II. BÌNH ĐỊNH TRONG BUỔI ĐẦU KHÔI PHỤC
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI (2.1976-12.1986)
1. Công cuộc khôi phục, cải tạo và phát triển nền kinh tế
Sau ngày 30.4.1975, đất nước Việt Nam thực sự được hòa bình, thống nhất, số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh ở miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) có 44 tỉnh, thành trực thuộc trung ương, đây là số lượng cấp tỉnh quá nhiều do chế độ Việt Nam Cộng hòa để lại. Thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20.9.1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ cấp khu, hợp tỉnh và Nghị quyết số 19/NQ ngày 20.12.1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam, tháng 2.1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra nghị định về việc giải thể cấp khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam. Theo nghị định này, hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình, là một trong những tỉnh lớn thuộc vùng duyên hải miền Trung1.
Sau hơn 13 năm nhập tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghĩa Bình, nhân dân Bình Định đã nỗ lực phấn đấu, chung sức, chung lòng cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế, vừa ra sức xây dựng cơ sở vật chất và văn hóa tinh thần trong chế độ mới, vừa giữ vững và củng cố an ninh, quốc phòng.
Bình Định là vùng đất có nhiều lợi thế cả về điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, tài nguyên khoáng sản và có lực lượng lao động dồi dào để phát triển một nền kinh tế toàn diện. Nhằm phát huy những lợi thế đó, vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định đã tập trung phấn đấu thực hiện nhiệm vụ: “Phát triển nông nghiệp, đẩy mạnh lâm nghiệp và ngư nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm, kể cả tiểu thủ công nghiệp, hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và mở rộng quan hệ sản xuất mới, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý”1; đó là nhiệm vụ trọng đại, có tính bao trùm trong suốt hơn 10 năm đầu cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội.
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP là ngành kinh tế chủ yếu trong toàn bộ cơ cấu kinh tế của Bình Định. Toàn tỉnh có 192.300 ha đất đai có khả năng canh tác các loại cây nông nghiệp, chiếm 32,1% diện tích đất tự nhiên, trong đĩ, 134.800 ha ruộng đất sản xuất cây lương thực2. Nhưng sau ngày giải phóng, ruộng đất bị bom đạn và các phương tiện chiến tranh chà xát nhiều nơi, bom mìn còn lại dày đặc, các công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất đã thiếu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tư liệu sản xuất chủ yếu dựa vào sức kéo của gia súc và cơ bắp của con người, lực lượng sản xuất manh mún, cá thể, sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên. Trong hoàn cảnh đó, để phát triển sản xuất nông nghiệp, phải “hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đồng thời ra sức phát triển kinh tế toàn diện bao gồm cả nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải,... trọng tâm là phát triển mạnh nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, giải quyết lương thực, thực phẩm đủ ăn, có dự trữ và làm nghĩa vụ đối với nhà nước; đồng thời giải quyết nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng thêm hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, ổn định đời sống nhân dân”3. Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ tỉnh tháng 3 năm 1977, nhân dân Bình Định đã ra sức tập trung mọi nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất, coi sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tiếp tục dấy lên phong trào khai hoang phục hóa, cải tạo đồng ruộng, thực hiện sôi nổi cuộc vận động tất cả cho sản xuất, gắn phát triển trồng trọt với chăn nuôi,... Đồng thời, thực hiện chủ trương vận động, tổ chức đưa dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Ngay từ đầu năm 1976, chính quyền đã vận động đưa 6.500 nhân khẩu và tính đến tháng 10.1976, toàn tỉnh đã có tới 1.455 hộ với 6.009 nhân khẩu được tổ chức đi khai phá đất đai và ổn định cuộc sống ở các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Đồng thời, tỉnh cũng đã nhanh chóng xây dựng thêm 15 điểm kinh tế ở các vùng giáp ranh và đã huy động 11.500 nhân khẩu ở vùng đồng bằng lên sản xuất, nhằm khắc phục tình trạng tập trung dân cư, góp phần tăng diện tích gieo trồng cho từng nhân khẩu, nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Đặc biệt, để khắc phục hậu quả chiến tranh, khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích canh tác và hạn chế được thương vong do bom mìn gây ra. Toàn tỉnh đã dấy lên phong trào tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, làm vệ sinh đồng ruộng. Phong trào đã được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Chỉ tính riêng chiến dịch tháo gỡ bom mìn và các loại chất nổ do hậu quả chiến tranh để lại diễn ra từ ngày 2.3.1977 đến ngày 15.7.1977, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã huy động 99.242 ngày công, trong đó có 90.721 ngày công trực tiếp của lực lượng bộ đội và du kích các địa phương tháo gỡ, thu hồi 32.123 đầu đạn các loại, giải phóng 769 ha ruộng và 4.934m2 đất, tập trung chủ yếu ở các vùng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy lợi, giao thông vận tải và xây dựng.
Cuộc vận động và tổ chức nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể nhằm thực hiện mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp đã diễn ra hết sức sôi nổi trong toàn tỉnh. Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp diễn ra ngay từ đầu năm 1976 với phương châm tiến hành từng bước, có trọng điểm, với bước đi và hình thức thích hợp, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh xác định: “Cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp phải gắn liền với thủy lợi hóa và cơ giới hóa từng bước, gắn liền với xây dựng cấp huyện, phải làm tốt công tác chuẩn bị để đi thẳng lên hợp tác xã bậc cao với quy mô thích hợp, tạo điều kiện cho việc tổ chức lại sản xuất theo địa bàn huyện”1. Theo tinh thần đó, ngay từ đầu năm 1976, Bình Định đã tiến hành xây dựng hợp tác xã thí điểm ở các huyện, thị xã. Với khí thế cách mạng tiến công và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng bộ, sau hai đợt xây dựng thí điểm hợp tác xã ở xã Phước Thắng thuộc huyện Tuy Phước và hai xã Phước Hòa, Phước Quang thuộc huyện Phước Vân, phong trào xây dựng hợp tác xã đã được triển khai ra diện rộng. Đến cuối năm 1978, Bình Định đã có 91% số hộ nông dân vào 354 hợp tác xã và 368 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, 70% ruộng đất canh tác đã được tập thể hóa. Và đến ngày 20.2.1979, huyện Phước Vân và huyện Hoài An là hai huyện đầu tiên của tỉnh Nghĩa Bình, là những huyện đứng thứ hai của Khu V (sau huyện Duy Xuyên của Quảng Nam) hoàn thành việc xây dựng mô hình hợp tác xã nông nghiệp dưới hai hình thức hợp tác xã ở đồng bằng và tập đoàn sản xuất ở miền núi. Mặc dầu việc tổ chức lại sản xuất theo mô hình làm ăn tập thể còn nhiều mới mẻ, lúng túng, nhưng hầu hết các hợp tác xã đã tích cực tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tập trung xây dựng cơ sở vật chất, dân chủ bàn bạc, xây dựng kế hoạch sản xuất, định mức lao động, đăng ký ngày công và thực hiện chế độ chấm công. Bầu không khí hòa bình, thống nhất và niềm vui chiến thắng đã tiếp thêm khí thế hăng hái thi đua trong lao động sản xuất, thi đua đảm bảo lịch thời vụ, làm thủy lợi, phân bón, thâm canh tăng năng suất và phát triển chăn nuôi. Nhờ vậy, ngay từ những mùa đầu làm ăn tập thể năng suất, sản lượng lương thực đã có bước phát triển. Năng suất cây lúa bình quân đạt 20,7 tạ/ha và tổng sản lượng lương thực quy thóc toàn tỉnh đã đạt tới 216.310 tấn vào năm 19761, nạn thiếu đói bước đầu đã được ngăn chặn, đời sống của nhân dân bước đầu được ổn định.
Phát huy những kết quả ban đầu sau gần một năm giải phóng, nhân dân Bình Định bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1976-1980) với mục tiêu tiếp tục khai hoang phục hóa, mở rộng sản xuất, cải tạo đồng đất, làm thủy lợi và áp dụng kỹ thuật thâm canh, nhờ đĩ, sản xuất nông nghiệp tiếp tục có những bước khởi sắc, phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng, đưa giá trị tổng sản lượng từ 122,3 tỉ đồng năm 1976 lên 137,4 tỉ đồng năm 19802. Trong thời kỳ này, ngành nông nghiệp đã thí điểm thành công kỹ thuật gieo thẳng lúa giống, chấm dứt tập quán gieo mạ, cấy lúa hàng ngàn năm, đã giảm được sức lao động cho nông dân. Kỹ thuật gieo thẳng lúa giống hay còn gọi là kỹ thuật sạ đã nhanh chóng được nông dân áp dụng rộng rãi trong toàn tỉnh, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, càng về cuối những năm 70 đầu những năm 80, tình hình sản xuất nông nghiệp càng có chiều hướng chững lại, cho dù diện tích canh tác có tăng từ 126.000 ha năm 1976 lên 154.000 ha năm 1980, nhưng năng suất cây lúa lại giảm dần từ 20,7 tạ/ha năm 1976 xuống 17,1 tạ/ha năm 19803, tình trạng thiếu lương thực vẫn rất gay gắt. Nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu bắt nguồn từ sự bất cập của cơ chế quản lý của các hợp tác xã, nhất là tình trạng rong công, phóng điểm và bao cấp tràn lan trong các hợp tác xã nông nghiệp, mối quan hệ lợi ích giữa hợp tác xã và hộ xã viên không hài hòa, đã dẫn đến tình trạng suy giảm nhiệt tình lao động của xã viên, không kích thích lực lượng sản xuất phát triển, nhiều tiềm năng, thế mạnh vốn có của kinh tế nông nghiệp ở địa phương bị lãng phí. Dân số tăng nhanh, trong khi năng suất, sản lượng lương thực không tăng và có chiều hướng giảm, không đáp ứng đủ cái ăn cho xã hội. Tình trạng đó đã đặt ra nhiệm vụ cho toàn Đảng bộ phải phấn đấu vượt qua “cửa ải lương thực” lo cho đủ các ăn cho toàn xã hội.
Bước vào thời kỳ 1981-1986, trước yêu cầu bức xúc phải phấn đấu vượt qua “cửa ải lương thực”, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Tỉnh Đảng bộ lần thứ hai và lần thứ ba tiếp tục đề ra nhiệm vụ: “Tập trung sức phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm thực hiện ba nhiệm vụ: lương thực-thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nhẹ, xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp then chốt, trước hết tập trung phục vụ sản xuất nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Kết hợp chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp trong một cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp hợp lý ở tỉnh và nông - công nghiệp trên địa bàn huyện. Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết là thủy lợi, điện lực, giao thông vận tải, phục vụ cho yêu cầu trước mắt và cho bước phát triển tiếp theo”1. Đúng vào thời điểm triển khai thực hiện nhiệm vụ trên, tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 CT/TW đề ra chủ trương khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động nhằm khắc phục tình trạng rong công, phóng điểm, nguyên nhân chủ yếu làm triệt tiêu tính tích cực của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng còn đề cập nhiệm vụ đổi mới cơ chế quản lý của hợp tác xã, từng bước xóa cơ chế quản lý hành chính bao cấp, chủ động điều chỉnh lại quy mô của hợp tác xã nông nghiệp, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa hợp tác xã với nhóm tập thể lao động và hộ xã viên thông qua cơ chế khoán.
Thực hiện Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đem lại những kết quả rõ rệt, nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã chủ động đổi mới cơ chế quản lý, bố trí lại kế hoạch sản xuất, thay cơ chế khoán công điểm bằng khoán sản phẩm, giảm bớt bộ máy quản lý hợp tác xã. Đối với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh, Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng có tác dụng rõ rệt trong việc khắc phục một bước những nhận thức giáo điều trong lãnh đạo, chỉ đạo như: chạy theo thành tích một cách hình thức, muốn xây dựng nhiều HTX nông nghiệp lớn với quy mô toàn xã, đồng nhất mục tiêu tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với xây dựng nhiều HTX, xí nghiệp có quy mô lớn, kém hiệu quả. Nhờ triển khai, áp dụng Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, tính tích cực lao động của xã viên hợp tác xã từng bước được nâng lên, nông dân trở lại gắn bó, quý trọng ruộng đất, quan tâm thực hiện các giải pháp thâm canh để nâng cao năng suất, sản lượng lương thực trên diện tích gieo trồng. Kết quả là năng suất lúa tăng lên rõ rệt, từ 19,1 tạ/ha năm 1981 tăng lên 30 tạ/ha năm 1985, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 377.812 tấn và giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt tới 241,1 tỉ đồng1. Đó là kết quả đầu tiên khẳng định ý nghĩa của bước đầu đổi mới cơ chế quản lý trong sản xuất nông nghiệp.
Có thể nói, công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế trên lĩnh vực nông nghiệp trong thời kỳ này, mặc dầu còn gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, nhân dân Bình Định đã từng bước chiến thắng thiên tai, địch họa. Nền kinh tế nông nghiệp bắt đầu được khôi phục, quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa được xác lập, đời sống nhân dân từng bước được ổn định. Nhờ sự tác động của cơ chế quản lý mới, sản xuất nông nghiệp đã có chiều hướng phát triển, đến năm 1985, sản lượng lương thực tăng 61% so với năm 1980. Từ một tỉnh hằng năm phải nhập từ 7-8 vạn tấn lương thực để lo cho cái ăn, thì sau khi thực hiện Chỉ thị khoán 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, sản xuất nông nghiệp của tỉnh không những tự trang trải nhu cầu của địa phương, giải quyết được nạn đói, mà còn làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có dự trữ; bình quân lương thực đầu người tăng từ 236,6 kg năm 1976 lên 319 kg năm 1985, tình hình chính trị - xã hội ở nông thôn ngày càng ổn định. Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu vượt “qua cửa ải lương thực”, một nhiệm vụ quan trọng mà trước đó năm năm đã trở thành một thách thức gay gắt nhất.
Cùng với nông nghiệp, Bình Định là một trong những tỉnh có thế mạnh về NGƯ NGHIỆP. Thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Bình Định có lợi thế cả về đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Với bờ biển dài 134 km cùng các đảo ven bờ và đảo Cù Lao Xanh cách thành phố Quy Nhơn trên 20km, nên ngoài diện tích đất liền vùng ven biển, Bình Định còn có 1.440 km2 diện tích vùng nội thủy bên trong đường cơ sở và 40.000km2 vùng đặc quyền kinh tế bên ngoài đường cơ sở, trong đó có 2.500 km2 diện tích vùng tiếp giáp lãnh hải2, với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao... Đồng thời, Bình Định còn có nhiều tiềm năng nuôi trồng thủy hải sản, với tổng diện tích mặt nước khoảng 12.776 ha được phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, bao gồm các đầm nước lợ như Thị Nại (thành phố Quy Nhơn), Đề Gi (huyện Phù Cát và Phù Mỹ), Cửu Lợi (huyện Hoài Nhơn), cửa biển Tam Quan và đầm nước ngọt Trà Ổ (huyện Phù Mỹ),... rất thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt, đầm Thị Nại và bán đảo Phương Mai có nhiều sản phẩm quý hiếm như các loại cá nước lợ, tôm hùm, cua huỳnh đế, yến sào,... được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.
Với tiềm năng và thế mạnh thủy hải sản được thiên nhiên ưu đãi vượt trội so với nhiều tỉnh, lẽ ra, nhân dân Bình Định có điều kiện tập trung khai thác để phục vụ cho cuộc sống và kiến thiết quê hương. Thế nhưng, trong suốt 30 năm chiến tranh, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã sử dụng vùng lãnh hải, những vùng đặc quyền kinh tế, các cửa biển lớn như Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan vào mục đích phục vụ cho chiến tranh, buộc nhân dân hoặc phải dồn vào các khu tập trung, hoặc phải ly hương để mưu sống. Kết thúc cuộc chiến tranh, khi trở lại quê hương, hầu hết ngư dân không còn nhà cửa, không có ghe mành và ngư lưới cụ đánh bắt, cuộc sống ngư dân vô cùng khó khăn, khổ cực.
Trước tình hình đó, tỉnh chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo quan hệ sản xuất (QHSX) và xây dựng lực lượng sản xuất (LLSX), ra sức tận dụng và phát huy mọi lực lượng đánh bắt, chế biến; tổ chức lại và trang bị thêm phương tiện để đẩy mạnh khai thác nguồn lợi hải sản, củng cố nghề lộng, phát triển đánh bắt xa bờ; tận dụng các mặt nước đầm lạch, sông ngòi, ao hồ để đẩy mạnh nuôi cá nước lợ và cá nước ngọt; tăng cường quản lý thị trường và tổ chức tốt việc thu mua, chế biến thủy sản; ra sức xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để đưa nghề biển thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, đồng thời chú ý kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ khôi phục và phát triển nghề biển với nhiệm vụ quốc phòng. Liền sau ngày giải phóng, tận dụng bầu không khí hoà bình và thời tiết thuận lợi, ngư dân hăng hái ra khơi đánh bắt hải sản. Trong 6 tháng đầu năm 1976, sản lượng khai thác của ngư dân tỉnh Bình Định đã đạt tới 30.142 tấn hải sản các loại và đến quý III năm 1976, sản lượng đánh bắt toàn tỉnh đạt trên 15.000 tấn, nhà nước đã thu mua hai chiều trong 9 tháng đầu năm là 430 tấn hải sản xuất khẩu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, ngư dân Bình Định đã phát huy thế mạnh vốn có, coi ngư nghiệp là một ngành kinh tế mũi nhọn, vừa nhanh chóng ổn định đời sống, vừa đầu tư mua sắm ngư lưới cụ, tăng cường phương tiện đánh bắt, khai thác thủy hải sản, tạo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Trên lĩnh vực quan hệ sản xuất, Đảng bộ đã tích cực vận động và tổ chức đưa ngư dân vào con đường làm ăn tập thể trong các hợp tác xã. Trong vòng 3 năm từ 1976 đến năm 1979, hầu hết ngư dân trong toàn tỉnh đã đi vào con đường làm ăn tập thể, tạo ra bước chuyển biến mới trong quan hệ sản xuất, hình thành nên cơ cấu kinh tế biển vững chắc, chấm dứt tình trạng làm ăn cá thể, đơn chiếc trên biển cả.
Gắn liền với phát triển lực lượng sản xuất, cải tạo và xác lập quan hệ sản xuất mới, ngay sau ngày giải phóng cùng với sự đầu tư của nhà nước, hàng năm ngư dân đã bỏ ra hàng chục triệu đồng để đóng mới tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị phục vụ đánh bắt thuỷ hải sản. Nhờ đó, phương tiện đánh bắt cơ giới từ chỗ rất nhỏ bé, sau ngày giải phóng hầu như không có gì, đến năm 1980 đã có 37 tàu thuyền máy với tổng công suất 935CV, năm 1985 tăng lên 44 tàu thuyền với tổng công suất 1.100CV, hầu hết các cửa lạch chính đều có các cơ sở cơ khí sửa chữa, góp phần đưa sản lượng đánh bắt hải sản năm 1985 đạt 37.000 tấn, trong đó, hải sản đông lạnh xuất khẩu 181 tấn"1.
Ngư nghiệp tỉnh Bình Định trong buổi đầu xây dựng và phát triển, cho dù khả năng đầu tư, khai thác chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, nhưng với những thành quả có được trong buổi đầu cải tạo QHSX, khôi phục, phát triển LLSX đã tạo ra diện mạo mới cho một ngành kinh tế mũi nhọn với cung cách làm ăn mới trên cả ba hình thức quốc doanh, tập thể và hộ gia đình, kết hợp giữa đánh bắt, nuôi trồng và chế biến. Hình thành xí nghiệp chế biến hải sản đông lạnh xuất khẩu, với công suất đạt từ 416 tấn trong những năm 1976-1980, tăng lên 583 tấn thời kỳ 1981-1985, góp phần đưa nhịp độ phát triển kim ngạch xuất khẩu hải sản trong 10 năm (1976-1986) bình quân hàng năm đạt trên 14,5%2. Đời sống của ngư dân từ chỗ thiếu ăn dần dần được cải thiện, bộ mặt kinh tế vùng biển ngày càng khởi sắc, bước đầu hình thành các vùng nghề, làng nghề, tập trung khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản và làm dịch vụ nghề biển.
Về lâm nghiệp, Bình Định là một trong những tỉnh có tiềm năng lâm nghiệp khá lớn, với 185.000 ha rừng và 242.000 ha đất đồi núi có khả năng phát triển kinh tế lâm nghiệp, trữ lượng gỗ rừng tự nhiên trên 10 triệu m3, tài nguyên dưới tán rừng và hệ động thực vật hết sức đa dạng. Nhằm tận dụng các tiềm năng, lợi thế đó để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất đã đề ra nhiệm vụ: “lấy việc trồng mới, tu bổ, bảo vệ, cải tạo, khoanh nuôi rừng là chính, nhất là rừng đầu nguồn và rừng đặc sản. Đồng thời khai thác, sử dụng tài nguyên rừng hợp lý, bảo đảm kế hoạch hàng năm cung cấp gỗ, củi và các đặc sản cho sản xuất, xây dựng, xuất khẩu và đời sống nhân dân. Tích cực tổ chức, hướng dẫn nhân dân miền núi định canh, định cư, chấm dứt tình trạng đốt, phá rừng bừa bãi. Tổ chức lại sản xuất, kinh doanh nghề rừng theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mạnh dạn giao rừng và đất rừng cho hợp tác xã quản lý, kinh doanh. Phát động phong trào trồng cây gây rừng trên các đồi trọc, dọc ven biển và trục đường giao thông”1. Nhằm triển khai thực hiện nhiệm vụ trên, cùng với việc hình thành các lâm trường quốc doanh, tổ chức định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít người ở 3 huyện miền núi Vân Canh, Vĩnh Thạnh và An Lão, ngành lâm nghiệp Bình Định đã xúc tiến công tác quy hoạch, thiết kế rừng, tăng cường quản lý đất rừng, mở rộng giao đất, giao rừng cho các hợp tác xã và nhân dân, quản lý, chăm sóc và trồng mới... Nhờ đĩ, phong trào trồng rừng phát triển ở hầu hết các hợp tác xã, cơ quan, trường học, nhân dân kể cả miền núi, đồng bằng và đô thị hưởng ứng chủ trương trồng rừng dưới hai hình thức trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán, hình thành các vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển. Bình quân hàng năm trồng mới hàng ngàn hécta rừng, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái,... Riêng năm 1985, toàn tỉnh đã trồng mới 3.419 ha rừng tập trung và hàng triệu cây phân tán2, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp và sản xuất hàng xuất khẩu.
Sau hơn 10 năm khôi phục và phát triển, kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp Bình Định đã có những bước chuyển mình vượt bậc, từ một tỉnh sản xuất lương thực không đủ cung cấp cho xã hội, hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh để lại hết sức nặng nề, nhưng nhờ tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, Bình Định là một tỉnh sớm xác lập quan hệ sản xuất mới XHCN trên một số loại hình kinh tế. Lực lượng sản xuất được tổ chức lại theo mô hình tập thể, quốc doanh đã tạo ra cung cách làm ăn mới, sức sản xuất phát triển, đặc biệt là sản xuất lương thực từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Nhịp độ phát triển bình quân hàng năm về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ 102,9% trong những năm 1976-1980 lên 111,9% trong những năm 1981-19853. Cùng với sự phát triển các mặt hàng nông - lâm - thủy hải sản xuất khẩu, giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng tăng khá nhanh, từ 1,4 triệu R-USD thời kỳ 1976-1980 lên 36 triệu R-USD trong những năm 1981-1985, góp phần đưa giá trị tổng sản phẩm xã hội năm 1986 đạt tới 10,3 tỷ đồng4, tạo thế và lực để Bình Định bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế toàn diện.
Trên lĩnh vực công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, nhờ triệt để phát huy tiềm năng sẵn có, tiến hành quy hoạch và tổ chức lại sản xuất, từng bước xây dựng và phát triển công nghiệp địa phương theo hướng chuyên môn hóa và hợp tác hóa, khôi phục các cơ sở sẵn có, khuyến khích xây dựng và phát triển những cơ sở mới,... trong những năm sau chiến tranh, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định đã hình thành hệ thống các cơ sở sản xuất bao gồm sửa chữa cơ khí, đóng mới tàu thuyền, chế biến nông - lâm - thủy hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng dệt may, mặt mây, mành trúc,... với mục tiêu là phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động.
Hầu hết các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ra đời trong thời kỳ này đều thiếu thốn mọi bề từ nguồn vốn, nguyên nhiên vật liệu, trang thiết bị, đến trình độ kỹ thuật và quản lý... nhưng với ý chí tự lực cánh sinh, tự lực tự cường, không chịu lùi bước trước khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách hình thành được nhiều cơ sở kinh tế mới, tiêu biểu như các xí nghiệp xây dựng, xí nghiệp nước đá, các cơ sở khai thác và chế biến nông - lâm - thủy hải sản, các xí nghiệp bánh kẹo, nước giải khát. Đặc biệt, tỉnh đã quyết tâm đầu tư nguồn vốn, trang thiết bị, kỹ thuật để phát triển nhà máy nhiệt điện và xây dựng nhà máy nước ở thành phố Quy Nhơn, không những đã đáp ứng nhu cầu bức xúc của xã hội, mà còn góp phần từng bước phục hồi nền kinh tế của địa phương.
Từ một nền kinh tế phát triển mất cân đối, công nghiệp nhỏ bé, hầu như không có cơ sở sản xuất nào đáng kể, sau 10 năm, kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bình Định đã có những khởi sắc mới, đến năm 1985, giá trị sản lượng công nghiệp địa phương tăng 88,5% so với năm 1980, toàn tỉnh đã có 60 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh1, với nhiều xí nghiệp mới quan trọng như nhà máy nhiệt điện, cơ khí, các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hải sản, may mặc, nhà máy nước Quy Nhơn. Những kết quả ban đầu đó đã góp phần thúc đẩy sức sản xuất và nền kinh tế phát triển, đáp ứng một phần nhu cầu thiết yếu trong đời sống của nhân dân.
Đối với khối công nghiệp ngoài quốc doanh, thực hiện Nghị quyết 254/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 15.7.1976 về hoàn thành việc xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, tiến hành cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh và Chỉ thị 232/CT-TW ngày 27.8.1976 của Ban Bí thư hướng dẫn thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công-thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam; tháng 8.1976, Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị 63 về việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công - thương nghiệp tư bản tư doanh, tiểu thương và thợ thủ công ở vùng mới giải phóng trên cơ sở gắn chặt nhiệm vụ cải tạo với nhiệm vụ khôi phục và phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng quan hệ sản xuất mới mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Tỉnh uỷ chỉ đạo: “Các thị ủy, huyện ủy trực tiếp lãnh đạo công tác này trong phạm vi của địa phương mình, cần chú trọng công tác tuyên truyền, giải thích chủ trương của Đảng và nhà nước sâu rộng trong quần chúng, cố gắng huy động đủ số lượng cán bộ đảm bảo cho việc kê khai, đăng ký đạt yêu cầu cao”1. Để thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của TW và của Tỉnh uỷ, ở tỉnh và thị xã Quy Nhơn đã hình thành Ban cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Ban đã chỉ đạo việc kiểm kê, phân loại, đánh giá cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong toàn tỉnh, đồng thời, đưa ra phương án cải tạo phù hợp nhằm tiếp tục huy động năng lực của giai cấp tư sản vào phát triển sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định kinh tế, cải thiện cuộc sống cho nhân dân. Do đặc điểm lịch sử của quá trình phát triển, tỉnh Bình Định không có giai cấp tư sản mại bản. Hầu hết các cơ sở sản xuất do tư nhân sáng lập như các xí nghiệp cơ khí của Huỳnh Cân, Nghệ Bổn, xí nghiệp chế biến hải sản của Dũng Sanh, cơ sở sản xuất cao su của Sanh Ngọc, các xí nghiệp gạch ngói của Đồng Ngọc v.v… đều thuộc về giai cấp tư sản dân tộc, sản xuất những mặt hàng phù hợp với yêu cầu quốc kế dân sinh. Vì vậy, chủ trương của tỉnh là chuyển các xí nghiệp này sang hình thức xí nghiệp công - tư hợp doanh, mời các nhà tư sản dân tộc tham gia vào Ban giam đốc cùng quản lý quá trình sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp với các tên mới như: xí nghiệp cao su Quy Nhơn, xí nghiệp cơ khí 1-4, xí nghiệp Sc sản Đông lạnh Quy Nhơn, xí nghiệp gạch ngói Phước An v.v… Với tinh thần đó, tư sản công thương nghiệp về cơ bản đã bị xóa bỏ. Các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công thì được tổ chức lại bằng nhiều hình thức, chủ yếu là đưa các tiểu chủ, các thợ thủ công vào con đường làm ăn tập thể, thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Từ 127 cơ sở vào tháng 6.1976 đến 12.1985, toàn tỉnh đã có tới 495 cơ sở, sản xuất ra 37 mặt hàng khác nhau2. Sản phẩm chủ yếu đều khai thác và chế biến các nguyên liệu sẵn có ở địa phương. Nhằm khuyến khích công nghiệp ngoài quốc doanh, chủ yếu là loại hình tập thể phát triển, nhà nước đã áp dụng cơ chế bao cấp như trợ giá, cấp nguyên vật liệu, bao tiêu sản phẩm... Nhờ đó, hàng hóa sản xuất ra năm sau cao hơn năm trước, góp phần đưa giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp địa phương tăng từ 400 triệu năm 1980 lên gần 800 triệu đồng năm 1985 (giá cố định năm 1982)1.
Tuy nhiên, do những khó khăn trong những năm đầu sau chiến tranh, nhất là cơ sở vật chất nguyên, nhiên, vật liệu còn thiếu thốn, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ còn yếu kém đã làm cho nền kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là khối công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển một cách tự phát, kém hiệu quả. Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo “khẩn trương quy hoạch và có kế hoạch cụ thể tổ chức, sắp xếp lại sản xuất công nghiệp và tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, có phân công hợp tác theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tích cực giải quyết những khó khăn, trở ngại trong các khâu chuẩn bị sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo những chuyển biến mạnh trong sản xuất công nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp. Đi đôi với tăng cường lực lượng quốc doanh, phải coi trọng đúng mức khả năng dồi dào của kinh tế tập thể tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp”2.
Xuất phát từ thực tiễn của cơ chế quản lý kinh tế tập trung kế hoạch hóa và tình hình hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở, để phát triển sức sản xuất, góp phần chuyển hóa nền kinh tế theo quy hoạch và kế hoạch, ngành công nghiệp Bình Định đã tập trung tổ chức và sắp xếp lại kinh tế hợp tác xã, tăng cường khai thác các tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương. Theo hướng đó, ngoài những cơ sở công nghiệp quốc doanh được củng cố, số lượng các hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp thuộc khu vực kinh tế tập thể ngày càng gia tăng, từ 44 hợp tác xã năm 1980 đã tăng lên 97 hợp tác xã năm 1985. Sự gia tăng các hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho gần 60 ngàn lao động3.
Biểu đồ phát triển tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định trong buổi đầu, cải tạo và phát triển 1976-1986 (giá cố định năm 1982)4.

Mặc dầu còn phải trực tiếp đối diện với những khó khăn và thử thách do cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp gây ra như: sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp ngày càng thoát ly quy luật giá trị, thiếu hạch toán, kém hiệu quả... nhưng những thành tựu có được của ngành công nghiệp Bình Định trong buổi đầu cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội là rất quan trọng, đã hình thành nên một số cơ sở sản xuất quốc doanh và hợp tác xã mới có ý nghĩa, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, khẳng định vai trò, vị trí của ngành trong nền kinh tế chung của tỉnh.
Về thương nghiệp, Bình Định là một tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và xuất nhập khẩu hàng hóa. Nằm trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có Quốc lộ số 1, tuyến đường sắt Bắc-Nam và quốc lộ 19 thông thương với Tây Nguyên, có cụm cảng biển và cửa biển Quy Nhơn, Thị Nại, Đề Gi, Tam Quan,... tạo lợi thế giao lưu kinh tế theo cả hai trục Bắc-Nam và Đông-Tây, nhờ đó, Bình Định được nối liền với cả nước và quốc tế, đó chính là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế thương nghiệp và giao thông vận tải phát triển.
Nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế, cần phải: “tổ chức tốt việc lưu thông và phân phối hàng hóa, phục vụ đắc lực cho đời sống, thúc đẩy phát triển sản xuất, mở rộng phân công lao động, làm tốt việc thu mua, nắm nguồn hàng bằng hợp đồng hai chiều và giá cả hợp lý, đảm bảo phân phối hàng hóa một cách công bằng, hợp lý”1. Trong những năm đầu sau chiến tranh, áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung bằng mệnh lệnh hành chính trong quản lý kinh tế, thương nghiệp được coi là mặt trận quan trọng, then chốt, không thể thiếu được để khẳng định vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế quốc doanh, nó đảm bảo hai trong bốn khâu của quá trình tái sản xuất. Từ nhận thức đó đã hình thành chủ trương nhanh chóng cải tạo và sắp xếp lại thị trường tự do, kiên quyết đấu tranh xóa bỏ thị trường thương mại, loại bỏ những phần tử đầu cơ buôn lậu, kinh doanh trái phép,... cải tạo, xây dựng và mở rộng thị trường có tổ chức theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm 1976-1980, Đảng bộ tỉnh đã chủ trương “phát triển mạnh lực lượng thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tiêu thụ, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thương nghiệp tư bản tư doanh, những người buôn bán nhỏ, dốc sức phục vụ đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các vùng, tăng cường xuất khẩu, góp phần tích cực ổn định từng bước thị trường, giá cả và tổ chức lại thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa”1. Thực hiện chủ trương đó, hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa: mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán nhanh chóng được hình thành ở hầu hết các địa phương trong toàn tỉnh với chức năng tiếp nhận và phân phối hàng hóa nhanh, gọn đến tận tay người tiêu dùng. Đến cuối năm 1980, toàn tỉnh đã có 88 cửa hàng mậu dịch quốc doanh và 101 hợp tác xã mua bán, thực hiện chức năng bán lẻ, giải quyết việc làm ổn định cho gần 3.500 lao động2. Bằng sự năng động của mình, ngành thương nghiệp đã nhanh chóng xây dựng mô hình làm nội trợ xã hội, góp phần bình ổn giá cả, thúc đẩy sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do quá chú trọng chức năng phân phối, kinh doanh theo chỉ tiêu hành chính, lưu thông phân phối theo hình thức bao cấp, nên không kích thích sản xuất phát triển. Hậu quả là sản xuất bị thua lỗ, trì trệ, hàng hóa ngày càng khan hiếm, nạn cửa quyền, sách nhiễu đã gây nhiều phiền hà cho nhân dân. Cũng chính vì thế mà mục tiêu của ngành thương nghiệp là nắm bắt đại bộ phận hàng và tiền, điều tiết thị trường, cải tạo thương nghiệp ngoài quốc doanh, xây dựng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa được tổ chức thực hiện một cách lúng túng và kém hiệu quả.
Từ tháng 6.1980 trở đi, dưới ánh sáng Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về thiết lập lại trật tự trong lưu thông phân phối, ngành thương nghiệp tỉnh Bình Định tập trung củng cố lại tổ chức, tăng cường quản lý thị trường, chủ động nắm bắt các nguồn hàng, xác định vai trò và vị trí của ngành đối với nền kinh tế. Về tổ chức đã củng cố và mở rộng 116 cửa hàng bán lẻ quốc doanh và 111 hợp tác xã mua bán, thu hút trên 5.000 lao động kinh doanh thương nghiệp. Kết quả đã đưa doanh số hàng hóa bán ra từ 548,4 triệu đồng năm 1980 tăng lên 1,1 tỉ đồng năm 19851, nhờ đó, trong điều kiện vô cùng khó khăn, sản xuất chậm phát triển, hàng hoá nhu yếu phẩm khan hiếm, thương nghiệp Bình Định đã góp phần đắc lực phục vụ đời sống nhân dân, ổn định tình hình xã hội, thực hiện được cơ chế hai giá và chính sách bao cấp trước thời điểm đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tại Đại hội VI, năm 1986.
Cùng với thương nghiệp, giao thông vận tải giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và ổn định nâng cao đời sống nhân dân.
Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải trong tỉnh bị tàn phá, xuống cấp một cách nghiêm trọng. Xuất phát từ nhận thức giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, bình quân hàng năm tỉnh đã đầu tư hàng chục triệu đồng để duy tu và làm mới các tuyến đường giao thông, tạo sự giao lưu giữa tỉnh với các trung tâm kinh tế, xã hội trong nước; mở rộng các tuyến đường liên huyện, liên xã... Cho đến năm 1980 đã hoàn thành hạ tầng cầu Hưng Thạnh, nâng cấp và làm mới 172 km nền đường, hàng chục cầu cống. Các tuyến giao thông quan trọng từng bước được nhựa hóa và bê tông hóa. Các phương tiện vận tải bao gồm các loại xe ôtô, xe cải tiến, tàu thuyền đều phát triển. Đến năm 1985, toàn tỉnh có 382 ôtô và 4 tàu thuỷ vận chuyển hàng hóa, 191 ôtô và 1.031 xe lam vận chuyển hành khách, và đã xây dựng được đội tàu vận tải thủy có trọng tải 5.000tấn2. Nhờ vậy, ngành giao thông vận tải không những đáp ứng kịp thời cho sản xuất và nhu cầu đi lại của nhân dân, mà còn phục vụ tích cực cho nhu cầu giao lưu kinh tế, vận chuyển hàng hóa trong khu vực, trong nước và quốc tế.
Mười năm khôi phục, phát triển kinh tế (1976-1986), cũng là 10 năm thực hiện chủ trương cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của từng ngành kinh tế tuy còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có của địa phương, nhưng bước đầu đã thu được những thành tựu quan trọng. Các ngành kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải… được phục hồi, có bước phát triển, đời sống nhân dân từng bước ổn định, an ninh, chính trị, trật tự xã hội có nhiều tiến bộ. Đó là những tiền đề quan trọng để nhân dân Bình Định bước vào thời kỳ cách mạng mới.
2. Tình hình văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, nhân dân Bình Định cùng với việc kiên quyết đấu tranh loại bỏ những tàn dư và di hại của nền văn hóa nô dịch ra khỏi đời sống, đã tích cực tham gia khôi phục và phát triển nền văn hóa mới, trước hết là phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế và các loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc.
Đứng trước thực trạng khó khăn, thiếu thốn mọi bề, mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục với cơ sở vật chất hiện có nghèo nàn, trong những năm đầu sau giải phóng, ngành GIÁO DỤC Bình Định đã lấy phương châm dựa vào dân để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, tận dụng những cơ sở hiện có để mở các trường phổ thông và bổ túc văn hóa ở tỉnh và huyện. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất đã xác định phải "Tích cực chuẩn bị để đến năm học 1977-1978, có điều kiện thực hiện tốt chủ trương cải cách giáo dục, đảm bảo cho tất cả trẻ em đến tuổi đều được đi học, hầu hết trẻ em trong tuổi học phổ thông cơ sở đều có chỗ học, phát triển có kế hoạch các trường phổ thông trung học, xây dựng thí điểm các trường vừa học, vừa làm, tổ chức trường phổ thông nội trú ở miền núi, phát triển các lớp mẫu giáo ở cấp xã, thôn, khu phố, cơ quan, xí nghiệp, nhằm thu hút và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi. Trong quá trình tiến hành cải cách giáo dục phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục của Đảng: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội và thường xuyên đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt”1.
Để thực hiện Nghị quyết đúng đắn đó, mặc dầu còn phải đối diện với nhiều khó khăn, vất vả về kinh tế, thiếu thốn về cơ sở vật chất,... nhưng với truyền thống hiếu học, nhân dân Bình Định đã khẩn trương đóng góp công sức khôi phục và xây dựng lại hệ thống trường lớp, đầu tư cơ sở vật chất cho sự nghiệp giáo dục. Song song với hệ thống giáo dục phổ thông, phong trào xóa nạn mù chữ, học bổ túc văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ. Bình quân hàng năm tỉnh đã huy động trên 90% số người trong độ tuổi đi học. Hầu hết các xã phường, các cơ quan, xí nghiệp,... đều thành lập trường, lớp mẫu giáo và nhà nuôi dạy trẻ, thu hút đông đảo các cháu từ 3 - 6 tuổi theo học.
Hệ thống giáo dục phổ thông cơ sở và phổ thông trung học phát triển nhanh chóng. Cho dù, trường lớp, cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học còn đơn sơ, thiếu thốn nhưng với sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, sự nghiệp giáo dục đã phát triển ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh. Đến năm học 1978-1979, toàn tỉnh Bình Định đã có 136 trường phổ thông, thu nhận hơn 260.000 học sinh các cấp đi học, việc dạy và học ngày càng đi vào nề nếp, bình quân cứ 100 người dân đã có 25 người đi học vào năm 19791.
Từ năm 1981 trở đi, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II và Chỉ thị 17/CT của Bộ Giáo dục về củng cố và ổn định sự nghiệp giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ngày càng được quan tâm, kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo hàng năm đều tăng. Từ hàng trăm triệu những năm 1976-1980, đến năm 1985, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản dành cho ngành giáo dục đào tạo đã đạt đến 1,2 tỉ đồng. Nhờ vậy, hệ thống trường lớp được tu sửa và xây dựng, số lượng học sinh toàn tỉnh Bình Định tăng lên nhanh chóng, từ 178 trường học với 284.300 học sinh niên học 1979-1980 đã tăng lên 230 trường, thu hút gần 300.000 học sinh theo học trong niên học 1980-19812. Ngoài ra, trong những năm 80, Bình Định đã chủ động liên kết với các trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong toàn quốc để mở các lớp hướng nghiệp, hình thành trung tâm dạy nghề, nhằm vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lực lượng lao động cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, vừa kết hợp hài hòa giữa học với hành, giữa nhà trường và xã hội.
Đồng thời với sự nghiệp giáo dục, ngành Y tế Bình Định cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Từ năm 1976 trở đi, cùng với việc hình thành mạng lưới y tế ở khắp các phường xã, phong trào phòng trừ dịch bệnh, xây dựng các công trình vệ sinh nhằm loại trừ các mầm gây bệnh, hạn chế dần các bệnh xã hội do chiến tranh để lại, đã được quan tâm đẩy mạnh. Bình quân hàng năm, tỉnh đã đầu tư hàng chục triệu đồng để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, tổ chức khám chữa bệnh, kịp thời ngăn chặn và tiêu diệt các ổ dịch bệnh như sốt rét, tả, lỵ, thương hàn, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức phong trào toàn dân tham gia vệ sinh, phòng dịch, thường xuyên cử các đoàn y tế lưu động về tận cơ sở để kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn nhân dân lập tủ thuốc gia đình, khám và điều trị tại chỗ. Nhờ đó, việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân ngày càng có kết quả.
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, ngành y tế Bình Định đã có những bước chuyển biến, từ một địa phương chỉ có một bệnh viện cấp tỉnh, trang thiết bị và thuốc men điều trị thiếu thốn, đến năm 1986, Bình Định đã có 13 bệnh viện, 9 phòng khám khu vực, 1 trạm bảo vệ bà mẹ và trẻ em, và đặc biệt đã hình thành 123 trạm y tế phường xã1, bao gồm miền núi, đồng bằng và đô thị. Việc áp dụng phương pháp điều trị Đông-Tây y kết hợp đã nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe, phòng trừ và đẩy lùi các dịch bệnh, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhân dân.
Về AN NINH QUỐC PHÒNG, Bình Định là tỉnh tập trung các đầu mối giao thông chiến lược quan trọng, nối liền với các trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước, đặc biệt là với vùng rừng núi Tây Nguyên rộng lớn. Ngay từ sau ngày quê hương giải phóng, vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã coi trọng việc kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng kinh tế đi đôi với củng cố an ninh quốc phòng. Vừa tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, vừa tích cực xây dựng lực lượng bán vũ trang dân quân tự vệ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp, và các xã, phường, thị trấn, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc. Trong thập niên đầu sau giải phóng, đất nước tuy đã được hòa bình thống nhất, nhưng ở hai đầu biên giới Tây Nam và phía Bắc của tổ quốc đã xảy ra hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nhân dân ta một lần nữa buộc phải cầm súng để bảo vệ biên cương tổ quốc chống lại chủ nghĩa bá quyền, bành trướng và làm nghĩa vụ quốc tế, ngăn chặn họa diệt chủng đối với dân tộc Campuchia anh em. Lực lượng vũ trang của tỉnh gồm tiểu đoàn 50 anh hùng, 9 đại đội tập trung của các huyện đã được điều động, 4 tiểu đoàn thanh niên xung phong là lực lượng dân quân tự vệ và thanh niên tình nguyện đã lên đường làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, mở đường, làm cầu cống, vận chuyển hàng hóa,... đã tham gia chiến dịch ở biên giới Tây Nam. Ngoài ra, tỉnh còn cử đoàn chuyên gia quân sự sang trực tiếp giúp 4 huyện Ven Xây, Bô Keo, Lâm Phát và Tà Ven thuộc tỉnh Natarakiri xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố hệ thống chính trị, tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng và các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân. Trên quê hương Bình Định khắp nơi đều hưởng ứng chủ trương xây dựng cơ quan, xí nghiệp, làng xã thành pháo đài quân sự vững chắc, hình thành phương án phòng thủ sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại và xâm lược. Các làng xã ven biển đã tích cực đắp đê, trồng cây chắn cát kết hợp kinh tế với quốc phòng, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân phối hợp với lực lượng vũ trang chống vượt biên, vượt biển, chống xâm nhập trái phép, bảo vệ vững chắc vùng lãnh hải của tổ quốc.
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cũng diễn biến hết sức phức tạp. Cùng với các thế lực phản cách mạng bên ngoài, bọn phản động trong nước tìm cách móc nối nhau, nhen nhóm tổ chức phản động. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, kích động tổ chức vượt biên, nhen nhóm các tổ chức phản cách mạng, chuyên hoạt động khủng bố, gây hoang mang tiến đến thực hiện âm mưu gây bạo loạn lật đổ chính quyền cách mạng. Trước tình hình đó, ngày 18.10.1982, Thường vụ Tỉnh ủy đã có Chỉ thị số 28-CT/TU về sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 92 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch vững mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc trong tình hình mới”, cùng với việc xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang và công an vững mạnh, chính quyền cách mạng đã nhanh chóng hình thành mạng lưới an ninh nhân dân ở các làng, thôn, khối phố, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, tăng cường công tác bảo mật phòng gian, kiên quyết trấn áp và kịp thời đập tan những âm mưu và hoạt động của các tổ chức phản cách mạng; Truy quét hàng loạt tổ chức phản động như tổ chức “Bảo Long phục quốc”, “Liên đoàn biệt động 18”, “Những người quyết định vận mệnh đất nước”, “Quân lực Việt Nam Cộng hòa”, “Liên quốc đảng và Phục quốc đảng”, “Mặt trận cứu nguy dân tộc”,... tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên. Ngày 26.6.1981, tại xã Nhơn Hội thành phố Quy Nhơn, lực lượng của ta đã phát hiện và bắt gọn 27 đối tượng đang tổ chức vượt biển trốn ra nước ngoài. Tiêu biểu, đêm 19.2.1982, lực lượng công an nhân dân cùng với phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân đã bao vây và bắt sống tên Huỳnh Long Sơn cầm đầu tổ chức phản động “Mặt trận cứu nguy dân tộc”; Đồng thời, lực lượng công an nhân dân còn đấu tranh với các loại đối tượng hình sự, đẩy lùi mọi hiện tượng tiêu cực, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Ba mươi năm trải qua hai cuộc kháng chiến ác liệt và lâu dài chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Bình Định đã gánh chịu những hậu quả vô cùng nặng nề, làng mạc, phố xá bị tàn phá, hư hại một cách nghiêm trọng, nhiều gia đình phải chịu những hy sinh, mất mát to lớn, nhiều người con yêu quý của quê hương đã anh dũng hy sinh hoặc cống hiến một phần máu thịt của mình trên khắp các chiến trường để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chỉ tính riêng trong thời gian 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tỉnh Bình Định đã có 29.598 liệt sĩ và 17.412 thương binh các hạng, hàng vạn gia đình có công với nước, trong đó có hàng ngàn bà mẹ có chồng v hai con trở ln là liệt sĩ. Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, mặc dầu, tình hình kinh tế - xã hội còn gặp muôn vàn khó khăn, nhưng nhân dân Bình Định vẫn tập trung thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là chăm sóc các gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh... nhằm góp phần bù đắp một phần những hy sinh, mất mát của những gia đình có công với quê hương, đất nước.
Kế thừa và phát huy đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, bằng những việc làm thiết thực của mình, nhân dân Bình Định đã sôi nổi hưởng ứng phong trào toàn dân thực hiện chính sách ưu đãi đối với những gia đình liệt sĩ, thương binh, những người có công với tổ quốc trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết trong nội bộ nhân dân, từng bước ổn định đời sống cho toàn xã hội.
Sau 10 năm kể từ ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, từ một tỉnh bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề, bom đạn, đồn bốt,... còn ngổn ngang, kinh tế chậm phát triển, tình hình chính trị - xã hội diễn biến phức tạp; nhưng với ý chí tự lực tự cường, nhân dân tỉnh Bình Định đã dấy lên nhiều phong trào hành động cách mạng sôi nổi, từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khẩn trương xây dựng quan hệ sản xuất mới, đưa nông dân, ngư dân, thợ thủ công vào con đường làm ăn tập thể, hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo ra lực lượng sản xuất mới của chế độ mới - trong đó, chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực.
Bên cạnh những thành tựu của mười năm khôi phục hậu quả chiến tranh, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng xã hội và con người mới, đã không tránh khỏi những khuyết điểm, hạn chế của thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Trên lĩnh vực kinh tế đã xuất hiện nhiều chủ trương chủ quan, nóng vội, duy ý chí mà nguyên nhân bắt nguồn từ sự nhận thức giáo điều về quy luật kinh tế của CNXH; là do chưa xác định đúng các bước đi, vận dụng không đúng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Trong nông nghiệp là sự đồng nhất quá trình hợp tác hóa với tập thể hóa, đồng nhất khái niệm sản xuất lớn XHCN với việc xây dựng các hợp tác xã có quy mô lớn và phủ nhận vai trò tự chủ ngàn đời của hộ nông- ngư dân. Thiếu các biện pháp thúc đẩy tính tự giác, tự nguyện, tự quản trong vận động thành lập hợp tác xã, biến hợp tác xã từ một đơn vị làm kinh tế thành một tổ chức quản lý hành chính về kinh tế và phải thực hiện chính sách bao cấp về xã hội. Do đó, nguyên tắc phân phối theo lao động bị vi phạm, làm triệt tiêu tính tích cực của người lao động. Trên lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải cũng mắc phải khuyết điểm tương tự, như một mặt chủ trương nóng vội tiến lên sản xuất lớn XHCN với sự phân công lao động chuyên môn hóa cao trong sản xuất, mặt khác, xây dựng nhiều xí nghiệp sản xuất mang tính chất khép kín, kém hiệu quả. Việc thành lập ồ ạt nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác và thực hiện cơ chế quản lý kinh tế theo hình thức giao kế hoạch, cấp vật tư, thu mua sản phẩm, phân phối sản phẩm theo hai giá cung cấp và tự do, tách rời quá trình sản xuất với lưu thông, cùng với chủ trương cải tạo công thương nghiệp triệt để không thừa nhận nền kinh tế thị trường đã làm cho nền kinh tế phát triển thoát ly quy luật giá trị, quy luật cung - cầu và quy luật kinh tế cơ bản - quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do đó, đầu những năm tám mươi, nền kinh tế của tỉnh đã lâm vào tình trạng trì trệ, suy thoái và khủng hoảng, làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất không đủ nhập, hàng hoá tiêu dùng ngày càng khan hiếm.
Cùng với cả nước, Bình Định vui mừng với những thành tựu đạt được của mười năm sau giải phóng, đồng thời, trăn trở với nhiều khó khăn, yếu kém xuất phát từ những vấn đề mới nảy sinh trên lĩnh vực nhận thức và vận dụng quy luật xây dựng CNXH trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ. Những kết quả đạt được trong 10 năm và những bài học kinh nghiệm quý báu, cả thành công và thất bại, đều đã góp phần tạo nên cơ sở để nhân dân Bình Định vững bước tiến mạnh vào thời kỳ đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
1 Nguyễn Quang Ân, Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997, NXB. VHTT, Hà Nội, 1997, tr. 233.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình, 3.1977, tr. 16.
2 Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Niên giám thống kê năm 1998, 6.1999, tr. 69.
3 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình, 3.1977, tr. 19.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình, 3.1977.
1 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 64.
2 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 64.
3 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 64.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ III Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình, 2.1983.
1 Cục Thống kế Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 63-64.
2 UBND tỉnh Bình Định, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển Bình Định (1996-2010), 1995.
1 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 62.
2 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 62.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình, 3.1977
2 Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Định, Bình Định: tiềm năng-phát triển, năm 1996, tr. 9.
3 Cục Thống kê Bình Định, Một số chỉ tiêu kinh tê-xã hội, phát hành năm 1995, tr. 6.
4 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định thời kỳ 1986-1990, phát hành năm 1991, tr. 9.
1 Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 30, 31, 33, 21
1 Chỉ thị số 63 của Tỉnh ủy về “tiến hành đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ tư nhân trong tỉnh”.
2 Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 30, 31, 33, 21.
1 Cục Thống k tỉnh Bình Định năm 1989, tr. 21, 30, 31, 33.
2 Báo cáo của BCH Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình tại Đại hội đại biểu Đảng CSVN tỉnh lần thứ III, tháng 2.1983.
3 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 19, 34.
4 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 19, 34.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1977, tr. 42.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghĩa Bình lần thứ I, tháng 3. 1977.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê Bình Định, phát hành 1989, tr. 82.
1 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 92, 94, 99.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, phát hành năm 1989, tr. 92, 94, 99.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng CSVN tỉnh Nghĩa Bình lần thứ I, 3. 1977.
1 Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Bình, Niên giám thống kê 1976-1978, phát hành 1979, tr. 290, 292, 294.
2 Chi cục Thống kê tỉnh Nghĩa Bình, Niên giám thống kê 1976-1978, phát hành 1979, tr. 41, 102.
1 Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Niên giám thống kê 1980-1988, phát hành 1989, tr. 109.