II. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ B̀NH ĐỊNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
1. Nông nghiệp
Nông nghiệp là bộ phận quan trọng trong kết cấu kinh tế của B́nh Định dưới triều Nguyễn được phản ánh qua chế độ ruộng đất, phân chia ruộng đất, sản xuất và đời sống của nhân dân, cùng với chế độ thuế khoá và các nguồn thu của Nhà nước.
a. T́nh h́nh ruộng đất và chính sách quân điền của triều Nguyễn ở B́nh Định.
Đặc điểm về ruộng đất và chính sách quân điền của triều Nguyễn ở B́nh Định là một đặc trưng của chế độ ruộng đất Việt Nam thời phong kiến triều Nguyễn. Nó được phản ánh qua các loại h́nh sở hữu đất đai, đặc biệt là qua quá tŕnh tư hữu hoá, bao chiếm ruộng đất, sự tranh chấp về đất đai; những mâu thuẫn xă hội do quan hệ sản xuất và phân chia ruộng đất sinh ra. Điều đó đă khiến triều đ́nh luôn lo lắng và bận tâm, nhất là dưới hai triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị.
Qua sưu tập của Nguyễn Đ́nh Đầu, chúng ta thấy sự bất cập và biến động về sở hữu ruộng đất trong ṿng 24 năm (1815-1839) qua 2 lần lập địa bạ ở B́nh Định là nguyên nhân để vua Minh Mạng đă đi đến quyết định lập lại đồng loạt các loại địa bạ của các thôn ở B́nh Định. Cũng như sau này vua Thiệu Trị đă có phương thức để giải quyết những hậu quả tranh chấp kéo dài của nông dân về những vấn đề thiết thân của đời sống.2 Để thấy rơ vấn đề trên, chúng ta hăy xem bản thống kê những lần lập địa bạ của Gia Long và Minh Mạng như sau:
BẢN THỐNG KÊ ĐỊA BẠ B̀NH ĐỊNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN:
|
STT |
|
Địa bạ lập năm 1815 |
Địa bạ lập năm 1839 |
|
1 |
Số ấp /thôn c̣n địa bạ: |
539/660 (ấp) |
648/678 (thôn) |
|
2 |
Tổng diện tích: |
75.433mẫu 4.2.7.8.6.5.8 |
85.903 mẫu 3.10.3.4.8.7.1.7 |
|
3 |
Điền thổ thực canh: |
74.130 mẫu 2.4.19.8. 5.8 |
76.875 mẫu 6.8.1.1.0.5.1.7 |
|
4 |
Diện tích điền: |
71.925 mẫu 9.2.6.1.4.6.8 |
74.337 mẫu 6.7.3.8.4.0.4.7 |
|
5 |
Diện tích ruộng muối: |
42 mẫu 3.12.6.3.1.9 |
41 mẫu 2.12.8.4.6.8.3 |
|
6 |
Diện tích điền thổ: |
2.161 mẫu 9.3.9.5.2.6 |
2.496 mẫu 7.2.8.7.9.6.4 |
|
7 |
Dân cư thổ: |
849 mẫu 5.11.0 |
898 mẫu 2.7.7 |
|
8 |
(Quan) công điền: |
6.452 mẫu 7. 14.4.5.5.8 |
40.009 mẫu 7.13.6.6.2.5.5 |
|
9 |
Tư điền: |
65.515 mẫu 5.0.7.9.0.18 |
34.369 mẫu 1.6.5.6.8.3.2.7 |
|
10 |
Các loại ruộng đất khác: |
404 mẫu 2.2.5.8.8 |
239 mẫu 7.11.5.6. |
Qua biểu thống kê ở trên, chúng ta có những nhận xét sau:
- Số đơn vị địa bạ lập vào năm 1839 là 678 thôn (sau đợt cải cách hành chính thời Minh Mạng ở B́nh Định nay đổi toàn bộ ấp thành thôn) tăng 18 đơn vị so với năm 1815. 18 thôn này có thể do mới thành lập nay được thừa nhận hoặc trước đây chưa khai báo. Các biến động về các loại ruộng đất: điền thổ, thực canh, ruộng muối... giữa hai thời kỳ không đáng kể; chỉ có phần quan điền ở thời điểm lập địa bạ năm 1815 có khá nhiều, hơn 1633 mẫu nằm rải rác trong 129 ấp của toàn trấn. Có lẽ đó là ruộng được các chúa Nguyễn, triều Tây Sơn trước đó ban cấp, nay triều Nguyễn vẫn tiếp tục công hữu hoá thành quan điền giao cho quan chức quản lư bắt lính và dân canh tác với mức thuế rất nặng nên dân không chịu sản xuất, bỏ hoang, do đó Minh Mạng phải chuyển toàn bộ thành ruộng đất công làng xă để cho dân canh tác. Quan công điền vào năm 1815 chiếm tỉ lệ 8,97% trong khi tư điền chiếm 91,03%. Đầu năm 1839, khi chia lại ruộng đất trong số c̣n lại cho thấy số lượng công điền đă vượt trội so với tư điền: 53,79% trong khi tư điền giảm xuống chỉ c̣n hơn 46,20%.
Qua thống kê, toàn tỉnh B́nh Định có 678 thôn - ấp, trừ 30 thôn cấp ruộng công, ruộng tư ngang nhau, 1 ấp xiêu tán, 2 ấp không giảm lính cai, số thôn- ấp cần chia cấp ruộng là 645.1
Trong đợt quân cấp công điền ở B́nh Định năm 1839, triều đ́nh đă huy động trí tuệ từ vua cho đến các bộ, các ngành nhằm t́m ra một phương thức khả dĩ để thực hiện. Các đại thần và các cơ quan chức năng của Trung ương đều tham gia, đứng đầu là Vơ Xuân Cẩn lănh Thượng thư bộ H́nh, kiêm Đô sát viện, Tổng tài Thực lục của Quốc sử quán làm Khâm phái của nhà vua với trọng trách lớn lao cùng với sự am hiểu thực tế cũng như điều kiện vật chất tiền và hàng trăm lạng bạc triều đ́nh trang cấp làm lộ phí và thực thi quân điền như 40 vạn, kèm theo 40 vạn tờ giấy lệnh và 20 vạn tờ giấy thị để biên chép lại địa bạ th́ quả là một chính sách lớn của triều đ́nh đối với phép quân điền ở B́nh Định năm 1839.
Sau 3 tháng thực hiện chính sách quân điền ở B́nh Định, đến tháng 12 năm 1839 đă hoàn thành.
Vậy chính sách hạn điền đối với các điền chủ để ban cấp cho dân nghèo là đúng đắn. Vua Minh Mạng do dự v́ giai cấp địa chủ là chỗ dựa của giai cấp phong kiến nhà Nguyễn, nếu thu hồi ruộng đất tư không được đền bù thoả đáng chắc khó tránh khỏi cuộc đấu tranh, xung đột trong nội bộ giai cấp địa chủ, phong kiến, nhất là thế lực ở địa phương B́nh Định đối với triều đ́nh Huế. Nay Vơ Xuân Cẩn đă khôn khéo thuyết phục được triều đ́nh lẫn giới quan chức, địa chủ ở địa phương nhằm thực hiện chính sách cải cách ruộng đất cho dân nghèo B́nh Định quả là một hiện tượng đặc sắc của chế độ ruộng đất thời Nguyễn.
Tháng 12 năm 1839, sau khi lập lại địa bạ, để khỏi bị đột ngột tạo nên sự phản ứng của tầng lớp địa chủ ở B́nh Định, Minh Mạng ra dụ cho tổng đốc Tôn Thất Lương thông báo cho dân toàn tỉnh B́nh Định: "Phàm những ruộng tư cắt lấy một nửa sung công, vụ đông tháng nay chuẩn cho các chủ ruộng cũ được tiếp tục cày cấy, chờ vụ hạ sang năm thu hoạch xong liền chiếu theo điền thổ công, tư trong sổ mới quân cấp cho mọi người cày cấy nộp thuế".
Địa bạ được thành lập là cơ sở pháp lư của làng và cá nhân nhằm xác nhận quyền sở hữu và tranh kiện về ruộng đất, nay cơ sở pháp lư đă làm xong, dân nghèo sắp có ruộng đất để cày cấy trong vụ mùa hạ năm 1840. Vua Minh Mạng lại hỏi Thượng thư bộ Hộ Hà Duy Phiên về nguồn thuế ở B́nh Định sau khi ban cấp công điền mới. Hà Duy Phiên thưa: "Hạt ấy trong sở cũ, công điền 6-7 ngàn mẫu, tư điền hơn 9 vạn mẫu. Nay lấy một nửa tư điền làm công điền th́ công điền đáng phải trên dưới 4 vạn mẫu. Nói về đại lược so ra th́ thuế điền ít đi, thuế đinh nhiều ra. V́ trước đến nay các tỉnh phía nam mức thuế công điền ngang bằng thuế tư điền, duy có thuế ruộng nhà nước1 th́ lại cao hơn thuế ruộng công. Nay ruộng nhà nước (quan điền) đă chuyển làm ruộng công th́ ngạch ruộng công tuy có tăng lên nhưng thu nhập lại kém đi. Dân xă sở tại trước kia thuế thân người có ruộng công cao hơn thuế người không có ruộng công hay đă đem ruộng công quân cấp th́ dân trong sở ai cũng có ruộng nên có giảm mất số thuế ruộng nhà nước nhưng số thuế dân đinh lại tăng lên".
Qua lời tâu của Hà Duy Phiên chúng ta thấy: trong các loại thuế ruộng th́ thuế quan điền là cao hơn cả, c̣n thuế đinh th́ dân cày ruộng công làng xă chịu nhiều hơn. Vua Minh Mạng sau khi nghe báo cáo không quan tâm lắm chuyện thu thuế ở B́nh Định sau khi thực hiện phép quân điền, nhưng chỉ băn khoăn là sau khi lập lại địa bạ năm 1839 có nhiều đơn thư nặc danh gửi lên Tam pháp ty khiếu nại, khác với tinh thần mà Vơ Xuân Cẩn đă báo cáo lên triều đ́nh trước đó mấy hôm.2
Một phản ứng dây chuyền khác là sau khi lập lại địa bạ mới, giá thóc gạo ở B́nh Định tăng vọt lên, vua Minh Mạng sai xuất kho 2 vạn hộc thóc bán cho dân.3
Sau đợt cải cách ruộng đất ở B́nh Định, năm 1840, triều đ́nh Huế cho thực hiện cải cách lệ cấp công điền cho cả nước. Trước đây (1804), thời Gia Long quy định cấp số lượng công điền theo phẩm hàm, chánh nhất phẩm trở lên cấp từ 15 phần đến 18 phần; từ lục phẩm đến nhị phẩm cấp từ 10 phần đến 14 phần. C̣n dân được thực nạp (có đóng thuế ruộng) nhận 6 phần rưỡi. Thấy bất công, vua Minh Mạng hội nghị với đ́nh thần cho rằng: "Công điền thổ cốt để cho lợi đều nhau, nay quan viên đó có bổng lộc nếu lấy lại phẩm trật hơn kém chiếu cấp khẩu phần th́ người có lộc lại chiếm nhiều lợi hơn người không có lộc, cố nhiên là không nên. Nếu cho rằng quan viên đă có bổng lộc không cấp khẩu phần th́ vợ con quan ở nhà quê không có đất nương đậu cũng không phải là ư của Triều đ́nh, thể tất cho quan viên. Do đó chỉ trừ lương điền cấp cho lính như quy định năm 1836, c̣n quân điền quy định lại như sau: cứ bao nhiêu điền thổ, cứ quan lại, binh thợ cùng các hạng dân thực nạp, biệt nạp không cứ phẩm trật hơn kém, mỗi người đều được cấp cho một phần khẩu phần. Lăo nhiêu, lăo hạng, phế tật, đốc tật cấp một nửa khẩu phần. Con mồ côi, đàn bà góa lấy 1/3 khẩu phần".4
Có được thành quả chia lại khẩu phần cho dân đinh đóng đều trên toàn quốc vào năm 1840 là trên cơ sở thắng lợi của phép quân điền ở B́nh Định và vai tṛ của Vơ Xuân Cẩn cùng các quan chức ủng hộ phép quân điền của ông ở B́nh Định đă thuyết phục được vua Minh Mạng xoá bỏ quan điền chuyển thành công điền làng xă và chia lại khẩu phần công bằng hơn cho tất cả các thành viên trong làng được ban cấp công điền, không c̣n ưu tiên ăn ruộng trước và chiếm nhiều khẩu phần hơn cho quan viên các hạng như trước đây. Một năm sau lập lại địa bạ, thực hiện chính sách quân điền ở B́nh Định, Thự tổng đốc B́nh Phú là Đặng Văn Thiêm có dâng tập thỉnh an lên vua Minh Mạng, trong đó có đoạn viết: "Việc quân điền năm trước đều được yên cả và không có lời dị nghị ǵ. Nhưng nay đến thời kỳ làm sổ khẩn cấp, bọn hương hào lư dịch không tốt, phần nhiều mưu lợi riêng trở lối xảo trá, hoặc đem ruộng xấu sung vào của công mà tự ḿnh riêng chiếm ruộng màu mỡ, hoặc đổi lại sổ sách, thay tên người khác, bớt ruộng thực của ḿnh mà thêm các ruộng không đâu vào cho người khác, hoặc ruộng thực có nhiều hơn sổ trước đến sau khi sung công, chỉ căn cứ vào sổ trước mà cấp, c̣n thực ra đều chiếm làm lợi riêng; hoặc ngầm lấy nhà với vườn đă hiện thành mạo sung làm của công đem cấp riêng cho người khác... Mối tệ này sinh ra kiện cáo nhau đều xét cả th́ tra khám không xuể..."1
Như vậy, qua phản ánh của Thự tổng đốc Đặng Văn Thiêm th́ t́nh h́nh quân cấp công điền ở B́nh Định rất phức tạp có thể dẫn đến sự thất bại. Nguyên nhân là do địa chủ, hào lư bề ngoài chấp hành chính sách của triều đ́nh nhưng bên trong t́m mọi cách để ẩn lậu, gian lận ruộng đất bằng mọi cách để mưu cầu lợi riêng như phân chia tài sản, chuyển nhượng quyền thừa kế, chỉ sung công ruộng xấu. Dân nghèo không được hưởng đầy đủ chính sách quân điền của Nhà nước nên diễn ra t́nh trạng khiếu kiện ở khắp nơi; nhất là tố cáo sự gian lận của tầng lớp cường hào, địa chủ trong việc chấp hành phép quân điền. Vua Minh Mạng đă ra dụ rằng: "Cách quân điền là để bớt chỗ nhiều thêm vào chỗ ít. Lợi công cộng cho nhân dân là phép rất hay. Nhưng bây giờ gấp làm việc công th́ ở trong ấy c̣n có một, hai chỗ sai nhầm, tổng cũng không thể nào tránh được. Nay có lời tâu th́ lư dịch, hương hào có nhiều mánh khoé thêm, bớt, tham, mạo, biến đổi, dối trá nếu không tra xét phân biệt th́ họ làm thắng được kế gian mà tiễu dân thế cô, hèn yếu không c̣n trông nhờ vào đâu được. Thật không phải là ư định lúc mới lập phép quân điền. Nay chẩn cho ngươi đốc cùng hai Ty Phiên, Ty Niết báo khắp các xă thôn biết: hạn trong một tháng đều tới tỉnh thú tội th́ lượng cho khoan giảm. Nếu ngoại hạng không đến thú không hết, không thực, có người phát giác ra phải trị tội nặng. Nhưng căn cứ vào người đầu thú và người tố cáo, giữ công bằng mà tra xét thi hành cốt được thực tiễn, thực ngạch công, tư đầu tiên, chớ để người bàn bạc.Kẻ bị hào phú xâm lấn, lừa dối cũng không nên coi thường, uỷ cho bọn lại dịch để chúng gây nên mối tệ vào trong ấy. Việc xong cứ thực tâu xin cải chánh để làm phép nhất định th́ mối tranh giành mới yên lặng lâu dài".1
Đó là dụ của vua Minh Mạng chỉ đạo quan tổng đốc tổng B́nh Phú giải quyết vấn đề khiếu kiện quân điền cuối cùng trước khi nhà vua qua đời (20.1.1841). Vua Thiệu Trị lên ngôi, đơn khiếu kiện từ B́nh Định gửi về Kinh ngày càng nhiều, trước sau có đến 300 lá đơn. Lư do là bọn cường hào ác bá chiếm nên chia ruộng tốt, ruộng xấu không đều, diện tích ít nhiều cũng khác nhau. Mặc dù quan Tổng đốc Đặng Văn Thiêm vẫn chấp hành đúng chỉ thị của triều đ́nh là số ruộng tư có chủ sở hữu khai báo để lại một nửa làm của riêng, nửa phần c̣n lại sung công để quân cấp cho dân, nhưng phải chữa lại địa bạ. Vua Thiệu Trị phái hai quan khoa đạo là Đặng Quốc Lang và Mai Khắc Mẫn có tiếng là hiền năng, công chính đến B́nh Định cùng với quan tỉnh để thực thi công việc. Nhà vua dụ rằng: "Việc quân điền là việc lớn cốt để cho dân ai cũng có tài sản, người giàu, người nghèo cùng giúp lẫn nhau, thực là phép hay của muôn đời. Nay bọn hương hào, lư dịch thay đổi, thêm, bớt, chiếm lấy tiêu lợi một ḿnh, làm cho dân nghèo hèn yếu, không nhờ vào đâu được, th́ tuy là chia đều nhưng vẫn không đều không phải là ư ban đầu đặt ra pháp chế".2
Khi Đặng Quốc Lang và Mai Khắc Mẫn đến B́nh Định xem xét trong các đơn thưa kiện thấy nhiều đơn không có thiệt hại ǵ lắm th́ phê bác... c̣n những đơn khác có vấn đề, hai quan dùng lời lẽ phân tích và tuỳ việc phân xử phải trái công minh, dân mới thôi không tranh kiện nhau nữa. Tổng đốc Đặng Văn Thiêm tâu: c̣n số ruộng linh tinh chưa đến 1 sào, cộng tất cả 60 mẫu, xin miễn không chia ra quân cấp. Vua Thiệu Trị bảo nên đem quân cấp cho dân. Xong việc Đặng Quốc Lang cùng đoàn về Kinh, vua khen việc hoàn thành nhanh gọn. Có lẽ đây là việc giải quyết hậu quả về chính sách quân điền năm 1839 ở B́nh Định có hiệu quả nhất, nhưng quá tŕnh bao chiếm của giới địa chủ có thể c̣n diễn ra sau đó, song không tạo thành biến động xă hội gay gắt như trước đây. Năm 1852, sau 12 năm thực hiện phép quân điền ở B́nh Định, nhưng kết quả th́ như Khâm sai đại thần Đặng Văn Thiêm đi kiểm tra về tâu rằng: "Về ruộng công, những ruộng tốt màu th́ kẻ hào cường chiếm cả, hoặc có thừa ra th́ hương lư lại bao chiếm. Những hộ thường dân chỉ được ruộng đất xác màu".3
Đó là thực tế đau ḷng của phép quân điền năm 1839 ở B́nh Định. Khi hỏi về thực trạng t́nh h́nh ruộng đất công, tư ở B́nh Định, Thượng thư bộ Hộ Hà Duy Phiên tâu rằng: "Thừa Thiên, Quảng Trị ruộng công nhiều hơn ruộng tư. Quảng B́nh th́ ruộng công, ruộng tư bằng nhau. C̣n các hạt khác ruộng tư nhiều, ruộng công ít, tỉnh B́nh Định lại càng ít hơn. Cho nên trước đây, Vơ Xuân Cẩn xin chiết lấy 5/10 ruộng tư đem làm ruộng công để quân cấp cho quân, dân để dân có chỗ trông nhờ".1
Như vậy, chính sách quân điền ở B́nh Định năm 1839 tưởng là đă thắng lợi ở một vùng trọng điểm bao chiếm ruộng đất của giới cường hào, địa chủ được Nhà nước thuyết phục, cắt giảm để sung công cho dân nghèo canh tác đă thành công mà không thấy có sự đền bù cho các chủ sở hữu đă hiến đất. Nhưng trên thực tế dân nghèo chỉ nhận phần đất xấu, cằn cỗi. Tự Đức muốn trả lại ruộng đất đă sung công của địa chủ hoặc chia lại ở một tỉ lệ cao hơn là 3/2 nhưng các đại thần can ngăn nên vẫn để phép chia năm 1839 với một thực tế phũ phàng cho dân nghèo B́nh Định trong xu thế tư hữu hoá diễn ra hết sức mạnh mẽ đ lm cho chính sch hạn điền của triều Nguyễn ở B́nh Định bị thất bại. Từ đó cho chúng ta thấy triều Nguyễn đă không rút kinh nghiệm ở B́nh Định để chia lại quân điền cho dân ở một số tỉnh khác.
Vấn đề ruộng đất quả là một vấn đề quan trọng, bức xúc và trở thành nghiêm trọng trong đời sống của nhân dân B́nh Định. Cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn nổ ra ở B́nh Định cũng có vấn đề đấu tranh ruộng đất. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thành công cũng giải quyết vấn đề ruộng đất cho dân nghèo. Nay triều Nguyễn thờ ơ trước một đặc điểm đấu tranh vốn vô cùng mănh liệt của nhân dân mà chỉ có Vơ Xuân Cẩn sau nhiều năm phụ trách quan đầu tỉnh mới hiểu nổi đặc điểm này và quyết thực thi một chính sách quân điền nhằm bảo vệ ruộng cày cho nông dân. Chính sách quân điền đụng chạm vào địa chủ, cường hào ở địa phương nhưng với nhu cầu an dân, kiến nghị của triều đ́nh đă buộc các vua Nguyễn phải thực thi song hiệu quả của chính sách lại hết sức hạn chế. Chính sách quân điền ở B́nh Định là vấn đề được các vua Nguyễn lo lắng, quan tâm.
b. Kinh tế nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp là mảng hoạt động rất quan trọng trong bức tranh kinh tế B́nh Định dưới thời Nguyễn. Tuy có thuận lợi về tài nguyên đất đai, nguồn nước, nhưng nhân lực lao động nông nghiệp vào thế kỷ XIX không được động viên và phát huy mọi khả năng để đảm bảo cho năng suất, phát triển. Nguyên nhân: một phần do liên miên chiến tranh ác liệt trong suốt thập niên cuối cùng của thế kỷ XVIII giữa Tây Sơn và quân Nguyễn. Sức lao động bị trưng dụng vào guồng máy chiến tranh, sự tàn phá ở một vùng ác chiến đă làm cho ruộng vườn, nhà cửa, đời sống nhân dân điêu đứng, cơ hàn; làng mạc tiêu điều, đồng ruộng bỏ hoang v́ dân phiêu tán hoặc kiệt lực v́ chiến tranh. Năm 1802, ngay sau khi lên ngôi, Gia Long căn dặn các quan chức được bổ nhiệm đến cai trị ở dinh B́nh Định. Ông cho rằng: "Đất này trải qua binh cách đă lâu, sức dân hao ṃn, bọn ngươi nên tuyên dương đức ư, ra sức vỗ về, khiến cho kẻ ốm lâu ấy được hồi lại nghỉ ngơi".1 Đây chỉ là lời lẻ tuyên truyền mị dân.
Trn thực tế, vng đất B́nh Định luơn bị trấn p bởi bọn quan lại; các cuộc đấu tranh của nhân dân đă lm cho triều Nguyễn khó tạo thế ổn định, phục hồi dân phiêu tán, khôi phục nền nông nghiệp sau nhiều năm bị đ́nh trệ, điêu đứng cần được "hồi sinh". Trong đó, cả t́nh trạng chấp chiếm đất đai của bọn địa chủ, quan lại mới dưới thời Minh Mạng đă gây nên sự chấn động cả triều đ́nh. Dân không có ruộng cày suốt đời túng quẫn phải đi làm thuê, hàng chục làng dân bỏ đi tha phương cầu thực mức độ ngày càng một gia tăng, gây nên sự khủng hoảng ngày một nghiêm trọng. Điều này được Đại Nam thực lục cho biết: "Năm 1821, dân hạt B́nh Định phiêu tán 16 ấp".2 "Năm 1824, dân phiêu tán 30 ấp và man"3.
Năm 1826, trấn thành B́nh Định tâu: "Nhân dân trong hạt phiêu tán 96 ấp, phường nay đă về được 18 ấp. Về rải rác là 75 ấp, c̣n 3 ấp không về, đă xuất 917 quan ở kho để cho dân các ấp ấy vay". Vua Minh Mạng đă phê vào bản tâu "đă làm đúng"4.
T́nh h́nh phiêu tán cầu thực vẫn tiếp tục diễn ra dưới triều Tự Đức. Năm 1848, tổng đốc B́nh Phú tâu: "Phụng chiếu, trong tỉnh B́nh Định có 675 thôn, số ngạch lính tại Kinh và ở tỉnh hơn 11.000 người không thể điều tuyển đủ được v́ lâu nay các làng dân túng bấn phải phiêu bạt, hoặc bị nhà giàu cậy thế bức hiếp, doạ nạt mà bỏ trốn, hoặc do bất măn mà không dám nói cũng bỏ làng ra đi...".5
Việc dân phiêu tán bỏ làng ra đi như Châu bản Triều Nguyễn đă ghi lại ở trên phản ánh sự bức xúc về một cơ chế ruộng đất ở B́nh Định mà Vơ Xuân Cẩn đă đề nghị cải cách phép quân điền vào năm 1839, nhưng xu thế tư hữu hoá và nạn chấp chiếm ruộng đất của giai cấp thống trị ở B́nh Định ngày càng trầm trọng nên vẫn không ngăn cản được nông dân bỏ làng. V́ vậy mà ruộng đất bị bỏ hoang đă ảnh hưởng sâu sắc đến nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Mặc dù B́nh Định là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển; từng được mệnh danh "tiểu nông nại" sánh với vùng đất nông nghiệp mới mở ở Đồng Nai. Trước khi thực hiện phép quân điền, Vơ Xuân Cẩn đă nhận thấy tài nguyên đất đai ở B́nh Định là: "màu mỡ không kém các tỉnh Nam Kỳ, lại có đê bối giữ nước, có thể không bị hạn hán. Nông dân một năm được 2 vụ gặt rất được lời".1
Ngoài trồng lúa, ở B́nh Định c̣n trồng nhiều cây hoa màu khác để làm lương thực như ngô (bắp), các loại ḿ (sắn), môn, khoai, rau đậu... Ngoài đặc sản cây dừa, cây xoài là loại cây trồng phát triển của B́nh Định để cung cấp cho thị trường và cống cho cả Triều đ́nh, cây dâu tằm cũng được chú ư phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu cho nghề dệt và là một trong những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao của B́nh Định thời bấy giờ.
2. Lâm- ngư nghiệp
B́nh Định là vùng đất giàu tài nguyên rừng và biển - một lợi thế để nhân dân khai thác, sản xuất nên những mặt hàng tiêu dùng ở trong nước và xuất khẩu, trong đó có một số mặt hàng khai thác tiến cống cho vua quan ở Kinh đô Huế. Điều đó được thể hiện ở các ngành nghề như sau:
- Khai thác lâm nghiệp
Núi rừng B́nh Định có nhiều loại gỗ quư như kiền kiền, giáng hương, trầm, sến đă cung cấp một nguồn lợi lớn cho nhân dân địa phương và cho cung cấp lượng gỗ quan trọng trong việc xây dựng Kinh thành Huế.
Năm 1804, để xây dựng các nhà kho ở Kinh đô, triều đ́nh lệnh quân dân B́nh Định cứ mỗi gian kho cấp cho 100 quan tiền cho người đi lấy gỗ.2
Năm 1805, để có gỗ xây dựng Kinh đô Huế, "Công đồng truyền cho dinh B́nh Định bắt dân làm công sưu đến thượng tuần tháng Hai lên núi đốn gỗ. Gỗ làm xong đem xuống cửa biển Thị Nại để đưa về cung cho kịp dùng"3.
Dưới thời Minh Mạng, công việc xây dựng, kiến thiết kinh đô vẫn diễn ra nên triều đ́nh Huế thường khuyến khích cho dân B́nh Định được khai thác gỗ bán cho Nhà nước với giá thoả thuận. V́ vậy tại đây, Nhà nước cho lập các hộ, các đội khai thác lâm thổ sản như hộ Lấy gỗ, hộ Làm dầu, đội Lấy hương. Năm 1803, vua Gia Long chuẩn cho đội Lấy hương ở B́nh Định "Chiếu số người trong đội, mỗi người cả năm nộp trầm hương loại cực tốt: 1 cân". Năm 1805, Đội Thái hương (chuyên đi t́m trầm hương và kỳ nam ở B́nh Định) được mộ và củng cố để hoạt động. Năm 1822, triều đ́nh quy định lại đội Thái hương với số lượng 50 người.1
Ngoài ra ở B́nh Định, dân c̣n đi khai thác các lâm thổ sản khác như mật ong, sáp ong, dầu rái, sa nhân, mây, thông đại hải... để đem bán ra thị trường hay xuất khẩu.
- Ngư nghiệp
Ở B́nh Định, ngư trường rộng lớn và đa dạng nên rất thuận lợi cho việc đánh cá biển, cá sông, cá đầm. Cá cũng có nhiều chủng loại quư. Ngư dân khai thác đánh bắt ở biển nộp thuế tuỳ theo kích thước của thuyền. C̣n đánh cá đầm cho lănh trưng, nộp thuế. Ngoài phương tiện đánh cá bằng lưới đăng là truyền thống và có hiệu quả cao, c̣n các phương tiện đánh bắt khác đều thô sơ nên đời sống ngư dân ít được cải thiện, khó khăn, nhất là những gia đ́nh không có ngư cụ phải đi đánh thuê.
3. Công thương nghiệp
a. Thủ công nghiệp
B́nh Định có nhiều nghề thủ công truyền thống, có những nghề h́nh thành từ lâu đời trước thời Nguyễn như: làm gốm, khai thác đá, nung vôi, dệt, làm muối, khai thác yến sào vẫn c̣n một số nghề tồn tại cho đến ngày nay. Vào thế kỷ XIX có các nghề được sử sách ghi lại như sau:
- Nghề làm muối
B́nh Định cũng như một số nơi trong cả nước được thiên nhiên ban tặng cho về bờ đầm, bờ biển dài, nhiệt độ và ngày nắng trong năm cao, độ mặn nước biển lớn rất thuận lợi cho nhân dân làm nghề muối.
Diện tích ruộng muối ở B́nh Định năm 1815 là 42 mẫu 3 sào 12.6.3.1.3. Năm 1839, diện tích ruộng muối toàn tỉnh là 41 mẫu 2 sào.12.4.8.4.6.8.3, trong đĩ, cĩ cc thôn Huân Công, tổng Định Sơn, huyện Bồng Sơn chiếm 2 mẫu.0.14.5.0.0.8.3. Thôn Thạch An, tổng Trung Định, huyện Phù Cát: 4 mẫu.8.14.2.1. Thôn Hưng Thạnh, tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước: 32 mẫu 7.13.8.3. Thôn Lộc Hạ, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước: 1 sào 5.0.3.8.
Như vậy, ruộng muối tập trung nhiều ở thôn Hưng Thạnh, huyện Tuy Phước, nay là thành phố Quy Nhơn.1
- Khai thác yến sào:
Từ đầu thế kỷ XVII, giáo sĩ Borri đă quan sát nghề khai thác yến sào ở B́nh Định, ông đă ghi lại như sau: "Chính tôi đă thấy 10 thuyền chở đầy tổ yến thu lượm ở các mỏm đá ngầm trong khoảng dưới 1 ngàn thước. Đây là một thứ rất quư, chỉ nhà vua buôn bán nó với những khách hàng được dành riêng - đặc biệt là vua Trung Hoa rất thích thứ này".2
Vào thế kỷ XVIII, Lê Quư Đôn thấy khả năng to lớn của các đảo yến ở phủ Quy Nhơn: "Phủ Quy Nhơn có các cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo - nơi có nhiều yến sào, nên được lập đội Thanh Châu để lấy".3
Đầu thời Nguyễn, năm 1807, vua Gia Long quy định việc lănh trưng khai thác các đảo yến để thu thuế: "Chuẩn y lời bàn định các đảo yến ngoài biển đều nghiêm cấm, không được tự tiện lấy, năm nào có người làm đơn xin lănh trưng ở đảo nào mà chịu thuế th́ quan trấn thành ấy cấp bằng cho lấy".4
Dưới triều Minh Mạng, đổi đội yến sào ở B́nh Định làm các đội Yến hộ, mỗi hộ có 30 người, sai mộ cho đủ số (nguyên số trước 10 người, mộ thêm 20 người).5
Năm 1834, hai tỉnh B́nh Định, Khánh Hoà lập Yến hộ, giao cho Hồ Văn Hoà phụ trách việc khai thác yến sào của 2 tỉnh.6
- Nghề đóng thuyền
Xóm Trường ở thôn Chánh Thành vào thế kỷ XIX (nay thuộc thành phố Quy Nhơn) là cơ sở đĩng thuyền quan trọng của tỉnh B́nh Định. Ngoài đóng thuyền cho tư nhân đi biển vận chuyển và đánh cá, các chủ thuyền ở đây c̣n đóng thuyền cho Nhà nước. Năm 1817, triều đ́nh Huế hạ lệnh cho trấn B́nh Định đóng 10 chiếc thuyền hiệu, mỗi chiếc cấp 200 quan tiền.
- Nghề nung vôi, chế tác vật liệu xây dựng
Các đảo ngoài khơi B́nh Định có nhiều san hô, nghêu, ṣ, ốc, hến - một tài nguyên phong phú để khai thác nung vôi làm vật liệu xây dựng cho tỉnh, thị trường và cung cấp vật liệu xây dựng cho Kinh thành Huế. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đă ghi rằng: "Trấn B́nh Định kỳ tháng 2 năm nay (1813) thi lấy đội ngói, thợ nung vôi ở trấn ấy 37 người đi làm sở Vọng Cung, doanh trại công, kho công".
Năm 1820, ngạch tượng cục trấn B́nh Định là 925 người.1
Ngoài ra, ở B́nh Định c̣n có nhiều nghề tư nhân và dân gian trong thế kỷ XIX như nghề làm nón, dệt vải lụa, nghề đan, nghề gốm, nghề rèn...
b. Thương nghiệp
Dưới thời Nguyễn, thương nghiệp B́nh Định diễn ra khá sôi động. Hơn 60 chợ được phân tán trong các vùng nông thôn để cung cấp hàng hoá cho nhân dân các phủ, huyện. Huyện Bồng Sơn có 12 chợ, lớn nhất là chợ Lại Dương. Huyện Phù Mỹ có 21 chợ, lớn nhất là chợ Trà Quang. Huyện Phù Cát có 12 chợ, lớn nhất là chợ Phù Ly. Huyện Tuy Viễn có 8 chợ, lớn nhất là chợ An Thái. Huyện Tuy Phước có 7 chợ, lớn nhất là chợ Vĩnh Thế.2
Vào thế kỷ XIX, cảng thị Nước Mặn (ở xă Phước Quang, huyện Tuy Phước) mất vai tṛ mậu dịch của nội địa và quốc tế mà nhường chỗ cho cảng Thị Nại h́nh thành khu đô thị Quy Nhơn vào giữa thế kỷ XIX ngay từ thập niên 20 của thế kỷ XIX đă có nhiều thuyền buôn Trung Quốc đến cập bến Thị Nại để buôn bán.
Hoa thương mang nhiều mặt hàng như tơ sống, đồ sứ, thuốc bắc, các loại thực phẩm, mỹ phẩm đến bán. Tính riêng năm 1826, hai thuyền buôn người Hoa mang đến Thị Nại bán cho Nhà nước 876 cân tơ sống. Châu bản Triều Nguyễn ghi lại trong một bản tâu của trấn thủ B́nh Định ngày 19 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 7 (1826) về việc mua bán tơ được phân hạng như sau: "Về việc mua tơ của Hoàng Văn Quang: hạng 1 được 120 cân, hạng 2 được 245 cân; hạng 3 là 137 cân, hạng tơ tạp là 77 cân, cộng thành 500 cân. Mua của Lư Ph́ Quang: hạng 1:130 cân, hạng 2:245 cân. Giá tiền hạng 1, mỗi cân 4 quan, hạng 2 là 3 quan, hạng 3 là 2 quan, tơ tạp các loại mỗi cân 1 quan 5 tiền, chiếu giá xin xuất tiền công cấp lănh".1 Như vậy chỉ tính riêng trong đợt mua tơ sống của thương nhân Trung Quốc lần này, triều đ́nh đă xuất 2.612 quan 5 tiền từ ngân sách Nhà nước ra để mua là một số tiền khá lớn".2
Trong các mặt hàng đưa đến Thị Nại c̣n nhiều xa xỉ phẩm đắt tiền nhưng triều đ́nh đă không bằng ḷng v́ cho rằng vẫn chưa đạt yêu cầu. Ví dụ việc chọn mua ấm chén pha trà vào năm 1838, bộ Hộ đă tâu với triều đ́nh: "Tỉnh B́nh Định tâu rằng có lời của Bộ đặt mua chén trà, đồ trà nhưng không có đồ tốt lắm, chỉ có hạng hơi tốt như hiệu Tầm Nai, Du Phạt, Liễu Châu, nếu có trưng dụng th́ xin Bộ báo gấp để mua số nhiều theo giá đă định. Bộ giao cho Nội vụ xem xét tấu lên".3
Hoa thương có thể mang tới Thị Nại bất cứ món hàng nào mà họ muốn và được thị trường nước ta chấp nhận, trừ hàng quốc cấm, nhất là thuốc phiện. Nhiều bản tâu của quan trấn thủ B́nh Định lên triều đ́nh đều chú ư đến mặt hàng nha phiến phải tuyệt cấm. Nhưng Hoa thương đă tẩu tán từ các thuyền chài, thuyền dân, kể cả thuyền Đại dịch là thuyền công chở hàng cho Nhà nước. Những thuyền trên phạm tội chở hàng quốc cấm, nếu phát giác được sẽ bị án rất nặng bằng các biện pháp: "Nhất định không được giảm bậc, lại bị tịch thu hết gia sản...".4 Tuy vậy bọn con buôn vẫn lén lút chở thuốc phiện, chúng móc nối với thuyền công cùng các quan chức phụ trách ở cửa khẩu Thị Nại, những người Hoa buôn bán ở phố Quy Nhơn đă tạo thành một đường dây tinh vi với một tổ chức hết sức chặt chẽ và mạo hiểm nhưng có lúc cũng bị phát giác như vụ bắt đường dây mua bán thuốc phiện ở Quy Nhơn năm 1840. Vụ án này được Châu bản Triều Nguyễn đă ghi lại như sau:
"Bộ H́nh phúc duyệt khoản án thuyền Đại dịch chở người buôn lậu và cấm vật do tỉnh B́nh Định tra xét... chủ thuyền là Nguyễn Văn Ban đi trốn, em nó là Nguyễn Văn Thanh đày đi Hưng Hoá, thuỷ thủ là hai tên Phận và Sơn tù 3 năm. Bang trưởng Hồng Giản mua thuốc phiện lậu phát sung quân tại Lương Sơn, Thừa biện hải tấn là Lê Bá Đạt đày tới Nghệ An, phó tổng Nguyễn Đức Đạt cách dịch mạo tên chủ thuyền Nguyễn Văn Hội bị phạt 80 trượng; Thủ ngự hải tấn Nguyễn Quang Thiệp bị cách chức và măn trượng đồ".5
Các tàu đến Thị Nại nửa đầu thế kỷ XIX nhiều nhất là tàu buôn Triều Châu, Quỳnh Châu (Hải Nam) rồi Quảng Đông, Phúc Kiến theo một danh mục thống kê trong Châu bản Triều Nguyễn từ năm 1820 đến năm 1857, số thuyền buôn Trung Quốc sang Việt Nam nhiều nhất là hai cảng Thị Nại và Gia Định.
Đối với thương nhân phương Tây, cảng Thị Nại cũng là nơi hấp dẫn ngay từ đầu. Năm 1803, tàu Anh đă đến buôn bán ở Thị Nại. Dưới thời Minh Mạng, tàu Anh lại đến xin giao thương, quan tỉnh B́nh Định tâu lên, vua nói: "Cửa biển ấy không phải là nơi tàu Anh Cát Lợi vào buôn bán, vậy theo ư này truyền bảo họ: nếu muốn buôn bán th́ phải chở hàng đi Đà Nẵng - Quảng Nam mới được".1
Do quy định này mà từ đó tàu buôn phương Tây không c̣n có những cơ hội hợp pháp để đến Thị Nại buôn bán nữa. Nhưng thương nhân người Anh vẫn bị lôi cuốn bởi thị trường Quy Nhơn. Vào năm 1836, nhân một vụ tránh băo ở Hoàng Sa, thuyền buôn nước Anh ghé vào hải phận B́nh Định, trên thuyền có hơn 90 người. Sau khi báo về triều đ́nh, quan tỉnh B́nh Định tiếp chỉ dụ của vua Minh Mạng, đọc cho họ nghe và đồng thời mở cuộc phát chẩn, thi ân. Nghe tuyên cáo của nhà vua, những người Anh rất cảm kích, họ cúi đầu tạ ơn, đáp lễ. Sau đó nhà vua cho hạ lệnh về nước.2
Từ đó cho đến sau năm 1876, thương nhân Pháp mới có cơ hội chính trị để tăng cường hoạt động thương mại ở khu đô thị cổ Quy Nhơn.
Sự phát triển của ngoại thương và sự ra đời của đô thị Quy Nhơn vào nửa đầu thế kỷ XIX trên cơ sở một nền nội thương phát triển; với con số 136 chủ hộ thuyền chiếm 91% số người đă cúng tiền xây dựng đền Quan Thánh vào năm 1837 ở Quy Nhơn là một dẫn chứng. Phố trưởng Trần Đức Hiệp, hiệu buôn Phát Tài ghi ở trên tấm bia năm 1837 cho thấy rơ hơn hoạt động thương mại ở đây.3
4. Thuế khóa
Thuế là nguồn thu chính của các nhà nước quân chủ ở nước ta như: thuế đinh (c̣n gọi là thuế thân, thuế dung, thuế sai dư) là thứ thuế đánh vào đầu người nam công dân từ 18 tuổi trở lên. Thuế ruộng đất gồm ruộng đất công, tư; thuế sản vật đánh vào thợ thủ công và nghề khai thác sản vật; thuế đầm nguồn, thuế thương nghiệp...
a. Thuế đinh
Năm 1799, sau khi lập dinh B́nh Định, Nguyễn Ánh ra lệnh thu thuế sai dư ở hai dinh B́nh Định và Phú Yên. Lệ thuế được quy định như sau: "Chính hộ, khách hộ ở tổng, xă, thôn, phường 2 dinh (B́nh Định, Phú Yên) đều nhất luật chia làm 3 hạng: tráng, quân, dân, cùng lăo hạng, hạng tàn tật; chiếu theo sổ đưa về mà thu thuế".1
Thuế đinh thời Gia Long được quy định nộp bằng tiền và chia làm 2 hạng: chính hộ (dân chính cư) và khách hộ (ngụ cư).
Thuế đinh quy định năm 1803 cho các hạng dân ở B́nh Định
|
Hạng tráng |
Quân |
Dân |
Lăo, Tật |
|
Chính hộ: 1 quan 6 tiền |
1 quan 4 tiền |
1 quan 2 tiền |
8 tiền |
|
Khách hộ: 1 quan 4 tiền |
1 quan 2 tiền |
1 quan |
7 tiền |
Ngoài ra, các hạng tráng, quân, dân c̣n nộp thêm 1 tiền dầu đèn; lăo, tật nộp 30 đồng.
Thời Minh Mạng, theo quy định năm 1832, không phn biệt chính hộ và khách hộ, dân được chia làm hai hạng nộp thuế là tráng hạng và dân đinh, lăo, tật. Thuế đóng bằng tiền hai mức là dân có ruộng công và dân không có ruộng công và cũng nộp bằng tiền. Số thuế được quy định như sau:
Bản quy định thuế đinh thời Minh Mạng
|
Dân xă có ruộng công |
Dân không có ruộng công |
Tiền sưu |
|
Tráng hạng: 1 quan 4 tiền |
1 quan 2 tiền |
1 tiền |
|
Dân đinh, lăo, tật: 7 tiền |
6 tiền |
30 đồng |
Năm 1840, tỉnh B́nh Định sau phép quân điền thực hiện, mỗi thành viên đều nộp theo dân xă có ruộng công.
Dưới thời Tự Đức có quy định lại 2 mức, nhưng có thêm thuế cho con quan.
Bản quy định thuế đinh thời Tự Đức
|
Tráng hạng, con quan |
Đinh, lăo, tật |
|
1 quan 5 tiền |
7 tiền 30 đồng |
Số người Minh Hương sống ở B́nh Định trước tháng 8 năm 1826 được quy định mỗi người mỗi năm thuế nộp là 2 tấm vải thuế thân và 1 quan 5 tiền đầu quan. Nhưng từ tháng 8 năm 1826 về sau lệ thuế thân cho mỗi người phải nộp bạc là 2 lạng, dây tơ xâu tiền, việc binh đao được miễn, dân hạng đinh, lăo, tật được nộp một nửa.1
Những người Hoa gốc Quảng Đông, Phúc Kiến mới nhập cư ở tỉnh B́nh Định lập làm nhóm Đại Minh, nộp thuế thân, tiền dây xâu tiền như lệ người nộp thuế sản vật. Ngoài ra, mỗi người phải nộp vải 2 tấm, mỗi tấm dài 30 thước, ngang 7 tấc.
b. Thuế ruộng đất
Thuế quan điền, quan trại là loại ruộng sở hữu trực tiếp của Nhà nước. Căn cứ vào Địa bạ Gia Long năm 1815, B́nh Định có 129 ấp cĩ quan điền với diện tích 1.633 mẫu 7.8.1.5.7.62. Thời Gia Long quy định loại ruộng này nộp thuế rất cao. Năm 1821, Minh Mạng quy định lại: "Nếu từ trước đánh thuế mỗi mẫu từ 52 thăng 5 hợp, tiền từ 2 quan tiền trở lên th́ giảm 2/10. Nếu đánh thuế thóc 100 thăng trên từ 3 quan trở lên giảm 3/10".
Năm 1826, chuẩn định ruộng trại ở tỉnh B́nh Định nộp theo thuế ruộng công. Đến năm 1840, sau cải cách ruộng đất đă chuyển toàn bộ quan điền, quan trại thành ruộng công làng xă cho dân canh tác. Ruộng quan ở B́nh Định bị giải thể có lẽ do thuế đánh quá cao, không động viên được nhân dân sản xuất nên năng suất không cao. Do đó, loại ruộng này cùng ruộng đất tư nằm trong diện cải cách để chuyển thành ruộng công làng xă.
Thuế ruộng công làng xă và ruộng tư
Hai loại ruộng này mức đánh thuế ngang nhau:
- Ruộng hạng nhất: đóng 40 thăng thóc.
- Ruộng hạng hai: đóng 30 thăng thóc.
- Ruộng hạng ba: đóng 20 thăng thóc.
- Riêng những ruộng 1 vụ (vụ thu): đóng 10 thăng thóc.3
- Về ruộng muối: mỗi mẫu nộp thuế bằng muối từ 6 phương đến 10 phương. Nếu không nộp muối, nộp tiền thay là 3 tiền đến 4 tiền 30 đồng.4
Thuế đất công, đất tư ở B́nh Định
Các loại đất trên được quy định như sau:
Mỗi mẫu mỗi năm đất công, đất tư nộp 1 quan 1 tiền; đất trồng dâu 1 quan 1 tiền; đất vườn trồng cau nộp tiền từ 2 quan 2 tiền đến 3 quan. Đất vườn nộp 2 quan, tiền lúa cánh 2 tiền; hạng loại 2 nộp 1 quan, tiền lúa cánh 1 tiền. Đất trồng mía mỗi mẫu nộp 10 thăng thóc.1
c. Thuế đầm, nguồn
Tỉnh B́nh Định có nhiều tài nguyên về đầm và đầu nguồn để cho dân lănh trưng khai thác và đóng thuế.
- Thuế đầm
Cả tỉnh có 19 cơ sở, hàng năm thu thuế khoảng 8.000 quan. Năm thuế đóng ít nhất là năm 1823 có 7.673 quan 4 tiền 50 đồng. Năm thu nhiều nhất là năm 1840 có 9.143 quan 8 tiền 54 đồng. Đầm Nha Phiên Hải Đông (Thị Nại) hàng năm đóng thuế cao nhất từ 1.300 quan đến hơn 1.700 quan.
- Thuế nguồn
B́nh Định có 15 sở đầu nguồn và 1 trại điệp. Năm 1823, thuế nộp là 4.306 quan, sáp vàng 434 quan 1 cân tiền, mật ong trắng 8 cân, gỗ phong đăng 600 cây. Có năm thuế thu cao hơn như năm 1820, nhưng có năm lại thu ít hơn như năm 1827 v́ một số nguồn không có lănh trưng, hoặc lănh trưng với mức giá thấp hơn.
d. Thuế sản vật
Thuế sản vật c̣n gọi là thuế biệt nạp, là vật phẩm do người thợ thủ công sản xuất nộp thuế cho Nhà nước. Người nộp thuế sản vật thường cao hơn thuế thân nhưng được miễn sưu dịch, binh lính. Thuế biệt nạp có thể thay sản vật khác hoặc nộp bằng tiền thay sản vật.
Năm 1799, sau khi lập dinh B́nh Định, Nguyễn Ánh quy định thuế sản vật hàng năm cho mỗi người thợ như sau:
- Thợ dệt: Trừu nam mỗi tấm dài 30 thước, rộng 7 tấc. Lĩnh thâm, bát ty, nhiễu trắng, sa trắng th́ nộp thay bằng trừu nam 1 tấm; vải trắng: 4 tấm.
- Các nghề khác: Nghề sắt nộp 150 cân/thợ; dầu rái: 6 ṿ. Nến trám hạng lớn nửa cây, hạng nhỏ 50 cây, dầu lạc:90 cân, thảm cói: 4 đôi, chiếu trơn: 4 đôi. Thuế sai dư mỗi người nộp 3 quan.2
Năm 1805, thuế sản vật như nón lá dứa và cỏ gai ở B́nh Định được nộp thay bằng vải, mỗi người 2 tấm.
Năm 1822, thuế mới được nộp thay bằng tiền. Mỗi phương muối nộp thay là 2 tiền 30 đồng. Ở B́nh Định có 318 nơi nộp thuế cây xích đằng. Mỗi nơi nộp thuế là 488 khúc rưỡi, mỗi khúc dài 5 thước, chu vi 1 thước 2 tấc.1
- Thuế yến hộ
Năm 1824, lập yến hộ gồm có 30 người khai thác yến, hàng năm nộp 19 cân 8 lạng.2
Năm 1834, triều đ́nh lại quy định mỗi người khai thác yến hàng năm nộp 10 lạng.3
- Thuế hộ khai thác trầm hương
Năm 1802, Gia Long quy định: "Cho ấp Thủ Hương, phủ Quy Nhơn nộp thuế sản vật, mỗi người nộp 3 lạng, nếu năm nào không có kỳ nam th́ nộp trầm hương là 1 cân. Năm 1803 lại quy định: Đội lấy hương ở dinh B́nh Định, mỗi năm mỗi người nộp trầm hương loại cực tốt 1 cân4.
Năm 1810, triều đ́nh lại quy định cụ thể hơn về việc này: "Số dân ấp Thủ Hương theo cũ phải nộp thuế thân, dây xâu tiền và phải chịu ra lính theo ngạch, c̣n dao dịch tạp vụ đều được miễn; thường năm cử tráng, quân, dân 3 hạng mỗi người nộp kỳ nam 1 lạng 5 tiền. Nếu năm nào t́m kiếm không được hoặc không đủ mỗi người phải nộp thay bằng trầm hương cực tốt là 8 lạng. C̣n dân đinh, lăo, tật đều chịu một nửa.5
- Thuế thương nghiệp.
Năm 1812, triều Nguyễn quy định đánh thuế hóa hạng bằng 1/40 giá bán. Ngoài ra c̣n đánh thuế qua bến đ̣, tuần, chợ đánh theo số gánh hàng, đầu thuyền; hoặc cân, lạng.6
Thuyền buôn người nước ngoài cập bến cảng Quy Nhơn đánh thuế theo xuất xứ các tàu xuất phát từ các bến cảng để vào nước ta. Thuế tàu nhập cảng Quy Nhơn giảm 2/10 so với tàu nhập cảng ở Gia Định. Sau đó lại điều chỉnh mức thuế c̣n tuỳ theo kích thước của từng chiếc thuyền buôn.
Qua những cứ liệu trên, ta thấy chế độ thuế khoá của triều Nguyễn c̣n quá nặng nề đối với nhân dân trong các ngành sản xuất và lưu thông buôn bán, cùng với thuế đinh cổ sơ là một gánh nặng đối với mọi tầng lớp nhân dân.
2 Nguyễn Đ́nh Đầu, Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn, tỉnh B́nh Định, tập 1, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 147-161.
1 ĐNTL, tập XXI, sđd, tr. 148-150.
1 Ruộng nhà nước (quan điền) tức quốc gia công điền, khác với công điền tức công dân điền.
2 ĐNTL, sđd, tập XXI, tr. 261.
3 ĐNTL, sđd, tập XXI, tr. 265.
4 ĐNTL, sđd, tập XXII, KHXH, 1969, tr. 160-161.
1 ĐNTL, sđd, tập XXII, KHXH, 1969, tr. 305.
1 ĐNTL, sđd, tập XXII, KHXH, 1969, tr. 306.
2 ĐNTL, Đệ tam kỷ, tập XXIII, KHXH, 1970, sđd, tr. 107.
3 ĐNTL, Đệ tứ kỷ, tập XXVII, KHXH, HN, 1973, sđd, tr. 333-334.
1 ĐNTL, Đệ tứ kỷ, tập XXVII, KHXH, HN ,1973, sđd, tr. 336.
1 ĐNTL, Đệ nhị kỷ, tập III, sđd, tr. 16.
2 ĐNTL, tập V, sđd, tr. 319.
3 ĐNTL, tập VII, sđd, tr. 14.
4 Châu bản Triều Nguyễn- thời Minh Mạng (CBTN) năm thứ 7 (1826), bản tâu của Trấn thần B́nh Định ngày 24 tháng 11. tập 20, tr. 110-111.
5 Châu bản Triều Nguyễn- thời Tự Đức (CBTN) năm thứ 1 (1848), bản tâu của Tổng đốc B́nh Phú ngày 7 tháng 8. tập 5, tr. 193-195.
1 ĐNTL. Đệ nhị kỷ, tập XI, sđd, tr. 57.
2 ĐNTL. tập III, sđd, tr.178.
3 CBTN, triều Gia Long, năm thứ 4, Mục lục, Đại học Huế, 1960.
1 ĐNTL. tập VI, sđd, tr. 38
1 Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu (chủ biên), Lịch sử Thành phố Quy Nhơn, Thuận Hoá, 1988, tr. 186.
2 Borri, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochi- chine, B.A.V.H, 1931, tr. 297.
3 Lê Quư Đôn, Phủ biên tạp lục, KHXH, HN, 1964, tr. 119-120.
4 ĐNHĐSL. tập IV, sđd, tr. 343-344.
5 ĐNTL. tập VIII, sđd, tr. 98.
6 ĐNHĐSL. tập IV, sđd, tr. 345.
1 ĐNTL, sđd, tập IV, tr. 60.
2 ĐNNTC, sđd, tập III, tr. 42.
1 Châu bản Triều Nguyễn, triều Minh Mạng, Minh Mạng năm thứ 7, tập 20b, tờ 202, Mục lục tr. 4.
2 Ở thời điểm 15 tháng 3 Minh Mạng thứ 7 (1826) theo báo cáo của trấn thủ B́nh Định, giá gạo các chợ trong trấn th́ 1 phương (vuông) là 1 quan 3 tiền. (1 phương = 38.133 lít gạo).
3 Châu bản Triều Nguyễn, triều Minh Mạng, tập 65b, tờ 202, Mục lục tr. 107.
4, 5 Châu bản Triều Nguyễn, triều Minh Mạng, ngày 27.5 Minh Mạng 21 (1840) tập 76, tr. 233-235.
1 ĐNTLCB, Đệ nhị kỷ, KHXH, Hà Nội, 1963, tập 15, tr. 109.
2 Minh Mạng chính yếu, tập III, Thuận Hoá, 1994, tr. 407.
3 Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu (chủ biên), Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 179.
1 ĐNTL, sđd, tập II, tr. 337.
1 ĐNTL, sđd, tập VIII, tr. 86-87.
2 Nguyễn Đ́nh Đầu, sđd, tập I, tr. 156.
3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 51-52.
4 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 52.
1 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 52.
2 ĐNTL, sđd, tập II, tr. 337.
1 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 338.
2 ĐNTL, sđd, tập VII, tr. 93.
3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 345.
4 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 347.
5 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 348.
6 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 450.