I. TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ CAI TRỊ CỦA TRIỀU NGUYỄN Ở BÌNH ĐỊNH

 

      1. Giai đoạn 1802-1831

           Tháng 4 năm 1802, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành đưa quân chiếm lại thành Bình Định. Gia Long lại bắt đầu đặt bộ máy cai trị ở dinh Bình Định: "Lấy Khâm sai thống binh cai cơ đạo hưng phúc là Lê Văn Lân làm Lưu thủ Bình Định, cải bổ cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Văn Khiêm làm cai bạ Bình Định, cai bạ Quảng Trị là Ngô Triều Cao làm ký lục Bình Định".1 Gia Long ra dụ cho các quan chức mới đến trấn nhậm ở Bình Định rằng: "Đất này trải qua binh cách đã lâu, sức dân hao mòn, bọn người nên tuyên dương đức ý, ra sức vỗ về khiến cho kẻ ốm lâu ấy được hồi lại nghỉ ngơi mới khỏi phụ sự  ủy thác".2

Gia Long cho lập trấn Quy Nhơn phụ trách kiêm lênh 2 dinh Quảng Ngãi v Phú Yên; cử Nguyễn Hoàng Đức làm Án trấn, Nguyễn Hoài Quỳnh làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Hiếu làm Phó tướng Hữu quân phụ trách quân sự của trấn.3

Tháng 6 năm 1802, Gia Long cho bổ tri huyện 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn.4 Lấy Khâm sai cai cơ Phạm Văn Nhân làm thủ ngự hai nguồn Thạch Bàn và Quy Hóa (nay thuộc vng An Lo), đặt đồn bảo để trấn áp các dân tộc ở miền núi Bình Định.5

Tháng 11 năm 1802, điều Lê Văn Lân về Kinh, lấy Khâm sai cai cơ Mai Tiến Huệ làm Lưu thủ Bình Định. Tháng 3 năm 1803, Gia Long sai Phó đô thống chế dinh tả thuỷ là Đào Văn Lương đốc suất binh dân đến đầm Thị Nại để trục vớt lặn tìm lên được 160 cỗ súng và hơn 500 hòn đạn của quân đội Tây Sơn bị chìm trong chiến trận năm 1801 đưa về Kinh đô.1 Có thể trong một số súng trang bị, phòng thủ cho quân đội nhà Nguyễn  ở  Kinh thành Huế có cả đại bác của Tây Sơn sau đợt trục vớt này.  

Tháng 6 năm 1803, triều đình cử ký lục Quảng Nam là Hoàng Văn Diễn làm cai bạ Bình Định thay Nguyễn Văn Khiêm.

Tháng 1 năm 1805 bắt đầu đặt chức Đốc học ở trấn Quy Nhơn, bổ Đặng Đức Huy phụ trách và kiêm việc khảo khoá sĩ tử 2 dinh Quảng Ngãi và Phú Yên.2

Năm 1807, Gia Long định cho quan Khâm sai Án trấn Quy Nhơn giao lĩnh dinh Bình hoà, phân công việc dinh Bình hoà chuyển lên quan Khâm sai Án trấn Quy Nhơn hiệu lý.3

Năm 1809, đổi dinh Bình Định làm trấn Bình Định, ban Ấn đồng "Bình Định trấn chi chương".

Qua những sự việc trên, chúng ta thấy vào đầu triều Gia Long, trấn Quy Nhơn với chức quan Khâm sai Án trấn, đại diện triều đình Huế kiêm lênh các dinh Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình hoà.

Tháng 8 năm 1810, Gia Long cho xây dựng trấn thành Bình Định ở Tân An thuộc huyện Tuy Viễn. Quan trấn điều 17.500 người để làm, chia làm 2 ban, 10 ngày thay phiên một lần. Ruộng đất của dân làng bị xâm phạm, vua sai cấp 4/10 giá tiền.4 Theo Đại Nam nhất thống chíĐại Nam hội điển sự lệ, thành có chu vi 603 trượng 8 thước, cao 1 trượng 1 thước, mở 3 cửa, một kỳ đài, hào rộng hơn 7 trượng, sâu 6 thước, 8 tấc, ở địa phận hai thôn Kim Châu và An Nghĩa. Năm 1815, thành đắp bằng đất, năm 1817, thì xây đá ong.5 Đại Nam thực lục ghi rằng: "Tháng 6 năm 1815, cho đắp thành đất trấn thành Bình Định, hạ lệnh hoãn đòi lính 3 tháng. Tháng 9 do mưa lụt, trấn thành cho hoãn việc xây thành, dân được về nghỉ".

 Thành Bình Định hiện thuộc thôn An Định, trên đường Trần Thị Kỷ từ huyện An Nhơn đi dọc theo hướng tây nam. Nay thành chỉ còn lại dấu tích : nhiều đoạn bờ thành, cột cờ bằng bê tông, xung quanh có hào thành bao bọc.

Thời Nguyễn, thành Bình Định là nơi giam cầm, tra tấn những người theo Tây Sơn, dòng họ Tây Sơn và những người chống lại nhà Nguyễn. Trong thành có vạc dầu lớn để xử  những người chống lại chế độ.  Nhiều người bị chết oan nên ở khu vực thành rất linh thiêng.1

Năm 1811, triều đình Huế thay thế toàn bộ quan chức cai trị đầu trấn Bình Định, điều lãnh trấn thủ Bình Định là Lương Văn Hộc về Kinh, đưa Vệ uý  thị trung Hoàng Công Lý thay, điều cai bạ Nguyễn Văn Diên và ký lục Ngô Đình Giới về Kinh, lấy Tăng Địch và Trần Văn Tính thay thế.2

Năm 1814, Hoa Kiều ở Bình Định có 30 người được lập thành nhóm Đại Minh.3

Tháng 1 năm 1814, Triều đình bổ  Võ Xuân Cẩn - Tham  hiệp Sơn Tây  làm  Cai bạ Bình Định.

Tháng 9 năm 1819, Triều Nguyễn đổi tên ấp Tây Sơn ở Bình Định làm ấp An Tây4, cho Nguyễn Văn Tứ - nguyên Khâm sai Chưởng cơ Vệ uý vệ thiện hữu quân, quê ở ấp Tây Sơn (An Tây) được nghỉ hưu từ năm 1809 nay cho lãnh quản thủ nguồn Cầu Bông và được ăn lộc trọn đời vì nhà ông ở gần đấy.5

Tháng 3 năm 1820, Trấn thủ Bình Định là Phạm Văn Quỳnh nghỉ hưu lấy Trương Phúc Đặng thay. Đặng xin mộ đội thuộc binh 20 người, gọi là đội Kiên định; vua Minh Mạng đồng ý.6   

Tháng 7 năm 1820, Triều đình điều cai bạ Bình Định là Võ Xuân Cẩn về Kinh, lấy cai bạ Phú Yên là Hoàng Văn Quyền thay. Khi điều Võ Xuân Cẩn ra làm ký lục Quảng Trị, vua Minh Mạng bảo rằng: "Ngươi ở Bình Định 8 năm, chính sự mau chóng, trẫm vẫn để ý chọn. Mới rồi triệu về vẫn muốn bổ cho ở Kinh nhưng dinh Quảng Trị đã điêu hao lắm, phiền ngươi vì trẫm mà vỗ về".7

Như vậy, Minh Mạng đánh giá rất cao năng lực thực tiễn của Võ Xuân Cẩn sau gần 7 năm làm  cai bạ ở Bình Định.1

Tháng 12 năm 1825, triều đình điều Nguyễn Đăng Huyên lãnh trấn thủ Bình Định làm Thự thống chế dinh Hổ Oai, lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Trọng làm trấn thủ Bình Định.

Năm 1826, vua Minh Mạng phê chuẩn cho trấn Bình Định được đặt thêm chức Ngoại uỷ phó tổng ở hai thuộc Nhơn Ân và An Nghĩa thuộc huyện Tuy Viễn và Hạ tổng thuộc huyện Phù Ly.

Năm 1828, quan trấn Bình Định lại đề nghị cải cách cấp tổng ở Bình Định. Đó là đặt các chức tổng mục để giúp việc cho cai tổng. Các tổng trong trấn được đặt các quan chức phụ trách như sau: Hai tổng Bình Viễn, Tuy Hà thuộc huyện Tuy Viễn; hai tổng Định Sơn, Trừng Hà thuộc huyện Bồng Sơn. Hai tổng Bình Lý, Phù  Hà thuộc huyện Phù Ly, cứ 2 tổng đặt 1 cai tổng. Tổng Mỹ Thuận thuộc huyện Tuy Viễn; 3 tổng Thượng, Trung, Hạ thuộc huyện Bồng Sơn đất rộng người nhiều, mỗi tổng đặt một cai tổng, 1 phó tổng ngoại uỷ.2

Năm 1828, bổ nhiệm các quan chức ở trấn Bình Định:

Nguyễn Công Tiệp là Hiệp trấn Bình Định.

Hoàng Văn Quyền làm Thự hiệp trấn.

Trần Lâm làm Thự đốc học Bình Định.

Năm 1831, bổ nhiệm viên ngoại lang bộ Hộ là Nguyễn Xuân Tháp làm Đốc học Bình Định. Tháng 12 năm 1831, đổi phủ Quy Nhơn làm phủ Hoài Nhơn; thăng Tham hiệp Bình Định là Trinh Đường lên Thự hiệp trấn; lấy Thự lang trung bộ Công là Tôn Thọ Đức làm Tham hiệp trấn Bình Định.3

Từ Kinh đô thời Thái Đức, Bình Định là một vùng đất căn bản của Tây Sơn thời vua Cảnh Thịnh; đầu thời Nguyễn, Bình Định vẫn là một trọng trấn đối với các địa phương ở phía nam Kinh thành được thể hiện trong việc bổ nhiệm quan Khâm sai của Triều đình trấn nhậm kiêm lý các dinh, trấn Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình hoà (Khánh hoà hiện nay) và trong việc xây dựng trấn thành, các cơ quan giáo dục, thi cử được triển khai sớm và có quy mô lớn ở Bình Định.

          2. Giai đoạn 1832 - 1884

Từ năm 1832, Bình Định trở thành một đơn vị cấp tỉnh trực thuộc triều đình Huế như các tỉnh khác trên toàn quốc. Do đó, tổ chức hành chính và cai trị ở giai đoạn này cũng có thay đổi so với giai đoạn trước đó.

Trước năm 1832, Gia Định thành với chức tổng trấn coi 5 trấn ở miền Nam; còn trấn Quy Nhơn được thành lập từ năm 1802 coi các dinh (trấn) ở Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình hoà với các chức trấn thủ, hiệp trấn, tham hiệp... nay bãi bỏ để lập các tỉnh trực thuộc chính quyền Trung ương.

Với việc cải cách hành chính này, kể từ tháng 11 năm 1832, Bình Định được lập tỉnh. Tỉnh Bình Định có 2 phủ là An NhơnHoài Nhơn. Cả tỉnh có 5 huyện. Huyện Phù Ly nay chia làm 2 huyện: Phù Cát, Phù Mỹ; huyện Tuy Viễn chia làm 2 huyện: Tuy Viễn và Tuy Phước. Như vậy Phủ An Nhơn có 2 huyện: Tuy ViễnTuy Phước; Phủ Hoài Nhơn có 3 huyện: Phù Cát, Phù MỹBồng Sơn.1

Hai tỉnh Bình Định và Phú Yên đứng đầu liên tỉnh là chức tổng đốc, quan tổng đốc Bình Phú kiêm tuần phủ đóng tại Bình Định.2

Triều đình Huế lấy Đoàn Văn Trường - nguyên tổng đốc Thanh Hoa bổ  làm Tổng đốc Bình Phú; Nguyễn Tử Cư -Thự lang trung bộ Binh hiệp lý Binh tào Gia Định làm Thự án sát Bình Định. Vệ uý Lê Sách - trấn thủ Định Tường, trật Chánh tam phẩm sung Lãnh binh quan Bình Định. Phó vệ uý Nguyễn Thọ Tuấn -trật tòng tam phẩm sung Phó lãnh binh tỉnh Bình Định.3

Tháng 4 năm Quý Dậu (1833), điều Thự lang trung bộ Lại là Phạm Thế Trung làm Thự án sát Bình Định.

Tháng 7 năm Quý Dậu (1833), lấy Hữu thị lang bộ Lại là Đặng Đức Thiệm làm quyền lãnh Bố chính Bình Định.

Tháng 9 năm Quý Dậu (1833), lấy Phó vệ uý Nguyễn Văn Tốn làm Phó lãnh binh Bình Định thay Nguyễn Thọ Tuấn chuyển đổi làm Phó lãnh binh Hải Dương; lấy Võ Xuân Cẩn làm tổng đốc Bình Phú thay Đoàn Văn Trường. Cuối năm 1833, Võ Xuân Cẩn tâu với triều đình: "Sở Trường Tân nguồn Trà Bình thuộc tỉnh Bình Định trước lập đồn Ly Khê lấy 10 người dân đều thuộc 2 ấp Vạn Đức và Đông Thắng ở sở tại, phòng giữ bọn sơn man. Vả, nơi ấy rất xung yếu, xin điều 49 người dân ấp Vĩnh Đức gần đấy chia ban thay đổi canh giữ. Xứ Hợp Khâu ấp Vạn Đức cũng là chỗ xung yếu đặt thêm 1 đồn, rút dân ở 2 ấp Vạn Đức và Đông Thắng trước giữ đồn Ly Khê nay về giữ đồn ấy...". Vua Minh Mạng  đã chuẩn y lời đề nghị đó.1

Tháng 5 năm Gip Tuất (1834), triều đình thăng Võ Xuân Cẩn lên Thự hiệp biện Đại học sĩ, vẫn lãnh chức Tổng đốc Bình Phú.

Kể từ tháng 6 năm Gip Tuất (1834), triều đình đặt tên các miền về hai phía của Kinh đô Huế: Quảng Nam, Quảng Ngãi là Nam trực; Quảng Trị, Quảng Bình là Bắc trực; từ Bình Định đến Bình Thuận là Tả kỳ; từ Hà Tĩnh đến Thanh Hoa là Hữu kỳ; Biên Hoà đến Hà Tiên là Nam kỳ; Ninh Bình đến Lạng Sơn là Bắc kỳ. Vậy Bình Định là tỉnh ở tuyến đầu của Tả kỳ trong hệ quy chiếu của Kinh đô.

Tháng 7 năm Gip Tuất (1834), triều đình lấy dân ven biển và dân ngoại tịch ở tỉnh lập 10 đội thuỷ vệ Bình Định.

Võ Xuân Cẩn được sung Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh tổng đốc Bình Phú; Trần Xác làm án sát Bình Định.

Đầu năm Ất Hợi (1835), Võ Xuân Cẩn được gia hàm Thái tử Thiếu bảo. Vua Minh Mạng ra dụ: "Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn từ khi nhậm chức tới nay thì Nam kỳ luôn năm có việc. Địa hạt y trấn nhậm ở ngay khoảng đường trung độ, việc gọi lính và tải lương rất bận rộn, thế mà mọi việc đều được chu đáo. Trước đã thăng Thụ hiệp biện Đại học sĩ, nay đặc cách gia hàm Thái tử Thiếu bảo và lại gia một cấp trác dị nữa".2 (Cấp trác dị là một thứ cấp kỷ đặc biệt để ban cho những người có công lao ưu việt hoặc người có đặc ân lớn).

Tháng 8 năm Ất Hợi (1835), Nguyễn Văn Tốn được thăng làm Thự lãnh binh Bình Định, Phạm Thế Trung làm bố chánh Bình Định.

Đầu năm 1836, để bảo vệ tỉnh thành, Bình Định được triều đình Huế cấp 1 cỗ tướng quân cương pháo, 15 cỗ hồng y cương pháo, 4 cỗ phách sơn cương pháo, 16 cỗ quá sơn đồng pháo, tất cả là 36 cỗ.3

Tháng 3 năm Bính Tí (1836), triều đình Huế điều án sát Quảng Trị là Hồ Đăng Khoa làm án sát Bình Định.

          Tháng 4 năm Đinh Sửu (1837), triều đình Huế lấy Thự án sát Phú Yên là Vũ Thế Trường làm Thự án sát Bình Định thay Hồ Đăng Khoa. Tháng 6 năm 1837, lấy Lang trung bộ Hộ biện lý Bộ vụ là Nguyễn Song Thanh thăng Thự Bố chánh Bình Định.

          Tháng 4 năm Mậu Dần (1838), vua Minh Mạng cho đặt Quốc hiệu Đại Nam.1

          Tháng 4 năm 1839, Võ Xuân Cẩn về  Kinh nhậm chức Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Hình kiêm quản Viện đô sát. Cử tuần phủ Thuận -Khánh Tôn Thất Lương thăng Thự tổng đốc Bình Phú.2

          Tháng 7 năm Kỷ Hợi( 1839), V Xun Cẩn v Dỗn Ửng nhận lệnh đi Bình Định thực hiện php qun điền.

          Tháng 12 năm 1839, n sát Bình Định là Vũ Thế Trường dung túng cho người nhà ăn hối lộ, tang vật đến hơn 100 lạng bạc. Thự tổng đốc là Tôn Thất Lương hạch hỏi, Trường nhận tội. Vua Minh Mạng ra lệnh cách chức, bổ Lang trung vũ khố là Phạm Quỹ làm án sát Bình Định.3

          Tháng 3 năm Canh Tí (1840), triều đình bổ Phó vệ uý Vệ hậu doanh Hùng nhuệ là Nguyễn Duy Tráng thăng Thự phó lãnh binh Bình Định thay Nguyễn Hữu Chính được thăng bổ lãnh binh Bắc Ninh.

          Tháng 8 năm Canh Tí (1840), triều đình cho xây dựng pháo đài Hổ cơ (ky) và bảo vệ Thị Nại ở tỉnh Bình Định.

Vua Minh Mạng cho rằng, cửa biển Thị Nại nước sâu, núi cao thuyền tàu đi lại thường hay cập bến. Đó cũng là chỗ địa đầu xung yếu. Vua phái Ty bộ Công và vệ Giám thành mỗi bên một người đi hội với quan tỉnh xem hình thế  đất ấy. Vua quyết định cho lập một pháo đài ở xứ Hổ cơ, gọi là pháo đài Hổ cơ. Lại đặt một bảo đắp luỹ đất ở gò cát đối ngạn với pháo đài, gọi là bảo Thị Nại (nay là Bãi Nhạn) nhằm ứng phó cho nhau. Để xây dựng công sự quan trọng này, chính quyền tỉnh đã phải điều động đến trên 500 dân phu ở trong tỉnh.

          Xứ Hổ cơ ở phía đông nam đồn, gần cửa biển; trên có núi cao hơn 7 trượng, có thể trông xa ra ngoài biển. Pháo đài xây hình tròn, chu vi 27 trượng; thân đài cao 5 thước 4 tấc; 3 mặt: đằng trước, bên tả, bên hữu đều có xây bậc đá, chia đặt 10  cỗ súng gang hồng y, 2 cỗ súng gang phách sơn, 6 cỗ súng đồng quá sơn. Mặt sau làm cửa đài, phía trước đài  xây cột cờ, bên tả đặt kho thuốc súng, bên hữu làm trại lính.4

          Bảo Thị Nại nằm ở gò cát phía tây đồn cửa biển, đối diện với xứ Hổ cơ, cách nhau hơn 280 trượng, bảo đắp hình dài, bề ngang 10 trượng, bề rộng 7 trượng 2 thước, thân luỹ cao 6 thước 3 tấc. Mặt trước xây bậc để súng, đặt súng gang hồng y, súng gang phách sơn mỗi thứ 2 cỗ, 2 cỗ súng đồng quá sơn. Mặt sau làm cửa bảo; quãng giữa bảo làm một trại lính. Chỗ gần bảo làm một cái nhà vuông cho viên coi đồn ở. Khi xây bảo xong, phái một suất đội gồm 30 biền binh của tỉnh Bình Định sung làm thủ hộ pháo đài và giữ  bảo ấy. Lại chế cờ phát cho để treo làm hiệu lệnh. Cờ vải vàng 3 lá, dài 6 thước. Cờ đỏ, cờ gấm đỏ trắng, cờ gấm lam trắng mỗi thứ 1 lá theo mẫu cờ của pháo đài Phòng hải; còn cờ vàng thì gặp ngày khánh tiết và Sóc, Vọng (rằm và mồng một)), ngày thường chiếu lệ thay đổi mà treo các cờ khác. Khi thấy ngoài biển xa có thuyền giống như thuyền nhiều dây buồm mà chưa biết rõ là thuyền trong nước hay thuyền nước ngoài; nếu chỉ một, hai chiếc thì treo hiệu màu đỏ; nếu 3, 4 chiếc trở lên thì treo cờ gấm đỏ trắng. Đến khi hiểu rõ thuyền công của Nhà nước thì lập tức hạ cờ treo trước xuống và treo cờ vàng lên. Nếu là thuyền ngoại quốc thì cũng hạ cờ đã treo trước xuống và treo cờ gấm lam trắng lên. Người coi đồn Thị Nại thấy trên đài treo cờ gì lập tức báo ngay cho tỉnh để phòng  bị, ngăn chặn sự cố.1

          Tháng 10 năm 1840, bổ Nguyễn Lương Nhàn làm Thự phó lãnh binh Bình Định thay Nguyễn Duy Tráng.2

          Tháng 2 năm 1841, vua Thiệu Trị bổ nhiệm Đặng Huy Thuật làm án sát sứ  tỉnh Bình Định; Phạm Huy Thục làm Thự đốc học tỉnh.

          Tháng 5 năm 1843, thể theo lời tâu của bộ Hộ, triều đình Huế cho phép Hoa kiều ở Bình Định đăng vào hộ tịch sổ hàng Bang. Số dân Hoa kiều này gồm có 7 bang và đặt một thuộc trưởng phụ trách, cấp cho 1 triện gỗ. Còn con cháu của họ cứ đến 18 tuổi lại đăng ký vào sổ đăng Minh hương. Trước đây có 72 người mạo nhận  hàng Bang nay đăng vào sổ Minh hương cùng số dân nguyên ngạch là 280 người vốn đã có từ trước.3

          Tháng 5 năm 1847, theo lời tâu của quan tỉnh Bình Định, huyện Bồng Sơn có số đinh và dân rất đông. Số đinh hơn 11.200 người, số điền hơn 20.900 mẫu, xin chia làm hai huyện Bồng Sơn và Bồng Đảo nhưng triều đình khơng chấp thuận.4

          Tháng 3 năm Đinh Mo (1867), dưới triều Tự Đức đã cho mở thêm hai trường thi võ ở Hà Nội và Bình Định. Trường Bình Định thí sinh tuyển từ các tỉnh Quảng Ngãi đến Bình Thuận; lấy năm Đinh Mão (1867) làm khoa thi đầu tiên.1

          Vào  cuối năm  1868, vua Tự Đức quy định về đội ngũ viên chức làm việc ở các cơ quan của tỉnh Bình Định tinh giảm như sau:

          1. Cơ quan trực thuộc tỉnh:

- Ty Phiên: Thông phán, Kinh lịch: mỗi chức 1 người; Bát phẩm: 3 người; Cửu phẩm: 5 người; Vị nhập lưu: 27 người.

- Ty Niết: Thông phán, bát, cửu phẩm mỗi chức 2 người; Vị nhập lưu: 17 người.

     - Ty Chiêm Hậu: Chiêm hậu: 1 người, Vị nhập lưu: 2 người.

- Ty Lương Y: Y sinh: 1 người, Y thuộc: 6 người, Tự thừa: 1 người; Lễ sinh:10 người.

2. Các phủ, huyện tuỳ theo nơi nhiều và ít việc:

- Phủ Hoài Nhơn: Lại mục: 1 người; Thông lại 5 người.

- Phủ An Nhơn: Lại mục: 1 người; Thông lại 4 người.

Các huyện: Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ mỗi huyện 1 lại mục, 3 thông lại, cộng tất cả 130 viên quan.2

Năm 1870, vua Tự Đức phê chuẩn cho tỉnh Bình Định lập nha Doanh điền ở An Khê, mộ dân khai hoang lập ấp. Đặng Duy Hanh được giữ chức An Khê doanh điền sự vụ.3

Để tăng cường phòng hộ giữ vững an ninh cũng như khai khẩn vùng núi biên giới, năm 1875, vua Tự Đức bắt đầu cho lập sơn phòng ở Bình Định và các tỉnh miền Trung khác. Quan phụ trách sơn phòng các tỉnh thường chọn quan từ cấp hàm nhị phẩm, tam phẩm phụ trách, tức tương đương quan đứng đầu các bộ, các  tỉnh.

Nhưng vấn đề mâu thuẫn nội bộ, sự đố kỵ trong đội ngũ quan chức đầu tỉnh thường diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Năm 1852, Khâm sai Đại thần Đặng Văn Thiêm được vua Tự Đức cử đi thanh tra vấn đề nội bộ quan chức ở tỉnh Bình Định đã về tâu với nhà vua: "Hộ đốc Vương Hữu Quang thiên vị, cố chấp; Án sát Nguyễn Hữu Thành khách khí nên hay xích mích; còn Bố chính Nguyễn Thu thì ba phải... "vua Tự Đức quyết định giáng 4 cấp đối với Hữu Quang và Hữu Thành; giáng 3 cấp đối với Nguyễn Thu. Nguyễn Hữu Thành và Nguyễn Thu bị đổi bổ đi tỉnh khác.1

Dưới triều Nguyễn, Bình Định là một trọng trấn ở phía nam Kinh thành. Điều đó được thể  hiện trong tổ chức hành chính và cai trị; chế độ quan lại và phòng vệ ở miền núi và vùng biển; tổ chức giáo dục, thi cử văn lẫn võ cho cả khu vực của các tỉnh từ Quảng Ngãi trở vào Bình Thuận.

 



1 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 16.

2 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 16

3 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 25; ĐNNTC, sđd, tập III, KHXH. Hà Nội, 1971, tr. 8

4 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 26.

5 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 27.

1 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 83.

2 ĐNTL, sđd, tập III, tr. 109- 217.

3 ĐNHĐSL (Đại Nam hội điển sự lệ), Thuận Hoá, 1993, tập II, tr.133. Dinh Bình Phong năm 1808 làm trấn Bình hoà, nay là tỉnh Khánh Hoà.

4 ĐNTL, sđd, tập IV, tr. 77. Trong khi ĐNNTC cho rằng: Thành xây dựng năm Gia Long thứ 7 (1808), sđd, tr. 14; 1 trượng = 4m, 1 thước 394m.

5 ĐNNTC, sđd, tr. 14, ĐNHĐSL, tập 13, sđd, tr. 141.

1 Theo Nguyễn Tấn Thịnh (sinh năm 1925) thôn An Định, Nguyễn Thị Thuý Hằng (bảo tàng huyện An Nhơn) năm 2000,

2 ĐNTL, sđd, tập  IV, tr. 133, 134.

3 ĐNHĐSL, sđd, tập IV, tr. 304.

4 ĐNTL, sđd, tập IV, sđd, tr. 387.

5 ĐNTL, Đệ nhị kỷ, tập IV, sđd, tr. 340.

6 ĐNTL, sđd, tập V, sđd, tr. 71. ĐNTL, sđd, tập V, sđd, tr. 124

7 Đúng ra Võ Xuân Cẩn làm cai bạ ở Bình Định có 6 năm 7 tháng.

1 ĐNTL, Đệ nhị kỷ ,Tập IX,  KHXH, 1964,  sđd, tr. 37, 38.

2 Một số tổng nêu trong ĐNTL không có tên trong địa bạ Gia Long và Minh Mạng.

3 ĐNTL, Đệ nhị kỷ, sđd, tr. 387.

1 ĐNTL, sđd, tập XI, sđd, tr. 1202.

2 ĐNTL, tập II, sđd, tr. 134.

3 ĐNTL, tập XI, sđd, tr. 214-215.

1 ĐNTL, tập XIII, sđd, tr. 321.

2 ĐNTL, tập XVI, sđd, tr. 143.

3 ĐNTL, tập XVIII, sđd, tr. 18-19.

1 ĐNTL, tập XX, KHXH, 1968, sđd, tr. 65.

2 ĐNTL, tập  XXI, KHXH, 1969,  sđd, tr. 59.

3 ĐNTL, tập XXI,  sđd, tr. 65.

4 Nay ở mũi Phương Mai, gần tượng Trần Hưng Đạo vẫn còn dấu tích. Tài liệu ĐNNTC và ĐNHĐSL đều cho rằng pháo đài Hổ cơ chỉ có 1 cửa.

1 ĐNTL, tập 22, sđd, tr. 177-178.

2 ĐNNTC, sđd, tr. 39-40.

3 ĐNTL, Đệ tam kỷ, tập 24, KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 358.

4 ĐNTL, Đệ tam kỷ, tập 26, KHXH, Hà Nội, 1972, tr. 358

1 ĐNTL, Đệ tứ  kỷ, tập 31, KHXH. Hà Nội, 1974, tr. 113.

2 ĐNTL, Đệ tứ  kỷ, tập 31, KHXH. Hà Nội, 1974, tr. 145.

3 ĐNTL, Đệ tứ  kỷ, tập 32, KHXH. Hà Nội, 1975, tr.  40.

1 ĐNTL, Đệ tứ  kỷ, tập 27, KHXH. Hà Nội, 1973, tr. 330.