III. TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ BÌNH ĐỊNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

 

          1. Xã hội

 a. Các thành phần xã hội.

Vào thế kỷ XIX, ngoài đa số dân cư Bình Định là người Kinh, ở đây còn có người Hoa và các dân tộc thiểu số như Bana, H'rê, người Chăm H' roi.

- Người Kinh:

Người Kinh là đại bộ phận dân cư chính phản ánh nhiều qua sử sách và được triều Nguyễn thực thi nhiều chính sách xã hội.

Về dân số: Dưới thời Nguyễn tuy không có biểu kê dân số đầy đủ, nhưng việc báo số đinh để thu thuế, nắm nguồn nhân lực, điều binh... thì được tiến hành thường xuyên và khá chặt chẽ. Theo Đại Nam thực lục chính biên, dân số Bình Định như sau:

Năm 1819 có: 33.300 đinh tráng.1

Năm 1829 có: 39. 965  đinh tráng.2

Năm 1847 có: 52.110 đinh tráng.3

Dân đinh có nghĩa vụ đi lính cho Nhà nước. Năm 1806, Gia Long có quy định: "Các dinh từ Quảng Bình đến Bình Thuận đều chiếu theo số đinh, cứ 3 đinh lấy 1 bổ vào các quân thủy, bộ trong, ngoài; số còn lại vẫn để ở dân hạng chịu giao dịch.4

Năm 1836, tỉnh Bình Định có 6.646 dân đinh được tuyển vào quân đội. Binh lính ngoài lương được hưởng hàng tháng (tiền 1 quan, gạo 1 phương), ở quê còn được cấp lương điền là ruộng tốt để động viên người lính trong quân đội.

Năm 1848, tổng đốc Bình Phú tâu: "Phụng chiếu, trong tỉnh Bình Định cộng 675 thôn số ngạch lính tại Kinh và ở tỉnh hơn 1 vạn 1 ngàn 1 trăm  tên".1

Ngoài thuế thân (đinh) và dân đinh, phải đóng hàng năm tuỳ theo chính hộ (chính cư) hay khách hộ (ngụ cư) thời Gia Long, hay dân có ruộng công và không có ruộng công thời Minh Mạng, hàng năm dân đinh phải đóng công sưu để xây dựng các công trình cho Nhà nước gọi là dao dịch như: đắp thành luỹ, làm cầu đường, làm gỗ, nung gạch ngói...

Năm 1805, để xây dựng Kinh thành Huế, Công đồng đã truyền cho dinh Bình Định: "bắt dân làm công sưu, đến thượng tuần tháng 2 lên núi đốn gỗ. Gỗ làm xong đem xuống cửa Thị Nại để đưa về kinh cho kịp dùng"2. Sau đó, triều đình tiếp tục có lệnh điều dân Bình Định ra Huế để xây dựng kinh đô: "Nay phụng chiếu xây đắp kinh thành, vậy nên sức đòi 2.436 quân dân, hạn đến ngày 20 tháng 4 có mặt tại Kinh để điểm danh khởi công".3

Năm 1810, triều đình dời trấn thành Bình Định từ Đồ Bàn đến Tân An (nay thuộc huyện An Nhơn) tuyển dụng 17.500 người chia làm 2 ban, 10 ngày thay 1 lần để đắp thành.4

Năm 1827, trấn thân Bình Định tâu xin phái 3.000 dân sửa đắp đường quan và cầu cống.5

Dân đinh các hạng chỉ hưởng mức khẩu phần chia ruộng công từ 5,5 đến 6,5 phần ruộng. Trong khi lính và quan chức các hạng từ 7 đến 18 phần ruộng công. Đó là sự bất công trong chính sách xã hội của triều Nguyễn.

- Các dân tộc thiểu số:

          Các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời tại miền núi phía tây Bình Định như: Bana, H'rê, Chăm H'roi chuyên khai thác lâm thổ sản và nộp cống cho triều Nguyễn. Các dân tộc này sống gần các nguồn Trà Vân, Trà Bình, Thạch Bàn, Phương Kiệu, Lộc Đổng, Hà Thanh, An Tượng. Phía tây tỉnh Bình Định có 2 tiểu quốcThủy Xá và Hỏa Xá, khoảng 50 thôn bản ở trong núi Bà Nam. Thủy vương ở phía đông, Hỏa vương ở phía tây núi. Hai tiểu quốc này từ thời chúa Nguyễn đã lệ vào Đàng Trong, nay vẫn tiếp tục triều cống.1

          Triều Nguyễn thường đặt các đồn bảo để khống chế và trấn áp những thế lực chống đối triều đình. Năm 1834, có cuộc nổi dậy của người dân tộc kéo xuống nguồn Trà Vân uy hiếp binh dân rồi rút đi. Viên thủ ngự bị triều đình Huế cách chức.2

          - Người Hoa

          Người Hoa ở Bình Định chia làm 2 hạng:

          Người Minh Hương: đến Bình Định từ sớm, có thể từ thế kỷ XVII-XVIII ở vùng phố Nước Mặn, An Thái. Họ nhập tịch Việt, hưởng các quyền lợi học hành, thi cử, làm quan như người Việt, phải đóng thuế thân bằng vải và tiền hoặc bạc nặng hơn người Việt.

          Người Hoa kiều trong các Bang là bộ phận mới nhập cư vào đầu triều Nguyễn. Họ có quy chế riêng. Năm 1814, họ được Nhà nước cho lập nhóm Đại Minh: "Chuẩn y lời tâu cho trấn Bình Định có người Đường t hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến phiêu lưu tới, bọn Dư Thịnh Hợp gom góp được chừng 30 người trở lên nhập làm nhóm Đại Minh".3

          Năm 1842, vua Thiệu Trị quy định lập Bang cho số người Hoa mới nhập cư để phân biệt với người Minh Hương: "Các địa phương có người Hoa kiều đến cư ngụ phải đăng tên vào sổ hàng Bang để chịu thuế. Nhưng con cháu người trong Bang sinh ra đều không được róc tóc bím; hễ đến 18 tuổi, viên quan trưởng ấy phải trình lên quan để biên tên vào sổ đinh người Minh Hương mà chịu thuế".4

          Năm 1847, ở Bình Định có 7 bang Hoa Kiều, đặt 1 thuộc trưởng, được cấp một cái triện bằng gỗ.5

   a. Mâu thuẫn xã hội và đấu tranh xã hội.

Vốn là vùng đất đối trọng của triều Nguyễn nên các vua Nguyễn có chính sách cai trị ở Bình Định rất h khắc, cứng rắn nhằm ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Nhưng cũng không đè bẹp được ý chí, tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân bị áp bức trong xã hội: hậu duệ của triều Tây Sơn, nông dân, dân tộc ít người, tiểu quan chức...

Năm 1799, sau khi chiếm thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh cho đổi làm thành Bình Định, sau đó đặt dinh Bình Định (1802). Năm 1819, đổi tên ấp Tây Sơn - nơi xuất phát cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thành ấp An Tây.

Tháng 4 năm Nhm Tuất (1802), Nguyễn Văn Vân (tướng của Nguyễn Ánh) bắt được 3 người con của Nguyễn Nhạc là Thanh, Hán và Dũng đem dâng lên vua. Gia Long sai giết hết cả.1

Năm 1806, Nguyễn Văn Khống lập căn cứ ở Tượng Sơn tự xưng chức tức mưu đánh trấn thành Bình Định. Việc bị lộ, quân nổi dậy đã bị đàn áp khốc liệt, Nguyễn Văn Khống bị bắt chém. Chứng tỏ vo thời kỳ này, ở Bình Định cĩ nhiều mu thuẫn với triều Nguyễn, đồng tiền Tây Sơn vẫn được lưu hành. Cho đến năm 1823, triều đình Huế bắt chở 30.000 hộc thóc và thu hơn 59.200 quan tiền đồng Tây Sơn về Kinh.2

Năm 1826, ở Bình Định có Vũ Văn Nguyên trốn vào ấp An Tây cùng với các con Thái sư Bùi Đắc Tuyên của Tây Sơn là Bùi Đắc Khuông và Đắc Trí luyện tập võ nghệ, chiêu quân. Nghe tin, vua Minh Mạng bảo rằng: "Bọn ấy là đồ vô lại, nếu để yên không hỏi tới thì ngày khác lại như Ngụy Tây, khi ấy còn hỏi tội được sao? Nên sai Trấn thần bắt và xử tội chết".3

Tháng 1 năm 1831, Nguyễn Văn Thể (người Bình Định) đã che dấu hậu duệ Tây Sơn là Nguyễn Văn Lương- con của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Văn Trượng- cháu nội Nguyễn Nhạc - con của Nguyễn Văn Đức; Đức  là anh ruột của Lương. Việc bị phát giác, Thể bị bắt 4, tất cả con cháu của Nguyễn Nhạc đều bị chém ngang lưng.5

Dưới triều Nguyễn, tình hình xã hội ở Bình Định luôn biểu hiện những mâu thuẫn và đấu tranh. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhất là phát hiện các hậu duệ nhà Tây Sơn, các vua Gia Long, Minh Mạng đ dng những biện php trừng trị tn c. Bình Định luôn là mối bận tâm của triều đình Huế. Năm 1833, vua Minh Mạng có một dụ cho tổng đốc Võ Xuân Cẩn rằng: "Vừa rồi vì ngoài biên có động nên đã mấy lần trưng điệu dân dõng ở tỉnh nhiều rồi. Nay ngươi nên chiếu xem số binh hiện có đủ để phòng thủ tỉnh nhà thì thôi, nếu không đủ thì nên gọi thêm dăm ba trăm dân dõng các nơi lân cận, cấp cho tiền lương, khí giới để phụ việc phòng thủ... Lại nên mật dò tình hình động tĩnh ở dân gian nếu có một vài bọn càn bậy, đem lòng oán hờn, âm mưu gây sự thì nên liệu cơ dập ngay từ trước, không để cho nảy mầm. Nếu gây thành án lớn thì ngươi mắc lỗi không nhẹ đâu".1

Đây là thời kỳ xảy ra cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở Gia Định nên Minh Mạng rất quan ngại đến sự bột phát một cuộc đấu tranh của nông dân Bình Định như dưới thời Tây Sơn.

Năm 1834, cuộc khởi nghĩa của dân tộc ít người ở nguồn Trà Vân. Họ đi đánh phá quan quân nhà Nguyễn rồi rút vào rừng. Vua Minh Mạng cho cách chức viên thủ ngự  cai quản miền núi ở vùng trên, các quan tỉnh bị giáng xuống 1 cấp.2

b. Các chính sách xã hội.

- Tâu báo mùa màng, giá cả thóc gạo: Triều Nguyễn quan tâm đến nông nghiệp, do đó, cần muốn nắm thông tin kịp thời về mùa màng, giá cả để có biện pháp và chính sách xã hội nên luôn mở một kênh thông tin về nông nghiệp giữa triều đình và các địa phương.

Năm 1823, triều đình lệnh cho: "Các thành, doanh, trấn, đạo từ nay phàm việc làm ruộng đến kỳ thu gặt nên đi xem xét lúa ngoài đồng huyện nào được mùa 10 phần; huyện nào được tám, chín phần mười sự thể thế nào phải kê cả phần số đã thu hoạch phải được tâu lên"...3

Năm 1834, triều đình lại có lệnh: "Từ nay, phàm việc làm ruộng như đến thời kỳ lúa đồng đâm bông, quan các địa phương phải chiếu theo thực trạng hiện mưa móc thấm nhuần lúa ngoài đồng như thế nào, làm sớ tâu lên tất cả."4

Về tâu báo giá gạo, năm 1825, triều đình quy định: Từ nay trở đi đều dựa giá gạo ở lỵ sở, mỗi tháng 2 kỳ theo lệ rất cần đệ đi và nếu có kỳ nào giá vụt đắt vụt rẻ, mỗi phương 1 tiền 30 đồng trở lên thì cứ  thực tâu lên ngay, không cần theo hạn 1 tháng 2 kỳ ấy.5 Năm 1826, triều đình có lệnh: “Từ Thừa Thiên vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến Bắc Thành từ nay phàm những tháng quan hệ nghề nông thì trong tập tâu báo giá gạo thì phải lấy cả tình hình mưa nắng những ngày ấy tâu lên1.

Năm 1833, quy định giá gạo tăng giảm đến 3 tiền trở lên thì cho tâu ngay còn dưới 3 tiền thì đến kỳ mới tâu.

Căn cứ  vào Châu bản Triều Nguyễn còn lại, các bản tâu giá gạo và thời tiết của Bình Định có khoảng 50 bản tâu trong thời gian từ năm 1825 đến năm 1849, cụ thể như sau:

CÁC BẢN TÂU VỀ GIÁ CẢ, THỜI TIẾT QUA  CBTN (1825-1849)2

 

TT

Thời gian

Giá gạo

Tình hình   thời tiết

Số trang, số tập

1

Minh Mạng (15/5)VI

1 quan 6 tiền/1vuông

 

Tr.256 tập11

2

Minh Mạng (30/5)VI

1 quan 6 tiền

 

Tr.276, tập 11

3

Minh Mạng (15/6)VI

1 quan 5 tiền

 

Tr.40, tập 13

4

Minh Mạng (29/6)VI

1 quan 5 tiền

 

Tr.86, tập 13

5

Minh Mạng (15/7)VI

1 quan 5 tiền

 

Tr.110, tập 13

6

Minh Mạng (29/7)VI

1 quan 5 tiền 30 đồng

 

Tr.142, tập 13

7

Minh Mạng (15/8)VI

1 quan 5 tiền 30 đồng

 

Tr.175, tập 13

8

Minh Mạng (30/8)VI

1 quan 5 tiền 30 đồng

 

Tr.207, tập 13

9

Minh Mạng (15/9)VI

1 quan 5 tiền 30 đồng

 

Tr.233, tập 13

10

Minh Mạng (29/9)VI

1 quan 5 tiền 30 đồng

 

Tr.287, tập 13

11

Minh Mạng (15/10)VI

1 quan 3 tiền 30 đồng

 

Tr.58, tập 14

12

Minh Mạng (30/10)VI

1 quan 5 tiền

 

Tr.75, tập 14

13

Minh Mạng (15/11)VI

Chỉ ghi báo cáo              giá gạo

 

Tr.109, tập 14

14

Minh Mạng (29/11)VI

Chỉ ghi báo cáo giá gạo

 

Tr.138, tập 14

15

Minh Mạng (15/12)VI

1 quan 7 tiền

 

Tr.190, tập 14

16

Minh Mạng (15/1)VII

Chỉ ghi báo cáo giá gạo

 

Tr.22, tập 15a

17

Minh Mạng (30/1)VII

1 quan 6 tiền 30 đồng

 

Tr.54, tập 15a

18

Minh Mạng (15/2)VII

1 quan 6 tiền 30 đồng

 

Tr.85, tập 54a

19

Minh Mạng (29/2)VII

1 quan 4 tiền

 

Tr.114, tập 15a

20

Minh Mạng (15/3)VII

1 quan 3 tiền

 

Tr.159, tập 15a

21

Minh Mạng (30/3)VII

1 quan 5 tiền

 

Tr.220, tập 15a

22

Minh Mạng (30/4)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.123,tập 14

23

Minh Mạng (15/5)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.191 ,tập 14

24

Minh Mạng (29/5)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.232,tập 14

25

Minh Mạng (15/6)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.43, tập 15 a

26

Minh Mạng (30/6)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.107, tập 15 c

27

Minh Mạng (15/7)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.197, tập 15 c

28

Minh Mạng (29/7)VII

Báo cáo giá gạo

 

Tr.254, tập 15 c

29

Minh Mạng (15/8)VII

Báo cáo giá gạo hàng tháng

Mưa nắng thuận trời

Tr.42, tập 19a

30

Minh Mạng (29/8)VII

Báo cáo giá gạo hàng tháng

Mưa nắng thuận trời

Tr.120, tập 19a

31

Minh Mạng (15/9)VII

Gạo rẻ hơn tháng trước

Mưa nắng thuận hòa

Tr.160, tập 19a

32

Minh Mạng (30/9)VII

Gạo rẻ

Mưa nắng thuận hòa

Tr.240, tập 19a

33

MinhMạng (15/10)VII

Gạo rẻ như kỳ trước

Mưa nắng thuận hòa

Tr.285, tập 19a

34

MinhMạng (30/11)VII

Báo cáo giá gạo

Mưa nhỏ, nông công chưa thuận tiện

Tr.129, tập 20a

35

Minh Mạng (15/11)VII

Báo cáo giá gạo

BC. tình hình mưa nắng

Tr.79, tập 20a

36

Minh Mạng (15/12)VII

Báo cáo giá gạo

BC. tình hình mưa nắng

Tr.181, tập 20a

37

Minh Mạng (29/12)VII

Báo cáo giá gạo

BC. tình hình mưa nắng

Tr.256, tập 20a

38

Thiệu Trị (1/3)II

2 quan 40-2 quan 80

Sau hạn, mưa nhiều ngày

Tr.182, tập 1

39

Thiệu Trị (1/6)II

2 quan 30-2 quan 60

Mưa nhiều nông công thuận tiện

Tr.187, tập 1

40

Thiệu Trị (1/7)II

2 quan 40-2 quan 60

Khan mưa

Tr.188, tập 1

41

Thiệu Trị (1/8)II

2 quan 70-2 quan 80

Đồng ruộng tốt tươi

Tr.198, tập 1

42

Thiệu Trị (1/9)II

2 quan 70 - 3 quan

Ngày 22,23 có mưa, lụt

Tr.198, tập 1

43

Thiệu Trị (1/10)II

2 quan 65- 2 quan 85

Nắng mưa điều hòa

Tr.203, tập 1

44

Thiệu Trị (1/11)II

2 quan 70.

Nắng mưa điều hòa

Tr.208, tập 1

45

Thiệu Trị (1/12)II

2 quan 70 - 3 quan

Nắng mưa điều hoà

Tr.209, tập 1

46

Tự Đức  (29/6) I

1 quan 9 tiền

Nắng mưa điều hòa

Tr.258, tập 3

47

Tự Đức (30/7) I

Y tháng trước

Thời tiết tốt, lúa tốt

Tr.133, tập 5

48

Tự Đức (30/9) I

Y tháng trước

Thời tiết tốt.

Tr.118, tập 7

49

Tự Đức (30/1) II

2 quan 1 tiền 30 đồng

Trời hạn

Tr.131, tập 1

50

Tự Đức (29/2) II

2 quan 1 tiền 30 đồng

Lúa mùa này không được tốt

Tr.133, tập 1

51

Tự Đức (29/12) II

2 quan 1 tiền 30 đồng

Mưa nắng điều

Tr.125, tập 1

 

- Cứu tế xã hội

Chính sách cứu tế xã hội của triều Nguyễn đối với dân Bình Định thể hiện trên các hoàn cảnh đặc biệt cần cứu giúp như mất mùa đói kém, bão lụt, bệnh dịch,... thường được cấp phát tiền gạo, cho vay hoặc bán rẻ cho dân.

- Mất mùa đói kém

Năm 1811, trấn Bình Định xuất 4800 phương gạo để chẩn cấp.1

Năm 1814 và 1816 cho dân vay.

Năm 1821, xuất kho Bình Định 23.000 hộc thóc bán cho dân

Năm1822, trấn Bình Định xuất 1000 hộc thóc bán cho dân, giảm giá.

Năm 1825, xuất kho Bình Định 20.000 hộc thóc bán cho dân, ''trừ những người có lương bổng và giàu có'', giá thóc 1 quan tiền/ hộc.

Năm 1827 phát 20.000 hộc thóc cho dân vay, dịp này triều đình đặt ra lệ nếu dân có vật hạng đem đổi thóc thì bình giá mà mua, cứ 1 quan tiền vay 1 hộc thóc2, nhằm hạn chế bọn cường hào ép mua của dân khi đói kém.

Năm 1832, xuất 20.000 hộc thóc cho dân vay.

Năm 1868, xuất kho 1.215 phương gạo phát chẩn cho dân. Thấy thóc ở kho Bình Định không đủ, triều đình ''sai những thuyền đại dịch, miễn dịch, thuyền ván đi buôn, thuyền vận tải đi mua gạo về bán cho dân'' 3 để hạn chế thương nhân nâng giá hoặc đầu cơ trục lợi.

- Cứu trợ bão lụt

Căn cứ vào Đại Nam Thực lục chính biên, Châu bản Triều Nguyễn, Quốc triều chính biên... các trận bão lụt xẩy ra ở Bình Định dưới triều Nguyễn và gây thiệt hại như sau:

   - Lụt tháng 11 năm 1811

- Lụt tháng 9 năm 1815

- Lụt tháng 11 năm 1825 làm 2 cầu bị sập.

- Lụt tháng 10 năm 1826

- Lụt tháng 10 năm 1830 làm 30 người chết, 300 nhà bị trôi

- Bão lụt tháng 9 năm 1842, 3 người chết, 10 thuyền bị chìm

- Lụt tháng 9 năm 1851

- Bão tháng 12 năm 1853

- Bão tháng 11 năm 1856

- Lụt tháng 12 năm 1863

- Lụt tháng 12 năm 1878

          Cc trận bo lụt trn đ gy thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhân dân. Đứng trước tình hình đó, nhà nước đ cĩ những biện php cứu trợ để khắc phục một phần khó khăn cho dân chúng.

Các biện pháp cứu trợ của nhà nước

          - Trận lụt tháng 9 năm Canh Dần (1830) ở Bình Định, vua Minh Mạng xét cấp cho mỗi người chết 3 quan tiền, nhà cửa trôi cấp 2 quan tiền và 2 phương gạo, nhà đổ cấp 1 quan tiền và 1 phương gạo, nhà có người chết gạo và tiền gấp đôi1.

          - Tháng 9 năm Nhm Dần (1842), tỉnh Bình Định và Phú Yên bị bão lụt, quan tỉnh theo lệ cấp mỗi người chết1 quan tiền tống táng. Vua Thiệu Trị còn chuẩn cấp thêm 2 quan tiền cho mỗi người chết và 3 quan cho mỗi thuyền bị chìm.

          - Tháng 12 năm Quý Sửu (1853), vua Tự Đức dụ cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên cấp phát tiền gạo cho dân sau bão lụt.

          - Trận bão tháng 11 năm Bính Thìn (1856), lạc quyên tiền gạo cấp cho dân.

          - Trận lụt tháng 11 năm Quý Hợi (1863), vua Tự Đức sai quan đến các tỉnh khám xét để cấp tiền gạo và giảm thuế cho dân.

- Trận lụt tháng 12 năm Mậu Dần (1878), xuất kho Bình Định 30.000 hộc, tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam mỗi tỉnh xuất cho 10.000 phương gạo để cấp phát cho dân.2

          - Cứu trợ dịch bệnh

          Năm 1820, từ Quảng Bình đến Bình Thuận nạn dịch xảy ra. Riêng trấn Bình Định cấp tiền mua thuốc để chữa bệnh và tiền tuất cho mỗi người chết là 3 quan, tổng cộng tới 35.826 quan 7 tiền 14 đồng. Người chết còn được cấp vải để liệm3.

Năm 1826, trấn Bình Định tâu: ''Về việc 2 huyện Tuy Viễn và Bồng Sơn nhân dân phần nhiều bị chứng thổ tả và trâu bò hao tổn, chúng tôi đã chuẩn tiền kho mua thuốc luyện chế thành đơn, phái thầy thuốc đến hai huyện ấy để  điều trị.1 ''Năm 1849, tỉnh Bình Định tâu: ''Nhân dân trong hạt bị chứng thổ tả, huyện Bồng Sơn chết 482 người, huyện Phù Mỹ chết 188 người, phủ Hoài Nhơn 35 người, phủ An Nhơn 96 người, huyện Tuy Phước 339 người, cộng 1.160 người chết. Hiện giờ, khí độc chưa giảm. Từ ngày 9.10.1848 đến 13.11.1849, bệnh dịch tả đã làm chết thêm 16.198 người dân Bình Định”2, thật là nỗi kinh hoàng đau đớn trong nhân dân.

          2.  Giáo dục và thi cử

          Năm 1799, sau khi chiếm thành Bình Định, Nguyễn Ánh đã  chú ý đào tạo đội ngũ quan chức để trấn trị tại địa phương. Tháng 11 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh cho tiến hành khảo hạch ở Bình Định, hơn 400 người đã trúng tuyển. Sau khi lập dinh Bình Định (1802), việc giáo dục và thi cử ở đây mới được thực hiện quy củ hơn.

a. Trường học

            Dưới triều Nguyễn, ở Bình Định đã lập các trường học: trường tỉnh, trường phủ và trường huyện.

          - Trường học tỉnh: Trường được dựng từ thời Gia Long tại thôn Kim Châu, huyện Tuy Viễn. Năm 1842, trường được dời về thôn Liêm Trực, huyện Tuy Phước- phía nam tỉnh thành.

          - Trường học phủ: Có hai trường học phủ:

          Trường phủ Hoài Nhơn trước là trường học của huyện Bồng Sơn, năm 1865 đổi làm trường học phủ Hoài Nhơn. Trường ở thôn Liêm Bình, huyện Bồng Sơn - phía tây phủ lị.

          Trường phủ An Nhơn: trước là trường thuộc huyện Tuy Viễn, trường đóng ở thôn Hoà Cư, năm 1832 đổi làm trường học của phủ. Năm 1865, trường dời đến thôn Mỹ Thịnh, huyện Tuy Viễn - nằm về phía tây phủ lị.

          - Trường học huyện: có 3 trường

            Trường học huyện Phù Mỹ: dựng năm 1832 ở thôn Trà Quang- phía bắc huyện lỵ.

          Trường học huyện Phù Cát: dựng năm 1821 ở thôn Xuân Hội, trước là trường học phủ Hoài Nhơn, năm 1865 đổi thành trường huyện.

          Trường học huyện Tuy Phước: dựng năm 1832 ở thôn Hanh Quang - phía tây huyện lỵ.1

          Năm 1805, triều đình cử  Đặng Đức Huy làm Đề học Quy Nhơn, phụ trách khảo hạch học trò 2 trấn Quảng Ngãi, Phú Yên.

          b. Trường thi hương Bình Định 

          Năm 1813, Gia Long cho đặt trường thi hương ở Bình Định để cho học trò các trấn Quảng Ngãi,  Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà cùng dự thi2. Năm 1821, học trò các trấn từ Bình Định trở ra lại ra Huế dự kỳ thi hương.

          Năm 1851, triều đình lại đặt trường thi ở Bình Định cho thí sinh các trường Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà dự thi, năm sau tổ chức thi hương đã chấm đỗ 13 cử nhân.3 Trường thi hương Bình Định nằm phía tây nam tỉnh thành thuộc huyện Tuy Viễn, chu vi 193 trượng, cao 4 thước 5 tấc, xây bằng đá ong, trường dựng vào năm 1851.4

          c. Thi cử và đỗ đạt:

          Dưới triều Nguyễn có các vị tiến sĩ sau:

          - Lê Văn Chân, quê xã Trà Lam, huyện Phù Mỹ, sinh năm 1817, đậu cử nhân năm 1834 , đậu tiến sĩ năm 1835 lúc 18 tuổi là vị tiến sĩ trẻ nhất của cả nước và là vị tiến sĩ đầu tiên của tỉnh Bình Định dưới triều Nguyễn. Ông làm quan giữ  chức Hộ phủ Hưng Yên, sau bị can tội.

- Lê Thúc Đôn, quê xã Phú Nhuận, huyện Bồng Sơn, sinh năm 1805, đỗ cử nhân năm 1837, phó bảng năm 1838, làm quan Bố chánh tỉnh Thanh Hoá.

- Trần Văn Chánh, quê xã Ln Chiểu, huyện Bồng Sơn, sinh năm 1821, đậu giải nguyên năm 1840, đậu tiến sĩ năm 1842 lúc 21 tuổi. Làm quan giữ chức tri phủ, sau bị bãi miễn.

        - Võ Văn Hiệu, quê xã Kiên Hạnh, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1811, đậu cử nhân năm 1846, năm 1847 đậu tiến sĩ, làm quan giữ chức tri phủ.

        - Ngô Tùng Nho, quê xã Thuận Ngãi, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1813, đậu cử nhân năm 1846, tiến sĩ năm 1849, làm quan giữ chức tri phủ.

                      - Huỳnh Văn Học, quê xã Phú Phong, huyện Tuy Viễn, sinh năm 1817, đậu cử nhân năm 1846, phó bảng năm 1847, làm quan giữ chức Biện lý bộ Công.

                   - Nguyễn Văn Hiển, quê ở Quảng Trị theo cha vào ngụ cư ở thôn Vĩnh Ân, Cát Hanh, Phù Cát. Ông đỗ tiến sĩ năm 1847, làm Đốc học Bình Định.

                   - Hồ Sĩ Tạo, thôn Hoà Cư, Tuy Viễn, đỗ tiến sĩ năm 1904, làm tri huyện Tân Định (Khánh Hoà), tham gia phong trào Duy Tân chống thuế năm 1908, bị Pháp bắt, tù 8 năm, chết năm 1934.

          Về thi hương: Theo Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục1, tỉnh Bình Định có rất nhiều người đỗ đạt, từ năm 1808 đến 1885 có 164 vị cử nhân: trong đó Phù Mỹ: 21, Phù Cát: 32, Tuy Phước: 45, Tuy Viễn: 47, Bồng Sơn: 19 vị, được thể hiện trong các danh sách sau:

 

BẢNG I: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN BỒNG SƠN (1807-1885)

STT

Họ và tên

Quê quán

Năm thi đậu,  trường thi

Vị thứ

Ghi chú

1

Hồ Văn Nghĩa

Vĩnh Phước

1821-Gia Định

14/16

Làm quan đến chức Tham tri

2

Nguyễn Đức Vĩnh

Vạn Trung

1825-ThừaThiên

7/10

 

3

Trần Văn Chánh

Lân Chiểu

1840-ThừaThiên

1/29

Làm quan tới chức tri phủ, bị miễn.

4

Trần Văn Quang

Lân Chiểu

1842-ThừaThiên

4/38

Em Trần Văn Chánh, làm quan tới chức Ngự sử, bị miễn

5

Trần Văn Thiều

An Thường

1846-ThừaThiên

44/46

Làm quan tới chức  Tham tri bộ Lại

6

Đỗ Hữu Hiếu

Cửu Lợi

1847-ThừaThiên

31/46

Làm quan đến Giáo thụ

7

Trần Như Khuê

Lân Chiểu

1848-ThừaThiên

7/52

Làm quan đến chức tri huyện

8

Nguyễn Tư Nghiêm

Hội Tỉnh

1852-Bình Định

7/13

 

9

Nguyễn Thành Chiêu

Hội An

1858-Bình Định

4/13

 

10

Đặng Thành Vinh

Quan Tân

1864-ThừaThiên

15/28

 

11

Phan Đức Trạch

An Hậu

1864-ThừaThiên

16/28

Làm quan đến chức Bố chánh, bị tội

12

Võ Đình Phương

Tân Thạnh

1868-Bình Định

3/15

 

13

Nguyễn Tuấn

Phụng Cang

1868-Bình Định

7/15

 

14

Lê Hữu Khải

PhúNhuận

1870-Bình Định

11/16

 

15

Trần Trung

Đức Lang

1876-Bình Định

6/12

 

16

Phạm Khuê

Lại Khánh

1879-Bình Định

4/8

Nguyên quê nội ở Trường Thân, Cao Xá, Đông Thành, Nghệ An di cư vào.

17

Nguyễn Kiều

Yên Sơn

1882-Bình Định

10/11

 

18

Huỳnh Dĩnh

Lân Tường

1884-Bình Định

14/18

 

19

Nguyễn Du

Phú Nông

1885-Bình Định

8/8

 

 

BẢNG II: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN PHÙ MỸ (1807-1885)

STT

     Họ và tên

  

Quê quán

Năm thi đậu,  trường thi 

Vị thứ 

Ghi chú

1

Huỳnh Văn Minh

Ph# H#i

1821- Trực lí#

8/25

Làm quan chức Án sát, đốc học

2

 Nguyễn Văn Thống

Trà Lam

1821- Trực lí#

19/25

 

3

Nguyễn T#c

Phước An

1825-Qua#ng Đức

5/10

 

4

Lê Văn Chân

Trà Lam

1834-ThừaThiên

18/31

Tiến sĩ, 1835, làm quan đến chức Hộ phủ Hưng Yên, can tội.

5

Trần Kinh Vĩ

Phụng Sơn

1837-ThừaThiên

11/32

Làm quan tới chức Ngự sử, bị miễn

6

Nguyễn V. Đĩnh

Phú Hội

1837-ThừaThiên

24/32

 

7

Đinh Văn Khanh

Vĩnh Nhơn

1841-ThừaThiên

4/40

 

8

Trần Văn Kế

Bình Long

1841-ThừaThiên

36/40

Làm quan đến án sát,bị cách chức, được phục Phó quản đạo Quảng Trị .

9

Đỗ Văn Lân

Phú Đức

1842-ThừaThiên

32/38

Làm quan tới chức tri huyện.

10

Trương Đức Lân

Phú Thiện

1846-ThừaThiên

41/46

Làm quan đến tri phủ, chết tặng Thị độc học sĩ.

11

Nguyễn Văn Hoằng

An Trinh

1848-ThừaThiên

31/52

 

12

Nguyễn Nguyên Giám

Phước Thọ

1850-ThừaThiên

31/48

 

13

Trần Đăng Phong

Đông Xá

1850ThừaThiên

40/48

 

14

Nguyễn Đăng Tuyển

Chánh Trạch

1855-Bình Định

1/13

Làm quan đến chức Giảng tập

15

Nguyễn Phụng

An Hoan

1867-Bình Định

7/18

 

16

Nguyễn Tân

Dương Liễu

1867-Bình Định

16/18

 

17

Lê Văn Mỹ

Trực Đạo

1870-Bình Định

12/16

 

18

Lê Cự Hải

Trực Đạo

1876-Bình Định

2/12

 

19

Trần Văn Tấn

Mỹ Linh

1884-Bình Định

10/18

 

20

Đinh Văn Chánh

Phú Đa

1884-Bình Định

16/18

 

21

Nguyễn Hân

Phú Đa

1885-Bình Định

2/8

 

 

BẢNG III: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN PHÙ CÁT (1807-1885)

STT

Họ và tên

 

Quê quán

Năm thi đậu,  trường thi

Vị thứ

Ghi chú

1

Mai Công Bình

Đàn Lâm

1831-Thừa Thiên

3/12

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi là trường Thừa Thiên.

2

Lê Văn Đạt

Xuân An

1837- Thừa Thiên

5/32

 

3

Nguyễn Văn Quý

Phú Thành

1840-Thừa Thiên

4/29

Làm quan tới chức tri huyện.

4

Mai Trước Tòng

Đại Lợi

1842-Thừa Thiên

34/38

 

5

NguyễnXuân Văn

An Quang

1843-Thừa Thiên

35/39

 

6

NguyễnVăn Tuấn

An Thắng

1850-Thừa Thiên

16/48

 

7

Nguyễn Đăng Dinh

Chánh Mẫn

1850-Bình Định

43/48

Làm quan đến chức Giảng tập

8

Chu Văn Chất

Hưng Định

1852-Bình Định

4/13

Làm quan đến chức Án sát

9

Trần Khắc Thận

Châu Thành

1852-Bình Định

9/13

 

10

Phan Văn Thành

An Tường

1852-Bình Định

10/13

 

11

Nguyễn  Công Luận

Phú Thành

1855-Bình Định

8/13

 

12

Nguyễn Duy Lộc

Xuân An

1858-Bình Định

1/13

 

13

HuỳnhVăn Vỹ

An Đức

1861-Thừa Thiên

15/30

 

14

Nguyễn Đạo

Hưng Định

1861-Thừa Thiên

29/30

 

15

Lê Đăng Đệ

Khánh Phước

1867-Bình Định

1/18

 

16

Nguyễn Tạo

Hưng Định

1867-Bình Định

2/18

 

17

Huỳnh Văn Trác

An Đức

1867-Bình Định

5/18

 

18

Đinh Văn Trung

Vĩnh Thành

1867-Bình Định

10/18

 

19

Phạm Đăng Dinh

Trung Bình

1867-Bình Định

11/18

 

20

Mai Đình Nghị

Chánh Lộc

1870-Bình Định

3/16

 

21

Đặng Văn Luận

Khánh Phước

1870-Bình Định

16/16

 

22

Nguyễn Hữu Siêu

Chánh Liêm

1876-Bình Định

10/12

 

23

Nguyễn Kiêm

Hưng Định

1876-Bình Định

12/12

 

24

Nguyễn Chánh

Chánh Liêm

1884-Bình Định

4/18

 

25

Nguyễn Mại

Tiên Xá

1884-Bình Định

9/18

 

26

Trần Quang Du

Châu Thành

1884-Bình Định

11/18

Con của Trần Khắc Thận

31

Phạm Kiều

Kiều Huyên

1884-Bình Định

12/18

 

32

Dương Đình Thạc

Châu Thành

1884-Bình Định

18/18

 

 

BẢNG IV: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN TUY VIỄN (1807-1885)

STT

Họ và tên

 

Quê quán

 

Năm thi đậu,  trường thi

Vị thứ

Ghi chú

1

Lâm Duy Nghĩa

Minh Hương,

(nay là Nhơn Phúc)

1828- Thừa Thiên

9/13

Làm quan chức Tổng đốc, Thượng thư, Hiệp biện Đại học sĩ, Phụ chính Cơ mật viện đại thần

2

Trần Đức Tú

Nho Lâm

1834-ThừaThiên

4/31

Làm quan đến chức tri huyện, can tội

3

Lưu Tư Trung

Thọ Lộc

1842-ThừaThiên

13/28

 

4

Phạm HuyThanh

Nhơn Ngãi

1843-ThừaThiên

36/39

Làm quan tới chức Kiểm thảo

5

Huỳnh Văn Học

Phú Phong

1846-ThừaThiên

36/46

Phó bảng 1847, làm quan tới chức Biện lý bộ Công.

6

Võ Văn Hiệu

Kiên Hạnh

1846-ThừaThiên

38/46

Tiến sĩ 1847, làm quan tới chức tri phủ.

7

Nguyễn Hoài Cẩn

Vân Tường

1846-ThừaThiên

39/46

 

8

Ngô Tòng Nho

Thuận Ngãi

1846-ThừaThiên

43/46

Tiến sĩ 1849, làm quan đến chức tri phủ, chết được tặng Thị giảng học sĩ.

9

Nguyễn Văn Nhã

Thới Thuận

1847-ThừaThiên

22/46

Làm quan tới chức Bố chánh Vĩnh Long.

10

Mai Văn Phẩm

Phú Lạc

1847-ThừaThiên

43/46

Đổi là Mai Xuân Tín, làm quan Bố chánh Cao Bằng.

11

Trương Văn Phác

Thái Bình

1847-ThừaThiên

44/46

 

12

Cao Văn Tán

An Ngãi

1848-ThừaThiên

24/52

Cha Cao Văn Duy

13

Phạm Dần Lượng

Nhơn Mỹ

1850-ThừaThiên

45/48

 

14

Nguyễn Văn Học

Tân Nghi

1850-ThừaThiên

48/48

 

15

Cao Văn Tuấn

Thắng Công

1852-Bình Định

1/13

 

16

Lê Văn Chất

Mỹ Thuận

1852-Bình Định

3/13

 

17

Trần Hữu Độ

Phú Phong

1852-Bình Định

13/13

 

18

Đặng Văn Đạt

Hiếu Đức

1855-Bình Định

7/13

 

19

Dương Thế Trung

Nhơn Nghĩa

1858-Bình Định

5/13

 

20

Nguyễn ĐứcThắng

An Khê

1858-Bình Định

6/13

 

21

Cù Đăng Tấn

An Thuận

1858-Bình Định

7/13

 

22

Văn Thế Uyển

Hoà Nghĩa

1858-Bình Định

9/13

 

23

Nguyễn Xán

Hiếu Đức

1864-ThừaThiên

5/15

 

24

Nguyễn Đăng Dung

Hoà Cư

1867-Bình Định

12/18

 

25

Cù Đăng Dao

An Thuận

1868-Bình Định

5/15

 

26

Đặng Văn Tuân

Hiếu Đức

1868-Bình Định

6/15

 

27

Nguyễn Hữu Luân

Thới Thuận

1868-Bình Định

11/15

 

28

Phạm Hữu Tạo

Thới Thuận

1868-Bình Định

12/15

 

29

Trần Quang Khiêm

Thới Thuận

1868-Bình Định

13/15

 

30

Huỳnh Lý

Thanh Minh

1868-Bình Định

15/15

 

31

Lê Văn Tập

An Hoà

1870-Bình Định

6/16

 

32

Võ Phong Mậu

Kiên Phụng

1873-Bình Định

5/15

 

33

Nguyễn Đôn Phục

Phương Danh

1873-Bình Định

9/15

 

34

Đặng Đức Xứng

Mỹ Đức

1873-Bình Định

13/15

Làm quan tới chức tri phủ

35

Nguyễn Văn Phương

Xuân Hoà

1873-Bình Định

14/15

 

36

Bùi Đản

Thái Bình?

1876-Bình Định

9/12

 

37

Nguyễn Trọng Trì

Vân Sơn

1876-Bình Định

8/12

Về sau có việc bị tước học vị

38

Cao Văn Duy

An Ngãi

1878-Bình Định

5/11

Con Cao Văn Tán, cha con cùng thi đậu

39

Võ Vinh

Thông Hòa

1878-Bình Định

7/11

 

40

Lê Đăng Tuyển

Thọ Lộc

1878-Bình Định

10/11

 

41

Bùi Tuyển

Bả Canh

1882-Bình Định

2/11

 

42

Lưu Truy

Thọ Lộc

1882-Bình Định

3/11

 

43

Phạm Hiển

Thông Hoà

1882-Bình Định

4/11

 

44

Nguyễn Văn Quýnh

Thái Bình ?

1884-Bình Định

2/18

 

45

Phạm Chuyên

Thắng Công

1884-Bình Định

15/18

 

46

Nguyễn Khắc Cẩn

Nhơn Thuận

1885-Bình Định

5/8

 

47

Mai Xuân Thưởng

Phú Lạc

1885- Bình Định

7/8

Mai Xuân Thưởng con của Mai Xuân Tín. Tín vốn là Mai Văn Phẩm sau đổi tên. Lúc tỉnh thành có biến động, hợp thân hào, can trọng án.

 

BẢNG V: DANH SÁCH CỬ NHÂN HUYỆN TUY PHƯỚC (1807-1885)

 

STT

Họ và tên

 

Quê quán

 

Năm thi đậu,  trường thi

Vị thứ

Ghi chú

1

Nguyễn Văn Thạnh

Phú Lâm

1834.Thừa Thiên

27/31

Làm quan tới chức tri huyện, bị miễn

2

Trần Quang Chung

Lục Lễ

1834.Thừa Thiên

29/31

Làm quan tới chức Tham tri bộ Lễ, Hộ đốc Hải Yên

3

Lê Doãn Xuân

An Chánh

1837.Thừa Thiên

1/32

 

4

Trần Công Chánh

An Hoà

1837.Thừa Thiên

18/32

 

5

Trần Văn Chương

Vạn Bửu

1841.Thừa Thiên

23/40

Đổi là Trần Văn Lập

6

Thái Công Quang

Xuân Mỹ

1841.Thừa Thiên

29/40

 

7

Nguyễn Văn Bằng

Vinh Thạnh

1846.Thừa Thiên

33/46

 

8

Nguyễn Văn Nhuận

Phú Vang

1847.Thừa Thiên

12/46

Anh Nguyễn Văn Đức

9

Trần Văn Kinh

Quảng Nghiệp

1847.Thừa Thiên

40/46

 

10

Nguyễn Văn Cung

Kỳ Sơn

1848.Thừa Thiên

37/52

 

11

Đặng Văn Lý

Lộc Thuận

1848.Thừa Thiên

41/51

 

12

Trần Văn Nhượng

Tân Thuận

1850.Thừa Thiên

15/48

 

13

Trần Quang Trạch

Lục Lễ

1850.Bình Định

47/48

Con Trần Quang Chung

14

 Trần Văn Điển

Phụng Sơn

1852.Bình Định

6/13

Làm quan tới chức Quản đạo, sau sung chức Bang biện hải phòng  Bình Định

15

Nguyễn Thúc Ôn

Tân Dân

1852.Bình Định

8/13

 

16

Võ Văn Lâm

Tùng Giản

1852.Bình Định

11/13

 

17

NguyễnVăn Nhu

Nhơn Ân

1852.Bình Định

12/13

 

18

Đỗ Tấn Bằng

Thành Tín

1855.Bình Định

6/13

 

19

Nguyễn Văn Đức

Phú Vang

1858.Bình Định

3/13

Em Nguyễn Văn Nhuận

20

Nguyễn Tấn Đức

Phổ Trạch

1867.Bình Định

3/18

 

21

Huỳnh Văn Đức

Dương Thiện

1867.Bình Định

4/18

 

22

Lê Phổ

Dương Minh

1867.Bình Định

6/18

 

23

Đào Đăng Tấn

Vinh Thạnh

1867.Bình Định

8/18

Đổi là Đào Tấn   (1845-1947)

24

Trần Văn Thuyên

Tân Thuận

1867.Bình Định

13/18

 

25

Phạm Thanh Quang

Liêm Trực

1867.Bình Định

17/18

 

26

Nguyễn Kỳ

Xuân Quang

1870.Bình Định

4/16

 

27

Nguyễn Toản

Xuân Quang

1870.Bình Định

5/15

 

28

Lê Văn Phái

Chánh Thành

1873.Bình Định

1/15

 

29

Đặng Khuê

Lộc Thuận

1873.Bình Định

6/15

 

30

Võ Huy

Tòng Đồng

1873.Bình Định

11/15

 

31

Lê D

Dương Minh

1873.Bình Định

15/15

 

32

Đoàn Diệu

Ngọc Thạnh

1876.Bình Định

7/12

 

33

Nguyễn Khởi

Long Vân

1878.Bình Định

1/11

 

34

Nguyễn Tư

Xuân Hương

1878.Bình Định

6/11

 

35

Đỗ Tấn Thiện

Thành Tín

1878.Bình Định

8/11

 

36

Huỳnh Văn Chuẩn

Huỳnh Giản

1879.Bình Định

2/8

 

37

Nguyễn Điềm

Lương Bình

1879.Bình Định

3/8

 

38

Võ Tấn

Vinh Quang

1879.Bình Định

5/8

 

39

Trần Đệ

Trung Tín

1882.Bình Định

5/11

 

40

Bùi Thanh Quang

Trung Tín

1882.Bình Định

8/11

 

41

Trần Chuyết

Lệ Hoà

1884.Bình Định

6/18

 

42

Dương Quỳnh

Phụng Sơn

1884.Bình Định

13/18

 

43

Lê Thân

An Cửu

1885.Bình Định

1/8

Cháu nội Giải nguyên Lê Doãn Xuân

44

Nguyễn Táp

An Phú

1885.Bình Định

3/8

 

45

Nguyễn Nhuận

Phục Thiện

1885.Bình Định

4/8

 

      

       Năm 1867, triều đình cho trường thi võ ở Hà Nội và ở Huế lấy đỗ tiến sĩ ngành võ. Ở Võ miếu tại Huế còn có một số bia tiến sĩ võ trong đó có các vị quê ở Bình Định. Khoa thi năm 1868 và 1869 khắc chung một bia: Bia này có người Bình Định là Nguyễn Văn Tứ và Đặng Văn Tuấn.1

        2. Đời sống văn hóa

Dưới triều Nguyễn, đời sống văn hoá của nhân dân Bình Định khá phong phú. Điều đó được thể hiện trong văn học dân gian qua những câu tục ngữ, ca dao, những câu ca đã phản ánh quan niệm, kinh nghiệm đời sống của nhân dân và cuộc đấu tranh xã hội như bài vè Chàng Lía, vè Bà Thiếu phó; đặc biệt là Hát bội. Hát bội là một sáng tạo và hưởng thụ văn hoá đặc sắc của nhân dân Bình Định giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân mà tiêu biểu là Đào Tấn (1845-1907). Đào Tấn đậu cử nhân, tuy giữ chức Tổng đốc rồi Hiệp tá Đại học sĩ, nhưng sự nghiệp Đào Tấn đã để lại cho hậu thế là sự nghiệp văn hoá. Ông được vua Tự Đức giao phụ trách Ban Hiệu thư và là nhà soạn tuồng có số lượng và chất lượng cao nhất trong lịch sử phát triển của ngành sân khấu Việt Nam2. Tại quê nhà, ông lập trường dạy kịch nghệ gọi là Học Bộ đình và là người sáng tạo - lập bộ môn hát bội Bình Định. Bình Định dưới triều Nguyễn cũng nổi tiếng về nhạc võ và võ thuật :

                             "Ai về Bình Định mà coi

                   ''Con gái Bình Định cầm roi, đi quyền..."

Việc học võ thuật chủ yếu tập trung ở các  trung tâm  đào tạo An Thái, An Vinh, Thuận Truyền:

                   "Trai An Thái, gái Thuận Truyền''

                   ''Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh"

- Về tín ngưỡng tôn giáo:

Năm 1829, vua Minh Mạng phong tặng một số công thần thời chúa Nguyễn làm phúc thần, lập đền thờ ở Bình Định có Trần Đức Hoà, Đào Duy Từ. Thời Thiệu Trị và Tự Đức có sắc phong cho các bách thần như Đại Càn Thánh nương, Bổn Cảnh thành hoàng, Thiên y A na. Tỉnh Bình Định có các đền nổi tiếng linh thiêng được triều Nguyễn nhiều lần phong tặng như đền thờ Đại Càn ở 2 thôn Thuận Nghi và Đăng Trường, huyện Tuy Phước, đền thần núi Tam Toà ở cửa biển Thị Nại, đền thờ Bà Thần ở thôn Thạnh Xuân, huyện Bồng Sơn, đền Tráng Bang ở Chánh Hội, huyện Phù Mỹ.1

Trong nhân dân lấy việc th cúng tổ tiên làm trọng.

Triều Nguyễn lại đề cao Nho giáo và khuyền khích Phật giáo.

Năm 1802, vua Gia Long cho xây dựng Văn miếu và đền Khải Thánh (thờ song thân Khổng Tử) ở huyện Phù Cát. Năm 1822, Minh Mạng cho trùng tu.

Các phủ, huyện còn lập Văn chỉ (thờ Khổng Tử) ở Tuy Phước, lập 1847 ở thôn Trung Tín, 2 huyện Phù Mỹ và  Phù Cát lập ở thôn Vạn Thiện, tổng Trung Bình- Phù Mỹ. Năm 1867,Văn chỉ phủ Hoài Nhơn được lập ở thôn An Hội, tổng Quy Hoá .

Dưới triều Nguyễn, nhiều ngôi chùa nổi tiếng được trùng tu như chùa Long Khánh vào năm 1807, chùa Thập Tháp năm 1820, chùa Dũng Tuyền (sau đổi là Linh Phong) ở thôn Phương Phi năm 1830. Các chùa này được nhà nước xuất kho 300 lạng bạc cho mỗi chùa để trùng tu.2

Năm 1835, ở tỉnh Bình Định có người đào được 3 pho tượng Phật Quan âm và 2 pho tượng Hộ pháp. Tổng đốc Võ Xuân Cẩn tâu lên, vua Minh Mạng sai thưởng cho người đào được 50 quan tiền, lấy 1 tượng Phật Quan âm và 1 tượng Hộ pháp để giữ lại thờ ở chùa Linh Phong, lấy 100 quan tiền làm lễ cúng và sau đó chuyển 3 pho tượng về Kinh chia cho các chùa để thờ.1

- Thiên chúa giáo.

Vào đầu thế kỷ XVII, nhà thờ Nước Mặn ra đời  là cơ sở truyền giáo sớm  của xứ  Đàng Trong. Vào thế kỷ XIX, nhà thờ Gò Thị ở Tuy Phước -nơi đặt  toà Tổng Giám mục của Thiên chúa giáo của các tỉnh miền Trung (từ Huế - Đà Nẵng trở vào Khnh Hồ và Tây Nguyên - đến năm 1844, Huế mới tch ring); Bình Định trở thành vùng "nhạy cảm" trong thời kỳ cấm đạo của triều Nguyễn. Đây là một trong những vấn đề mà triều Nguyễn quan tâm để tìm ra những giải pháp tốt nhất. Năm 1854, vua Tự Đức ra dụ cho Tổng đốc Bình Phú Nguyễn Đăng Uẩn rằng: "Dân hạt ấy phần nhiều theo đạo Gia tô, ngươi nên đặt phương pháp như thế nào để khu xử, không nên nghiêm quá, cũng không nên khoan quá, cần để cho chúng lặng lẽ hoán  đổi ngấm ngầm tiêu trừ (thói mê) đều theo chính đạo là được".2 Nhưng rồi sau đó việc cấm đạo và sát tả bùng lên mãnh liệt ở Bình Định. Ngày 28.10.1861, Đức cha Thể (tức Giám mục Gue'not bị bắt và bị kết án tử hình. Giám mục Gue'not chưa kịp bị hành quyết thì chết trong ngục Bình Định (14.11.1861).3

Dưới thời Pháp thuộc số giáo dân cũng tăng lên nhiều do đó tỉ lệ thuận với việc gia tăng nhà thờ. Nhiều nhà thờ trong thời gian này cũng được ra đời như: nhà thờ Lòng Sông, Kim Châu, Nhà Đá, nhà  thờ Chính toà Quy Nhơn.

          Phong tục tập quán

- Ăn uống: người Bình Định trước đây dọn ăn trên nền đất có thể trải chiếu hoặc để mâm cơm chạm nền đất, ít khi ngồi trên ghế, trên phản. Đây là phong tục bắt nguồn từ người Chàm với quan niệm nguồn sống và sự sống bắt nguồn từ đất. Cơm và thức ăn được nấu trong nồi, niêu bằng đất, chén đĩa bằng đồ sành. Thức ăn thường có món cá và canh bằng các thứ rau trồng được. Trước khi ăn họ thường súc miệng bằng bát nước trong. Sau khi ăn, uống một bát nước chè lớn pha vun bọt, thường gọi là chè Huế. Khi có khách thường có bánh tráng khai vị và vài ly rượu bọt, rượu thuốc... Nhìn chung, việc ăn uống của nhân dân ngày trước đơn giản, nhà giàu hoặc khi có lễ tiệc thì mới tổ chức linh đình với mâm cao cỗ đầy...

- Trang phục.

Dưới thời Nguyễn, trang phục của người dân Bình Định chỉ có khác nhau về vị trí xã hội, giàu nghèo, nam nữ, nhưng nhìn chung là giản dị, ít xa hoa.. thành phần bình dân  thường dùng vải thao, vải ta. Nhà giàu dùng đồ lụa, đồ hàng... Phụ nữ ra khỏi nhà luôn mặc áo dài. Mặc quần lưng vận màu đen. Phụ nữ trong mặc yếm. Yếm được chọn vải tốt để che ấm, bó ngực nhằm để hạn chế phô trương ngoại hình. Đàn ông mặc áo cụt, quần ống rộng màu trắng, có dây lưng. Họ thường đi chân đất; khi đi rừng, đi trên cát nóng có dùng dép da trâu, dùng guốc quai dọc đẽo từ thân tre, cây vọng, cây mức...

Nam nữ đầu thường để tóc và búi tóc càng to cao như bánh ú càng đẹp, phụ nữ  ít tóc thường kèm theo lọn tóc giả để búi thêm cho đẹp. Để tóc láng mướt thường xức dầu dừa... đầu thường bịt khăn, đàn ông bịt khăn ngang, đàn bà bịt khăn xéo. Khăn bịt đầu và dây lưng là trang phục làm đẹp và thể hiện sự sang trọng, quý phái của các thành phần dân cư.

Ra khỏi nhà họ thường đội nón, nón ngựa Gò Găng cho nhà giàu, nón lá kè cho nhà bình dân.

Đồ trang sức thường dùng bằng vàng, bạc, thau, đồng, huyền... phụ nữ có nhẫn, vòng, kiềng, hoa tai, chuỗi hột. Đàn ông đeo nhẫn ở ngón tay giữa.

Dưới thời Nguyễn, đàn ông, đàn bà có tục ăn trầu, nhuộm răng, tục này có từ lâu đời. Sau phong trào chống thuế năm 1908, đàn ông bắt đầu để răng trắng.

Đàn ông ngoài ăn trầu còn hút thuốc, đàn bà hút thuốc bị xem là điều cấm kỵ.

          - Nhà cửa.

Nhà thường lợp tranh, trừ ít nhà giàu và đình chùa mới lợp ngói.

Ngoài nhà cặp là loại nhà thông dụng ở nông thôn, mái tranh, vách đất. Ở Bình Định có lá mái là một đặc trưng kiến trúc nhà cửa của nhân dân Bình Định.

Nhà lá mái thường có quy mô to lớn và kiên cố hơn nhà cặp nên thường thuộc về những gia đình khá giả: nhà thường 3 gian hai chái, gỗ tốt, vách xây đá ong, tô vôi, cửa bàn khoa bằng gỗ tốt, chạm trổ. Đặc biệt là bộ mái, nhà có 2 bộ mái, ngoài mái lợp tranh ở bên ngoài còn có bộ mái bằng đất, làm  như trần nhà bằng đất sét nhào rơm được trét lên bộ ván hoặc tre làm trần. Tác dụng nhà lá mái là mát về mùa hè, ấm về mùa đông và kỵ được hoả hoạn. Nhược điểm  nhà lá mái là thiếu ánh sáng ban ngày, nặng nề, nhìn bên ngoài thiếu thẩm mỹ, hạn chế diện tích sử dụng.

        Bình Định là vùng "trọng điểm bình định" của triều Nguyễn đối với nhà Tây Sơn, nhưng triều Nguyễn cũng phải thừa nhận tính khách quan về một vùng đất có vị trí chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục đối với các tỉnh miền Trung thuở đó, nên các vua Gia Long, Minh Mạng một mặt ra sức trấn áp nhưng mặt khác lại mị dân thể hiện trong các chiếu dụ, ban bố trong quan lại và nhân dân. Thiết lập phủ Quy Nhơn, dinh Bình Định thời Gia Long, tổ chức lập lại địa bạ thời Minh Mạng  với ý định làm thí điểm cho cả nước. Triều Nguyễn  còn tổ chức trường thi hương và mở trường thi võ tại Bình Định để tuyển chọn nhân tài cho đất nước.

Dưới thời Nguyễn cũng hình thành đô thị Quy Nhơn và trở thành trung tâm kinh tế của tỉnh Bình Định trong thế kỷ XIX; là xu thế phát triển trong thời Pháp thuộc, có tác dụng to lớn trong thế kỷ XX và nay Quy Nhơn là thành phố loại II thuộc tỉnh Bình Định.

 



1 ĐNTL, sđd, tập  III, tr.396-397.

2 ĐNTL, sđd, tập  IX, tr. 243.

3 ĐNTL, sđd, tập  XXVI, tr. 285. Sách ĐNNTC thời Tự Đức là 57.349 người, sđd, tập III, tr. 16.

4 ĐNTL, sđd, tập  III, tr. 263.

1 Châu bản Triều Nguyễn, triều Tự Đức, tập V, tr. 193-195.

2 Châu bản Triều Nguyễn, triều Gia Long, ngày 6 tháng 1 năm thứ 4, bản Mục lục, dịch, Viện Đại học Huế, 1962, tr. 71.

3 Châu bản Triều Nguyễn, triều Gia Long, sđd , tr. 126-129. Công đồng là cơ quan hành pháp tối cao của triều Gia Long trước năm 1806.

4 ĐNTL, sđd, tập  IV,  tr. 77.

5 ĐNTL, sđd, tập  VIII, tr. 237.

1 Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên (ĐVĐDTB), Viện Sử học, NXB. Văn hoá, Hà Nội, 1997, tr. 223.

2 ĐNTL, sđd, tập  XIV, KHXH, Hà Nội, 1965, tr. 215.

3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr.324.

4 Đại Nam điển lệ toát yếu (ĐNĐLTY) - Nguyễn Sĩ Giác dịch; TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 187.

5 Đại Nam điển lệ toát yếu (ĐNĐLTY), sđd, tập XXIV, tr. 358.

1 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 13.

2 ĐNTL, sđd, tập VI, tr. 149.

3 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 43.

4 ĐNTL, sđd, tập X, tr. 195.

5 ĐNCBLT, Q.30, sđd, tờ 53b, bản dịch Tạ Quang Phát, Sài Gòn, 1970, tr.225 cho rằng: "Bắt được cả Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Lương và con của Đức là Nguyễn Văn Đâu.

1 ĐNTL, sđd, tập XII, tr. 356-357.

2 ĐNTL, sđd, tập XIV, tr. 215.

3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 215.

4 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 167.

5 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 164.

1 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 85.

2 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 166.

1 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 285.

2 ĐNTL, sđd, tập XXXI, tr. 207, 216.

3 ĐNTL, sđd, tập X, tr. 163

1 ĐNTL, sđd, tập XXXI tr. 207-216

2,3 ĐNTL, sđd, tập XXXIV, tr. 190-191.

1 CBTN, triều Minh Mạng, tập I, tr. 117.

2 CBTN, triều Minh Mạng, năm thứ 7, tập XX, tr. 129

1 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 15.

2 ĐNTL, tập IV, Đệ nhất kỷ, tr. 152

3 ĐNTL, sđd, tập XXVII, tr. 302.

4 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 15.

1 NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1993.

1 Năm 1849 và1901 có 2 vị tiến sĩ người Bình Định, vậy dưới triều Nguyễn có 8 tiến sĩ tuy con số còn khiêm tốn nhưng thể hiện vùng đất học hành và đỗ đạt so với các tỉnh phía nam (Gia Định:1; Định Tường: 2; Vĩnh Long: 1 (Phan Đại Doãn.... Một số vấn đề quan chế Triều Nguyễn - Thuận Hoá, Huế, 1998, tr. 186,189.

2 Đỗ Bang, Tuồng cung đình Huế-một hiện tượng đặc sắc của của lịch sử và văn hoá Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị tuồng cung đình Huế; Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, 2001, tr. 150.

1 ĐNSL, sđđ, tập IV, tr. 196

2 ĐNTL,sđd, tập X, tr. 132.

1 ĐNTL,sđd, tập XIII, tr. 126-177.

2 ĐNTL,sđd, tập XXVIII, tr. 88.

3 Quách Tấn, Nước non Bình Định, Nam Cường, Sài Gòn, 1967, tr. 467. ĐNTL,sđd, tập XXIX, tr. 245 ghi sự kiện này nhưng tên vị Đạo trưởng là Y.Ty -Anh.