III. TỈNH BÌNH ĐỊNH TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (12.1986-12.2000)
Tháng 12.1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã quyết định đưa nước ta bước vào thời kỳ đổi mới. Đường lối đổi mới của Đại hội VI đã mở ra thời kỳ lịch sử mới trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Với chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy lý luận, đổi mới cơ chế quản lý và đổi mới tổ chức, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, Nghị quyết Đại hội như một luồng gió mới, thổi bùng lên năng lực sáng tạo cách mạng mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân ta. Bước đầu thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với quy luật phát triển kinh tế của bước đi ban đầu thời kỳ quá độ. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu bao cấp và những hậu quả của nó. Cùng với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng chủ trương thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phù hợp với điều kiện, tiềm năng đất nước và nhu cầu cấp bách của toàn xã hội. Chủ trương đổi mới của Đảng đã mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp phát triển của cả nước và của tỉnh Bình Định.
Trong khoảng thời gian gần 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, mà hơn ba năm đầu (1986-1989) Bình Định còn nằm trong tỉnh Nghĩa Bình, do đặc điểm địa bàn của Nghĩa Bình quá rộng, toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 11.900km2, bao gồm miền núi, nông thôn đồng bằng và vùng ven biển, hải đảo, có chiều dài Bắc - Nam 228km, với trên 2,8 triệu dân cư; thành phố Quy Nhơn là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh lại ở cách xa các huyện phía bắc trên 200km. Với đặc điểm về địa lý, địa hình phức tạp, điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh còn lại khá nặng nề... Vả lại, trình độ và khả năng của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và lực lượng cán bộ cơ sở còn thiếu và yếu, tình hình đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng bộ đến với cơ sở, nhất là ở các huyện miền núi, vùng biển, hải đảo triển khai chậm, việc đầu tư xây dựng cơ bản, kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội dàn trải, thiếu trọng điểm chưa thật hợp lý, thiếu đồng bộ, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn.
Sau hơn 14 năm (1975-1989), xây dựng và phát triển trong điều kiện sáp nhập tỉnh, nền kinh tế tỉnh Nghĩa Bình tuy có những chuyển biến tiến bộ, đã giải quyết được vấn đề lương thực cho xã hội, nhưng nhiều tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, tài nguyên khoáng sản, thương mại, du lịch và dịch vụ của địa phương chưa được khai thác triệt để. Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chú trọng sản xuất lương thực, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng của đất đai, các vùng chuyên canh, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến phát triển chậm. Các ngành, nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ, chưa được đầu tư, thiết bị công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp. Thương mại và lưu thông hàng hóa ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo còn nhiều khó khăn. Các lĩnh vực y tế, văn hóa - xã hội, nhất là cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và y tế còn nhiều bất cập, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động cũng trở nên bức xúc. Có thể nói, những đặc điểm và khó khăn đó ngày càng trở nên gay gắt trong hơn 13 năm (1976-1989) xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ sáp nhập tỉnh Nghĩa Bình.
Đứng trước tình hình đó, thể theo nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh, tại kỳ họp tháng 2 năm 1988, Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa III, nhiệm kỳ 1985-1989, đã đề nghị Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho chia lại tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi.
Căn cứ vào tờ trình của Tỉnh ủy Nghĩa Bình, ngày 4.3.1989, Bộ Chính trị đã ra Quyết định số 83-QĐ/TW và đến ngày 30.6.1989, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII thông qua nghị quyết tái lập trở lại tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi.
Sự kiện tỉnh Bình Định tái lập được đánh dấu như một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử tỉnh nhà. Kế thừa những thành tựu có được và những bài học kinh nghiệm trong hơn 13 năm sáp nhập tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Bình Định đã tập trung mọi nguồn lực để khai thác lợi thế, tiềm năng và thế mạnh của địa phương, từng bước đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, đi dần vào thế ổn định và phát triển.
Dưới đây là tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định trong thời kỳ đổi mới.
1. Nền kinh tế tỉnh Bình Định trong thời kỳ đổi mới
Quán triệt đường lối đổi mới của Đại hội VI, căn cứ vào đặc điểm và thực trạng của nền kinh tế tỉnh nhà, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ Bình Định đã xác định nhiệm vụ: tập trung sức người, sức của nhằm thực hiện ba chương trình kinh tế lớn về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, tạo tiền đề phát triển lực lượng sản xuất, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp, nhằm “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, bao gồm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định phân phối, lưu thông, ổn định và cải thiện từng bước đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân; tăng cường hiệu lực tổ chức, quản lý; thiết lập trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa”1. Theo phương hướng đó, nhân dân Bình Định đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục những yếu kém, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế, tập trung đẩy mạnh sản xuất hàng hóa nông - công nghiệp, phát triển thương mại và du lịch theo hướng toàn diện.
Điểm khác biệt trong Nghị quyết lần thứ IV Đảng bộ tỉnh so với nghị quyết ba kỳ đại hội trước đó là không nêu mục tiêu tiến lên sản xuất lớn XHCN, thay vào đó xác định 3 chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực và thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Coi việc thực hiện thắng lợi 3 chương trình đó là mục tiêu đề phát triển lực lượng sản xuất và thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Sự đổi mới của nội dung nghị quyết thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, khắc phục biểu hiện giáo điều, duy ý chí trong lãnh đạo của Đảng bộ.
Để thực hiện chương trình sản xuất hàng hóa lương thực và thực phẩm cần phải tiếp tục đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, coi đây là "mặt trận hàng đầu, cần ưu tiên đáp ứng nhu cầu về vốn, năng lượng, vật tư và lao động kỹ thuật, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, cây lương thực (cả lúa và màu), cây công nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, nhất là ở các vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm. Tăng cường đầu tư chiều sâu khai thác tối đa năng lực các công trình thủy lợi hiện có, tăng diện tích tưới tiêu bằng công trình kiên cố; củng cố và xây dựng các công trình tiêu nước, thoát lũ, ngăn mặn; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là các thành tựu về sinh học và kỹ thuật canh tác tổng hợp. Quản lý chặt chẽ ruộng đất, đưa số ruộng đất hoang hóa vào sản xuất, tăng hệ số sử dụng đất lên 2,2 lần, giải quyết tốt phân bón (cả hữu cơ và vô cơ), thuốc trừ sâu và thuốc thú y. Xây dựng các vùng chuyên canh, thâm canh cao về lúa, hoa màu, kể cả lúa và rau màu xuất khẩu”1. Chính nhờ những chủ trương đúng đắn ấy mà sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển khá nhanh cả năng suất, sản lượng và giá trị. Tỉ trọng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp hàng năm đều tăng, tính đến năm 1990 chiếm tới 53% trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh2, sản xuất lương thực không những đủ ăn, bắt đầu có tích lũy mà còn đóng góp nghĩa vụ với Trung ương và chi viện cho các tỉnh bạn.
Về đổi mới cơ chế quản lý, từ khi có Nghị quyết 10 (tháng 4.1988) của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VI), Nghị quyết 05 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về phát triển nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Chỉ thị 14 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khoá 13) và Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy (khóa 14) đầu những năm 90 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp Bình Định đã có những bước khởi sắc mới. Mở đầu là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đề ra chủ trương đổi mới cơ chế khoán, cho đến cuối năm 1988, Bình Định đã có tới 3/4 hợp tác xã nông nghiệp thực hiện hình thức khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động đã kích thích tính chủ động, tích cực của người nông dân trong sản xuất, tăng thêm sự gắn bó của người nông dân với đồng ruộng, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển. Từ cơ chế khoán 10, vai trò kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp từng bước được tái khẳng định, quan hệ giữa hộ nông dân với hợp tác xã đã có sự đổi mới về căn bản, từ sự phụ thuộc, ỷ lại của hộ nông dân đối với hợp tác xã đã chuyển sang mối quan hệ chủ động và bình đẳng. Nhu cầu giải phóng lực lượng sản xuất bằng cơ chế quản lý đã được thể hiện trong các Nghị quyết tiếp theo của Đảng. Chỉ thị 14 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (K.13) và Nghị quyết 9 của Tỉnh ủy (K.14) đã chủ trương tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp bằng các giải pháp giao quyền sử dụng, ổn định lâu dài ruộng đất, mặt nước cho hộ nông ngư dân, khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển nông nghiệp sinh thái, hàng hóa và nâng cao giá trị sản xuất trên một hécta gieo trồng; Với phương châm đó, toàn tỉnh đến năm 1989 đã có 210/232 hợp tác xã nông nghiệp (chiếm khoảng 90,5%) thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Tỉnh ủy. Đồng thời tiếp tục cải tiến tổ chức và quản lý của các hợp tác xã nông nghiệp theo hướng tinh gọn, lực lượng cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 40-50%, xóa đội sản xuất, thành lập các tổ dịch vụ, khôi phục lại cấp thôn, chuyển chức năng quản lý hành chính lại cho thôn và chính quyền cấp xã, hợp tác xã chuyển sang làm dịch vụ phục vụ sản xuất, coi các cơ sở kinh tế hợp tác xã, tập đoàn hay hộ nông dân đều là đơn vị kinh tế tự chủ, bình đẳng trong sản xuất kinh doanh, mỗi hộ nông dân có quyền tham gia vào nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng có lợi. Xác định các vùng trọng điểm chuyên canh, thâm canh cây lúa như ở các huyện Tuy Phước (7.200 ha), An Nhơn (5.300 ha), Phù Cát (6.400 ha), Phù Mỹ (4.200 ha), Hoài Nhơn (3.700ha)1; quy hoạch phát triển các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như mía, dâu tằm, lạc, đậu, dừa, cà phê, đào,... phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhờ vậy, sức sản xuất tăng lên nhanh chóng, góp phần đưa tổng giá trị sản xuất nông nghiệp 5 năm đầu thời kỳ đổi mới tăng từ 15,9 tỉ năm 1987 lên 315 tỉ đồng năm 1990, tăng gấp 19,7 lần2.
Trong thời kỳ đầu chuyển đổi nền kinh tế, Bình Định đã xác định nhiệm vụ: "Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa và hoa màu, cây lương thực và cây công nghiệp, phát triển cây công nghiệp ngắn ngày với mở rộng diện tích cây công nghiệp dài ngày, áp dụng các biện pháp thâm canh ngay từ đầu, phát triển nông nghiệp phải lấy thâm canh tăng vụ là chính. Đồng thời mở rộng diện tích một cách vững chắc và có hiệu quả, sửa đổi, bổ sung các chính sách về đất ruộng và các loại đất khác để quản lý sử dụng có hiệu quả các tài nguyên của đất nước”1. Nhờ đó, kinh tế nông nghiệp đã phát triển khá vững chắc. Sản xuất nông nghiệp từ thuần nông độc canh cây lúa, đã từng bước chuyển sang đa canh, đa ngành. Diện tích trồng lúa hai vụ ăn chắc và các cây công nghiệp như dừa, đào, dâu tằm, mía, lạc đều tăng lên nhanh chóng. Các ngành kinh tế trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nghề biển và công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản đều từng bước phát triển rõ rệt.
Trong những năm đổi mới, Bình Định đã tập trung đầu tư có trọng điểm vào xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho mục tiêu phát triển năng lực sản xuất. Quy mô đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội năm sau cao hơn năm trước. Nếu như tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản trong 5 năm 1991-1995 đạt 2.450 tỉ đồng, thì 5 năm 1996-2000 tăng lên 5.641 tỉ đồng, gấp 2,3 lần năm năm trước. Nhờ đó, hệ thống hồ đập, kênh mương thủy lợi Bình Định phát triển khá. Bước vào năm 1990, Bình Định đã có 260 công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ, trong đó có 129 hồ chứa nước, 75 đập tràn và 56 trạm bơm, bảo đảm tưới tiêu cho 83.000 ha đất gieo trồng (chiếm 52%) hàng năm2. Trong 10 năm (1991-2000) đã xây dựng thêm và nâng cấp được 75 công trình thủy lợi, nâng tổng diện tích tưới ổn định lên trên 100.000 ha gieo trồng. Hiện có 70% diện tích trồng lúa đã cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch3.
Trong 15 năm đổi mới (1986-2000), thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", "nhân dân làm Nhà nước hỗ trợ"... tỉnh đã huy động hàng ngàn tỉ đồng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm cho nông thôn, cải thiện điều kiện sống cho người dân. Nhờ vậy, bộ mặt nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa ngày càng khởi sắc.
Cùng với việc thực hiện các chủ trương, giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất, Đảng bộ Bình Định cũng đã tập trung củng cố quan hệ sản xuất phù hợp. Mô hình hợp tác xã kiểu cũ với cơ chế quản lý hành chính về kinh tế vừa cồng kềnh vừa kém hiệu quả đã được chuyển đổi thành hợp tác xã kiểu mới, với bộ máy gọn nhẹ, lấy hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của hộ xã viên làm mục đích tồn tại và phát triển. Đến năm 2000 đã có trên 200/232 hợp tác xã nông nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý theo luật hợp tác xã, nhiều hợp tác xã đã thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ năng động, có hiệu quả, tạo được niềm tin và sự gắn bó của xã viên, xoá dần ấn tượng không lành mạnh của thời bao cấp. Chủ trương chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi được nhân dân hưởng ứng, đem lại hiệu quả rõ rệt. Nhiều nơi sau khi giao quyền sử dụng ruộng đất, mặt nước ổn định cho hộ nông dân, người dân đã mạnh dạn chuyển diện tích ruộng nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy hải sản hoặc chuyển ruộng cao thiếu nước sang trồng rau, hoa quả, đậu lạc, mía. Trong 10 năm, diện tích trồng lúa đã giảm từ 145.000 ha xuống còn 126.000 ha, trong khi đó năng suất tăng từ 31tạ/ha/vụ năm 1990, lên 41,5tạ/ha/vụ năm 2000.
Tốc độ tăng của sản lượng lúa 1991-1995 là 2,2% và 1996 - 2000 là 5,5%. Sản lượng lương thực quy thóc năm 2000 đạt trên 571.000 tấn. Bình Định đã cơ bản giải quyết được vấn đề lương thực cho xã hội, có tích lũy để tái mở rộng sản xuất.
Gắn liền với trồng trọt, chăn nuôi ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời kỳ đổi mới kinh tế, Đảng bộ Bình Định rất coi trọng việc khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư, “phát triển chăn nuôi đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp, nâng tỉ lệ đàn bò lai lên 40-50% tổng đàn và nạc hóa phần lớn đàn heo, phát triển mạnh đàn vịt siêu thịt, siêu trứng. Khuyến khích và nhân rộng các mô hình chăn nuôi giỏi, hình thành các nông trại chăn nuôi. Mở rộng mạng lưới chế biến thức ăn gia súc, thú y, bảo hiểm vật nuôi và các dịch vụ khác”1. Nắm bắt và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật về giống và các biện pháp thâm canh, nhiều hộ nông dân đã tập trung phát triển chất lượng và số lượng đàn gia súc, gia cầm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu. Nhờ vậy, ngành chăn nuôi đã có những bước phát triển rõ rệt. Đàn trâu bò tăng hàng năm: năm 1988 tăng 5,7% so với năm 1986, năm 1990 có 208.000 con, 1995: 238.000 con, đến năm 2000 đàn trâu bò của tỉnh đã có trên 261.000 con. Đàn lợn cũng tăng nhanh, năm 1990 có trên 252.000 con, năm 1995 trên 340.000 con, năm 2000 có tới 412.000 con, trong đó, trên 60% đàn đã được nạc hóa. Riêng đàn gia cầm năm 2000 tăng gần gấp 2 lần năm 19902. Sau 15 năm (1986-2000), ngành chăn nuôi đã có những bước chuyển biến mới, mặc dầu nguồn đầu tư từ ngân sách hàng năm chỉ chiếm tỷ trọng 4,77% trong tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nhưng nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành chăn nuôi từ 2,65% lên 6,6% và tỉ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp từ 24,62% năm 1996 lên 29,3% năm 2000, góp phần giải quyết nhu cầu cung cấp nguồn thịt cho xã hội và xuất khẩu3.
Cùng với nông nghiệp, LÂM NGHIỆP và NGƯ NGHIỆP là hai ngành kinh tế quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và tạo sự cân bằng cho môi trường sinh thái.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Bình Định đã chủ động quy hoạch diện tích trồng rừng, thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, với cơ chế giao đất giao rừng để các hộ nông dân, hợp tác xã, các cơ sở kinh tế và các tổ chức xã hội trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng thông qua các chương trình trồng rừng lớn của Chính phủ như chương trình PAM, chương trình 327... Nhờ vậy, phong trào trồng cây gây rừng đã phát triển mạnh mẽ, có sự chuyển biến cả về lượng và về chất. Các mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp như kinh tế vườn - đồi - rừng, kinh tế trang trại ngày càng phát triển. Diện tích rừng trồng tập trung đến năm 2000 đạt 44.175 ha, nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao được đưa vào trồng đại trà, cơ cấu cây trồng cũng đa dạng hơn, xu hướng trồng cây phân tán giảm dần, bình quân hàng năm giảm 24,4%, trong lúc đó, rừng trồng tập trung tăng bình quân hàng năm 6,4%4. Đồng thời với trồng rừng, công tác chăm sóc và bảo vệ rừng ngày càng được chú trọng. Cho đến nay, trên 90% diện tích rừng trồng mới đã được chăm sóc, bảo vệ, độ che phủ rừng tăng lên hàng năm từ 28,2% năm 1992 lên 31,7% năm 1995 và 33,8% năm 2000. Bên cạnh việc phát triển diện tích rừng kinh tế, Bình Định đã trồng mới hơn 73.390 ha rừng cảnh quan và phòng hộ, góp phần cân bằng môi trường sinh thái và tạo nên cảnh quan hấp dẫn cho ngành du lịch sinh thái phát triển.
Vừa đẩy mạnh phong trào trồng rừng, Bình Định vừa khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư tập trung để phát triển mạnh công nghiệp chế biến lâm sản. Trong vòng ba năm cuối của thế kỷ XX, nhờ vận dụng cơ chế thu hút đầu tư thích hợp trên địa bàn của tỉnh đã hình thành ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu tập trung ở khu công nghiệp Phú Tài và cụm công nghiệp tập trung ở tây nam thành phố Quy Nhơn với hơn 60 doanh nghiệp tham gia chế biến gỗ tinh chế xuất khẩu, làm nguyên liệu giấy và chế biến nông hải sản. Đặc biệt, các doanh nghiệp đã chủ động nhập khẩu gỗ nguyên liệu để phục vụ cho chế biến nhằm thực hiện chủ trương đóng cửa rừng của Nhà nước. Sản lượng gỗ tinh chế năm 2000 đạt gần 39.000m3. Giá trị sản xuất đạt 410 tỉ đồng, tăng gấp 5 lần so với năm 1990 và gấp 2 lần so với năm 1999, đạt kim ngạch xuất khẩu 56,8 triệu USD1.
Trên lĩnh vực kinh tế biển, từ năm 1996 trở đi, Bình Định đã xác định nhiệm vụ: “Phát triển đồng bộ nghề cá của nhân dân, chú trọng cả nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần. Phát triển nghề cá có giá trị kinh tế cao, tăng nhanh lượng tàu thuyền công suất lớn đi đôi với trang bị kỹ thuật ngành nghề tiên tiến để bám biển dài ngày, đánh bắt quanh năm ở ngư trường xa, ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới chấm dứt việc sử dụng các phương tiện đánh bắt làm hủy hoại tài nguyên thủy hải sản. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản, khai thác các diện tích nước mặn, lợ, ngọt; chuyển một số diện tích trồng lúa bị nhiễm mặn, năng suất thấp ven biển sang nuôi trồng thủy sản. Hoàn thành việc giao đất, mặt nước, ao hồ, ruộng muối ổn định lâu dài cho nhân dân”2. Thực hiện Nghị quyết các Đại hội lần thứ XIV (1992), lần thứ XV (1996) của Đảng bộ tỉnh, ngư dân Bình Định đã tiếp tục đầu tư chiều sâu, mở rộng và phát triển các ngành nghề nuôi trồng có năng suất cao, đẩy mạnh khai thác chế biến hải sản có giá trị xuất khẩu, bảo vệ nguồn lợi ven bờ. Nghề nuôi tôm xuất khẩu đã phát triển mạnh ở các huyện, thị trấn ven biển từ Tam Quan, Hoài Nhơn đến Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn với diện tích trên 2.400 ha, từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế hải sản của tỉnh.
Để khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh vốn có của kinh tế biển, trung bình hàng năm, Bình Định đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để đóng mới tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị đánh bắt. Từ cuối những năm 1980, tỉnh đã chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển mạnh nghề đóng mới tàu thuyền đánh cá cơ giới có công suất lớn. Cùng với xí nghiệp cơ khí tàu thuyền ở Quy Nhơn, Hoài Nhơn, nhân dân Tam Quan - Hoài Nhơn, Đề Gi - Phù Cát, cửa biển Quy Nhơn đã đóng tàu thuyền có công suất hàng trăm CV để cung cấp cho nhu cầu ra khơi đánh bắt dài ngày của ngư dân Bình Định và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Riêng năm 1997, nhân dân tỉnh Bình Định đã lập 25 dự án vay 10,6 tỉ đồng vốn tín dụng để đóng mới tàu thuyền có công suất lớn, mua sắm, trang bị thêm máy tầm ngư, định vị, cơ giới hóa các khâu đánh bắt. Nhờ vậy, công suất đội tàu thuyền tăng lên nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi ngành nghề theo hướng vươn ra khai thác xa bờ. Bình quân hàng năm số lượng tàu thuyền gia tăng 6-8%, công suất tăng 13-15%, chủ yếu đóng mới tàu thuyền có công suất lớn trên 90 CV. Năm 1990, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt toàn tỉnh đạt 65.000 CV, đến 1995 đạt 87.000CV và đến cuối năm 2000 đạt 190.000 CV1.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về công suất tàu thuyền đánh bắt, ngư dân Bình Định đã mạnh dạn chuyển đổi ngành nghề đánh bắt xa bờ, góp phần tăng nhanh sản lượng hải sản khai thác từ 38.000 tấn năm 1998 tăng lên 77.000 tấn năm 2000, theo đó giá trị sản xuất ngành thủy sản năm sau cao hơn năm trước, năm 1990 đạt 51 tỉ đồng, năm 1995 đạt 382 tỉ, năm 2000 đạt 644 tỉ đồng2.
Bên cạnh nghề đánh bắt, nghề nuôi trồng thủy hải sản cũng được coi trọng và phát triển mạnh. Trong những năm đổi mới, trên cơ sở diện tích nuôi trồng có được trong buổi đầu cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế (1975-1986), nhân dân Bình Định đã đầu tư khai hoang, kiến thiết và mở rộng diện tích các hồ nuôi tôm và quy hoạch thêm các vùng nuôi trồng thủy sản ven đầm Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn), đầm Đề Gi (Phù Cát - Phù Mỹ), Tam Quan (Hoài Nhơn),... và đã tạo ra được những khu vực, những vùng chuyên canh nuôi tôm xuất khẩu.
Nhằm tăng nhanh sản lượng tơm, cá, đặc sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, dưới tác động của cơ chế mới, trong những năm gần đây, nhà nước đã lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, giao quyền sử dụng mặt nước ổn định, lâu dài cho hộ để khuyến khích ngư dân đầu tư vốn, lao động mở rộng diện tích, chuyển một số diện tích ruộng nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản, đưa diện tích mặt nước nuôi trồng thủy hải sản tăng từ 2.400 ha năm 1995 lên 3.269 ha năm 2000. Đồng thời, vận động nhân dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chuyển nuôi tôm quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh hoặc thâm canh. Đến cuối những năm 1990, diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh đã chiếm trên 85%, áp dụng công nghệ sản xuất khép kín từ khâu sản xuất tôm giống đến sản xuất thức ăn và khâu nuôi tôm thịt, cải tạo môi trường, phòng trừ dịch bệnh. Nhờ đĩ, năng suất bình quân tăng từ 150-200 kg/ha lên 350-400 kg/ha/năm, có nơi đạt từ 500-700kg/ha. Sản lượng tôm nuôi được đưa vào chế biến xuất khẩu tăng từ 307 tấn năm 1991 lên 1.559 tấn năm 2000. Đặc biệt, Bình Định còn có nguồn lợi hải sản quý hiếm là yến sào, hàng năm khai thác được từ 600-700kg, góp phần tăng nhanh giá trị sản xuất của ngành thủy sản từ 419 tỉ đồng năm 1996 lên 644 tỉ đồng năm 20001.
Gắn liền với đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, nghề chế biến hải sản bao gồm các xí nghiệp đông lạnh quốc doanh, các hợp tác xã, hộ gia đình cũng phát triển mạnh. Các sản phẩm tôm, cua có ướp đông xuất khẩu, nước mắm, các hải sản khô như mực lột da, vi cá có giá trị kinh tế cao được thị trường chấp nhận. Nhiều doanh nghiệp quốc doanh đã vươn ra chủ động nắm bắt các nguồn hàng có giá trị xuất khẩu cao như mực, vi cá, yến sào. Nhiều hợp tác xã và hộ gia đình đã tổ chức chế biến nước mắm, cung cấp cho thị trường hàng chục triệu lít/năm, sản xuất muối trên 70.000 tấn/năm. Trong 10 năm (1990-2000), giá trị sản xuất thủy sản đạt mức tăng bình quân 11,2%/năm2.
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp Bình Định đã có những bước phát triển khá toàn diện. Lực lượng sản xuất được giải phóng khỏi sự ràng buộc của cơ chế quản lý hành chính bao cấp, lớn mạnh vượt bậc, chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã khơi dậy và phát huy những tiềm năng to lớn của nơng nghiệp, nơng thơn v nơng dn. Đồng thời với việc chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa nông, lâm, thủy sản tập trung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến, đã góp phần chuyển nền kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sinh thái bền vững, tiến ln theo con đường công nghiệp hoá (CNH) - hiện đại hoá (HĐH). Nhờ đó, giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng từ 1.313 tỉ đồng năm 1990, lên 1.833 tỉ năm 1995 và 2.540 tỉ đồng năm 20001. Đồng thời với sự phát triển của kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, trong những năm gần đây đã hình thành và phát triển mạng lưới giao thông ven biển, gắn với các khu dân cư ven trục đường 4 Tam Quan Bắc - Hoài Hương (Hoài Nhơn), Phú Thứ - Tân Phụng (Phù Mỹ), trục Gò Bồi - Đề Gi (Phù Cát) và tuyến hai xã Nhơn Lý - Nhơn Hội (Quy Nhơn), tạo nên những khu dân cư phồn thịnh, từng bước đô thị hóa, hình thành những thị trấn ở nông thôn ven biển. Đó là cơ sở để hình thành các trung tâm công nghiệp Phú Tài, Nhơn Hội (Quy Nhơn), Tam Quan, Bồng Sơn (Hoài Nhơn) và Đề Gi (Phù Cát - Phù Mỹ), đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định2.
Trên lĩnh vực CÔNG NGHIỆP - TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP, bước vào thời kỳ đổi mới, nhân dân Bình Định đã tập trung “Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong tỉnh, tăng cường hợp tác trong nước và nước ngoài để phát triển công nghiệp với tốc độ cao, trước hết là công nghiệp chế biến sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến những khoáng sản có thế mạnh của địa phương, chú ý phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”3. Nhằm mục đích đó, nhiệm vụ quan trọng nổi lên là phải quy hoạch, tổ chức sắp xếp lại sản xuất, dựa vào các tiềm năng và thế mạnh của địa phương để xác định phương án sản xuất cho từng cơ sở kinh tế, cụ thể hóa các chính sách thích hợp để kích thích sản xuất, tập trung đầu tư chiều sâu cho các ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong những năm đầu đổi mới từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bình Định tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn do Đại hội VI của Đảng đề ra, “Khai thác tốt nhất năng lực hiện có về nguyên liệu, thiết bị, máy móc, tay nghề đi đôi với mở rộng liên kết, liên doanh; ưu tiên phát triển những mặt hàng sản xuất bằng nguyên liệu trong tỉnh, trong nước. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, dầu thực vật, đường, cồn, kẹo, nước giải khát, hải sản, súc sản đông lạnh xuất khẩu, các mặt hàng tiêu dùng: chiếu cói, dệt, da, may mặc, sành sứ, thủy tinh,... Quy hoạch đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời dành một phần ngoại tệ nhập nguyên liệu và vật tư thiết yếu cho sản xuất hàng tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân về hàng tiêu dùng thông thường và tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu”1. Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, việc sắp xếp lại các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh đã được triển khai tích cực. Từ 60 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh 1986 giảm xuống còn 47 xí nghiệp năm 1990. Các xí nghiệp sau khi sắp xếp đã từng bước đi vào sản xuất có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế đều còn đan xen giữa hai cơ chế quản lý, các cơ sở kinh tế đều đang trong quá trình tìm tòi, tiếp cận để hội nhập vào cơ chế thị trường. Việc đầu tư chiều sâu, tăng cường trang thiết bị máy móc, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao chất lượng hàng hóa, cải tiến mẫu mã,... chưa được coi trọng. Việc quản lý sản xuất còn bị buông lỏng, dẫn tới nhiều mặt hàng sản xuất ra không đáp ứng nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội, không thể cạnh tranh nổi với thương trường, nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng hóa không tiêu thụ được, thiếu vốn đầu tư sản xuất. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp địa phương có xu hướng chững lại, từ 1,118 tỉ năm 1986 xuống 1,102 tỉ đồng năm 1990 (giá cố định năm 1982)2.
Bước sang năm năm đầu của thập niên 90 (1991-1995), đặc biệt từ khi triển khai thực hiện Nghị định 315/HĐBT và Nghị định 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, tăng cường công tác quản lý; Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng CSVN tỉnh Bình Định lần thứ XIV về chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2000, sản xuất công nghiệp Bình Định tiếp tục được sắp xếp lại theo hướng sáp nhập, tinh gọn đầu mối, tăng cường chất lượng bộ máy quản lý, ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp chế tạo chiếm tỉ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đầu năm 1996, ngành công nghiệp Bình Định còn 22 cơ sở quốc doanh, 13.563 cơ sở ngoài quốc doanh, thu hút trên 43,7 nghìn lao động. Thành phố Quy Nhơn là trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh, tập trung trên 75% số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, 25% số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh và chiếm 34% số lao động công nghiệp, tạo ra 55% giá trị tổng sản lượng công nghiệp toàn tỉnh. Nhờ phát huy mọi năng lực sẵn có để đầu tư chiều sâu, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chồng chéo và phân tán trong sản xuất, kết hợp với sự năng động trong điều hành và quản lý kinh tế, mà giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bình Định thời kỳ 1991-1995 đạt tốc độ tăng bình quân 14,1% năm, trong đó, công nghiệp quốc doanh tăng 21,9%, ngoài quốc doanh tăng 9,9%1.
Cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hàng năm, Bình Định còn đầu tư hàng chục tỉ đồng để nâng cấp các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đặc biệt là điện lực, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cải tiến và thực thi nhiều biểu thuế, khuyến khích đầu tư các ngành kinh tế mũi nhọn. Các xí nghiệp sau khi được sắp xếp lại đã vững vàng hơn trong cơ chế thị trường, chủ động đầu tư chiều sâu, mua sắm và đổi mới trang thiết bị, áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Một số xí nghiệp như: Đông lạnh Quy Nhơn, Xí nghiệp Liên hiệp Cao su, Xí nghiệp Dược phẩm Bình Định, Công ty Đá Bình Định... đã mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước. Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa, chế tạo cơ khí, đóng mới tàu thuyền, sản xuất vật liệu xây dựng,... Nhờ vậy, nhiều sản phẩm quan trọng phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu có tốc độ tăng nhanh, trong 5 năm 1991-1995, điện thương phẩm tăng 18,6%, đá khai thác 11,5%, hải sản đông lạnh 39,5%, đường kính 19,3%, thuốc ống 23,4%, thuốc viên 17,9%, xi măng 42,3%, gạch 17,8%, ngói 13,8%2. Nhiều mặt hàng xuất khẩu như may mặc, song mây, thủ công mỹ nghệ có chất lượng cao, được các nước Đông Nam Á ưa chuộng; các sản phẩm mới như thuốc chữa bệnh, dăm bạch đàn, phân vi sinh, giày da, áo quần may sẵn,... được thị trường trong và ngoài nước tiêu thụ ổn định.
Từ năm 1996, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, tỉnh chủ trương phải: “tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất các cơ sở công nghiệp hiện có, lựa chọn xây dựng mới một số cơ sở công nghiệp có lợi thế về nguyên liệu, công nghệ, thị trường, có quy mô thích hợp và hiệu quả kinh tế cao, tạo động lực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội (GDP)", theo hướng đó, Bình Định đã nhanh chóng “rà soát bổ sung quy hoạch phát triển các khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung để có kế hoạch đầu tư xây dựng. Vận dụng luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước, để thu hút vốn, kỹ thuật công nghệ xây dựng mới một số cơ sở công nghiệp then chốt, hình thành một số khu, cụm công nghiệp mới”1. Nhờ đó, các cụm, khu công nghiệp tập trung lần lượt hình thành như khu công nghiệp Phú Tài, cụm công nghiệp ven thành phố Quy Nhơn và dọc trục đường quốc lộ 19, công nghiệp mía đường ở Tây Giang, cụm công nghiệp chế biến khoáng sản và đóng tàu ở Đề Gi-Cát Khánh v.v...
Đặc biệt, sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của khu công nghiệp Phú Tài đã tạo bước ngoặt quan trọng, mở ra hướng phát triển mới đối với sự nghiệp CNH-HĐH của Bình Định. Đến cuối năm 2000, có trên 60 dự án đầu tư và đăng ký đầu tư vào khu công nghiệp Phú Tài, đã có 45 dự án được cấp giấy phép, trong đó có 40 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo nên 38% giá trị sản xuất công nghiệp và 27% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, thu hút trên 10.000 lao động2. Nhờ điều kiện thuận lợi, ưu thế cảng biển và chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn, tương lai không xa khu công nghiệp này còn mở rộng và phát triển.
Từ năm 1996 đến năm 2000, Bình Định tập trung chọn hướng đi trong công nghiệp, quan tâm cụ thể hóa nhiều chính sách, khuyến khích phát triển sản xuất, tạo cơ sở để CNH-HĐH nông nghiệp. Về hướng đi, đã lựa chọn hướng ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản; công nghiệp mía đường, bia, thuốc chữa bệnh, nước khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng. Về bước đi, đã chọn từ quy mô nhỏ, đến quy mô vừa và quy mô lớn phù hợp với vùng nguyên liệu, trình độ công nhân và thị trường. Về chính sách: chủ trương cổ phần hóa những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả mà Nhà nước không cần giữ độc quyền, thu hút vốn cổ phần từ công nhân viên chức và xã hội để đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô, tăng hiệu quả sản xuất. Đồng thời, cụ thể hóa hàng chục chính sách thu hút đầu tư vào các khu và cụm công nghiệp như chính sách ưu đãi về giá thuê đất, về vay vốn, về miễn giảm thuế, về hỗ trợ hạ tầng v.v...
Khối công nghiệp ngoài quốc doanh mà chủ yếu là các ngành chế biến nông - lâm - thủy hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa,... trong thời kỳ đầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nhiều cơ sở sản xuất chậm thích nghi với cơ chế thị trường, sản xuất và kinh doanh thua lỗ, hình thức kinh tế hợp tác tiểu thủ công nghiệp đã không trụ nổi trước cơn lốc của cơ chế mới buộc phải giải thể, từ 111 hợp tác xã chuyên tiểu thủ công nghiệp năm 1986 còn lại 84 cơ sở năm 1990 và 43 cơ sở năm 19933, trong đĩ, nhiều hợp tác xã tồn tại một cách hình thức, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn chủ yếu là sơ chế, ở thị trấn và thành phố là dịch vụ, sửa chữa.
Từ năm 1993 trở đi, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV (tháng1.1992) và lần thứ XV (tháng 5.1996) về đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với chủ trương “phát triển các ngành gia công để thu hút nhiều lao động như may mặc, dệt, da, cao su, thủ công mỹ nghệ, song mây, sản xuất đồ gỗ,... mở rộng các hình thức liên kết, liên doanh, hợp tác sản xuất và tranh thủ nguồn vốn nước ngoài. Đồng thời mở một số cơ sở công nghiệp quan trọng có giá trị xuất khẩu, thu ngân sách lớn”1. Nhiều cơ sở sản xuất đã bung ra mua sắm trang bị thêm máy móc thiết bị, tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất. Việc khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống đã làm hưng thịnh một số vùng nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp như Đập Đá (An Nhơn), Bình Nghi (Tây Sơn), Hoài Hảo, Tam Quan (Hoài Nhơn),... Nhờ vậy, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh Bình Định đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân. Đến năm 2000, Bình Định đã có 13.810 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh với tổng nguồn vốn đầu tư sản xuất kinh doanh 1.420 tỉ đồng, trong đó có 13.710 cơ sở sản xuất cá thể, 350 doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân, góp phần đưa giá trị sản xuất công nghiệp liên ngành tăng lên nhanh chóng từ 630 tỉ đồng năm 1996 tăng lên 1.644 tỉ đồng năm 2000, trong đó giá trị sản xuất của công nghiệp địa phương chiếm 85,6%, giải quyết việc làm ổn định cho hơn 62 ngàn lao động2.

Biểu đồ phát triển giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Định
trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới (giá cố định năm 1994)3
Vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi cơ chế, nền kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bình Định đã từng bước tự khẳng định vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệp CNH-HĐH chung của tỉnh. Các doanh nghiệp Nhà nước được tổ chức sắp xếp lại, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, từ 47 doanh nghiệp năm 1990, đến cuối năm 2000 chỉ còn 28 đơn vị. Sau khi sắp xếp lại quy mô lao động từng xí nghiệp, hiệu quả sản xuất đã tăng rõ rệt. Giá trị sản xuất doanh nghiệp Nhà nước năm 1990 mới đạt 84 tỉ đồng, năm 1995 đạt 238 tỉ đồng, đến năm 2000 đạt 985 tỉ đồng, chiếm 60% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Đồng thời, giá trị sản xuất của công nghiệp ngoài quốc doanh cũng tăng lên đáng kể. Năm 1990 đạt 164 tỉ đồng, đến năm 1995 đạt 271 tỉ đồng và năm 2000 đạt 653 tỉ, chiếm 39% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Tỷ trọng các ngành kinh tế trong cơ cấu: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ tương ứng năm 1990 là: 60%-6,6%-33,4%, đến năm 2000 là: 42,6%-22,2%-35,2%1.
THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ và DU LỊCH là ngành kinh tế giàu tiềm năng của Bình Định. Trải qua hơn 15 năm chấn hưng nền kinh tế, cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, ngành thương mại tỉnh Bình Định cũng đã nhanh chóng chuyển từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, xóa bỏ tình trạng "ngăn sông cấm chợ", tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh có sự quản lý và điều tiết của nhà nước.
Là một tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, có nhiều thắng cảnh đẹp và thơ mộng gắn liền với các di tích văn hóa - lịch sử của dân tộc, Bình Định có những điều kiện tối ưu để phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ. Bước vào thời kỳ đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV năm 1987 xác định “thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải được tăng cường về lực lượng và cải tiến phương thức mua và bán trực tiếp với người sản xuất và người tiêu dùng, lập lại trật tự, kỷ cương trong thị trường có tổ chức, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, thật sự chuyển sang kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ, phấn đấu thu mua nắm 80-90% nguồn hàng lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu và một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, nắm hầu hết bán buôn, chiếm lĩnh 60% thị trường bán lẻ. Mở rộng giao lưu hàng hóa trong tỉnh và ngoài tỉnh, bãi bỏ các biện pháp ngăn sông cấm chợ, đồng thời tăng cường quản lý thị trường tận gốc bằng cách gắn sản xuất, dịch vụ với phân phối lưu thông theo một cơ chế hợp lý; kịp thời phát hiện và nghiêm trị bọn đầu cơ, buôn lậu, ăn cắp, tuồn hàng của nhà nước ra ngoài”1. Từ cơ chế cũ không thừa nhận vai trò của thị trường tự do, chủ trương cải tạo thị trường này với biện pháp thiết lập mạng lưới thương nghiệp XHCN dưới hai hình thức mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước từng bước thừa nhận cơ chế thị trường và đi liền theo đó là chủ trương xoá bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, từng bước thực hiện cơ chế một giá. Tầng lớp tiểu thương được thừa nhận tồn tại lâu dài, được tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật nhà nước. Trước đòi hỏi ấy, các doanh nghiệp quốc doanh phải vươn ra tổ chức kinh doanh tổng hợp các loại hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân theo giá thỏa thuận, được mua vừa bán, bảo toàn vốn và kinh doanh có lãi, nhờ vậy mà trên mặt trận nóng bỏng và nhạy cảm của thương mại, dịch vụ trong thời kỳ đầu chuyển đổi nền kinh tế, nhịp độ tăng trưởng của ngành đã có những bước phát triển mới.
Để thích nghi với cơ chế thị trường, ngành thương mại, dịch vụ đã nhanh chóng quy hoạch, sắp xếp lại tổ chức, củng cố lại cơ sở vật chất, chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế mới, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu phấn đấu, xoá dần sự bao cấp từ ngân sách nhà nước, kinh doanh theo nguyên tắc tự trang trải, tự phát triển. Mặt khác, từ chỗ coi thương nghiệp quốc doanh là chủ đạo, chia thị trường ra thành hai loại hình quốc doanh và ngoài quốc doanh, đã chuyển sang phát triển mạnh dịch vụ thương mại bao gồm tất cả các thành phần kinh tế cùng tham gia, chấp nhận cạnh tranh, gắn sản xuất với thị trường, mở rộng giao lưu buôn bán với các trung tâm kinh tế trong và ngoài nước đã thức tỉnh và khơi dậy tiềm năng thương mại dịch vụ của toàn xã hội. Theo đó, nhiều loại hình thương mại và dịch vụ phát triển mạnh mẽ bao gồm dịch vụ thương mại phục vụ sản xuất và đời sống như thu mua, chế biến nông - lâm - thủy sản, cung ứng dịch vụ hậu cần phục vụ sản xuất, vận chuyển hàng hóa và hành khách, lắp ráp, sửa chữa và chế tạo máy nông nghiệp, chế tạo và sửa chữa máy thủy, điện lạnh, điện tử, kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn, tắc xi v.v… Thực hiện phương thức huy động sức dân, các chợ được xây dựng và nâng cấp. Cùng với việc hình thành và phát triển các trung tâm thương mại lớn ở thành phố Quy Nhơn, các trị trấn, thị tứ, các nút giao thông của 10 huyện trong tỉnh đã hình thành một mạng lưới thương mại, làm cho Bình Định trở thành thị trường hàng hóa sầm uất, là một trong những trung tâm buôn bán, dịch vụ lớn của Nam Trung Bộ và Tây Nguyên giàu có.
Việc sắp xếp và quy hoạch lại tổ chức đã tạo điều kiện cho hệ thống thương nghiệp quốc doanh thoát ra khỏi tình trạng cồng kềnh, kém hiệu quả, các doanh nghiệp được củng cố theo hướng tinh gọn phù hợp với sự năng động của thương trường, kinh doanh hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần ổn định giá cả thị trường, thúc đẩy sức sản xuất phát triển, góp phần giải quyết việc làm và phân công lại lao động trên địa bàn của tỉnh. Cho đến năm 2000, trên địa bàn Bình Định có 14 doanh nghiệp quốc doanh hoạt động kinh doanh thương mại, trong đĩ, có 3 doanh nghiệp quốc doanh Trung ương, với trên 127 điểm mua bán hàng hóa và hàng trăm cửa hàng bán lẻ, góp phần đưa tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng bình quân hằng năm trong thời kỳ 1991-2000 lên 27,6% và chiếm 20,37% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ bình quân của các tỉnh duyên hải miền Trung; năm 2000 đạt tới 4.410 tỉ đồng, giải quyết công ăn việc làm cho trên 30.000 lao động1.
Khu vực thương mại, dịch vụ ngoài quốc doanh, thực hiện chủ trương “Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, chú ý các loại hình mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất, kinh doanh và đời sống, tạo nhiều việc làm cho xã hội”2, từ đó, các hộ kinh doanh tập thể, tư nhân được tự do đăng ký hành nghề dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách, dịch vụ du lịch, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống... Nhờ chính sách lưu thông mở cửa, thông thoáng, sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, thương nghiệp ngoài quốc doanh đã có những bước phát triển cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động, từ 13 doanh nghiệp và 22.741 hộ kinh doanh cá thể năm 1992, đến năm 2000, ngoài 200 chợ loại cấp 1, 2, 3, Bình Định đã có tới 172 doanh nghiệp bao gồm 16 công ty trách nhiệm hữu hạn, 156 doanh nghiệp tư nhân và 28.320 hộ kinh doanh cá thể, góp phần đưa tỉ trọng toàn ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 28,6% năm 1992 lên 35% năm 2000 và tỉ lệ lao động thương mại khu vực ngoài quốc doanh chiếm 95,6% tổng số lao động toàn ngành thương mại tỉnh Bình Định3.
Trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, có thể nói với sự phát triển năng động của nền kinh tế thời kỳ đổi mới và lợi thế của hệ thống giao thông, đặc biệt là giao thông hàng hải gắn liền với cảng Quy Nhơn và trục đường quốc lộ số 19, nối liền với Tây Nguyên trù phú, với Lào, Thái Lan, và Campuchia đã tạo cho ngành thương mại -dịch vụ nói chung, nhất là ngành xuất - nhập khẩu những thế mạnh nổi trội không một tỉnh nào lân cận có được. Tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu phụ thuộc vào sự phát triển của sức sản xuất trong nước. Trong những năm đầu sau ngày quê hương giải phóng, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 1,4 triệu R-USD (1976-1980) và 36 triệu R-USD (1981-1985). Ngay cả trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1990), kim ngạch xuất khẩu cũng chỉ đạt 42 triệu R-USD, tăng 16% so với 5 năm trước đó1 .
Đặc biệt, trong 10 năm cuối của thế kỷ XX (1991-2000), cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu của Bình Định tăng lên nhanh chóng, tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt tới 29,1% và giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 103 triệu USD, tăng gấp 4,8 lần năm 1995 và gấp 13 lần so với năm 1990. Nhờ chính sách thông thoáng của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế đã chủ động tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đến năm 2000, có 65 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong tỉnh tham gia xuất khẩu. Tỉ trọng hàng hóa xuất khẩu qua chế biến chiếm tỉ lệ khá cao. Hàng xuất khẩu của Bình Định đã có mặt ở 32 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, thị trường châu Âu chiếm tỉ trọng lớn nhất đạt 58%, thị trường châu Á 32,6%, châu Mỹ 2,42% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu gồm: sản phẩm gỗ tinh chế, hàng dày dép, may mặc, nông sản, hải sản đông lạnh, vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, thuốc chữa bệnh v.v... Trong đó, hàng nông - lâm - hải sản chiếm xấp xỉ 70%2.
Gắn liền với tiến trình cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định, trong hơn 25 năm, ngành TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG đã có những bước phát triển vượt bậc. Hệ thống ngân hàng bao gồm: ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, công thương, ngoại thương, ngân hàng đầu tư và phát triển đã thực hiện tốt chức năng khai thác nguồn vốn để phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, ngành ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh kinh doanh, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, lập thêm ngân hàng người nghèo. Ngoài nguồn quỹ dành cho xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho nhân dân, bình quân hàng năm ngành ngân hàng đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, cho vay để đầu tư chiều sâu phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tổng nguồn vốn tín dụng đầu tư cho XDCB tăng đáng kể, từ 21,2 tỉ đồng trong thời kỳ 1986-1990 tăng lên gần 369,5 tỉ đồng trong thời kỳ 1991-1995, bình quân hàng năm đầu tư 73,9 tỉ đồng và đã có 72 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng như nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn, cầu cảng Quy Nhơn, hồ chứa nước Thuận Ninh, nâng cấp giai đoạn 1 nhà máy Nước Quy Nhơn, cải tạo lưới điện Quy Nhơn, cầu An Lão, mạng lưới điện quốc gia về đến 120/147 phường xã1. Trong những năm gần đây, mỗi năm, ngành ngân hàng đã đầu tư hàng trăm tỉ đồng vốn tín dụng để hoàn thành việc phủ điện, phủ sóng phát thanh truyền hình trong toàn tỉnh, xây dựng các công trình trọng điểm như cầu Kiên Mỹ, đường Quy Nhơn - Sông Cầu, nâng cấp quốc lộ 19 (từ thị trấn Tuy Phước - Cầu Gành), cảng c Nhơn Châu, nhà máy đường Bình Định, nhà máy bia Quy Nhơn, khu công nghiệp Phú Tài, khu trung tâm thương mại Quy Nhơn,... và góp phần tích cực trong việc xây dựng hạ tầng đô thị theo quy hoạch nhằm đưa thành phố Quy Nhơn và các thị trấn thành trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của các huyện trong tỉnh.
Bình Định là vùng đất có vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên tươi đẹp, hữu tình, có bề dày lịch sử văn hóa phong phú rất thuận lợi cho phát triển DU LỊCH và DỊCH VỤ. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, Bình Định đã từng là vùng kinh đô của vương quốc Chămpa, là vùng đất sản sinh ra vị anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ và các anh hùng hào kiệt như Bùi Thị Xuân, Mai Xuân Thưởng... Bên cạnh những di sản văn hóa phi vật thể quý báu, nơi đây còn lưu lại những di tích văn hóa quý giá như phế thành Đồ Bàn, 6 cụm tháp Chàm là tháp Đôi (Tour de Khmer), tháp Bánh Ít (Tour d’Argent), tháp Dương Long (Tour d’ lvoire), tháp Thủ Thiện (Tour de Bronze), tháp Cánh Tiên (Tour de Cuire), và tháp Phú Lốc (Tour d’ ort), nhà thờ anh hùng Tam kiệt Tây Sơn và Bảo tàng Quang Trung... Cho đến năm 2000, Bình Định có khoảng 100 di tích với mật độ bình quân 1,6 di tích/km2, trong đó, 18 di tích đã được nhà nước xếp hạng với những nét kiến trúc độc đáo và nghệ thuật điêu khắc tinh xảo.
Bình Định còn là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và thơ mộng, với bờ biển dài, bị chia cắt bởi các nhánh núi chạy sát ra đến chân biển tạo nên cảnh biển trời, núi non hùng vĩ. Dọc bờ biển có những bãi cát bằng phẳng, mịn màng, trải dài như Tam Quan, Quy Hòa, Quy Nhơn,... rất thuận tiện cho khách nghỉ ngơi và tắm biển. Bán đảo Phương Mai và đầm Thị Nại rộng mênh mông, kín gió rất hấp dẫn cho khách du thuyền. Thắng cảnh Gềnh Ráng - Quy Hòa với một hệ thống cảnh quan du lịch đẹp, hấp dẫn khách bốn phương như dốc Mộng Cầm, đồi Xuân Vân, bãi Trứng hay còn gọi là bãi tắm Nam Phương hoàng hậu, lầu ông Hoàng được xây cất vào năm 1927, mộ Hàn Mặc Tử, nơi yên nghỉ của nhà thơ nổi tiếng thời hiện đại, cùng với bức tranh sơn thủy hữu tình trải dài hàng chục cây số dọc tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu. Đó là những nơi du khách đến tham quan và nghỉ mát hết sức lý tưởng. Những tiềm năng khác như hồ, sông, suối, suối nước khoáng v.v... rất thuận lợi cho việc xây dựng những nhà nghỉ dưỡng, những công viên thiên nhiên đẹp như hồ Phú Hòa, suối Mơ, suối Dứa, suối Tiên, suối khoáng nóng Hội Vân, Chánh Thắng,... đó là những thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái.
Với ưu thế đó, bước vào thời kỳ đổi mới, Bình Định tập trung “Phát triển mạnh du lịch để sớm hòa nhập vào mạng lưới du lịch cả nước, đưa ngành du lịch tăng với nhịp độ cao, trở thành ngành kinh tế quan trọng. Coi trọng cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia kinh doanh du lịch. Đầu tư nâng cấp, xây dựng các khu du lịch như thắng cảnh Gềnh Ráng, Phú Hòa, Hầm Hô, bãi biển Quy Nhơn, nâng cấp bảo tàng Quang Trung, trùng tu các tháp Chàm, xây dựng một số khách sạn, nhà hàng cao cấp, cơ sở sản xuất hàng lưu niệm phục vụ cho khách du lịch. Đồng thời, quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức ngành du lịch, mở rộng luồng tuyến, đa dạng hóa các loại hình và làm tăng sức hấp dẫn của du lịch Bình Định. Tăng cường quản lý các hoạt động du lịch, vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của Nhà Nước, giữ vững an ninh, vừa tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho phát triển du lịch”1. Ngành du lịch - dịch vụ đã nhanh chóng quy hoạch và lập kế hoạch phát triển, thu hút sự đầu tư của Nhà nước và các thành phần kinh tế xây dựng hạ tầng cơ sở và làm dịch vụ, từng bước đưa ngành dịch vụ - du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của Bình Định. Ngoài hệ thống khách sạn từ một đến ba sao do Công ty Du lịch Bình Định quản lý, mạng lưới khách sạn, nhà hàng và các loại hình dịch vụ văn hóa vui chơi giải trí, thể dục thể thao, võ thuật,... của tư nhân và các tổ chức kinh tế - xã hội đã tăng lên nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân. Cho đến năm 1998, Bình Định đã có 18 khách sạn được xếp hạng từ một đến ba sao, 11 nhà hàng và 36 cơ sở dịch vụ thuộc mạng lưới du lịch - dịch vụ quốc doanh; 4.061 cơ sở khách sạn, nhà hàng và các loại dịch vụ khác của tư nhân2, được phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh, chủ yếu ở thành phố Quy Nhơn - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. Khách du lịch đến với Bình Định bằng đường hàng không, đường sắt, đường bộ và đường biển, bao gồm du khách đến từ các nước Pháp, Mỹ, Nga, Đức, Đài Loan, Hồng Kông và các nước thuộc khối ASEAN; Việt kiều từ các nước Mỹ, Úc, Canada, Pháp; khách trong nước chủ yếu từ các tỉnh Tây Nguyên. Sự chuyển mình mạnh mẽ của du lịch - dịch vụ trong thời kỳ đổi mới đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Bình Định. Nếu năm 1991, tỉ trọng ngành kinh tế du lịch trong khối dịch vụ chiếm 28,3% thì năm 2000 đã tăng lên 35,2%1 và doanh thu từ du lịch thuần túy năm 1998 đạt 27,5 tỉ đồng đến năm 2000 đạt 47,5 tỉ đồng, tổng doanh thu du lịch 5 năm 1996-2000 đạt 164 tỉ đồng, tốc độ tăng bình quân 6,55%2.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thông qua các thời kỳ lịch sử, GIAO THÔNG VẬN TẢI luôn luôn đóng vai trò quan trọng. Là một tỉnh có mạng lưới giao thông phong phú bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, nếu đầu tư tu bổ, nâng cấp và khai thác tốt sẽ tạo ra lợi thế to lớn trong thời kỳ đổi mới. Trong những năm vừa qua, Bình Định đã chủ động phát động phong trào nhân dân làm giao thông. Dựa vào thực lực của mình, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã tập trung đầu tư “xây dựng và thực hiện quy hoạch hệ thống giao thông của tỉnh, nâng cấp giao thông, từng bước nhựa hóa đường liên huyện và bê tông hóa cầu cống. Thực hiện phương thức xây dựng đường giao thông liên huyện do nhà nước đầu tư, đường liên xã do nhân dân làm nhà nước hỗ trợ một phần. Chú trọng phát triển đường giao thông đến các vùng chuyên canh nguyên liệu lớn của tỉnh, đến miền núi, các căn cứ kháng chiến cũ, các khu kinh tế mới. Đồng thời, tập trung nâng cấp hệ thống giao thông đường nội thị thành phố Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, cảng Quy Nhơn và cảng Thị Nại đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh và khu vực”3. Theo đó, hệ thống giao thông tỉnh Bình Định đã có những chuyển biến mới.
Hệ thống giao thông đường bộ vốn được coi là một trong những ưu thế góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng ven biển với miền núi và tạo điều kiện để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, bình quân hàng năm Bình Định đã đầu tư từ ngân sách hàng chục tỉ đồng để duy tu, cải tạo, nâng cấp và làm mới các tuyến đường giao thông. Cho đến năm 2000, tỉnh Bình Định có khoảng 3.499 km đường bộ, ngoài tuyến đường Quốc lộ 1A dài 111 km nối liền Bình Định với các trung tâm kinh tế - xã hội của cả nước, tuyến đường quốc lộ 19 dài 62 km, đường Quy Nhơn - Sông Cầu dài 33,5km và các trục đường 630, trục đường 631 hàng năm được duy tu và nâng cấp, tạo điều kiện cho thị trường tỉnh Bình Định tiếp cận với các thị trường giàu có của khu vực Tây Nguyên và các nước trong khối ASEAN. Đặc biệt với các tuyến đường tỉnh lộ như trục đường 629 từ Bồng Sơn đi An Lão, đường 633 từ Phù Cát đi Đề Gi, đường 636 từ An Nhơn đi Tây Sơn, đường 637 nối liền huyện Tây Sơn với huyện Vĩnh Thạnh, và các đường tỉnh lộ 638, 639, 640 nối liền thành phố Quy Nhơn, trung tâm tỉnh lỵ với các huyện miền núi, các vùng chuyên canh nguyên liệu và các cơ sở kinh tế đã tạo điều kiện để mở mang hành lang liên kết giữa các vùng trong tỉnh. Một số đường nội tỉnh như Gò Bồi-Đề Gi, Cát Chánh - Nhơn Lý,... đang được đầu tư thi công xây dựng, góp phần khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Từ những năm 90 trở lại đây, thực hiện chủ trương “giao thông phải thực sự đóng vai trò đòn bẩy trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện tốt các quá trình thủy lợi hóa, sinh học hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa trong nông nghiệp một cách hợp lý, mở mang ngành nghề, phục vụ đắc lực công cuộc công nghiệp hóa nông thôn”1, nhân dân Bình Định đã tích cực, năng động hưởng ứng phong trào xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, mạng lưới giao thông liên huyện, liên thị, liên xã, phường. Đường giao thông trục chính của các xã đã và đang được nâng cấp với trên 3.200 km nối liền giữa các vùng, các địa phương, là một trong những lợi thế giúp cho nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bình Định nhanh chóng tiếp cận với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về cảng biển và giao thông đường thủy, Bình Định có chiều dài bờ biển tới 134 km với ba cửa biển lớn là cửa Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn, cửa Đề Gi thuộc huyện Phù Cát và cửa Quy Nhơn, với nhiều luồng lạch thuận lợi cho việc lưu thông đường thủy giữa các vùng trong nước, trong khu vực và quốc tế. Đồng thời còn có nhiều sông lạch thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa nội tỉnh. Đặc biệt, cảng biển Quy Nhơn là một trong những cảng biển quốc gia lớn, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa và vận chuyển hành khách trong nước và thế giới. Trong những năm gần đây, tàu từ Quy Nhơn đi theo hai hướng: cảng Quy Nhơn đi Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Lan, Singapore, Italia, Úc, Ấn Độ; và cảng Quy Nhơn đi Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Hòn Gai, Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga.
Phát triển cụm cảng biển bao gồm cảng Quy Nhơn, cảng Thị Nại thuộc thành phố Quy Nhơn, không những góp phần thúc đẩy nền kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của cảng Quy Nhơn, bình quân hàng năm nhà nước đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để nâng cấp và làm mới hệ thống cầu cảng, nạo vét luồng lạch, đảm bảo tàu có trọng tải 2,5 vạn tấn cập bến dễ dàng, khối lượng hàng hóa qua cảng ngày càng tăng, bình quân thời kỳ 1986-1990 nhịp độ tăng hàng năm thông qua cảng 14,7%, trong đó, nhịp độ tăng hàng hóa xuất khẩu chiếm 48,95%1. Từ năm 1990 đến năm 2000, trong 10 năm khối lượng hàng hóa qua cảng biển tăng 5 lần. Năm 1998 là năm đầu tiên hàng qua cảng Quy Nhơn đạt trên 1 triệu tấn/năm, đến năm 2000 tăng trên 1,6 triệu tấn. Hàng thông qua cảng Quy Nhơn chủ yếu là hàng xuất nhập khẩu chiếm 63,1%2. Ngoài ra, cảng biển Thị Nại với chiều dài cầu tàu 195m, tàu có trọng tải 5.000 tấn ra vào dễ dàng, năng lực thông qua cảng 300.000 tấn/năm. Đây còn là nơi trú ẩn của các đội tàu có công suất 2.500 tấn và 5.000 tấn được bán đảo Phương Mai chắn gió, tạo điều kiện để khai thác tốt hơn tiềm năng thủy hải sản và phát triển giao thông đường thủy, mở ra nhiều loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân.
Về đường sông Bình Định có 4 dòng sông lớn, như sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Côn và sông Hà Thanh. Với địa hình hẹp, độ dốc lớn, lưu lượng dòng chảy lớn, nhất là vào mùa mưa, không thuận lợi cho vận chuyển hành khách đường sông, nhưng rất thuận lợi cho việc vận chuyển nông - lâm - thổ sản từ miền núi về miền xuôi, ngăn sông đắp đập, làm thủy lợi và xây dựng nhà máy thủy điện, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra, hệ thống đường sắt và đường hàng không cũng là một lợi thế giao thông của Bình Định, nếu khai thác tốt, sẽ phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua Bình Định dài trên 200km, từ những năm 90 trở đi, cùng với dự án cải tạo và nâng cấp của Trung ương, Bình Định đã chủ động đầu tư để thay thế toàn bộ đường ray, tà vẹt, cầu cống, đầu tàu nhằm không ngừng đẩy nhanh tốc độ chạy tàu từ 30-40km/h trong những năm 1976-1986 lên 80-100 km/h, làm tăng khả năng lưu thông hàng hóa và hành khách từ Bình Định đến hầu hết các trung tâm kinh tế của cả nước. Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 35 km, là một trong những sân bay lớn ở khu vực miền Trung. Trong thời kỳ chiến tranh, sân bay Phù Cát chủ yếu phục vụ cho mục đích quân sự, từ sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, sân bay Phù Cát được chuyển sang phục vụ cho mục đích dân sự, nhà ga được xây dựng mới, quy mô, đường băng không ngừng được nâng cấp. Hiện nay, mỗi tuần có hai chuyến bay phục vụ hành khách đi Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, tạo tuyến giao thông hàng không thông suốt giữa Bình Định với ba trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước. Trong tương lai, giao thông hàng không sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng, các tuyến hàng không và số chuyến sẽ tăng lên nhanh chóng phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập của Bình Định với cả nước và thế giới.
Gắn liền với sự phát triển của hệ thống giao thông, trong những năm đổi mới, ngành vận tải hàng hóa đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Dưới tác động mạnh mẽ của chính sách đổi mới thông thoáng, ngành vận tải đã thu hút được nhiều thành phần kinh doanh vận chuyển hàng hóa, bao gồm nhà nước, hợp tác xã và tư nhân. Phương tiện, trang thiết bị vận chuyển ngày càng gia tăng. Theo đó, khối lượng hàng hóa vận chuyển bình quân trong 5 năm 1986-1990 tăng 40,8% so với thời kỳ trước đó1. Trong 5 năm cuối của thế kỷ XX (1996-2000), khối lượng hàng hóa và hành khách luân chuyển tăng lên đáng kể, khối lượng hàng hóa luân chuyển năm 1996 đạt 165 triệu tấn/km, năm 2000 tăng lên 263 triệu tấn/km. Tương ứng với hai thời điểm trên, lượng hành khách luân chuyển tăng từ 651,5 triệu hành khách/km lên 706 triệu hành khách/km, tăng gấp 2 lần so với năm 19952.
Vận tải hàng hóa và hành khách thuộc khu vực tư nhân từ những năm 90 trở đi phát triển mạnh, số phương tiện chiếm 96,6%, khối lượng hàng hóa vận chuyển chiếm 96,1%, luân chuyển chiếm 73,2% và khối lượng hành khách vận chuyển chiếm 99,5%, khối lượng hành khách luân chuyển chiếm 93,3%3.
Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhất là hơn 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh trở lại đây, nền kinh tế của Bình Định đã có những bước phát triển vững chắc. Từ một nền kinh tế phát triển mất cân đối, chất lượng và hiệu quả thấp, có nguy cơ khủng hoảng,... nhân dân Bình Định đã vượt qua muôn vàn khó khăn và thách thức, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, lao động cần cù, sáng tạo chung sức, chung lòng khai thác các tiềm năng, thế mạnh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, đưa tổng giá trị sản phẩm xã hội (GDP) của tỉnh từ năm 1986 trở lại đây có chiều hướng gia tăng, nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm từ 6,6% trong những năm 1986 - 1990 lên 7,8% (1991-1995)4 và 8,9% trong thời kỳ 1996-2000, chiếm tỉ trọng 1/5 GDP của các tỉnh duyên hải miền Trung. Đặc biệt với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tốt hơn tài nguyên, nguồn lao động dồi dào, ưu thế địa lý và sinh thái, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, đa dạng hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tăng tổng sản phẩm xã hội, tạo nguồn tích lũy, mở rộng sản xuất, tạo tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, nhờ vậy, cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Định chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ từ 40% năm 1990 lên 48,9% năm 1995 và 57,4% năm 2000, bắt kịp cơ cấu kinh tế tiến bộ trong cả nước1.
Cũng trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, nhiều trung tâm kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, thương mại được hình thành và đã phát huy tác dụng, các doanh nghiệp được sắp xếp lại, tập trung đầu tư chiều sâu, thay đổi dây chuyền sản xuất, áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các địa phương đã thực hiện giao ruộng đất, mặt nước, đồi rừng đến hộ, nâng cao tính tích cực, chủ động của người lao động, kích thích sản xuất phát triển, từng bước đưa GDP bình quân đầu người từ 157 USD năm 1990 lên 217 USD năm 1995 và 320 USD năm 20002. Đặc biệt, trên mặt trận nông nghiệp, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý, củng cố kinh tế hợp tác và hợp tác xã, hoàn thành việc giao ruộng đất, mặt nước ổn định, lâu dài cho hộ nông dân. Vào đầu những năm 1990, Bình Định đã chủ động áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ sinh học, đổi mới cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, áp dụng các biện pháp thâm canh cây lúa. Do vậy, năng suất và sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước, nếu năm 1992, năng suất mới đạt 29,8 tạ/ha, năm 2000 đạt 41,2 tạ/ha. Sản lượng lương thực năm 1990 đạt xấp xỉ 300 ngàn tấn, năm 1995 đạt trên 402 ngàn tấn, năm 2000 đạt 523 ngàn tấn. Nhờ đó, lương thực đầu người tăng từ 302kg năm 1990 lên 307kg năm 1995 và 385kg năm 2000. Cũng từ những năm 1990 trở đi, tỉnh Bình Định đã có lương thực hàng hóa xuất khẩu.
2. Phát triển văn hóa - xã hội
Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với nhiệm vụ phát triển nền kinh tế, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định đã nỗ lực phấn đấu tạo ra sự phát triển trên lĩnh vực văn hoá - xã hội. Trong điều kiện nguồn kinh phí, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhiệm vụ phát triển giáo dục, y tế, văn hoá… thời kỳ này còn đứng trước những khó khăn, thách thức mới, đó là, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của quá trình mở cửa tác động trực tiếp, hàng ngày, hàng giờ đến sự nghiệp phát triển văn hoá - xã hội. Nhưng với nhận thức “trong khi quan tâm đến ngày mai, cần nhấn mạnh rằng mọi kế hoạch xây dựng và phát triển nhất thiết phải gắn với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người dân, mỗi gia đình ngay ngày hôm nay, tương lai tươi đẹp phải được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hiện tại”1, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, và thực hiện chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, tạo nên môi trường thuận lợi để xây dựng và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Quán triệt các quan điểm đổi mới của Đảng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân Bình Định coi phát triển giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, nhằm tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo đi trước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Từ nhận thức đó, ngoài nguồn đầu tư từ ngân sách của nhà nước, nhân dân Bình Định đã tích cực hưởng ứng chủ trương xã hội hóa giáo dục đào tạo, đóng góp hàng chục tỷ đồng để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho ngành giáo dục mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo phổ thông, bổ túc, chính quy, liên kết,... nâng cao chất lượng, chú trọng học gắn liền với hành, tài với đức, nhà trường gắn liền với xã hội, nhằm không ngừng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội. Nhờ vậy, nguồn đầu tư từ xã hội cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo hàng năm tăng lên đáng kể, từ 789 triệu đồng năm 1990 đã tăng lên 5,1 tỉ năm 1995 và 30,9 tỉ đồng 1998, năm 2000 đạt tới 43,2 tỉ đồng2. Hệ thống trường lớp được xây dựng, nâng cấp ngày càng khang trang hơn, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học cũng được tăng cường, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Bình Định vươn lên mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội thời mở cửa.
Ngay từ những năm đầu bước vào thời kỳ đổi mới, mặc dù còn rất nhiều khó khăn trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Đảng bộ tỉnh đã đề ra nhiệm vụ: “tiếp tục triển khai cải cách giáo dục, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu phân công lao động và khả năng nền kinh tế tỉnh nhà, nhằm ba mục tiêu: dạy chữ, dạy nghề, dạy người, hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Phát triển cân đối các ngành học, cấp học và trên các vùng, bảo đảm các điều kiện cơ bản cho dạy và học, ra sức phát triển giáo dục mầm non làm nền tảng cho giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng dạy và học ở tất cả các cấp học, các ngành học”1. Sau hơn 15 năm đổi mới, cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cơ cấu các cấp học, ngành học ngày càng phù hợp. Ngoài hệ thống giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, nhiều loại hình đào tạo như trung tâm ngoại ngữ, tin học, kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, dạy nghề,... phát triển đa dạng và phong phú, tạo tiền đề cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển.
Hệ thống giáo dục mầm non, phổ thông và bổ túc văn hóa phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các huyện, thành phố trong tỉnh, được phân bố đều khắp kể cả vùng đồng bằng ven biển đến các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đến năm học 1998-1999, toàn tỉnh Bình Định đã có 144 trường mẫu giáo, thu hút 48.499 cháu trong độ tuổi theo học, 25 nhà trẻ với 215 nhóm trẻ đã huy động 3.290 cháu đến lớp. Về ngành học phổ thông, từ Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục - đào tạo (12.1996), Đảng ta khẳng định giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước, của toàn dân, chủ trương xã hội hóa, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đào tạo. Quan điểm đó phù hợp với điều kiện một nước đang phát triển, tạo cơ sở huy động tiềm năng nội lực của toàn xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Từ đó, số trường, lớp và học sinh tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm học 1992-1993 có 300 trường, 6.841 lớp, 263 ngàn học sinh, năm học 1997-1998 có 354 trường, 8.319 lớp với 311.700 học sinh, đến năm học 2000-2001 tăng lên 377 trường, 9.194 lớp với 347.700 học sinh. Chỉ trong vòng 5 năm, số trường phổ thông trung học tỉnh Bình Định tăng từ 5 đến 21 trường2. Sự chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục đã tạo ra môi trường thuận lợi để nhân dân Bình Định nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm cải biến cuộc sống, xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Đặc biệt từ những năm 90 trở đi, thực hiện chủ trương xóa mù chữ và phổ cập giáo dục cấp 1, cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất cho ngành giáo dục, hàng năm, Bình Định đã huy động hàng ngàn học viên trong độ tuổi tham gia các lớp bổ túc văn hóa, phổ cập cấp 1, duy trì thường xuyên các lớp học tình thương, học nghề cho trẻ em nghèo khó, cơ nhỡ. Kết quả năm 1998, tỉnh Bình Định đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ. Hầu hết các huyện miền núi đã có trường nội trú cấp 1, cấp 2, tỉnh đã đầu tư xây dựng trường nội trú cấp 2, cấp 3 cho con em các dân tộc ít người. Phong trào dạy và học ngày càng đi vào nề nếp, sự nghiệp giáo dục ở các huyện miền núi đã phát triển mạnh mẽ và ổn định, đến nay, số người đi học chiếm gần 30% so với tổng số dân của ba huyện miền núi An Lão, Vĩnh Thạnh và Vân Canh, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và chính sách dân tộc của nhà nước, góp phần giải quyết nhu cầu về giáo dục của nhân dân vùng sâu, vùng xa.
Cũng từ những năm 1990 trở đi, với tinh thần “đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ và công nhân lành nghề phù hợp yêu cầu phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và cán bộ cho các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ”1, cùng với việc hình thành nhiều cơ sở nghiên cứu, triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, nhiều trung tâm đào tạo và dạy nghề như trường Công nhân Kỹ thuật và Dạy nghề, Lâm nghiệp Trung ương II, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên, trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật, trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, và nhiều loại hình đào tạo liên kết tại chức, từ xa,... Số lượng học sinh học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật tăng lên nhanh chóng. Năm học 1994-1995, sinh viên đại học, cao đẳng mới có 6.213 người, năm 2000 tăng lên 13.670 người. Tương tự như vậy, số học sinh học các trường công nhân kỹ thuật và trung học chuyên nghiệp của tỉnh năm học 1994-1995 là 4.851 người đến năm học 1999-2000 là 6.587 người. Nhờ đó, đến nay, Bình Định đã có 39.819 người (chiếm 10,2% lao động trong nền kinh tế quốc dân) có trình độ từ công nhân kỹ thuật trở lên, tương đương với mức bình quân của cả nước và cao hơn mức bình quân của các tỉnh thuộc duyên hải miền Trung. Trong đó có 38,8% là công nhân kỹ thuật, 37,59% đã tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 23,4% có trình độ cao đẳng và đại học, và 100 cán bộ có trình độ trên đại học. Đó là những điều kiện thuận lợi để Bình Định tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ cho công tác điều tra cơ bản, quy hoạch, khai thác tốt hơn các tiềm năng về đất đai, rừng núi, tài nguyên biển, khoáng sản và bảo vệ môi trường sinh thái; định hướng xây dựng các luận chứng khoa học để phân vùng sản xuất, phân bố dân cư, hình thành các trung tâm kinh tế trọng điểm phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cùng với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phát triển sự nghiệp y tế nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho toàn dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Tại Hội nghị lần thứ 4 (khóa VII) Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Giáo dục cho mọi người là một mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, nhưng sức khỏe cho mọi người cũng không kém phần quan trọng. Trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó". Với ý nghĩa đó, bước vào thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, cho dù đứng trước muôn vàn khó khăn và thử thách của cơ chế thị trường, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Định vẫn tập trung “Sắp xếp lại hệ thống y tế, củng cố y tế cơ sở. Phát triển các trạm hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình, các phòng khám đa khoa khu vực, bảo đảm thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu đến từng hộ gia đình. Thực hiện tốt vệ sinh môi trường, vệ sinh ăn uống. Từng bước khắc phục về cơ bản các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng, khống chế bệnh sốt rét, hạn chế đến mức thấp nhất bệnh bướu cổ, bảo vệ và chăm sóc bà mẹ và trẻ em”1. Song song với việc sửa sang, củng cố và tổ chức lại các bệnh viện, trung tâm y tế ở các huyện, thành phố, và mạng lưới y tế ở cơ sở xã, phường; bình quân hàng năm tỉnh Bình Định đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để trang bị thêm các thiết bị y học hiện đại như máy siêu âm màu, máy chụp cắt lớp và thăm dò chức năng, máy mổ Plátma, máy tán sỏi thận... Đội ngũ cán bộ ngành y tế ngày càng được tăng cường. Năm 1995, đội ngũ cán bộ toàn ngành có 1.749 người, trong đó, số cán bộ có trình độ đại học chiếm 19%. Đến năm 2000, toàn ngành đã có 2.755 cán bộ y tế, trong đó số cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 21%. Mạng lưới y tế không ngừng được mở rộng, đưa tổng số cơ sở điều trị của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Định năm 2000 lên tới 199 cơ sở, trong đó có 16 bệnh viện, 1 viện điều dưỡng, 30 phòng khám khu vực, và 152 trạm y tế và hộ sinh xã, phường2; bình quân hàng năm khám và điều trị cho hàng trăm ngàn lượt người, kể cả bệnh nhân thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.
Các chương trình y tế quốc gia và quốc tế cũng được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, nhờ vậy đã kịp thời phòng trừ và đẩy lùi các dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân như: chương trình y tế cộng đồng, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình thanh toán bệnh lao, sốt rét, bệnh phong, chương trình dùng muối iốt phòng chống bệnh bướu cổ,... mang lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi gia đình.
Gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới y tế, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc, bảo vệ bà mẹ, trẻ em cũng được đặc biệt coi trọng. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định: “Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình có mục đích sâu xa, đồng thời cũng là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người và của toàn xã hội thông qua việc xây dựng gia đình gắn liền với việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nâng cao dân trí và phát triển kinh tế. Vì vậy, công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, được đưa vào danh sách các vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu”1. Với phương châm đó, ngành y tế đã chủ động kết hợp với Uỷ ban dân số kế hoạch hóa gia đình và các ngành liên quan tuyên truyền, cổ động, hình thành mạng lưới cán bộ, tuyên truyền viên, giáo dục và hướng dẫn nhân dân tham gia các biện pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình, nhờ đó tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên trung bình hàng năm giảm từ 2,39% năm 1995, xuống còn 1,72% năm 1998 và 1,44% năm 2000.

Công tác chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em cũng được đặc biệt quan tâm, ngoài việc đẩy mạnh phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, hàng năm, ngành y tế đã tổ chức các đội y tế lưu động trực tiếp xuống tận cơ sở để khám và điều trị bệnh cho các bà mẹ, người nghèo và các đối tượng chính sách như: Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ, người già neo đơn không nơi nương tựa. Đồng thời, ngành còn thường xuyên tổ chức các đợt tuyên truyền và tiêm phòng dịch bệnh cho trẻ em trong độ tuổi. Trong 5 năm (1996-2000), ngành y tế đã tổ chức tiêm ngừa uốn ván sơ sinh cho hơn 169.408 cháu và phòng 6 bệnh truyền nhiễm cho 172.764 cháu3, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm dần từ 44,1% năm 1995 xuống còn 35% năm 2000. Với những thành tựu có được sau hơn 25 năm xây dựng và trưởng thành, ngành y tế, bao gồm cả công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, đã thu được những thành tựu rực rỡ, minh chứng cho bản chất nhân đạo và tốt đẹp của chế độ mới - chế độ XHCN.
Hoạt động VĂN HÓA - THỂ THAO, đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII), các Nghị định của Thủ tướng chính phủ, Nghị quyết lần thứ 6 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa XIV) về chiến lược phát triển khoa học, giáo dục và đào tạo, phát triển văn hóa nghệ thuật và công tác thanh niên,... từ năm 1986 trở lại đây, ngành văn hóa thông tin, thể dục thể thao tỉnh Bình Định đã từng bước vươn lên vững chắc, khẳng định vai trò của mình trong thời kỳ cách mạng mới. Cùng với việc kiên quyết đấu tranh loại bỏ văn hóa phẩm phản động đồi trụy ra khỏi đời sống xã hội, phải thực hiện mục tiêu bảo tồn và chấn hưng văn hóa dân tộc nhằm góp phần “bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách cao đẹp, có bản lĩnh ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, mau chóng bắt kịp xu thế phát triển của thời đại ngày nay”1. Bình quân mỗi năm, tỉnh Bình Định đã đầu tư từ nguồn ngân sách hàng tỉ đồng để xây dựng và nâng cấp các nhà văn hóa, trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân, nhờ đó, hệ thống các thiết chế văn hóa được xây dựng khá hoàn chỉnh, gồm nhà văn hóa trung tâm, nhà hát tuồng Đào Tấn, các trung tâm văn hóa và nhà thiếu nhi cấp huyện, thành phố, các câu lạc bộ văn hóa ở các phường, xã, thị trấn. Hệ thống các thư viện, gồm thư viện tổng hợp tỉnh và 10 thư viện huyện, thành phố, đài phát thanh và truyền hình với công suất lớn, nội dung ngày càng phong phú, phủ sóng trên địa bàn toàn tỉnh. Hệ thống các nhà bảo tàng gồm Bảo tàng Quang Trung, Bảo tàng Tổng hợp, Bảo tàng truyền thống của các lực lượng vũ trang,... đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Các cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa; toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật, bảo tồn các di tích lịch sử, di sản văn hóa dân tộc ngày càng phát triển sâu rộng. Do vậy, cho dù đứng trước những thách thức khắc nghiệt của cơ chế thị trường, nhưng hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất truyền thống, cách mạng, nhân văn vẫn giữ vai trò chủ đạo và ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu mở mang dân trí, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.
Phong trào toàn dân rèn luyện thân thể phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các huyện, thành phố trong toàn tỉnh. Người Bình Định vốn giàu tinh thần thượng võ, từ bao đời đã lưu truyền câu ca dao:
“Ai về Bình Định mà coi
Phát huy truyền thống đó, trong thời kỳ đổi mới, nhiều câu lạc bộ thể dục, thể thao được củng cố và hoạt động ngày càng sôi nổi. Chỉ tính riêng thành phố Quy Nhơn, trung tâm tỉnh lỵ, ngoài sân vận động trung tâm, các nhà thi đấu, còn có 28 phòng tập võ thuật được phân bố ở hầu hết các cơ quan, trường học và khu dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thi đấu và rèn luyện sức khoẻ của nhân dân.
Đối với người dân Bình Định, luyện tập võ thuật chẳng những nhằm bồi dưỡng thể lực để lao động và bảo vệ tổ quốc, mà còn để nuôi dưỡng phát huy tinh thần bất khuất, nghĩa hiệp và truyền thống thượng võ của cha ông. Vì vậy, các lò luyện võ ở Tây Sơn, An Nhơn, Phù Mỹ, Hoài Nhơn... và các câu lạc bộ võ thuật đã thu hút hàng vạn người tham gia, với mọi lứa tuổi, nhất là thanh, thiếu niên. Vừa tiếp thu các tinh hoa võ thuật của nước ngoài như Karate, Taekondo, nhân dân Bình Định vừa trân trọng giữ gìn và phát triển võ truyền thống dân tộc như VOVINAM, võ cổ truyền Bình Định với các môn nổi tiếng như kiếm, côn, đao, quyền,... Các câu lạc bộ thể dục - thể thao quần chúng như cầu lông, tennis, bóng chuyền, cờ vua, bơi lội, thể dục thẩm mỹ,... phát triển đều khắp trong tỉnh. Đặc biệt, môn thể thao bóng đá được nhân dân hưởng ứng nồng nhiệt, đội bóng đá công nhân Nghĩa Bình ra đời từ sau ngày giải phóng, nhiều năm liền được xếp là một trong những đội mạnh cấp quốc gia. Từ năm 1989 đến nay, đội bóng đá Bình Định kế thừa và phát triển truyền thống đội công nhân Nghĩa Bình đã liên tục thi đấu trong đội hình các đội bóng ngoại hạng cấp quốc gia, là kết quả của phong trào thi đấu bóng đá mang tính chất quần chúng trong tỉnh.
Trn lĩnh vực thực hiện CHÍNH SÁCH XÃ HỘI, cùng với những thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh tế, nhân dân Bình Định càng đẩy mạnh việc “Chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng và cán bộ kháng chiến về hưu. Ngay từ đầu những năm 90, Bình Định đã chủ trương nghiên cứu xây dựng quỹ bảo hiểm xã hội do toàn dân đóng góp, phát triển hình thức tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho những gia đình liệt sĩ, thương binh nặng, đẩy mạnh phong trào xây dựng nhà tình nghĩa”1, phong trào toàn dân chăm sóc những gia đình có công với nước được nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Bằng những việc làm cụ thể, hàng năm, ngoài việc tu sửa và nâng cấp hệ thống nghĩa trang, tổ chức thăm viếng và hương khói chu đáo, sau 15 năm, nhân dân Bình Định đã xây dựng 424 ngôi nhà tình nghĩa, trao tặng 5.995 sổ tiết kiệm nghĩa tình với số tiền hàng tỉ đồng. Đồng thời, mỗi năm tỉnh chi từ 3 đến 4 tỉ đồng để giúp gần 4.000 hộ chính sách nghèo sửa sang lại nhà cửa. Nhờ sự cố gắng đó, đời sống của gia đình chính sách không ngừng được cải thiện, đại bộ phận các gia đình chính sách đạt mức sống từ trung bình trở lên. Đặc biệt, thực hiện Pháp lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho các bà mẹ có nhiều con và chồng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến, cho đến cuối năm 2000, tỉnh Bình Định đã có 1.928 bà mẹ được Chủ tịch nước phong và truy tặng danh hiệu cao quý này”1. Hầu hết các bà mẹ còn sống đã được các cơ quan, trường học, các cơ sở kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhận phụng dưỡng suốt đời. Nhiều phong trào xã hội có ý nghĩa như “con cháu hiếu thảo”, “áo lụa tặng bà”, “uống nước nhớ nguồn”,... cùng với các cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng, khu phố văn hóa ngày càng phát triển, góp phần bồi dưỡng, hun đúc những phẩm chất cao đẹp, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Chủ trương xã hội hóa việc thực hiện các chính sách xã hội ngày càng được hiện thực hoá, đã tạo ra sức mạnh vật chất, tinh thần chăm sóc có hiệu quả hơn các đối tượng chính sách, góp phần giáo dục lòng yêu nước và yêu chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, ngay từ những năm đầu thực hiện cơ chế kinh tế thị trường, Đảng bộ và nhân dân Bình Định rất “coi trọng cả phát triển sản xuất và dịch vụ, đa dạng hóa việc làm, hướng chủ yếu để giải quyết việc làm là phân bổ lại lao động trong nông nghiệp, phát triển mạnh chăn nuôi, mở mang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng các vùng kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế, kỹ thuật dịch vụ ở nông thôn. Khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể đầu tư phát triển sản xuất, dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động”2. Qua phát triển sản xuất, mở rộng dịch vụ trong vòng 10 năm (1991-2000) đã tạo việc làm cho 110 nghìn lao động; đồng thời đã giải ngân vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm 1.420 dự án với tổng số tiền 82 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho 3.500 lao động; cùng với ngân hàng phục vụ người nghèo, hàng năm giải ngân hàng tỉ đồng giúp các hộ nghèo sản xuất, kinh doanh, hạn chế dần tình trạng phân cực giữa giàu và nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi. Nhờ đó, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống đáng kể, từ 23,3% năm 1990 xuống 15,6% năm 1995 và 4% năm 2000, nếu tính theo tiêu chí mới thì đầu năm 2001 còn 12,5%1.
Có thể nói, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thành tựu đạt được trên lĩnh vực văn hóa - xã hội trong 15 năm đổi mới đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắc, toàn diện, gĩp phần ổn định v cải thiện đời sống nhn dn, tạo thế và lực mới để nhân dân Bình Định vững bước tiến vào thế kỷ XXI với niềm tin vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
3. Tình hình an ninh chính trị - an toàn xã hội
Là một tỉnh hội tụ các đầu mối giao thông chiến lược, nơi xuất phát và nối liền với các vùng, các khu vực ở trong nước và quốc tế, Bình Định là một trong những trung tâm, chính trị và kinh tế xung yếu của các tỉnh miền Trung, liên quan mật thiết với khu vực Tây Nguyên và cả nước. Với vị trí chiến lược đó, đã biến vùng đất này thành nơi diễn ra những cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng qua các thời kỳ lịch sử và cả trong thời kỳ xây dựng đất nước hiện nay.
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, khi cả nước bước vào thời kỳ đổi mới cũng là thời kỳ mà chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế điên cuồng tấn công vào hệ thống xã hội chủ nghĩa, đả kích vào Đảng Cộng sản và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Do phại phải những sai lầm trong việc vận dụng các quy luật kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong cơ chế quản lý, vả lại về phía các Đảng Cộng sản và công nhân cầm quyền do không tuân thủ những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong công tác tổ chức, xây dựng Đảng, thêm vào đó là sự phản bội của những phần tử cơ hội hữu khuynh trong các Đảng Cộng sản, nên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã bị tan rã. Đó là tổn thất to lớn của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế.
Hí hửng trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế câu kết với bọn phản động người Việt ở trong và ngoài nước đề ra mục tiêu trong một thời gian ngắn phải tấn công làm tan rã Đảng Cộng sản Việt Nam và làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng cách mạng kiên cường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam được tôi luyện bởi truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và xây dựng trên những nguyên tắc Lêninnít về một Đảng cách mạng kiểu mới, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân và dân tộc, đã kiên định vững vàng khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Trải qua 15 năm với 4 kỳ đại hội, từ đại hội lần thứ VI đến lần thứ IX, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện để tiến lên theo mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đề ra cương lĩnh và chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, luơn luơn đổi mới và chỉnh đốn Đảng để Đảng trở thành Đảng Cách mạng tin phong trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đưa đất nước tiến lên, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, xác định phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đồng thời, coi trọng thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt các quan điểm lãnh đạo của Đảng, trong những năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Bình Định tập trung thực hiện nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thành phố một cách cơ bản, liên hoàn và vững chắc trong thế trận chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân. Đầu tư xây dựng các công trình quốc phòng trọng điểm cần thiết và một số khu vực phòng thủ trọng yếu, từng bước xây dựng thế trận chiến đấu liên hoàn xã, phường, đường phố. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên từng vùng, chú trọng thành phố, ven biển, hải đảo và các vùng giáp ranh miền núi,... Củng cố vững chắc các khu căn cứ hậu phương, kết hợp với việc xây dựng các khu kinh tế hàng hóa mới, chuẩn bị các phương án động viên khi cần thiết. Xây dựng lực lượng thường trực mạnh, có chất lượng tổng hợp; lực lượng dự bị động viên được quản lý và huấn luyện tốt, bảo đảm khi cần thiết có thể huy động nhanh chóng theo kế hoạch; lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, lấy chất lượng làm chính”1. Nhờ vậy, sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân được nhân dân từ đô thị đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi và hải đảo hưởng ứng tích cực, góp phần tăng cường và củng cố khả năng phòng thủ, tạo nên môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của nhân dân.
Hàng năm, ngoài việc tập trung thực hiện tốt chỉ tiêu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, huấn luyện, xây dựng và phát triển lực lượng quân thường trực theo hướng tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng chính trị. Cơ quan quân sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp trong tỉnh hình thành nhiều khu vực phòng thủ, nhất là ở các huyện ven biển, hải đảo và miền núi; tập trung củng cố và nâng lực lượng dân quân tự vệ đạt tỉ lệ từ 2,3 đến 2,5% dân số, thường xuyên xây dựng và bổ sung các kế hoạch tác chiến giữa ba thứ quân, công tác tổ chức và quản lý quân dự bị động viên ngày càng đi vào nề nếp, công tác tuyển quân hàng năm đều đạt và vượt mức kế hoạch. Đặc biệt, với sự chuyển biến của chính sách hậu phương quân đội bao gồm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho những gia đình thuộc diện chính sách, nhiều tổ chức y tế, hội chữ thập đỏ đã thường xuyên tổ chức các đợt khám và điều trị bệnh cho các thương bệnh binh, Bà mẹ Việt Nam anh hùng; chăm lo, đỡ đầu và giáo dục con em thương binh, liệt sĩ, quan tâm giải quyết công ăn việc làm cho con em đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự,... góp phần tô thắm truyền thống lịch sử của quê hương.
Về tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ mở cửa đã xuất hiện nhiều khó khăn, phức tạp và thách thức mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bộc lộ rõ âm mưu vận dụng kinh nghiệm gây bạo loạn lật đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào lật đổ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chúng cổ vũ cho các trào lưu tự do hóa về tư tưởng, tư nhân hóa về kinh tế, Tây phương hóa về lối sống, đưa nhiều nọc độc văn hóa cùng các tệ nạn xã hội vào nước ta. Mặt khác, bước vào thời kỳ đổi mới, mặt trái của cơ chế thị trường, tình trạng tham nhũng, buôn lậu, ma túy, cờ bạc, mại dâm,... có điều kiện phát triển. Trước tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã dấy lên “phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng xí nghiệp, cơ quan, phường, xã, huyện, thành phố đạt tiêu chuẩn an toàn, xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh. Ngăn ngừa và nghiêm trị những hành động phá hoại kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, các hoạt động tình báo, gián điệp và những tội phạm hình sự”1. Từ năm 1986 trở lại đây, cùng với việc củng cố và phát triển thế trận an ninh nhân dân, duy trì phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, củng cố lực lượng công an nhân dân, hình thành các tổ chức tự quản ở các khu dân cư, các cơ quan nội chính như công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, hải quan đã kịp thời phát hiện và chủ động đấu tranh ngăn chặn các loại hình tội phạm, bảo vệ an ninh xã hội, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Cũng trong vòng 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhờ xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế tổ chức và lực lượng đấu tranh kiên quyết, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm nhiệm vụ của từng thời kỳ, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã ngăn chặn và đẩy lùi có kết quả những hiện tượng tiêu cực của thời kỳ mở cửa. Tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại thông qua đường biển một thời hoành hành, kéo theo tình trạng phá sản, vỡ hụi, cùng với các loại tội phạm tham ô, tham nhũng đã kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm theo pháp luật và đã giảm đi rõ rệt. Hoạt động tích cực của mạng lưới thanh tra nhân dân, tổ tự quản và các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc như xây dựng địa bàn, khu dân cư không có tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình và khu dân cư văn hóa, đã góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tạo ra môi trường lành mạnh cho sự nghiệp đổi mới phát triển.
Cùng với cả nước, trong quá trình đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Bình Định luôn đề cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh quyết liệt với những âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Trên lĩnh vực tư tưởng, đã kịp thời vạch trần âm mưu phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo của Đảng và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đã từng theo Đảng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc ròng rã mấy mươi năm, nhân dân Bình Định thấu hiểu về giá trị của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, về vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, các luận điệu tuyên truyền của kẻ thù thông qua sách báo, phim ảnh phản động, núp dưới chiêu bài tôn giáo, nhân quyền,... đều bị tuyệt đại bộ phận nhân dân Bình Định vạch trần và bác bỏ, chính đây là phòng tuyến an ninh nhân dân vững chắc, quyết định sự ổn định chính trị trong thời kỳ mở cửa.
Sau 25 năm xây dựng và phát triển, xuất phát từ một nền kinh tế yếu kém, mất cân đối, hậu quả chiến tranh nặng nề, cơ sở vật chất hầu như không đáng kể, tình hình chính trị, xã hội diễn biến phức tạp... Thêm vào đó do khí hậu, thời tiết diễn biến thất thường, mưa bão, lũ lụt, nắng hạn liên tiếp, cuộc sống của đại bộ phận nhân dân còn thiếu thốn, khó khăn mọi bề. Nhưng với nghị lực và ý chí cách mạng phi thường, với phẩm chất cần cù chịu khó, nhân dân tỉnh Bình Định đã đoàn kết một lòng, tập trung công sức đầu tư khai thác tiềm năng và thế mạnh vốn có của địa phương, hồi sinh cuộc sống và san bằng dấu tích của bom đạn, hậu quả chiến tranh, từng bước đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng kém phát triển. Đặc biệt sau khi tái lập tỉnh (6.1989), với chính sách thông thoáng của đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Định, nhiều ngành kinh tế mũi nhọn được đầu tư chiều sâu, đổi mới dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hình thành nhiều trung tâm công nghiệp và thương mại, cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, giống, cây trồng, vật nuôi. Trong nông nghiệp, năng suất, sản lượng, giá trị hàng hóa ngày càng tăng, không những đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn có khả năng cạnh tranh trên thị trường, góp phần nâng nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm trong thời kỳ 1995-2000 lên gần 9%, tạo nguồn tích lũy, tái mở rộng sản xuất, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, từng bước làm cho cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Định chuyển dịch theo hướng nâng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ. Cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện của nền kinh tế, việc chăm lo sự nghiệp văn hóa - giáo dục, nhất là từ năm 1989 trở lại đây, nhân dân Bình Định đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, đã kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với từng bước phát triển văn hóa - xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội, phát huy nhân tố con người. Thấm nhuần quan điểm "chỉ có thể tăng trưởng nguồn lực con người khi quá trình hiện đại hóa các ngành giáo dục, văn hóa, văn nghệ, bảo vệ sức khỏe, dân số và kế hoạch hóa gia đình gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác”1. Bởi vậy, Đảng bộ và nhân dân Bình Định luôn luôn quan tâm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc, của quê hương, chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao nhằm góp phần phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới. Hiện nay trung bình 3,5 người dân có một người đi học, tỉnh đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, hơn 40% số xã, phường và thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Cơ sở vật chất phục vụ khám, chữa bệnh ngày càng tăng cường, đội ngũ thầy thuốc ngày càng phát triển, trung bình 1.000 dân đã có 1,2 y bác sĩ2. Tuổi thọ bình quân của nhân dân trong tỉnh từ 65,4 tuổi năm 1990 tăng lên 67 tuổi năm 1995 và 69 tuổi năm 2000. Đồng thời với sự phát triển kinh tế, xã hội, hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới giao thông, điện, bưu điện cũng được đầu tư phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định sức sống vĩ đại của lý tưởng cách mạng và chủ nghĩa yêu nước truyền thống của nhân dân ta, khẳng định bản lĩnh kiên cường, tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, ngọn đuốc soi đường cho nhân dân Việt Nam vượt qua những bước ngoặt thử thách, đi tới thắng lợi vẻ vang. Tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, nhân dân Bình Định đã, đang và sẽ phấn đấu đưa quê hương Bình Định tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa phồn vinh, giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình, tháng 1.1987, tr. 7, 8, 9.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình, tháng 1.1987, tr. 7, 8, 9.
2 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Báo cáo quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp tỉnh Bình Định đến năm 2010, 1998, tr. 24.
1 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Báo cáo quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp tỉnh Bình Định đến năm 2010, 1998, tr. 24.
2 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1986-1990, Bình Định, 1991, tr. 24.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1987.
2 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Báo cáo quy hoạch nông nghiệp tỉnh Bình Định từ nay đến 2010, Bình Định, 1998, tr. 24, 34.
3 Đảng bộ tỉnh Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu lần XVI Đảng bộ tỉnh Bình Định, Quy Nhơn, 2.2001, tr. 78.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bình Định lần thứ XV (1996-2000)
2 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1986-1990 và 1991-1995.
3 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1996-2000.
4 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1996-2000.
1 Báo cáo quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bình Định, 1.2002, tr. 28.
2 Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV, Đảng bộ tỉnh Bình Định, tháng 5.1996, tr. 113-114.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVI, Quy Nhơn, 2.2001, tr. 78.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê 2001, 3.2002, tr. 39.
1 UBND tỉnh Bình Định, Đề án phát triển kinh tế biển và hải đảo tỉnh Bình Định theo hướng CNH-HĐH đến năm 2010, Quy Nhơn tháng 6.1998, tr. 11 và BC của TUBĐ tại ĐH XVI tỉnh ĐB 1.2001.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê 2000, Bình Định 6.2001, tr. 120.
1 Cục Thống kê Bình định, Niên giám thống kê 2000, Bình Định 6.2001. tr. 120.
2 Tỉnh uỷ Bình Định, Văn kiện Hội nghị lần thứ 12 BCH Đảng bộ khóa XIV, tháng 12.1994, tr. 36.
3 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Hội nghị lần thứ 12 BCH Đảng bộ khố XIV, thng12.1994, tr. 36.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình, 1.1987, tr. 10
2 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội Bình Định thời kỳ 1986-1990, Quy Nhơn, 1991, tr. 36.
1 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-1995, Quy Nhơn, 1996, tr. 9.
2 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-1995, Quy Nhơn, 1996, tr. 9.
1 Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Bình Định, 5.1996, tr. 45-46.
2 Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Bình Định, 5.1996, tr. 45-46.
3 Tỉnh ủy Bình Định, Báo cáo phát triển công nghiệp và công nghệ tỉnh Bình Định đến 2000, 11.1994, tr. 5.
1 Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Bình Định, 5.1996, tr. 55.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, 2001, tr. 55-61.
3 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-2000, tr. 33, 37, 38.
1 Đảng bộ tỉnh Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu lần XVI Đảng bộ tỉnh Bình Định, Quy Nhơn, 2.2001, tr. 76-77.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình, tháng 1.1987, tr. 14.
1 Sở Thương mại và Du lịch Bình Định, Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại-du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2010, Bình Định 1999, tr.12,13.
2 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Bình Định, 5.1996, tr. 124.
3 Sở Thương mại và Du lịch Bình Định, Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại-du lich tỉnh Bình Định đến năm 2010, Bình Định 1999, tr. 12,13.
1 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định thời kỳ 1986-1990, Bình Định 1991, tr. 9.
2 Cục thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, 6.2001, tr. 140.
1 Cục Thống kê Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định thời kỳ 1986-1990 và kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-1995, tr. 10.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu lần XV Đảng bộ tỉnh Bình Định, 5.1996, tr. 49.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 1998, 6.1999, tr. 128-130.
1 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội Bình Định 1991-2000, tr. 33.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2000 (6.2001).
3 Tỉnh ủy Bình Định, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV, 12.1994, tr. 11.
1 Đỗ Mười, Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 129.
1
Cục Thống kê Bình Định,
Tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định thời kỳ 1986-1990, Bình Định
1991, tr. 12.
2 UBND tỉnh Bình Định, Tình hình kinh tế-xã hội năm 1998, 11.1998, tr. 4.
1 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định thời kỳ 1986-1990, Bình Định, 1991, tr. 12.
2, 3,4 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-1995, Bình Định, 1996, tr. 5, 11.
1 Cục thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, tháng 6.2001, tr. 44.
2 Cục Thống kê Bình Định, Kinh tế-xã hội tỉnh Bình Định 1991-1995, Bình Định, 1996, tr. 74, 81.
1 Đỗ Mười, Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993, tr. 10.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, tháng 6.2001, tr. 70.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IV Đảng bộ tỉnh, 1.1987, tr. 17.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, tháng 6.2001, tr. 154, 155.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Nghị quyết Hội nghị BCH Đảng bộ tỉnh lần thứ 5 (khóa XV) về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ năm 2000, ngày 10.6.1997.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV, 1.1992, tr. 64, 65.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, 6.2001, tr. 161.
1 Bài phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng khóa VII (ngày 4.1.1993)
2 Tổng hợp niên giám thống kê Bình Định từ 1986-2000.
3 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, 6.2001, tr. 164.
1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng khóa VII. Ngày 4.1.1993.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV, 1992, tr. 66.
1 UBND tỉnh Bình Định, Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội năm 1998 và phương hướng, nhiệm vụ năm 1999, 11.1998, tr. 9.
2 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV, 1992, tr. 63.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XVI, 2.2001, tr. 17, 81-82.
1 Tỉnh ủy Bình Định, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIV, 1992, tr. 72-73.
1 Nghị quyết Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Nghĩa Bình lần thứ IV, 1.1987, tr. 19.
1 Bài phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng khóa VII, ngày 4.1.1993.
2 Cục Thống kê Bình Định, Niên giám thống kê năm 2000, 6.2001, tr. 39.