định) đã che dấu hậu duệ Tây Sơn là Nguyễn Văn Lương- con
của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Văn Trượng- cháu nội Nguyễn Nhạc - con của Nguyễn Văn
Đức; Đức là anh ruột của Lương. Việc
bị phát giác, Thể bị bắt 4,
tất cả con cháu của Nguyễn Nhạc đều bị chém ngang lưng.5
Dưới triều Nguyễn, tình
hình xã hội ở Bình Định luôn biểu hiện những mâu thuẫn và đấu tranh. Nhiều cuộc
khởi nghĩa nổ ra, nhất là phát hiện các hậu duệ nhà Tây Sơn, các vua Gia Long,
Minh Mạng đ dng những biện php trừng trị tn c. Bình Định luôn là mối bận tâm của
triều đình Huế. Năm 1833, vua Minh Mạng có một dụ cho tổng đốc Võ Xuân Cẩn rằng:
"Vừa rồi vì ngoài biên có động nên đã mấy lần trưng điệu dân dõng ở tỉnh nhiều
rồi. Nay ngươi nên chiếu xem số binh hiện có đủ để phòng thủ tỉnh nhà thì thôi,
nếu không đủ thì nên gọi thêm dăm ba trăm dân dõng các nơi lân cận, cấp cho tiền
lương, khí giới để phụ việc phòng thủ... Lại nên mật dò tình hình động tĩnh ở
dân gian nếu có một vài bọn càn bậy, đem lòng oán hờn, âm mưu gây sự thì nên
liệu cơ dập ngay từ trước, không để cho nảy mầm. Nếu gây thành án lớn thì ngươi
mắc lỗi không nhẹ đâu".1
Đây là thời kỳ xảy ra cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở Gia Định nên Minh
Mạng rất quan ngại đến sự bột phát một cuộc đấu tranh của nông dân Bình Định như
dưới thời Tây Sơn.
Năm 1834, cuộc khởi nghĩa của dân tộc ít người ở nguồn Trà Vân. Họ đi
đánh phá quan quân nhà Nguyễn rồi rút vào rừng. Vua Minh Mạng cho cách chức viên
thủ ngự cai quản miền núi ở vùng trên, các quan
tỉnh bị giáng xuống 1 cấp.2
b. Các chính sách xã hội.
- Tâu báo mùa màng, giá cả thóc gạo:
Triều Nguyễn quan tâm đến nông nghiệp, do đó, cần muốn nắm thông tin kịp thời về
mùa màng, giá cả để có biện pháp và chính sách xã hội nên luôn mở một kênh thông
tin về nông nghiệp giữa triều đình và các địa phương.
Năm 1823, triều đình lệnh cho: "Các thành, doanh, trấn, đạo từ nay phàm
việc làm ruộng đến kỳ thu gặt nên đi xem xét lúa ngoài đồng huyện nào được mùa
10 phần; huyện nào được tám, chín phần mười sự thể thế nào phải kê cả phần số đã
thu hoạch phải được tâu lên"...3
Năm 1834, triều đình lại có lệnh: "Từ nay, phàm việc làm ruộng như đến
thời kỳ lúa đồng đâm bông, quan các địa phương phải chiếu theo thực trạng hiện
mưa móc thấm nhuần lúa ngoài đồng như thế nào, làm sớ tâu lên tất cả."4
Về tâu báo giá gạo, năm 1825, triều đình quy định: Từ nay
trở đi đều dựa giá gạo ở lỵ sở, mỗi tháng 2 kỳ theo lệ rất cần đệ đi và nếu có
kỳ nào giá vụt đắt vụt rẻ, mỗi phương 1 tiền 30 đồng trở lên thì cứ
thực tâu lên ngay, không cần theo hạn 1 tháng 2 kỳ ấy.5
Năm 1826, triều đình có lệnh: “Từ Thừa Thiên vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến
Bắc Thành từ nay phàm những tháng quan hệ nghề nông thì trong tập tâu báo giá
gạo thì phải lấy cả tình hình mưa nắng những ngày ấy tâu lên1.
Năm 1833, quy định giá gạo tăng giảm đến
3 tiền trở lên thì cho tâu ngay còn dưới 3 tiền thì đến kỳ mới tâu.
Căn cứ vào Châu bản Triều Nguyễn
còn lại, các bản tâu giá gạo và thời tiết của Bình Định có khoảng 50 bản tâu
trong thời gian từ năm 1825 đến năm 1849, cụ thể như sau:
CÁC BẢN TÂU VỀ GIÁ CẢ, THỜI TIẾT QUA CBTN (1825-1849)2
|
TT |
Thời gian |
Giá gạo |
Tình hình thời tiết |
Số trang, số tập |
|
1 |
Minh Mạng (15/5)VI |
1 quan 6 tiền/1vuông |
|
Tr.256 tập11 |
|
2 |
Minh Mạng (30/5)VI |
1 quan 6 tiền |
|
Tr.276, tập 11 |
|
3 |
Minh Mạng (15/6)VI |
1 quan 5 tiền |
|
Tr.40, tập 13 |
|
4 |
Minh Mạng (29/6)VI |
1 quan 5 tiền |
|
Tr.86, tập 13 |
|
5 |
Minh Mạng (15/7)VI |
1 quan 5 tiền |
|
Tr.110, tập 13 |
|
6 |
Minh Mạng (29/7)VI |
1 quan 5 tiền 30
đồng |
|
Tr.142, tập 13 |
|
7 |
Minh Mạng (15/8)VI |
1 quan 5 tiền 30
đồng |
|
Tr.175, tập 13 |
|
8 |
Minh Mạng (30/8)VI |
1 quan 5 tiền 30
đồng |
|
Tr.207, tập 13 |
|
9 |
Minh Mạng (15/9)VI |
1 quan 5 tiền 30
đồng |
|
Tr.233, tập 13 |
|
10 |
Minh Mạng (29/9)VI |
1 quan 5 tiền 30
đồng |
|
Tr.287, tập 13 |
|
11 |
Minh Mạng (15/10)VI |
1 quan 3 tiền 30
đồng |
|
Tr.58, tập 14 |
|
12 |
Minh Mạng (30/10)VI |
1 quan 5 tiền |
|
Tr.75, tập 14 |
|
13 |
Minh Mạng
(15/11)VI |
Chỉ ghi báo cáo
giá gạo |
|
Tr.109, tập 14 |
|
14 |
Minh Mạng
(29/11)VI |
Chỉ ghi báo cáo
giá gạo |
|
Tr.138, tập 14 |
|
15 |
Minh Mạng
(15/12)VI |
1 quan 7 tiền |
|
Tr.190, tập 14 |
|
16 |
Minh Mạng (15/1)VII |
Chỉ ghi báo cáo
giá gạo |
|
Tr.22, tập 15a |
|
17 |
Minh Mạng (30/1)VII |
1 quan 6 tiền 30
đồng |
|
Tr.54, tập 15a |
|
18 |
Minh Mạng (15/2)VII |
1 quan 6 tiền 30
đồng |
|
Tr.85, tập 54a |
|
19 |
Minh Mạng (29/2)VII |
1 quan 4 tiền |
|
Tr.114, tập 15a |
|
20 |
Minh Mạng (15/3)VII |
1 quan 3 tiền |
|
Tr.159, tập 15a |
|
21 |
Minh Mạng (30/3)VII |
1 quan 5 tiền |
|
Tr.220, tập 15a |
|
22 |
Minh Mạng (30/4)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.123,tập 14 |
|
23 |
Minh Mạng (15/5)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.191 ,tập 14 |
|
24 |
Minh Mạng (29/5)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.232,tập 14 |
|
25 |
Minh Mạng (15/6)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.43, tập 15 a |
|
26 |
Minh Mạng (30/6)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.107, tập 15 c |
|
27 |
Minh Mạng (15/7)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.197, tập 15 c |
|
28 |
Minh Mạng (29/7)VII |
Báo cáo giá gạo |
|
Tr.254, tập 15 c |
|
29 |
Minh Mạng (15/8)VII |
Báo cáo giá gạo hàng tháng |
Mưa nắng thuận trời |
Tr.42, tập 19a |
|
30 |
Minh Mạng (29/8)VII |
Báo cáo giá gạo hàng tháng |
Mưa nắng thuận trời |
Tr.120, tập 19a |
|
31 |
Minh Mạng (15/9)VII |
Gạo rẻ hơn tháng
trước |
Mưa nắng thuận hòa |
Tr.160, tập 19a |
|
32 |
Minh Mạng (30/9)VII |
Gạo rẻ |
Mưa nắng thuận hòa |
Tr.240, tập 19a |
|
33 |
MinhMạng
(15/10)VII |
Gạo rẻ như kỳ trước |
Mưa nắng thuận hòa |
Tr.285, tập 19a |
|
34 |
MinhMạng
(30/11)VII |
Báo cáo giá gạo |
Mưa nhỏ, nông công chưa thuận tiện |
Tr.129, tập 20a |
|
35 |
Minh Mạng
(15/11)VII |
Báo cáo giá gạo |
BC. tình hình mưa
nắng |
Tr.79, tập 20a |
|
36 |
Minh Mạng
(15/12)VII |
Báo cáo giá gạo |
BC. tình hình mưa
nắng |
Tr.181, tập 20a |
|
37 |
Minh Mạng
(29/12)VII |
Báo cáo giá gạo |
BC. tình hình mưa
nắng |
Tr.256, tập 20a |
|
38 |
Thiệu Trị (1/3)II |
2 quan 40-2 quan 80 |
Sau hạn, mưa nhiều ngày |
Tr.182, tập 1 |
|
39 |
Thiệu Trị (1/6)II |
2 quan 30-2 quan 60 |
Mưa nhiều nông công thuận tiện |
Tr.187, tập 1 |
|
40 |
Thiệu Trị (1/7)II |
2 quan 40-2 quan 60 |
Khan mưa |
Tr.188, tập 1 |
|
41 |
Thiệu Trị (1/8)II |
2 quan 70-2 quan 80 |
Đồng ruộng tốt tươi |
Tr.198, tập 1 |
|
42 |
Thiệu Trị (1/9)II |
2 quan 70 - 3 quan |
Ngày 22,23 có mưa, lụt |
Tr.198, tập 1 |
|
43 |
Thiệu Trị (1/10)II |
2 quan 65- 2 quan 85 |
Nắng mưa điều hòa |
Tr.203, tập 1 |
|
44 |
Thiệu Trị (1/11)II |
2 quan 70. |
Nắng mưa điều hòa |
Tr.208, tập 1 |
|
45 |
Thiệu Trị (1/12)II |
2 quan 70 - 3 quan |
Nắng mưa điều hoà |
Tr.209, tập 1 |
|
46 |
Tự Đức (29/6) I |
1 quan 9 tiền |
Nắng mưa điều hòa |
Tr.258, tập 3 |
|
47 |
Tự Đức (30/7) I |
Y tháng trước |
Thời tiết tốt, lúa
tốt |
Tr.133, tập 5 |
|
48 |
Tự Đức (30/9) I |
Y tháng trước |
Thời tiết tốt. |
Tr.118, tập 7 |
|
49 |
Tự Đức (30/1) II |
2 quan 1 tiền 30
đồng |
Trời hạn |
Tr.131, tập 1 |
|
50 |
Tự Đức (29/2) II |
2 quan 1 tiền 30
đồng |
Lúa mùa này không
được tốt |
Tr.133, tập 1 |
|
51 |
Tự Đức (29/12) II |
2 quan 1 tiền 30
đồng |
Mưa nắng điều |
Tr.125, tập 1 |
- Cứu tế xã hội
Chính sách cứu tế xã hội của triều Nguyễn đối với dân Bình Định thể hiện
trên các hoàn cảnh đặc biệt cần cứu giúp như mất mùa đói kém, bão lụt, bệnh
dịch,... thường được cấp phát tiền gạo, cho vay hoặc bán rẻ cho dân.
- Mất mùa đói kém
Năm 1811, trấn Bình Định xuất 4800 phương gạo để chẩn cấp.1
Năm 1814 và 1816 cho dân vay.
Năm 1821, xuất kho Bình Định 23.000 hộc thóc bán cho dân
Năm1822, trấn Bình Định xuất 1000 hộc thóc bán cho dân, giảm giá.
Năm 1825, xuất kho Bình Định 20.000 hộc thóc bán cho dân, ''trừ những
người có lương bổng và giàu có'', giá thóc 1 quan tiền/ hộc.
Năm 1827 phát 20.000 hộc thóc cho dân vay, dịp này triều đình đặt ra lệ
nếu dân có vật hạng đem đổi thóc thì bình giá mà mua, cứ 1 quan tiền vay 1 hộc
thóc2,
nhằm hạn chế bọn cường hào ép mua của dân khi đói kém.
Năm 1832, xuất 20.000 hộc thóc cho dân vay.
Năm 1868, xuất kho 1.215 phương gạo phát chẩn cho dân. Thấy thóc ở kho
Bình Định không đủ, triều đình ''sai những thuyền đại dịch, miễn dịch, thuyền
ván đi buôn, thuyền vận tải đi mua gạo về bán cho dân'' 3
để hạn chế thương nhân nâng giá hoặc đầu cơ trục lợi.
- Cứu trợ bão lụt
Căn cứ vào Đại Nam Thực lục chính biên, Châu bản Triều Nguyễn,
Quốc triều chính biên... các trận bão lụt xẩy ra ở Bình Định dưới triều
Nguyễn và gây thiệt hại như sau:
- Lụt tháng 11 năm
1811
- Lụt tháng 9 năm 1815
- Lụt tháng 11 năm 1825 làm 2 cầu bị sập.
- Lụt tháng 10 năm 1826
- Lụt tháng 10 năm 1830 làm 30 người chết, 300 nhà bị trôi
- Bão lụt tháng 9 năm 1842, 3 người
chết, 10 thuyền bị chìm
- Lụt tháng 9 năm 1851
- Bão tháng 12 năm 1853
- Bão tháng 11 năm 1856
- Lụt tháng 12 năm 1863
- Lụt tháng 12 năm 1878
Cc trận bo lụt trn đ gy thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân. Đứng
trước tình hình đó, nhà nước đ cĩ những biện php cứu trợ để khắc phục một phần
khó khăn cho dân chúng.
Các biện pháp cứu trợ của nhà nước
- Trận lụt tháng 9 năm Canh Dần
(1830) ở Bình Định, vua Minh Mạng xét cấp
cho mỗi người chết 3 quan tiền, nhà cửa trôi cấp 2 quan tiền và 2 phương gạo,
nhà đổ cấp 1 quan tiền và 1 phương gạo, nhà có người chết gạo và tiền gấp đôi1.
- Tháng 9 năm Nhm Dần (1842), tỉnh Bình Định và Phú Yên bị bão lụt, quan tỉnh
theo lệ cấp mỗi người chết1 quan tiền tống táng. Vua Thiệu Trị còn chuẩn cấp
thêm 2 quan tiền cho mỗi người chết và 3 quan cho mỗi thuyền bị chìm.
- Tháng 12 năm Quý Sửu
(1853), vua Tự Đức dụ cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên cấp phát tiền gạo cho dân
sau bão lụt.
- Trận bão tháng 11 năm Bính Thìn (1856), lạc quyên tiền gạo cấp cho dân.
- Trận lụt tháng 11 năm Quý Hợi (1863), vua Tự Đức sai quan đến các tỉnh khám
xét để cấp tiền gạo và giảm thuế cho dân.
- Trận lụt tháng 12 năm Mậu Dần
(1878), xuất kho Bình Định 30.000 hộc,
tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam mỗi tỉnh xuất cho 10.000 phương gạo để cấp phát cho
dân.2
- Cứu trợ dịch bệnh
Năm 1820, từ Quảng Bình đến Bình Thuận nạn dịch xảy ra. Riêng trấn Bình Định cấp
tiền mua thuốc để chữa bệnh và tiền tuất cho mỗi người chết là 3 quan, tổng cộng
tới 35.826 quan 7 tiền 14 đồng. Người chết còn được cấp vải để liệm3.
Năm 1826, trấn Bình Định tâu: ''Về việc 2
huyện Tuy Viễn và Bồng Sơn nhân dân phần nhiều bị chứng thổ tả và trâu bò hao
tổn, chúng tôi đã chuẩn tiền kho mua thuốc luyện chế thành đơn, phái thầy thuốc
đến hai huyện ấy để điều trị.1
''Năm 1849, tỉnh Bình Định tâu: ''Nhân dân trong hạt bị chứng thổ tả, huyện Bồng
Sơn chết 482 người, huyện Phù Mỹ chết 188 người, phủ Hoài Nhơn 35 người, phủ An
Nhơn 96 người, huyện Tuy Phước 339 người, cộng 1.160 người chết. Hiện giờ, khí
độc chưa giảm. Từ ngày 9.10.1848 đến 13.11.1849, bệnh dịch tả đã làm chết thêm
16.198 người dân Bình Định”2,
thật là nỗi kinh hoàng đau đớn trong nhân dân.
2.
Giáo dục và thi cử
Năm 1799, sau khi chiếm thành Bình Định, Nguyễn Ánh đã chú ý đào tạo đội ngũ quan chức để trấn
trị tại địa phương. Tháng 11 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh cho tiến hành khảo
hạch ở Bình Định, hơn 400 người đã trúng tuyển. Sau khi lập dinh Bình Định
(1802), việc giáo dục và thi cử ở đây mới được thực hiện quy củ hơn.
a.
Trường học
Dưới triều Nguyễn, ở Bình Định đã lập các trường học: trường tỉnh, trường phủ và
trường huyện.
- Trường học tỉnh:
Trường được dựng từ thời Gia Long tại thôn Kim Châu, huyện Tuy Viễn. Năm 1842,
trường được dời về thôn Liêm Trực, huyện Tuy Phước- phía nam tỉnh thành.
- Trường học phủ: Có hai trường học phủ:
Trường phủ Hoài Nhơn trước là trường
học của huyện Bồng Sơn, năm 1865 đổi làm trường học phủ Hoài Nhơn. Trường ở thôn
Liêm Bình, huyện Bồng Sơn - phía tây phủ lị.
Trường phủ An Nhơn: trước là trường
thuộc huyện Tuy Viễn, trường đóng ở thôn Hoà Cư, năm 1832 đổi làm trường học của
phủ. Năm 1865, trường dời đến thôn Mỹ Thịnh, huyện Tuy Viễn - nằm về phía tây
phủ lị.
-
Trường học huyện: có 3 trường
Trường học huyện Phù Mỹ: dựng năm 1832 ở thôn Trà Quang- phía bắc huyện lỵ.
Trường học huyện Phù Cát: dựng năm 1821 ở thôn Xuân Hội, trước là trường học phủ Hoài Nhơn, năm 1865
đổi thành trường huyện.
Trường học huyện Tuy Phước:
dựng năm 1832 ở thôn Hanh Quang - phía tây huyện lỵ.1
Năm 1805, triều đình cử Đặng Đức Huy
làm Đề học Quy Nhơn, phụ trách khảo hạch học trò 2 trấn Quảng Ngãi, Phú Yên.
b. Trường thi hương Bình Định
Năm 1813, Gia Long cho đặt trường thi hương ở Bình Định để cho học trò các trấn
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà cùng dự thi2.
Năm 1821, học trò các trấn từ Bình Định trở ra lại ra Huế dự kỳ thi hương.
Năm 1851, triều đình lại đặt trường thi ở Bình Định cho thí sinh các trường
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà dự thi, năm sau tổ chức thi hương đã
chấm đỗ 13 cử nhân.3
Trường thi hương Bình Định nằm phía tây nam tỉnh thành thuộc huyện Tuy Viễn, chu
vi 193 trượng, cao 4 thước 5 tấc, xây bằng đá ong, trường dựng vào năm 1851.4
c. Thi cử và đỗ đạt:
Dưới triều Nguyễn có các vị tiến sĩ sau:
-
Lê Văn Chân, quê xã Trà Lam, huyện Phù Mỹ, sinh năm 1817, đậu cử nhân năm
1834 , đậu tiến sĩ năm 1835 lúc 18 tuổi là vị tiến sĩ trẻ nhất của cả nước và là
vị tiến sĩ đầu tiên của tỉnh Bình Định dưới triều Nguyễn. Ông làm quan giữ chức Hộ phủ Hưng Yên, sau bị can tội.
- Lê Thúc Đôn, quê xã Phú Nhuận, huyện Bồng Sơn, sinh năm 1805, đỗ
cử nhân năm 1837, phó bảng năm 1838, làm quan Bố chánh tỉnh Thanh Hoá.
- Trần Văn Chánh, quê xã Ln Chiểu, huyện Bồng Sơn, sinh năm 1821,
đậu giải nguyên năm 1840, đậu tiến sĩ năm 1842 lúc 21 tuổi. Làm quan giữ chức
tri phủ, sau bị bãi miễn.
-
Võ Văn Hiệu, quê xã Kiên Hạnh, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1811, đậu cử nhân
năm 1846, năm 1847 đậu tiến sĩ, làm quan giữ chức tri phủ.
-
Ngô Tùng Nho, quê xã Thuận Ngãi, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1813, đậu cử nhân
năm 1846, tiến sĩ năm 1849, làm quan giữ chức tri phủ.
- Huỳnh Văn Học, quê xã Phú Phong, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1817, đậu cử
nhân năm 1846, phó bảng năm 1847, làm quan giữ chức Biện lý bộ Công.
- Nguyễn Văn Hiển, quê ở Quảng Trị theo cha vào ngụ cư ở thôn Vĩnh Ân, Cát Hanh,
Phù Cát. Ông đỗ tiến sĩ năm 1847, làm Đốc học Bình Định.
- Hồ Sĩ Tạo, thôn Hoà Cư, Tuy Viễn, đỗ tiến sĩ năm 1904, làm tri huyện Tân Định
(Khánh Hoà), tham gia phong trào Duy Tân chống thuế năm 1908, bị Pháp bắt, tù 8
năm, chết năm 1934.
Về thi hương: Theo Quốc triều hương khoa
lục của Cao Xuân Dục1,
tỉnh Bình Định có rất nhiều người đỗ đạt, từ năm 1808 đến 1885 có 164 vị cử
nhân: trong đó Phù Mỹ: 21, Phù Cát: 32, Tuy Phước: 45, Tuy Viễn: 47, Bồng Sơn:
19 vị, được thể hiện trong các danh sách sau:
BẢNG I: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN BỒNG SƠN
(1807-1885)
|
STT |
Họ và tên |
Quê quán |
Năm thi đậu, trường thi |
Vị thứ |
Ghi chú |
|
1 |
Hồ Văn Nghĩa |
Vĩnh Phước |
1821-Gia Định |
14/16 |
Làm quan đến chức Tham tri |
|
2 |
Nguyễn Đức Vĩnh |
Vạn Trung |
1825-ThừaThiên |
7/10 |
|
|
3 |
Trần Văn Chánh |
Lân Chiểu |
1840-ThừaThiên |
1/29 |
Làm quan tới chức tri phủ, bị miễn. |
|
4 |
Trần Văn Quang |
Lân Chiểu |
1842-ThừaThiên |
4/38 |
Em Trần Văn Chánh,
làm quan tới chức Ngự sử, bị miễn |
|
5 |
Trần Văn Thiều |
An Thường |
1846-ThừaThiên |
44/46 |
Làm quan tới chức
Tham tri bộ Lại |
|
6 |
Đỗ Hữu Hiếu |
Cửu Lợi |
1847-ThừaThiên |
31/46 |
Làm quan đến Giáo thụ |
|
7 |
Trần Như Khuê |
Lân Chiểu |
1848-ThừaThiên |
7/52 |
Làm quan đến chức tri huyện |
|
8 |
Nguyễn Tư Nghiêm |
Hội Tỉnh |
1852-Bình Định |
7/13 |
|
|
9 |
Nguyễn Thành Chiêu |
Hội An |
1858-Bình Định |
4/13 |
|
|
10 |
Đặng Thành Vinh |
Quan Tân |
1864-ThừaThiên |
15/28 |
|
|
11 |
Phan Đức Trạch |
An Hậu |
1864-ThừaThiên |
16/28 |
Làm quan đến chức
Bố chánh, bị tội |
|
12 |
Võ Đình Phương |
Tân Thạnh |
1868-Bình Định |
3/15 |
|
|
13 |
Nguyễn Tuấn |
Phụng Cang |
1868-Bình Định |
7/15 |
|
|
14 |
Lê Hữu Khải |
PhúNhuận |
1870-Bình Định |
11/16 |
|
|
15 |
Trần Trung |
Đức Lang |
1876-Bình Định |
6/12 |
|
|
16 |
Phạm Khuê |
Lại Khánh |
1879-Bình Định |
4/8 |
Nguyên quê nội ở
Trường Thân, Cao Xá, Đông Thành, Nghệ An di cư vào. |
|
17 |
Nguyễn Kiều |
Yên Sơn |
1882-Bình Định |
10/11 |
|
|
18 |
Huỳnh Dĩnh |
Lân Tường |
1884-Bình Định |
14/18 |
|
|
19 |
Nguyễn Du |
Phú Nông |
1885-Bình Định |
8/8 |
|
BẢNG II: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN PHÙ MỸ
(1807-1885)
|
STT |
Họ và
tên
|
Quê quán |
Năm thi đậu, trường thi |
Vị thứ |
Ghi chú |
|
1 |
Huỳnh Văn Minh |
Ph# H#i |
1821- Trực lí# |
8/25 |
Làm quan chức Án sát, đốc học |
|
2 |
Nguyễn Văn Thống |
Trà Lam |
1821- Trực lí# |
19/25 |
|
|
3 |
Nguyễn T#c |
Phước An |
1825-Qua#ng Đức |
5/10 |
|
|
4 |
Lê Văn Chân |
Trà Lam |
1834-ThừaThiên |
18/31 |
Tiến sĩ, 1835, làm
quan đến chức Hộ phủ Hưng Yên, can tội. |
|
5 |
Trần Kinh Vĩ |
Phụng Sơn |
1837-ThừaThiên |
11/32 |
Làm quan tới chức Ngự sử, bị miễn |
|
6 |
Nguyễn V. Đĩnh |
Phú Hội |
1837-ThừaThiên |
24/32 |
|
|
7 |
Đinh Văn Khanh |
Vĩnh Nhơn |
1841-ThừaThiên |
4/40 |
|
|
8 |
Trần Văn Kế |
Bình Long |
1841-ThừaThiên |
36/40 |
Làm quan đến án
sát,bị cách chức, được phục Phó quản đạo Quảng Trị . |
|
9 |
Đỗ Văn Lân |
Phú Đức |
1842-ThừaThiên |
32/38 |
Làm quan tới chức tri huyện. |
|
10 |
Trương Đức Lân |
Phú Thiện |
1846-ThừaThiên |
41/46 |
Làm quan đến tri
phủ, chết tặng Thị độc học sĩ. |
|
11 |
Nguyễn Văn Hoằng |
An Trinh |
1848-ThừaThiên |
31/52 |
|
|
12 |
Nguyễn Nguyên Giám |
Phước Thọ |
1850-ThừaThiên
|
31/48 |
|
|
13 |
Trần Đăng Phong |
Đông Xá |
1850ThừaThiên
|
40/48 |
|
|
14 |
Nguyễn Đăng Tuyển |
Chánh Trạch |
1855-Bình Định |
1/13 |
Làm quan đến chức Giảng tập |
|
15 |
Nguyễn Phụng |
An Hoan |
1867-Bình Định
|
7/18 |
|
|
16 |
Nguyễn Tân |
Dương Liễu |
1867-Bình Định
|
16/18 |
|
|
17 |
Lê Văn Mỹ |
Trực Đạo |
1870-Bình Định
|
12/16 |
|
|
18 |
Lê Cự Hải |
Trực Đạo |
1876-Bình Định
|
2/12 |
|
|
19 |
Trần Văn Tấn |
Mỹ Linh |
1884-Bình Định
|
10/18 |
|
|
20 |
Đinh Văn Chánh |
Phú Đa |
1884-Bình Định
|
16/18 |
|
|
21 |
Nguyễn Hân |
Phú Đa |
1885-Bình Định
|
2/8 |
|
BẢNG III: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN PHÙ CÁT
(1807-1885)
|
STT |
Họ và tên
|
Quê quán |
Năm thi đậu, trường thi |
Vị thứ |
Ghi chú |
|
1 |
Mai Công Bình |
Đàn Lâm |
1831-Thừa Thiên |
3/12 |
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi là trường Thừa Thiên. |
|
2 |
Lê Văn Đạt |
Xuân An |
1837- Thừa Thiên |
5/32 |
|
|
3 |
Nguyễn Văn Quý |
Phú Thành |
1840-Thừa Thiên |
4/29 |
Làm quan tới chức
tri huyện. |
|
4 |
Mai Trước Tòng |
Đại Lợi |
1842-Thừa Thiên |
34/38 |
|
|
5 |
NguyễnXuân Văn |
An Quang |
1843-Thừa Thiên |
35/39 |
|
|
6 |
NguyễnVăn Tuấn |
An Thắng |
1850-Thừa Thiên |
16/48 |
|
|
7 |
Nguyễn Đăng Dinh |
Chánh Mẫn |
1850-Bình Định |
43/48 |
Làm quan đến chức Giảng tập |
|
8 |
Chu Văn Chất |
Hưng Định |
1852-Bình Định |
4/13 |
Làm quan đến chức Án sát |
|
9 |
Trần Khắc Thận |
Châu Thành |
1852-Bình Định |
9/13 |
|
|
10 |
Phan Văn Thành |
An Tường |
1852-Bình Định |
10/13 |
|
|
11 |
Nguyễn Công Luận |
Phú Thành |
1855-Bình Định |
8/13 |
|
|
12 |
Nguyễn Duy Lộc |
Xuân An |
1858-Bình Định |
1/13 |
|
|
13 |
HuỳnhVăn Vỹ |
An Đức |
1861-Thừa Thiên |
15/30 |
|
|
14 |
Nguyễn Đạo |
Hưng Định |
1861-Thừa Thiên |
29/30 |
|
|
15 |
Lê Đăng Đệ |
Khánh Phước |
1867-Bình Định |
1/18 |
|
|
16 |
Nguyễn Tạo |
Hưng Định |
1867-Bình Định |
2/18 |
|
|
17 |
Huỳnh Văn Trác |
An Đức |
1867-Bình Định |
5/18 |
|
|
18 |
Đinh Văn Trung |
Vĩnh Thành |
1867-Bình Định |
10/18 |
|
|
19 |
Phạm Đăng Dinh |
Trung Bình |
1867-Bình Định |
11/18 |
|
|
20 |
Mai Đình Nghị |
Chánh Lộc |
1870-Bình Định |
3/16 |
|
|
21 |
Đặng Văn Luận |
Khánh Phước |
1870-Bình Định |
16/16 |
|
|
22 |
Nguyễn Hữu Siêu |
Chánh Liêm |
1876-Bình Định |
10/12 |
|
|
23 |
Nguyễn Kiêm |
Hưng Định |
1876-Bình Định |
12/12 |
|
|
24 |
Nguyễn Chánh |
Chánh Liêm |
1884-Bình Định |
4/18 |
|
|
25 |
Nguyễn Mại |
Tiên Xá |
1884-Bình Định |
9/18 |
|
|
26 |
Trần Quang Du |
Châu Thành |
1884-Bình Định |
11/18 |
Con của Trần Khắc Thận |
|
31 |
Phạm Kiều |
Kiều Huyên |
1884-Bình Định |
12/18 |
|
|
32 |
Dương Đình Thạc |
Châu Thành |
1884-Bình Định |
18/18 |
|
BẢNG IV: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN TUY VIỄN
(1807-1885)
|
STT |
Họ và tên
|
Quê quán
|
Năm thi đậu, trường thi |
Vị thứ |
Ghi chú |
|
1 |
Lâm Duy Nghĩa |
Minh Hương,
(nay là Nhơn Phúc) |
1828- Thừa Thiên |
9/13 |
Làm quan chức Tổng đốc, Thượng thư, Hiệp
biện Đại học sĩ, Phụ chính
Cơ mật viện đại thần |
|
2 |
Trần Đức Tú |
Nho Lâm |
1834-ThừaThiên |
4/31 |
Làm quan đến chức tri huyện, can tội |
|
3 |
Lưu Tư Trung |
Thọ Lộc |
1842-ThừaThiên |
13/28 |
|
|
4 |
Phạm HuyThanh |
Nhơn Ngãi |
1843-ThừaThiên |
36/39 |
Làm quan tới chức Kiểm thảo |
|
5 |
Huỳnh Văn Học |
Phú Phong |
1846-ThừaThiên |
36/46 |
Phó bảng 1847, làm quan tới chức Biện lý bộ Công. |
|
6 |
Võ Văn Hiệu |
Kiên Hạnh |
1846-ThừaThiên |
38/46 |
Tiến sĩ 1847, làm
quan tới chức tri phủ. |
|
7 |
Nguyễn Hoài Cẩn |
Vân Tường |
1846-ThừaThiên |
39/46 |
|
|
8 |
Ngô Tòng Nho |
Thuận Ngãi |
1846-ThừaThiên |
43/46 |
Tiến sĩ 1849, làm quan đến chức tri phủ, chết được tặng Thị giảng học
sĩ. |
|
9 |
Nguyễn Văn Nhã |
Thới Thuận |
1847-ThừaThiên |
22/46 |
Làm quan tới chức
Bố chánh Vĩnh Long. |
|
10 |
Mai Văn Phẩm |
Phú Lạc |
1847-ThừaThiên |
43/46 |
Đổi là Mai Xuân Tín, làm quan Bố chánh Cao Bằng. |
|
11 |
Trương Văn Phác |
Thái Bình |
1847-ThừaThiên |
44/46 |
|
|
12 |
Cao Văn Tán |
An Ngãi |
1848-ThừaThiên |
24/52 |
Cha Cao Văn Duy |
|
13 |
Phạm Dần Lượng |
Nhơn Mỹ |
1850-ThừaThiên |
45/48 |
|
|
14 |
Nguyễn Văn Học |
Tân Nghi |
1850-ThừaThiên |
48/48 |
|
|
15 |
Cao Văn Tuấn |
Thắng Công |
1852-Bình Định
|
1/13 |
|
|
16 |
Lê Văn Chất |
Mỹ Thuận |
1852-Bình Định |
3/13 |
|
|
17 |
Trần Hữu Độ |
Phú Phong |
1852-Bình Định |
13/13 |
|
|
18 |
Đặng Văn Đạt |
Hiếu Đức |
1855-Bình Định |
7/13 |
|
|
19 |
Dương Thế Trung |
Nhơn Nghĩa |
1858-Bình Định |
5/13 |
|
|
20 |
Nguyễn ĐứcThắng |
An Khê |
1858-Bình Định |
6/13 |
|
|
21 |
Cù Đăng Tấn |
An Thuận |
1858-Bình Định |
7/13 |
|
|
22 |
Văn Thế Uyển |
Hoà Nghĩa |
1858-Bình Định
|
9/13 |
|
|
23 |
Nguyễn Xán |
Hiếu Đức |
1864-ThừaThiên |
5/15 |
|
|
24 |
Nguyễn Đăng Dung |
Hoà Cư |
1867-Bình Định |
12/18 |
|
|
25 |
Cù Đăng Dao |
An Thuận |
1868-Bình Định |
5/15 |
|
|
26 |
Đặng Văn Tuân |
Hiếu Đức |
1868-Bình Định |
6/15 |
|
|
27 |
Nguyễn Hữu Luân |
Thới Thuận |
1868-Bình Định |
11/15 |
|
|
28 |
Phạm Hữu Tạo |
Thới Thuận |
1868-Bình Định |
12/15 |
|
|
29 |
Trần Quang Khiêm |
Thới Thuận |
1868-Bình Định |
13/15 |
|
|
30 |
Huỳnh Lý |
Thanh Minh |
1868-Bình Định |
15/15 |
|
|
31 |
Lê Văn Tập |
An Hoà |
1870-Bình Định |
6/16 |
|
|
32 |
Võ Phong Mậu |
Kiên Phụng |
1873-Bình Định |
5/15 |
|
|
33 |
Nguyễn Đôn Phục |
Phương Danh |
1873-Bình Định |
9/15 |
|
|
34 |
Đặng Đức Xứng |
Mỹ Đức |
1873-Bình Định |
13/15 |
Làm quan tới chức tri phủ |
|
35 |
Nguyễn Văn Phương |
Xuân Hoà |
1873-Bình Định |
14/15 |
|
|
36 |
Bùi Đản |
Thái Bình? |
1876-Bình Định |
9/12 |
|
|
37 |
Nguyễn Trọng Trì |
Vân Sơn |
1876-Bình Định |
8/12 |
Về sau có việc bị tước học vị |
|
38 |
Cao Văn Duy |
An Ngãi |
1878-Bình Định |
5/11 |
Con Cao Văn Tán, cha con cùng thi đậu |
|
39 |
Võ Vinh |
Thông Hòa |
1878-Bình Định |
7/11 |
|
|
40 |
Lê Đăng Tuyển |
Thọ Lộc |
1878-Bình Định |
10/11 |
|
|
41 |
Bùi Tuyển |
Bả Canh |
1882-Bình Định |
2/11 |
|
|
42 |
Lưu Truy |
Thọ Lộc |
1882-Bình Định |
3/11 |
|
|
43 |
Phạm Hiển |
Thông Hoà |
1882-Bình Định |
4/11 |
|
|
44 |
Nguyễn Văn Quýnh |
Thái Bình ? |
1884-Bình Định |
2/18 |
|
|
45 |
Phạm Chuyên |
Thắng Công |
1884-Bình Định |
15/18 |
|
|
46 |
Nguyễn Khắc Cẩn |
Nhơn Thuận |
1885-Bình Định |
5/8 |
|
|
47 |
Mai Xuân Thưởng |
Phú Lạc |
1885- Bình Định |
7/8 |
Mai Xuân Thưởng con của Mai Xuân Tín. Tín vốn là Mai Văn Phẩm sau đổi
tên. Lúc tỉnh thành có biến động, hợp thân hào, can trọng án. |
BẢNG V: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN TUY PHƯỚC
(1807-1885)
|
STT |
Họ và tên
|
Quê quán
|
Năm thi đậu, trường thi |
Vị thứ |
Ghi chú |
|
1 |
Nguyễn Văn Thạnh |
Phú Lâm |
1834.Thừa Thiên |
27/31 |
Làm quan tới chức tri huyện, bị miễn |
|
2 |
Trần Quang Chung |
Lục Lễ |
1834.Thừa Thiên |
29/31 |
Làm quan tới chức Tham tri bộ Lễ, Hộ đốc Hải Yên |
|
3 |
Lê Doãn Xuân |
An Chánh |
1837.Thừa Thiên |
1/32 |
|
|
4 |
Trần Công Chánh |
An Hoà |
1837.Thừa Thiên |
18/32 |
|
|
5 |
Trần Văn Chương |
Vạn Bửu |
1841.Thừa Thiên |
23/40 |
Đổi là Trần Văn
Lập |
|
6 |
Thái Công Quang |
Xuân Mỹ |
1841.Thừa Thiên |
29/40 |
|
|
7 |
Nguyễn Văn Bằng |
Vinh Thạnh |
1846.Thừa Thiên |
33/46 |
|
|
8 |
Nguyễn Văn Nhuận |
Phú Vang |
1847.Thừa Thiên |
12/46 |
Anh Nguyễn Văn Đức |
|
9 |
Trần Văn Kinh |
Quảng Nghiệp |
1847.Thừa Thiên |
40/46 |
|
|
10 |
Nguyễn Văn Cung |
Kỳ Sơn |
1848.Thừa Thiên |
37/52 |
|
|
11 |
Đặng Văn Lý |
Lộc Thuận |
1848.Thừa Thiên |
41/51 |
|
|
12 |
Trần Văn Nhượng |
Tân Thuận |
1850.Thừa Thiên |
15/48 |
|
|
13 |
Trần Quang Trạch |
Lục Lễ |
1850.Bình Định
|
47/48 |
Con Trần Quang
Chung |
|
14 |
Trần Văn Điển |
Phụng Sơn |
1852.Bình Định |
6/13 |
Làm quan tới chức Quản đạo, sau sung chức Bang biện hải phòng
Bình Định
|
|
15 |
Nguyễn Thúc Ôn |
Tân Dân |
1852.Bình Định |
8/13 |
|
|
16 |
Võ Văn Lâm |
Tùng Giản |
1852.Bình Định |
11/13 |
|
|
17 |
NguyễnVăn Nhu |
Nhơn Ân |
1852.Bình Định |
12/13 |
|
|
18 |
Đỗ Tấn Bằng |
Thành Tín |
1855.Bình Định |
6/13 |
|
|
19 |
Nguyễn Văn Đức |
Phú Vang |
1858.Bình Định |
3/13 |
Em Nguyễn Văn
Nhuận |
|
20 |
Nguyễn Tấn Đức |
Phổ Trạch |
1867.Bình Định |
3/18 |
|
|
21 |
Huỳnh Văn Đức |
Dương Thiện |
1867.Bình Định |
4/18 |
|
|
22 |
Lê Phổ |
Dương Minh |
1867.Bình Định |
6/18 |
|
|
23 |
Đào Đăng Tấn |
Vinh Thạnh |
1867.Bình Định |
8/18 |
Đổi là Đào Tấn
(1845-1947) |
|
24 |
Trần Văn Thuyên |
Tân Thuận |
1867.Bình Định |
13/18 |
|
|
25 |
Phạm Thanh Quang |
Liêm Trực |
1867.Bình Định |
17/18 |
|
|
26 |
Nguyễn Kỳ |
Xuân Quang |
1870.Bình Định |
4/16 |
|
|
27 |
Nguyễn Toản |
Xuân Quang |
1870.Bình Định |
5/15 |
|
|
28 |
Lê Văn Phái |
Chánh Thành |
1873.Bình Định |
1/15 |
|
|
29 |
Đặng Khuê |
Lộc Thuận |
1873.Bình Định |
6/15 |
|
|
30 |
Võ Huy |
Tòng Đồng |
1873.Bình Định |
11/15 |
|
|
31 |
Lê Dự |
Dương Minh |
1873.Bình Định |
15/15 |
|
|
32 |
Đoàn Diệu |
Ngọc Thạnh |
1876.Bình Định |
7/12 |
|
|
33 |
Nguyễn Khởi |
Long Vân |
1878.Bình Định |
1/11 |
|
|
34 |
Nguyễn Tư |
Xuân Hương |
1878.Bình Định |
6/11 |
|
|
35 |
Đỗ Tấn Thiện |
Thành Tín |
1878.Bình Định |
8/11 |
|
|
36 |
Huỳnh Văn Chuẩn |
Huỳnh Giản |
1879.Bình Định |
2/8 |
|
|
37 |
Nguyễn Điềm |
Lương Bình |
1879.Bình Định |
3/8 |
|
|
38 |
Võ Tấn |
Vinh Quang |
1879.Bình Định |
5/8 |
|
|
39 |
Trần Đệ |
Trung Tín |
1882.Bình Định |
5/11 |
|
|
40 |
Bùi Thanh Quang |
Trung Tín |
1882.Bình Định |
8/11 |
|
|
41 |
Trần Chuyết |
Lệ Hoà |
1884.Bình Định |
6/18 |
|
|
42 |
Dương Quỳnh |
Phụng Sơn |
1884.Bình Định |
13/18 |
|
|
43 |
Lê Thân |
An Cửu |
1885.Bình Định |
1/8 |
Cháu nội Giải
nguyên Lê Doãn Xuân |
|
44 |
Nguyễn Táp |
An Phú |
1885.Bình Định |
3/8 |
|
|
45 |
Nguyễn Nhuận |
Phục Thiện |
1885.Bình Định |
4/8 |
|
Năm 1867, triều đình cho trường thi võ ở
Hà Nội và
ở Huế
lấy đỗ tiến sĩ ngành võ. Ở Võ miếu tại Huế còn có
một số bia tiến sĩ võ trong đó có các vị quê ở Bình Định. Khoa thi năm 1868 và
1869 khắc chung một bia: Bia này có người Bình Định là Nguyễn Văn Tứ và Đặng Văn
Tuấn.1
2. Đời
sống văn hóa
Dưới triều Nguyễn, đời sống văn hoá của nhân dân Bình Định khá phong phú.
Điều đó được thể hiện trong văn học dân gian qua những câu tục ngữ, ca dao,
những câu ca đã phản ánh quan niệm, kinh nghiệm đời sống của nhân dân và cuộc
đấu tranh xã hội như bài vè Chàng Lía, vè Bà Thiếu phó; đặc biệt
là Hát bội. Hát bội là một sáng tạo và hưởng thụ văn hoá đặc sắc của nhân
dân Bình Định giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân mà
tiêu biểu là Đào Tấn (1845-1907). Đào Tấn đậu cử nhân, tuy giữ chức Tổng đốc rồi
Hiệp tá Đại học sĩ, nhưng sự nghiệp Đào Tấn đã để lại cho hậu thế là sự nghiệp
văn hoá. Ông được vua Tự Đức giao phụ trách Ban Hiệu thư và là nhà soạn tuồng có
số lượng và chất lượng cao nhất trong lịch sử phát triển của ngành sân khấu Việt
Nam2.
Tại quê nhà, ông lập trường dạy kịch nghệ gọi là Học Bộ đình và là người sáng
tạo - lập bộ môn hát bội Bình Định. Bình Định dưới triều Nguyễn cũng nổi
tiếng về nhạc võ và võ thuật :
"Ai về Bình Định mà coi
''Con gái Bình Định cầm roi, đi quyền..."
Việc học võ thuật chủ yếu tập trung ở
các trung tâm đào tạo An Thái, An Vinh, Thuận
Truyền:
"Trai An Thái, gái Thuận Truyền''
''Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh"
- Về tín ngưỡng tôn giáo:
Năm 1829, vua Minh Mạng phong tặng một số công thần thời chúa Nguyễn làm
phúc thần, lập đền thờ ở Bình Định có Trần Đức Hoà, Đào Duy Từ. Thời Thiệu Trị
và Tự Đức có sắc phong cho các bách thần như Đại Càn Thánh nương, Bổn Cảnh thành
hoàng, Thiên y A na. Tỉnh Bình Định có các đền nổi tiếng linh thiêng được triều
Nguyễn nhiều lần phong tặng như đền thờ Đại Càn ở 2 thôn Thuận Nghi và Đăng
Trường, huyện Tuy Phước, đền thần núi Tam Toà ở cửa biển Thị Nại, đền thờ Bà
Thần ở thôn Thạnh Xuân, huyện Bồng Sơn, đền Tráng Bang ở Chánh Hội, huyện Phù
Mỹ.1
Trong nhân dân lấy việc thờ cúng tổ tiên làm trọng.
Triều Nguyễn lại đề cao Nho giáo và khuyền khích Phật giáo.
Năm 1802, vua Gia Long cho xây dựng Văn miếu và đền Khải Thánh (thờ song
thân Khổng Tử) ở huyện Phù Cát. Năm 1822, Minh Mạng cho trùng tu.
Các phủ, huyện còn lập Văn chỉ (thờ Khổng Tử) ở Tuy Phước, lập 1847 ở
thôn Trung Tín, 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát lập ở thôn Vạn Thiện, tổng Trung
Bình- Phù Mỹ. Năm 1867,Văn chỉ phủ Hoài Nhơn được lập ở thôn An Hội, tổng Quy
Hoá .
Dưới triều Nguyễn, nhiều ngôi chùa nổi tiếng được trùng tu như chùa Long
Khánh vào năm 1807, chùa Thập Tháp năm 1820, chùa Dũng Tuyền (sau đổi là Linh
Phong) ở thôn Phương Phi năm 1830. Các chùa này được nhà nước xuất kho 300 lạng
bạc cho mỗi chùa để trùng tu.2
Năm 1835, ở tỉnh Bình
Định có người đào được 3 pho tượng Phật Quan âm và 2 pho tượng Hộ pháp. Tổng đốc
Võ Xuân Cẩn tâu lên, vua Minh Mạng sai thưởng cho người đào được 50 quan tiền,
lấy 1 tượng Phật Quan âm và 1 tượng Hộ pháp để giữ lại thờ ở chùa Linh Phong,
lấy 100 quan tiền làm lễ cúng và sau đó chuyển 3 pho tượng về Kinh chia cho các
chùa để thờ.1
- Thiên chúa giáo.
Vào đầu thế kỷ XVII, nhà thờ Nước Mặn ra
đời là cơ sở truyền giáo sớm của xứ Đàng Trong. Vào thế kỷ XIX, nhà thờ Gò
Thị ở Tuy Phước -nơi đặt toà Tổng Giám mục của Thiên chúa giáo của
các tỉnh miền Trung (từ Huế - Đà Nẵng trở vào Khnh Hồ và Tây Nguyên - đến
năm 1844, Huế mới tch ring); Bình Định trở thành vùng "nhạy cảm" trong
thời kỳ cấm đạo của triều Nguyễn. Đây là một trong những vấn đề mà triều Nguyễn
quan tâm để tìm ra những giải pháp tốt nhất. Năm 1854, vua Tự Đức ra dụ cho Tổng
đốc Bình Phú Nguyễn Đăng Uẩn rằng: "Dân hạt ấy phần nhiều theo đạo Gia tô, ngươi
nên đặt phương pháp như thế nào để khu xử, không nên nghiêm quá, cũng không nên
khoan quá, cần để cho chúng lặng lẽ hoán đổi ngấm ngầm tiêu trừ (thói mê) đều theo
chính đạo là được".2
Nhưng rồi sau đó việc cấm đạo và sát tả bùng lên mãnh liệt ở Bình Định. Ngày
28.10.1861, Đức cha Thể (tức Giám mục Gue'not bị bắt và bị kết án tử hình. Giám
mục Gue'not chưa kịp bị hành quyết thì chết trong ngục Bình Định (14.11.1861).3
Dưới thời Pháp thuộc số giáo dân cũng
tăng lên nhiều do đó tỉ lệ thuận với việc gia tăng nhà thờ. Nhiều nhà thờ trong
thời gian này cũng được ra đời như: nhà thờ Lòng Sông, Kim Châu, Nhà Đá, nhà
thờ Chính toà Quy Nhơn.
Phong tục tập quán
- Ăn uống:
người Bình Định trước đây dọn ăn trên nền đất có thể trải chiếu hoặc để mâm
cơm chạm nền đất, ít khi ngồi trên ghế, trên phản. Đây là phong tục bắt nguồn từ
người Chàm với quan niệm nguồn sống và sự sống bắt nguồn từ đất. Cơm và thức ăn
được nấu trong nồi, niêu bằng đất, chén đĩa bằng đồ sành. Thức ăn thường có món
cá và canh bằng các thứ rau trồng được. Trước khi ăn họ thường súc miệng bằng
bát nước trong. Sau khi ăn, uống một bát nước chè lớn pha vun bọt, thường gọi là
chè Huế. Khi có khách thường có bánh tráng khai vị và vài ly rượu bọt, rượu
thuốc... Nhìn chung, việc ăn uống của nhân dân ngày trước đơn giản, nhà giàu
hoặc khi có lễ tiệc thì mới tổ chức linh đình với mâm cao cỗ đầy...
- Trang phục.
Dưới thời Nguyễn, trang phục của người
dân Bình Định chỉ có khác nhau về vị trí xã hội, giàu nghèo, nam nữ, nhưng nhìn
chung là giản dị, ít xa hoa.. thành phần bình dân
thường dùng vải thao, vải ta. Nhà giàu dùng đồ lụa, đồ hàng... Phụ nữ ra khỏi
nhà luôn mặc áo dài. Mặc quần lưng vận màu đen. Phụ nữ trong mặc yếm. Yếm được
chọn vải tốt để che ấm, bó ngực nhằm để hạn chế phô trương ngoại hình. Đàn ông
mặc áo cụt, quần ống rộng màu trắng, có dây lưng. Họ thường đi chân đất; khi đi
rừng, đi trên cát nóng có dùng dép da trâu, dùng guốc quai dọc đẽo từ thân tre,
cây vọng, cây mức...
Nam nữ đầu thường để tóc và búi tóc càng
to cao như bánh ú càng đẹp, phụ nữ
ít tóc thường kèm theo lọn tóc giả để búi thêm cho đẹp. Để tóc láng mướt thường
xức dầu dừa... đầu thường bịt khăn, đàn ông bịt khăn ngang, đàn bà bịt khăn xéo.
Khăn bịt đầu và dây lưng là trang phục làm đẹp và thể hiện sự sang trọng, quý
phái của các thành phần dân cư.
Ra khỏi nhà họ thường đội nón, nón ngựa Gò Găng cho nhà
giàu, nón lá kè cho nhà bình dân.
Đồ trang sức thường dùng bằng vàng, bạc,
thau, đồng, huyền... phụ nữ có nhẫn, vòng, kiềng, hoa tai, chuỗi hột. Đàn ông
đeo nhẫn ở ngón tay giữa.
Dưới thời Nguyễn, đàn ông, đàn bà có tục
ăn trầu, nhuộm răng, tục này có từ lâu đời. Sau phong trào chống thuế năm 1908,
đàn ông bắt đầu để răng trắng.
Đàn ông ngoài ăn trầu còn hút thuốc, đàn
bà hút thuốc bị xem là điều cấm kỵ.
- Nhà cửa.
Nhà thường lợp tranh, trừ ít nhà giàu và
đình chùa mới lợp ngói.
Ngoài nhà cặp
là loại nhà thông dụng ở nông thôn, mái tranh, vách đất. Ở Bình Định có lá
mái là một đặc trưng kiến trúc nhà cửa của nhân dân Bình Định.
Nhà lá mái thường có quy mô to lớn và
kiên cố hơn nhà cặp nên thường thuộc về những gia đình khá giả: nhà thường 3
gian hai chái, gỗ tốt, vách xây đá ong, tô vôi, cửa bàn khoa bằng gỗ tốt, chạm
trổ. Đặc biệt là bộ mái, nhà có 2 bộ mái, ngoài mái lợp tranh ở bên ngoài còn có
bộ mái bằng đất, làm như trần nhà bằng đất sét nhào rơm được
trét lên bộ ván hoặc tre làm trần. Tác dụng nhà lá mái là mát về mùa hè, ấm về
mùa đông và kỵ được hoả hoạn. Nhược điểm
nhà lá mái là thiếu ánh sáng ban ngày, nặng nề, nhìn bên ngoài thiếu thẩm mỹ,
hạn chế diện tích sử dụng.
Bình Định là vùng "trọng điểm bình định" của triều Nguyễn đối với nhà Tây Sơn,
nhưng triều Nguyễn cũng phải thừa nhận tính khách quan về một vùng đất có vị trí
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục đối với các tỉnh miền Trung thuở
đó, nên các vua Gia Long, Minh Mạng một mặt ra sức trấn áp nhưng mặt khác lại mị
dân thể hiện trong các chiếu dụ, ban bố trong quan lại và nhân dân. Thiết lập
phủ Quy Nhơn, dinh Bình Định thời Gia Long, tổ chức lập lại địa bạ thời Minh
Mạng với ý định làm thí điểm cho cả nước.
Triều Nguyễn còn tổ chức trường thi hương và mở trường
thi võ tại Bình Định để tuyển chọn nhân tài cho đất nước.
Dưới thời Nguyễn cũng hình thành đô thị
Quy Nhơn và trở thành trung tâm kinh tế của tỉnh Bình Định trong thế kỷ XIX; là
xu thế phát triển trong thời Pháp thuộc, có tác dụng to lớn trong thế kỷ XX và
nay Quy Nhơn là thành phố loại II thuộc tỉnh Bình Định.
1 ĐNTL, sđd, tập III, tr.396-397.
2 ĐNTL, sđd, tập IX, tr. 243.
3 ĐNTL, sđd, tập XXVI, tr. 285. Sách ĐNNTC thời Tự Đức là 57.349 người, sđd, tập III, tr. 16.
4 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 263.
1 Châu bản Triều Nguyễn, triều Tự Đức, tập V, tr. 193-195.
2 Châu bản Triều Nguyễn, triều Gia Long, ngày 6 tháng 1 năm thứ 4, bản Mục lục, dịch, Viện Đại học Huế, 1962, tr. 71.
3 Châu bản Triều Nguyễn, triều Gia Long, sđd , tr. 126-129. Công đồng là cơ quan hành pháp tối cao của triều Gia Long trước năm 1806.
4 ĐNTL, sđd, tập IV, tr. 77.
5 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 237.
1 Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên (ĐVĐDTB), Viện Sử học, NXB. Văn hoá, Hà Nội, 1997, tr. 223.
2 ĐNTL, sđd, tập XIV, KHXH, Hà Nội, 1965, tr. 215.
3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr.324.
4 Đại Nam điển lệ toát yếu (ĐNĐLTY) - Nguyễn Sĩ Giác dịch; TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 187.
5 Đại Nam điển lệ toát yếu (ĐNĐLTY), sđd, tập XXIV, tr. 358.
1 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 13.
2 ĐNTL, sđd, tập VI, tr. 149.
3 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 43.
4 ĐNTL, sđd, tập X, tr. 195.
5 ĐNCBLT, Q.30, sđd, tờ 53b, bản dịch Tạ Quang Phát, Sài Gòn, 1970, tr.225 cho rằng: "Bắt được cả Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Lương và con của Đức là Nguyễn Văn Đâu.
1 ĐNTL, sđd, tập XII, tr. 356-357.
2 ĐNTL, sđd, tập XIV, tr. 215.
3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 215.
4 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 167.
5 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 164.
1 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 85.
2 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 166.
1 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 285.
2 ĐNTL, sđd, tập XXXI, tr. 207, 216.
3 ĐNTL, sđd, tập X, tr. 163
1 ĐNTL, sđd, tập XXXI tr. 207-216
2,3 ĐNTL, sđd, tập XXXIV, tr. 190-191.
1 CBTN, triều Minh Mạng, tập I, tr. 117.
2 CBTN, triều Minh Mạng, năm thứ 7, tập XX, tr. 129
1 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 15.
2 ĐNTL, tập IV, Đệ nhất kỷ, tr. 152
3 ĐNTL, sđd, tập XXVII, tr. 302.
4 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 15.
1 NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1993.
1 Năm 1849 và1901 có 2 vị tiến sĩ người Bình Định, vậy dưới triều Nguyễn có 8 tiến sĩ tuy con số còn khiêm tốn nhưng thể hiện vùng đất học hành và đỗ đạt so với các tỉnh phía nam (Gia Định:1; Định Tường: 2; Vĩnh Long: 1 (Phan Đại Doãn.... Một số vấn đề quan chế Triều Nguyễn - Thuận Hoá, Huế, 1998, tr. 186,189.
2 Đỗ Bang, Tuồng cung đình Huế-một hiện tượng đặc sắc của của lịch sử và văn hoá Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị tuồng cung đình Huế; Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, 2001, tr. 150.
1 ĐNSL, sđđ, tập IV, tr. 196
2 ĐNTL,sđd, tập X, tr. 132.
1 ĐNTL,sđd, tập XIII, tr. 126-177.
2 ĐNTL,sđd, tập XXVIII, tr. 88.
3 Quách Tấn, Nước non Bình Định, Nam Cường, Sài Gòn, 1967, tr. 467. ĐNTL,sđd, tập XXIX, tr. 245 ghi sự kiện này nhưng tên vị Đạo trưởng là Y.Ty -Anh.