1. Đặc điểm tình hình
Nằm ở cực Bắc duyên hải Nam Trung Bộ, với dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy suốt từ Bắc vào Nam đến địa phận Bình Định hình thành nên một vòng cung lớn, ôm cả ba mặt Bắc, Tây, Nam và những vùng rừng núi bạt ngàn, nhiều dãy núi nhô ra sát tận chân biển, tạo nên bức tranh nước non hùng vĩ, hữu tình. Bình Định được xem là một tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nơi hội tụ các đầu mối giao thông chiến lược, bao gồm Quốc lộ số 1, tuyến đường sắt xuyên Việt đi qua và sân bay Phù Cát tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra Bắc vào Nam; có các dòng sông lớn như Lại Giang, La Tinh, Sông Côn, Hà Thanh,... chảy từ rừng ra biển, cùng với cụm cảng biển Quy Nhơn, Thị Nại và trục đường chiến lược số 19 nối liền vùng đồng bằng của tỉnh và các tỉnh duyên hải miền Trung với các tỉnh Tây Nguyên giàu có và thông thương với các nước trong khối ASEAN. Ngoài ra, Bình Định còn có mạng lưới giao thông nội tỉnh, liên huyện, liên xã khá thuận lợi, góp phần làm phong phú thêm điều kiện tự nhiên mà thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất trù phú này.
Suốt gần 30 năm chiến tranh ác liệt, hết thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ đã dội xuống vùng đất này hàng vạn tấn bom đạn và chất độc hóa học hòng hủy diệt sự sống của nhân dân. Chúng đã lập nên hệ thống sân bay, hải cảng, đồn bốt, kho tàng và sử dụng các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất nhằm biến Bình Định thành căn cứ quân sự mạnh và làm bàn đạp tấn công đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân trong vùng. Sau ngày giải phóng 31 tháng 3 năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Bình Định đã bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, tạo dựng cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội mới trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn mọi bề do hậu quả của chiến tranh để lại và thiên tai liên tiếp xảy ra.
Xuất phát từ một tỉnh nghèo, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều yếu kém, lạc hậu, mang nặng tính thuần nông, tự cung tự cấp. Ngay sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, nhân dân Bình Định đã có nhiều biện pháp tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp, song do chưa thoát ra khỏi tình trạng yếu kém về lực lượng sản xuất, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, hệ thống thủy lợi chưa kịp đầu tư xây dựng, nông cụ chưa được cải tiến, hợp tác và phân công lao động chưa hợp lý,... cho nên, tình hình sản xuất nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của đời sống xã hội, nhất là nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân. Vì vậy, để vượt qua “cửa ải lương thực”, lo cho đủ “cái ăn” của xã hội đã trở thành nỗi trăn trở của Đảng bộ và nhân dân Bình Định trong những năm đầu sau giải phóng.
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Các cơ sở sản xuất đều nhỏ bé, què quặt, một số cơ sở tồn tại sau năm 1975 như nhà máy điện diezel đặt tại thành phố Quy Nhơn với công suất 13.000KW, nhưng máy móc, trang thiết bị đều quá cũ kỹ, lạc hậu, công suất phát điện chỉ đạt 50% thiết kế, lại vận hành trong tình trạng thiếu xăng dầu, nên nguồn điện năng chỉ đáp ứng một phần cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân theo lịch trình phân phối. Một số cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp khác phần lớn thuộc sở hữu tư nhân, manh mún, nhỏ bé, sản phẩm làm ra như mành trúc, mặt mây, sơ chế nông, thủy sản mang nặng tính tự cung tự cấp, tiêu thụ nội địa, nguồn vốn, kỹ thuật và nguyên liệu để duy trì sản xuất thường bị thiếu hụt, trong khi tài nguyên, khoáng sản vốn có ở địa phương không thiếu, nhưng do thiếu nguồn vốn và kỹ thuật khai thác nên phần lớn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất đều phải nhập từ các địa phương khác.
Về cơ sở hạ tầng, trong suốt 30 năm chiến tranh, Bình Định được coi là một trong những chiến trường ác liệt nhất, là trọng điểm “bình định” của Mỹ-ngụy. Vì vậy, chúng chủ yếu tập trung xây dựng ở đây những trại lính, đồn bốt, kho tàng,... để phục vụ cho chiến tranh. Các cơ sở hạ tầng khác phục vụ sản xuất và đời sống đều hình thành một cách tự phát, thiếu quy hoạch, nhỏ bé và luôn bị chiến tranh tàn phá. Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống đều ở trong tình trạng yếu kém, cần phải được xây dựng lại.
Cùng với những khó khăn, yếu kém và sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế, tình hình văn hóa - xã hội của tỉnh sau ngày giải phóng cũng diễn biến hết sức phức tạp. Trong gần 21 năm dưới sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, Mỹ-ngụy đã gieo rắc xuống vùng đất giàu truyền thống cách mạng này nhiều nọc độc văn hóa lai căng, phản động và đồi trụy. Chúng lừa bịp, lôi kéo nhân dân, nhất là tầng lớp thanh, thiếu niên chạy theo lối sống gấp, ích kỷ, sa đọa, xa rời và đoạn tuyệt với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Sự nghiệp giáo dục, trước hết là hệ thống trường, lớp và cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học không những thiếu mà còn bị chiến tranh tàn phá, xuống cấp nặng nề. Đội ngũ giáo viên vừa yếu, vừa thiếu, không đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Trên lĩnh vực y tế, sau ngày quê hương giải phóng, mặc dầu Đảng bộ và chính quyền các cấp đã có nhiều cố gắng để hình thành hệ thống y tế từ tỉnh, huyện xuống tận phường xã, nhưng cơ sở vật chất, trang thiết bị và thuốc phòng trị bệnh đều rất nghèo nàn, trong khi đó dịch bệnh và tai nạn lao động do hậu quả của chiến tranh để lại diễn ra dai dẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe của nhân dân.
Thêm vào đó, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến hết sức phức tạp. Tính đến ngày 5 tháng 2 năm 1976, toàn tỉnh có 988.172 nhân khẩu1, trong đó có khoảng 85.000 người trước đây do bị dồn vào các khu tập trung, hoặc do nhu cầu của cuộc sống phải phiêu bạt để kiếm kế sinh nhai, nay trở về làng cũ không có nhà cửa, việc làm, cuộc sống gặp vô vàn khó khăn. Với hơn 2/3 làng mạc bị tàn phá, hàng ngàn hecta ruộng đồng bị bỏ hoang, gần 80.000 người chưa có công ăn việc làm, diện phải cứu đói khoảng 17.800 người, riêng thành phố Quy Nhơn có khoảng 3.000 người2. Tình hình đó làm cho cuộc sống của nhân dân càng trở nên khó khăn hơn. Mặt khác, các tàn dư của chế độ cũ để lại cũng rất phức tạp, hàng vạn ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái phản động tan rã tại chỗ, trong đó một bộ phận vẫn ngoan cố không chịu cải tạo, nuôi dưỡng ý đồ tiếp tục chống phá cách mạng. Từ sau ngày 31.3.1975 đến cuối tháng 4 năm 1975, lực lượng của địch có khoảng 18.000 tên còn lẩn trốn và hoạt động chống phá cách mạng ở các rìa núi thuộc các xã Hoài Tân, Hoài Mỹ, Hoài Đức, Bồng Sơn huyện Hoài Nhơn; Mỹ Châu, Mỹ Lộc, Mỹ Trinh thuộc huyện Phù Mỹ; Bình Giang, Bình Tường, Bình Phú thuộc huyện Bình Khê; Nhơn Hậu, Nhơn Hòa, Nhơn Lộc thuộc huyện An Nhơn; Phước An, Phước Thành, Phước Lý thuộc huyện Tuy Phước; Quy Hòa thuộc Quy Nhơn và tại một số nhà thờ, thánh thất ở các địa phương trong toàn tỉnh1. Chúng tìm mọi cách nhen nhóm, lập ra các tổ chức phản động như hội “ái hữu nhân quyền”, hội “hồng thập tự”, tổ chức hội họp để khuếch trương thanh thế chính trị, tập hợp một số đảng viên đảng phái chính trị phản động như đảng Dân chủ, Đại Việt,... nhen nhóm hoạt động chống phá cách mạng, tiến hành các hoạt động khủng bố, câu kết với bọn phản động ở nước ngoài tìm mọi cách kích động, đả kích chế độ mới, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức vượt biên, vượt biển ồ ạt trái phép, làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội càng trở nên phức tạp.
Việc thực hiện các chính sách xã hội và giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân diễn ra hết sức bức bách. Cho d, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã có nhiều cố gắng cả về vật chất và tinh thần để chăm sóc, giúp đỡ những gia đình có công với nước, các thương, bệnh binh - những người đã hy sinh một phần xương máu của mình trên khắp các chiến trường để giành tự do, độc lập, nhưng do hoàn cảnh kinh tế - xã hội của một tỉnh vừa thoát ra khỏi chiến tranh, còn nghèo nàn và mất cân đối, không thể bù đắp nổi những hy sinh, mất mát lớn lao đó. Vả lại, trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, mặc dầu, Đảng bộ và chính quyền cách mạng đã ưu tiên tập trung công sức khôi phục kinh tế, mở rộng sản xuất, nhất là nông nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp để thu hút lao động, nhưng tình trạng thiếu việc làm vẫn diễn ra gay gắt, nhất là ở thành phố và các thị trấn. Tình hình trên đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Định những nhiệm vụ bức xúc phải tập trung giải quyết ngay từ những năm đầu hàn gắn vết thương chiến tranh, tạo dựng cơ sở kinh tế - xã hội cho chế độ mới.
Sau ngày quê hương giải phóng, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đứng trước những khó khăn và thách thức mới. Nền kinh tế, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, manh mún và chậm phát triển, sản xuất không đủ ăn. Kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hầu như phải bắt tay xây dựng lại từ đầu, nguyên vật liệu thiếu thốn, hàng hóa khan hiếm. Cơ sở hạ tầng đô thị bị chiến tranh tàn phá nhiều lần, tuy được xây dựng lại nhưng còn mang tính chắp vá, tự phát và thiếu quy hoạch. Tình hình đó dẫn tới nền kinh tế phát triển mất cân đối, nguy cơ nạn đói đe dọa. Lĩnh vực văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng diễn biến hết sức phức tạp, nhiều tệ nạn xã hội, tàn dư của chế độ cũ chưa kịp khắc phục, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành con người mới, nền văn hóa mới. Toàn bộ những khó khăn, thiếu thốn chồng chất kể trên đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Bình Định tinh thần đoàn kết phấn đấu với ý chí cách mạng kiên cường, phát huy truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa nhằm đưa quê hương ngày càng đi vào thế ổn định, làm cơ sở cho công cuộc xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa.
2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, bước đầu ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Bước ra khỏi cuộc chiến tranh từ một nền kinh tế yếu kém, cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu hầu như không có gì; đời sống của nhân dân ở những vùng nông thôn đồng bằng mới giải phóng, vùng giải phóng cũ và miền núi, hải đảo nhìn chung còn nhiều thiếu thốn, một số nơi diễn ra nạn đói, bệnh tật,... Ở thị trấn, thị xã lương thực, thực phẩm, hàng hóa khan hiếm, số người không có công ăn việc làm chiếm tỉ lệ khá cao. Trước tình hình đó, ngày 10.4.1975, Tỉnh ủy Bình Định đã có văn bản lãnh đạo, kịp thời vạch ra phương hướng và nhiệm vụ của tỉnh nhà sau ngày giải phóng. Công văn của Tỉnh uỷ đã chỉ rõ: Phải phấn đấu “xây dựng kinh tế toàn diện, lấy sản xuất nông nghiệp làm trung tâm; đồng thời không xem nhẹ các mặt sản xuất khác, phải giữ gìn, khôi phục và tùy điều kiện cụ thể mà phát triển cân đối, nhằm đảm bảo đời sống nhân dân, nhất là những vùng mới giải phóng và miền núi”. Với tinh thần đó, ngay từ sau ngày giải phóng, cùng với việc chính quyền tập trung mọi nỗ lực để nhanh chóng đưa 14 vạn người dân bị chiến tranh dồn ép vào các thị xã, thị trấn, khu tập trung trở về quê cũ, tạo điều kiện về nơi ăn chốn ở, khôi phục các ngành nghề rèn, đúc, cơ khí nông cụ phục vụ sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống, phong trào khai hoang phục hóa, cải tạo đồng ruộng để phát triển sản xuất đã được nhân dân trong toàn tỉnh hưởng ứng sôi nổi; riêng tại công trường khai hoang và đắp đê ngăn mặn ở Khu Đông của tỉnh, hàng ngày đã có từ 4.000 đến 11.000 lao động trực tiếp tham gia. Tháng 1.1976, toàn tỉnh đã tổ chức khai hoang được 2.500 ha và 6 tháng đầu năm 1976 tổng diện tích khai hoang đã đạt tới 5.000 ha. Nhờ thế, ngay trong vụ Đông Xuân 1975-1976, diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp toàn tỉnh đã đạt tới 126.000 ha, trong đó có 111.900 ha đất trồng cây lương thực1. Đồng thời với khai hoang, phục hóa, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định rất coi trọng phát triển hệ thống thủy lợi, gắn “thủy lợi hóa với hợp tác hóa”, coi “thủy lợi là biện pháp hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp”. Từ nhận thức đó, tỉnh đã đầu tư hàng trăm triệu đồng và huy động nhân dân đóng góp hàng triệu ngày công để tiếp tục hoàn thành đê Khu Đông, đào đắp, tu sửa và xây dựng 4.778 công trình tiểu thủy nông, đào hơn 2.000 ao chống hạn, nạo vét 1.916 km kênh, mương tưới nước, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng, góp phần tăng năng suất cây trồng.
Cùng với việc đẩy mạnh khai hoang phục hóa, từng bước hoàn chỉnh hệ thống thủy nông, ngày 5.6.1975, Tỉnh ủy Bình Định đã có chỉ thị “kế hoạch tiếp tục thi hành chính sách ruộng đất, người cày có ruộng” và chỉ thị “giao lại ruộng đất của các cơ quan, đơn vị bộ đội, trại tề kinh tế mới đã phục hóa sản xuất tự túc để chia cho nông dân lao động mới về và những hộ dưới mức bình quân tự nhiên”. Ngày 30.6.1975, hầu hết các đơn vị hành chính cấp huyện và xã trong toàn tỉnh đã thành lập ban chỉ đạo, tiến hành điều tra, thống kê diện tích đất công và ruộng đất vắng chủ kết hợp với điều tra dân số và năng lực lao động sản xuất để tiến hành phân chia ruộng đất hợp lý. Việc tiến hành điều tra và thực hiện chính sách ruộng đất đối với các vùng giải phóng cũ diễn ra trong 3 tháng từ ngày 15.6.1975 đến 15.9.1975, lúc này chỉ cần điều chỉnh ruộng đất trong nhân dân cho hợp lý. Riêng đối với các vùng mới giải phóng, do trước đây chưa tiến hành cách mạng ruộng đất, chính vì vậy, việc thực hiện chính sách ruộng đất, người cày có ruộng diễn ra phức tạp hơn và được tiến hành lâu hơn, từ ngày 15.6.1975 đến 15.10.1975.
Công cuộc tiến hành cách mạng ruộng đất đã được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, tỉnh đã chọn một số xã làm điểm như Ân Hòa thuộc huyện Hoài Ân, Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ và Nhơn Hưng thuộc huyện An Nhơn, sau đó triển khai ra diện rộng ở hầu hết các huyện An Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn, Phù Cát, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, các xã vùng ven của thị xã Quy Nhơn và đến cuối năm 1976 hoàn thành chính sách ruộng đất. Bằng các biện pháp vận động, giáo dục, tuyên truyền và thuyết phục nhằm làm cho nhân dân hiểu đúng về chính sách ruộng đất của Đảng ta và đã được nhân dân ủng hộ. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành, chúng ta cũng vấp phải những khó khăn do sự chống đối của các phần tử phản động hay năng lực yếu kém của một số cán bộ địa phương,... Nhưng kết quả của công cuộc tiến hành cách mạng ruộng đất đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong nhân dân lao động, cổ vũ mạnh mẽ giai cấp nông dân tỉnh Bình Định phát huy vai trò chủ lực của mình trong việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp, hăng hái góp sức người, sức của để khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại quê hương.
Gắn liền với công cuộc cách mạng ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, cuối năm 1975, Tỉnh ủy Bình Định đã có chủ trương xây dựng mô hình hợp tác xã nông nghiệp, vận động và tổ chức nhân dân tham gia làm ăn tập thể. Tỉnh đã chọn xã Phước Thắng thuộc huyện Tuy Phước triển khai việc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp thí điểm. Đến ngày 3.1.1976, Tỉnh ủy ra chỉ thị về việc “Giải quyết một số việc cần thiết cho hợp tác xã nông nghiệp thí điểm ở Phước Thắng”, tập trung tháo gỡ những vướng mắc và khó khăn ban đầu. Chính nhờ việc vận động, giáo dục nhân dân, triển khai kế hoạch tốt, cho nên, đến tháng 10.1976, số hộ của xã Phước Thắng tự nguyện tham gia hợp tác xã đạt tới tỉ lệ 99,4% với 2.993 lao động. Số ruộng đất canh tác của hợp tác xã gần 830 ha, hầu hết trâu, bò đều được hóa giá, tỉnh cũng hỗ trợ cho hợp tác xã 4 máy cày, tạo điều kiện để tăng thêm cơ sở vật chất cho hợp tác xã. Cùng với việc xây dựng thí điểm hợp tác xã Phước Thắng, đến cuối năm 1976, tỉnh chủ trương chọn hai xã Phước Hòa và Phước Quang thuộc huyện Phước Vân xây dựng hợp tác xã nông nghiệp để rút kinh nghiệm, tiến tới triển khai ra diện rộng, xây dựng mô hình làm ăn tập thể trên phạm vi toàn tỉnh.
Trên lĩnh vực kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, sau năm 1975, Bình Định hầu như không có cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nào đáng kể, ngoài một vài cơ sở tư nhân khai thác và chế biến nông - lâm - thủy - hải sản chủ yếu ở thành phố Quy Nhơn với trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, nguyên vật liệu thiếu thốn trầm trọng, hiệu quả hoạt động thấp. Tình hình sản xuất công nghiệp không thể đáp ứng với đòi hỏi của nền kinh tế tỉnh nhà. Đứng trước tình hình đó, tỉnh chủ trương khôi phục lại một số ngành nghề thủ công truyền thống, sẵn có nguyên liệu tại địa phương như nghề rèn, làm nón, đúc đồng, ép dầu, làm dầu dừa, dệt chiếu, làm đường, làm gạch ngói, nghề làm vôi,... chủ yếu phục vụ cho thị trường nội tỉnh. Đồng thời, từng bước chuẩn bị cơ sở vật chất để tiến tới xây dựng nhà máy điện, nước, cơ khí Quang Trung, nhà máy đường,... thuộc mạng lưới công nghiệp quốc doanh.
Sau gần một năm xây dựng và phát triển, cho đến tháng 6.1976, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tư nhân dưới hình thức tổ hợp tác đã có tới 127 cơ sở, sản xuất ra các nông cụ, gạch ngói, đồ nhựa, chế biến nước mắm,... phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Riêng mạng lưới công nghiệp quốc doanh, các cơ sở sản xuất như điện, cơ khí, sản xuất phụ tùng, vật liệu xây dựng, khai thác chế biến gỗ,... từng bước đi vào hoạt động, trong sáu tháng đầu năm 1976 đạt 46% kế hoạch, sang quý III năm 1976 đạt 64,1% kế hoạch, đáp ứng một phần nhu cầu của nền kinh tế tỉnh nhà. Tuy nhiên, nền kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong năm đầu sau ngày giải phóng còn bộc lộ nhiều nhược điểm. Đĩ là việc tổ chức quản lý còn lỏng lẻo, quy mô và phương hướng sản xuất chưa được xác định rõ ràng, số cơ sở công nghiệp quốc doanh làm nòng cốt cho nền kinh tế còn quá ít, chính vì vậy, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế tỉnh Bình Định.
Về thương nghiệp, ngay từ sau ngày giải phóng, tỉnh đã kịp thời triển khai công tác tiếp thu, quản lý và sử dụng hợp lý các kho hàng hóa như gạo, xăng dầu, thuốc tây, phân bón,... của chế độ cũ để lại. Đồng thời, nhanh chóng phục hồi, củng cố lại hệ thống chợ, cửa hàng nhằm tạo ra sự thông thương, phục vụ cho nhu cầu trao đổi, mua bán của nhân dân. Mặt khác, để tiến tới xác lập nền thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, tỉnh đã chủ trương xây dựng và phát triển hệ thống thương nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã mua bán, chủ động nắm bắt và điều tiết các nguồn hàng thiết yếu phục vụ kịp thời cho sản xuất và đời sống của nhân dân, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu tàng trữ hàng hóa và nâng giá của các hộ tư thương, góp phần ổn định giá cả thị trường. Chính nhờ chủ trương đúng đắn của tỉnh, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và sự nỗ lực vươn lên của đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngành thương nghiệp, hệ thống thương nghiệp của tỉnh Bình Định cho đến tháng 6.1976 đã hình thành, có 3 công ty với 23 cửa hàng mua bán và xây dựng được 200 tổ ủy thác và 35 hợp tác xã mua bán. Sang quý III năm 1976, đã nâng lên 4 công ty với 108 cửa hàng được phân bố đều khắp ở hầu hết các địa bàn trong tỉnh. Khối lượng hàng hóa mua vào và bán ra ngày càng lớn, các mặt hàng nhu yếu phẩm ngày càng đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Gắn liền với những hoạt động của ngành thương nghiệp, hệ thống giao thông vận tải cũng được đầu tư. Các tuyến đường giao thông trong tỉnh được tu bổ và sửa chữa lại, đảm bảo lưu thông tiện lợi giữa các vùng, miền. Kịp thời khôi phục và đưa vào hoạt động các nhà ga Quy Nhơn, Diêu Trì, cảng cá và cảng hàng hóa ở thành phố Quy Nhơn, bến xe của tỉnh và các huyện. Sắp xếp và tổ chức lại các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, tạo điều kiện cho ngành giao thông vận tải phục vụ đắc lực cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, Bình Định sau ngày giải phóng không những là một tỉnh có cơ sở kinh tế, kỹ thuật nghèo nàn, què quặt, chậm phát triển,... mà thiết chế văn hóa cũng nhỏ bé, hầu như không có gì đáng kể, ngoài một nhà hát, vài rạp chiếu bóng, mấy cơ sở in tư nhân với trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, một vài gánh hát héo hắt kiếm sống qua ngày. Đã vậy, tàn dư văn hóa thực dân mới còn để lại những hậu quả hết sức nặng nề. Những sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, lai căng, nô dịch đã có ảnh hưởng khá đậm trong tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ của một bộ phận nhân dân, nhất là tầng lớp thanh, thiếu niên, tạo nên lối sống ích kỷ, sa đọa, làm băng hoại những giá trị văn hóa dân tộc.
Trước thực trạng đó, nhiệm vụ quan trọng của văn hóa cách mạng là phải góp phần xây dựng con người mới phù hợp với bản chất của chế độ mới. Với mục đích đó, Đảng ta đã xác định việc “Trồng người phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên nhằm xóa bỏ tàn dư của xã hội thuộc địa, phong kiến, xóa bỏ nạn mù chữ, phổ biến khoa học thường thức trong nhân dân, phát triển giáo dục nâng cao dần trình độ văn hóa của quần chúng nhân dân, cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng cho nhu cầu ngày một tăng của sự nghiệp xây dựng và quản lý đất nước”1. Với tinh thần đó, ngay từ sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, ngành văn hóa thông tin cùng với chính quyền các cấp đã tiến hành thu, huỷ sách báo, tài liệu, tranh ảnh, băng hình của chế độ cũ để lại; phát động nhân dân bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, tạo ra bầu không khí trong sạch, lành mạnh trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Đồng thời, nhanh chóng hình thành các thiết chế văn hóa mới xã hội chủ nghĩa như xây dựng nhà truyền thống, thành lập nhà văn hóa và đội thông tin lưu động ở các huyện, thị, củng cố các đoàn văn công của tỉnh, hình thành hệ thống phát thanh, truyền hình, phát hành báo chí... Thông qua các ngày lễ lớn của đất nước như ngày Quốc tế Lao động 1.5, Quốc khánh 2.9, ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19.5, ngày chiến thắng 30.4,... và các đợt hoạt động chính trị như bầu cử hội đồng nhân dân các cấp, bầu cử Quốc hội, chào mừng thắng lợi hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, đại hội Đảng bộ các cấp,... ngành văn hóa - thông tin đã tổ chức hội diễn văn nghệ, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tuyên truyền, giáo dục cán bộ, nhân dân nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa của độc lập, thống nhất đất nước, đoàn kết dân tộc; thấm nhuần tư tưởng, đường lối văn nghệ của Đảng ta, động viên Đảng bộ và nhân dân từng bước tiến lên xây dựng đời sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
Về giáo dục, ngay từ sau ngày giải phóng, cho dù tình hình trường, lớp và đội ngũ giáo viên còn thiếu thốn, nhưng với phương châm giáo dục phải hướng tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành nhân cách, trau dồi đạo đức và tình cảm cho nhân dân, nhất là đối với thanh, thiếu niên, tạo ra sự phát triển hài hoà cả đức lẫn tài cho mọi thành viên trong xã hội. Theo tinh thần đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, ngành giáo dục tỉnh Bình Định đã nhanh chóng tiếp quản và tu sửa các cơ sở giáo dục trường, lớp, sớm ổn định để tiếp tục đưa con em trở lại học tập bình thường. Để đáp ứng nhu cầu về đội ngũ giáo viên, ngành đã mở lớp đào tạo giáo viên cấp tốc tại trường Sư phạm Quy Nhơn, mở trường đào tạo giáo viên cấp 1 và cấp 2, tiếp nhận đội ngũ giáo viên của miền Bắc chi viện về và trưng dụng giáo viên của chế độ cũ... Chính nhờ sự chuẩn bị khẩn trương của ngành giáo dục và toàn xã hội, đến ngày 19.10.1975, toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông trong tỉnh đã tổ chức khai giảng năm học mới. Năm học 1975-1976, số lượng học sinh phổ thông trong năm học đầu tiên sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng đã lên đến 381.000 em, tăng 175.000 em so với năm học 1974-1975. Bước sang năm học 1976-1977, số lượng học sinh phổ thông các cấp đã tăng lên 430.000 em, tăng 50.000 em so với năm học 1975-1976. Trong quá trình đào tạo, ngoài việc học tập văn hóa, ngành giáo dục đã tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho học sinh. Thông qua các ngày lễ lớn của dân tộc, nhà trường tổ chức cho học sinh vừa học tập vừa tham gia các công tác công ích xã hội như lao động làm vệ sinh trường, đường phố, tuyên truyền cổ động, tham gia lao động tập trung trong dịp nghỉ hè để giúp nhân dân khai hoang phục hóa, làm thủy lợi, làm đường giao thông, tham gia công tác xóa mù chữ v.v…
Đối với hệ bổ túc văn hóa, tỉnh đã chủ trương mở các lớp học, các trường bổ túc văn hóa ở hầu hết các địa phương, mỗi huyện, thị một trường để kịp thời nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, bộ đội, con em gia đình có công với cách mạng. Ngay trong năm học 1975-1976, các trường trong tỉnh đã mở được 57 lớp bổ túc văn hóa, thu hút 2.900 học viên theo học cấp 1 và cấp 2. Bước sang năm học 1976-1977, tỉnh tiếp tục thành lập thêm 3 trường bổ túc văn hóa, đó là một trường cấp 3 ở huyện An Nhơn, hai trường cấp 2 ở huyện Phước Vân và Phù Cát.
Công tác xóa nạn mù chữ cũng được quan tâm, ngay từ sau ngày giải phóng, tỉnh đã tiến hành điều tra trình độ văn hóa, thành lập ban công tác xóa mù chữ ở cấp xã và huyện. Các địa phương đã có nhiều hình thức, biện pháp để khuyến khích nhân dân tích cực tham gia xoá nạn mù chữ. Và đến ngày 6.12.1975, Tỉnh ủy đã có chỉ thị về “Công tác xóa mù và bổ túc văn hóa trong năm 1976”, công tác xóa mù chữ đã thực sự trở thành một phong trào cách mạng và được nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Nhờ vậy, cho đến tháng 6.1975 đã có 35 xã thanh toán xong nạn mù chữ, huyện Phù Cát là huyện đi đầu trong phong trào xóa mù chữ của tỉnh. Đến tháng 10.1976, toàn tỉnh đã có 5 huyện và 44 xã đã thanh toán xong nạn mù chữ, trong đó có 3 xã miền núi với hơn 63.000 người đã biết đọc, biết viết.
Về y tế, ngay sau ngày 31.3.1975, tỉnh đã kịp thời tiếp quản số cơ sở y tế ít ỏi chủ yếu ở thành phố do chế độ cũ để lại. Để đảm bảo lực lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, ngành y tế, một mặt, trưng dụng đội ngũ y, bác sĩ và nhân viên y tế của chế độ cũ, mặt khác, tiến hành đào tạo ngắn hạn nhân viên mới và khẩn trương thành lập mạng lưới từ tỉnh đến cơ sở. Cuối năm 1975 trở đi, tỉnh đã tập trung đầu tư ngân sách để nâng cấp bệnh viện tỉnh, củng cố hệ thống bệnh viện tuyến huyện và xây dựng trạm xá ở các cơ sở phường, xã; mua sắm thêm trang thiết bị, mở trường trung cấp đào tạo cán bộ y tế; phát động nhân dân tham gia phong trào vệ sinh phòng bệnh, nhất là ở những vùng rừng núi,... từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân.
Trên lĩnh vực an ninh quốc phòng, sau gần 30 năm đấu tranh kiên trì và quả cảm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 31 tháng 3 năm 1975, quân và dân tỉnh nhà phối hợp với Sư đoàn 3 anh hùng đã lần lượt tiêu diệt và làm tan rã 72.000 ngụy quân, xóa bỏ toàn bộ bộ máy thống trị của ngụy quyền từ tỉnh xuống tận cơ sở, giải phóng hoàn toàn quê hương.
Sau ngày toàn thắng, nhân dân ta bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại quê hương trong hoàn cảnh tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, kẻ thù lại luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng. Trước tình hình đó, ngày 30.4.1975, Tỉnh ủy đã ra chỉ thị “Một số biện pháp công tác an ninh cấp bách trước mắt ở vùng giải phóng”, nhằm nhanh chóng ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện chính sách khoan hồng đối với lực lượng ngụy quân, ngụy quyền tự giác ra trình diện, biết ăn năn hối cải và kiên quyết đấu tranh đối với những phần tử chống phá cách mạng. Trong khoảng thời gian 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1975, lực lượng ngụy quân, ngụy quyền lần lượt ra trình diện chính quyền cách mạng là 36.970 tên (tính đến ngày 10.6.1975), hầu hết đã được giáo dục, cải tạo và hưởng chính sách khoan hồng của Đảng; được chính quyền cách mạng tạo công ăn việc làm, tạo điều kiện để họ có cơ hội góp sức của mình vào công cuộc xây dựng quê hương.
Về các tổ chức đảng phái chính trị phản động như đảng Dân chủ, Quốc dân Đảng, Đại Việt,... (cho đến tháng 7.1975, số đảng viên của các đảng này trong toàn tỉnh có khoảng 10.000 người) nhưng mới ra trình diện, khai báo với chính quyền cách mạng khoảng một phần mười. Phần lớn trong số còn lại câu kết với bọn phản động đội lốt tôn giáo trong các tổ chức tôn giáo như Cao Đài ở Phù Cát, Hoài Nhơn, Bình Khê; Thiên chúa giáo ở Tuy Phước, An Nhơn, Quy Nhơn và bọn tàn quân có vũ trang ẩn náu tại khu vực rừng núi Vũng Chua, xung quanh bệnh viện phong Quy Hòa, liên tục gây rối, tung tin thất thiệt, rải truyền đơn, ngăn chặn không cho tín đồ tham gia công tác cách mạng, cướp của, đe dọa nhân dân, chống phá cách mạng. Trước tình hình đó, ngày 29.7.1975, Tỉnh ủy Bình Định đã ra chỉ thị “Kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh xã hội”, kết hợp với chiến dịch phát động quần chúng truy quét lực lượng phản cách mạng. Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh uỷ, quân và dân tỉnh Bình Định tiếp tục truy bắt bọn tàn quân lẩn trốn ở núi Kỳ Sơn huyện Tuy Phước, núi Bà huyện Phù Cát, đèo Nhông huyện Phù Mỹ, đèo Cù Mông huyện Tuy Phước; gọi hơn 3.500 tên phần lớn là đảng viên Đảng dân chủ, ngụy quyền ở cấp cơ sở ra đăng ký trình diện; khám phá gần 100 vụ hoạt động tuyên truyền, chống phá cách mạng của các tổ chức phản động, trong đó có các tổ chức như “Mặt trận tự do dân tộc” của đảng “Bảo Long phục quốc” ở Quy Nhơn, Phước Vân và An Nhơn; tổ chức “Lực lượng chiến đấu tự do” ở Quy Nhơn; tổ chức “Cứu nguy dân tộc” ở huyện Phước Vân; xóa bỏ phần lớn bọn lưu manh, trộm cắp, gái điếm. Nhờ đó, tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ngày càng có chiều hướng ổn định.
Thấm nhuần quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, ngay sau ngày giải phóng, Tỉnh ủy Bình Định rất coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, phát động và tổ chức quần chúng nhân dân trong tỉnh tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác tuyên truyền, giáo dục, phát động phong trào hành động cách mạng của quần chúng thời kỳ này là tập trung bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh, quốc phòng. Để tập hợp, giáo dục và vận động quần chúng có kết quả, các cấp uỷ Đảng đã tập trung củng cố Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn.
Để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng các cấp, thực hiện tốt công tác tiếp quản thị trấn, thị xã và bảo quản tài sản công cộng, ngày 28.3.1975, Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định đã có công văn “Hướng dẫn các việc làm sau khi tiếp quản thành phố, thị xã trong thời gian đầu”. Ngày 17.4.1975, Thường vụ Tỉnh ủy có chỉ thị về việc “Xây dựng bộ máy chính quyền các cấp”, xác định hệ thống quản lý nhà nước ở địa phương được hình thành từ cấp tỉnh xuống tận 8 huyện, thị và 113 phường, xã, với tên gọi Ủy ban nhân dân cách mạng, là mô hình quản lý nhà nước chuyển tiếp theo thiết chế xã hội chủ nghĩa, làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản, trong đó lấy việc cải tạo, khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội làm căn bản.
Cùng với việc hình thành bộ máy quản lý Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ,... nhanh chóng được tổ chức, đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Nhân dân cách mạng các cấp vận động nhân dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng như tiếp quản, khôi phục và đưa vào sử dụng các cơ sở kinh tế, văn hóa. Xây dựng mô hình làm ăn tập thể tổ đổi công, hợp tác xã, tổ chức các đội tự vệ khu phố, đường phố, vận động nhân dân tham gia phong trào bảo mật trừ gian; truy quét lực lượng phản cách mạng, đẩy lùi các tệ nạn xã hội,... xây dựng nếp sống văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sau gần một năm bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội (3.1975-2.1976), mặc dầu đặc điểm tình hình sau ngày quê hương giải phóng, nhất là trên lĩnh vực an ninh quốc phòng diễn biến hết sức phức tạp, nhưng với bản lĩnh cách mạng kiên cường, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định đã thu được những thành tựu không thể phủ nhận và những bài học kinh nghiệm rất sâu sắc, đã tạo nên những tiền đề quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của tiến trình cách mạng, đưa quê hương Bình Định tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa.
1 Cục Thống kê Nghĩa Bình, Niên giám thống kê năm 1976.
2 Tỉnh ủy Bình Định, Báo cáo tình hình công tác tháng 4.1975.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Bo co tình hình cơng tc thng 4.1975.
1 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 63.
1 Trường Chinh, Về văn hóa văn nghệ, NXB. Văn Hóa, Hà Nội, 1976, tr. 77-78.