I. GIỮ G̀N LỰC LƯỢNG, CHUYỂN THẾ TIẾN CÔNG (1954-1960)

 

1. B́nh Định trong 300 ngày chuyển quân tập kết (7.1954 đến 16.5.1955)

          Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của quân và dân ta đă kết thúc với chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải kư kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (20.7.1954) chấm dứt chiến tranh, lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương, công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của nước Việt Nam. Nhưng trước mắt, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Theo hiệp định, từ vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời do Pháp kiểm soát. Cán bộ, bộ đội thực hiện chuyển quân tập kết ra Bắc. B́nh Định là khu vực tập kết dài 300 ngày, nên có thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị các mặt cho cuộc đấu tranh tiếp theo.

          Trước yêu cầu của t́nh h́nh mới, Tỉnh ủy đề ra chương tŕnh 300 ngày với 4 nhiệm vụ: Mở sinh hoạt chính trị nhằm ổn định tư tưởng cho cán bộ và nhân dân, tiếp đón và sắp xếp số người được trao trả, sắp xếp và tổ chức cho những người đi tập kết, đồng thời chăm sóc, giúp dân ổn định cuộc sống để dân thấy rơ chính quyền cách mạng có trách nhiệm với dân đến phút cuối cùng, từ đó củng cố ḷng tin đối với cách mạng. Quy Nhơn là điểm bàn giao cuối cùng giữa ta và đối phương (ngày 16.5.1955). B́nh Định là nơi tiếp nhận hàng vạn cán bộ, bộ đội, thương binh, bệnh binh, đối tượng chính sách thuộc các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên, hàng trăm tấn vũ khí, tài liệu, phương tiện chiến tranh; để rồi tập kết về Quy Nhơn và vận chuyển xuống tàu đưa ra Bắc.

          Chương tŕnh công tác 300 ngày của Tỉnh uỷ đă thực hiện có kết quả tốt. Bắt đầu là đợt sinh hoạt chính trị giữa tháng 8.1954. Đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia học tập, thảo luận sôi nổi, nêu ra nhiều câu hỏi, những vấn đề thắc mắc. Sau học tập, nhân dân phấn khởi, nhưng cũng lo lắng. Quyền lợi cách mạng đă đưa lại cho nhân dân trong 9 năm kháng chiến chắc chắn bị tước đoạt, bị địa chủ lấy lại ruộng đất và đ̣i lại tô tức, cán bộ đảng viên, những người kháng chiến cũ sẽ bị trả thù. Nhưng khi thấm nhuần nội dung lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ngày 22.7.1954: "Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi tin chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt và ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố ḥa b́nh, thực hiện thống nhất nước nhà... Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn theo dơi sự cố gắng của đồng bào và tin chắc đồng bào sẽ thắng lợi..."1 th́ mọi người thông suốt và đặt niềm tin vào sự lănh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch.

          Mặt khác, Ủy ban Mặt trận Liên Việt tỉnh tổ chức cuộc họp đặc biệt dành cho các vị thân hào nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo, công thương gia để nói về t́nh h́nh và nhiệm vụ sau khi kí kết Hiệp định Giơ-ne-vơ. Hội nghị động viên mọi người đấu tranh đ̣i thi hành Hiệp định, chống âm mưu chia cắt lâu dài đất nước.

          Nhằm biểu dương lực lượng, phát huy khí thế chiến thắng, Bộ Chỉ huy quân sư Liên khu V đă tổ chức các cuộc biểu diễn văn nghệ, triển lăm chiến thắng tại sân bay cũ ở Ḥa Hội, Cát Hanh, Phù Cát (20.9.1954). Nó đă có tác dụng động viên chính trị rất lớn đối với đồng bào cán bộ trong tỉnh. Đồng thời, nhiều cuộc mít tinh, liên hoan chia tay diễn ra. Hàng vạn đồng bào các vùng căn cứ, vùng tạm bị chiếm, vùng đối phương mới tiếp quản cũng nô nức về dự mít tinh. Nhiều bà mẹ, người vợ vượt qua đồn bốt ra vùng tự do t́m gặp, lưu luyến chia tay chồng con, cán bộ, bộ đội.

          Trước yêu cầu của t́nh h́nh và nhiệm vụ mới, các lực lượng vũ trang tỉnh B́nh Định tập trung về các vị trí quy định để bảo vệ khu vực tập kết 300 ngày của Liên khu. Theo chỉ thị của cấp trên, để chuyển quân tập kết, một số đơn vị vũ trang tỉnh, huyện và một số đơn vị du kích tập trung được tổ chức thành sư đoàn chủ lực của Liên khu V. Bộ đội miền núi: Vĩnh Thạnh, An Lăo, Vân Canh sáp nhập với các đơn vị ở Tây Nguyên, tổ chức thành trung đoàn 120. Có khoảng 50 cán bộ chiến sĩ được phân công ở lại bám phong trào do cấp ủy địa phương bố trí, hoạt động dưới dạng giải ngũ làm nghề buôn bán, thợ thủ công... chờ nhận nhiệm vụ mới. Lực lượng vũ trang B́nh Định tập kết ra Bắc xây dựng quân đội chính quy, góp phần xây dựng miền Bắc xă hội chủ nghĩa làm hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Một số cán bộ được phân công ở lại làm ṇng cốt hướng dẫn nhân dân đấu tranh với địch.

          Thời gian này, bọn phản động địa phương t́m cách chạy vào vùng địch móc nối và địch đưa gián điệp cài cấy vào vùng ta để câu móc với bọn phản động nằm vùng ḥng chống phá chính quyền cách mạng trong lúc giao thời.

          Trong quá tŕnh bàn giao, địch t́m mọi cách phá rối vùng của ta, nên công tác bảo vệ an ninh, trật tự vô cùng căng thẳng. Những tên côn đồ lưu manh, thoái hóa bị khai trừ ra khỏi Đảng muốn t́m cách lập công với kẻ địch để mưu t́m chỗ dựa sau này đă tập hợp lại, chống phá ta.

          Thời gian này, B́nh Định gặp phải nạn đói. Diện đói có đến 1,5 vạn người, nặng nhất là Tuy Phước và Quy Nhơn. Nhân dân thiếu ăn, không có nhà cửa, thiếu quần áo, đặc biệt thiếu ngư cụ để làm ăn. Tỉnh ủy đă tổ chức nhiều đoàn cán bộ y tế tỉnh, huyện tham gia cứu đói, giúp dân khôi phục sản xuất.

          Chính quyền tỉnh đă xuất hàng trăm tấn gạo, lúa giống, 50 ḅ cày, 3.000 bộ quần áo, nhiều thuốc men để cứu chữa cho những người ốm đau, và pḥng chống sốt rét cho dân. Riêng đối với ngư dân, tỉnh cấp 21 triệu đồng để sắm ngư cụ. Với tinh thần "lá lành đùm lá rách", giúp nhau đẩy mạnh sản xuất, vụ lúa tháng 8 có thu hoạch khá, đồng bào ven biển đánh được tôm cá, nên đến đầu năm 1955, t́nh h́nh đói kém giảm nhiều.

          Đồng thời, Tỉnh ủy cũng muốn để lại các công tŕnh hữu ích cho bà con, nên đă điều động cán bộ, bộ đội xây dựng một số công tŕnh tiêu biểu trung thủy nông như đê Thạch Đề, đập Ngự Hàm ở đông Tuy Phước, đập Lại Giang, kênh Bồng Tân (Hoài Nhơn), đập Bảy Yên, đập Thuận Hạt ở An Nhơn1... Những công tŕnh này đă để lại những kỉ niệm sâu sắc trong quần chúng sau khi chính quyền và quân đội cách mạng ra đi tập kết. Để dân khỏi thiệt hại về tài chính, tỉnh đă xuất hàng hóa kể cả thuốc men bán cho nhân dân để thu hồi tín phiếu và xuất cả tiền Đông Dương để thu hồi tín phiếu.

          Công đoàn và công nhân lao động đă tích cực phục vụ công tác chuyển quân tập kết. Cán bộ công đoàn tham gia vào Hội đồng tập kết của Liên khu V và của tỉnh. Anh em công nhân quân giới, cơ khí, vận tải được điều về Quy Nhơn tham gia đóng mới 4 chiếc xà lan mang tên: "Ḥa b́nh - Thống nhất - Độc lập - Dân chủ" phục vụ chuyên chở cán bộ, bộ đội và con em, vũ khí xuống tàu tập kết ra Bắc.

          Một số cán bộ và công nhân lao động quân giới B́nh Định được phân công tiếp nhận, phân loại, xử lư vũ khí, khí tài, chiến lợi phẩm. Ngành quân giới đă bí mật chôn dấu 30 tấn thuốc nổ và hàng chục tấn lựu đạn, ḿn. Việc đưa voi (voi sống) đi tập kết cũng là một thành công lớn.

            Ngày 16.5.1955, ba chiếc tàu Kilinski (BaLan), Stavơ-rơbôn và Ackangghơn (Liên Xô) đă thực hiện chuyến cuối cùng đón các đơn vị quân đội và nhân dân tập kết ra Bắc. Ba hồi c̣i kéo dài chào từ giă bến cảng Quy Nhơn, đánh dấu việc hoàn thành chuyển quân tập kết. Đồng bào lưu luyến tiễn đưa đầy xúc động:

                             "Tiễn đưa nhớ buổi hôm nay

                         Đón mừng xin đợi ngày này năm sau".

          Việc thực hiện nhiệm vụ của 300 ngày chuyển quân tập kết đă hoàn thành xuất sắc. Đồng bào chiến sĩ ở lại một ḷng một dạ hướng về Đảng và Bác Hồ, kiên quyết đấu tranh chống chế độ Mỹ-Diệm, góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam. Những người tập kết ra Bắc ra sức công tác, học tập, xây dựng miền Bắc xă hội chủ nghĩa vững mạnh, làm hậu thuẫn cho đồng bào miền Nam đấu tranh.

Đối với nhiệm vụ chuyển quân tập kết, toàn tỉnh có 10.700 cán bộ và con em ra Bắc, trong đó huyện Hoài Nhơn  2.200 người, An Nhơn gần 2000 người (hơn 1500 cán bộ đảng viên), Tuy Phước 1500 người (1208 cán bộ đảng viên), Phù Cát hơn 1.500 người, B́nh Khê 1.122, Hoài Ân 1.091 người, Quy Nhơn 500 người,Vĩnh Thạnh 200 người, Vân Canh  96 người1.  Ngày 16 tháng 5 năm 1955, ta bàn giao đợt cuối cùng, có hơn 70.000 cán bộ, chiến sĩ  và con em các tỉnh  trong khu vực xuống tàu tại cảng Quy Nhơn tập kết ra Bắc.

Việc chuyển quân tập kết được thực hiện chặt chẽ, đúng kế hoạch thời gian, diễn ra suôn sẻ và đạt kết quả tốt. Những người trong cuộc không thể quên được h́nh ảnh đầy lưu luyến, xúc động giữa những người ở lại và người ra đi, họ cùng hứa hẹn với niềm tin tưởng sâu sắc 2 năm chỉ là thời gian ngắn ngủi, đất nước sẽ lại hoà hợp và gia đ́nh họ sẽ lại đoàn tụ.

Công tác chuẩn bị lực lượng cán bộ ở lại hoạt động bí mật được tiến hành khẩn trương. Tỉnh ủy bí mật lựa chọn, sắp xếp hệ thống cơ quan lănh đạo của Đảng từ tỉnh xuống xă, gồm có 223 cán bộ hoạt động bất hợp pháp, 1.112 đảng viên và 3.129 cán bộ quần chúng hoạt động hợp pháp1. Ở cấp tỉnh có bộ phận giúp việc cho cấp ủy; mỗi huyện, thị có từ 6-15 cán bộ, là những người trung kiên, lập trường kiên định. Các đoàn thể quần chúng trong kháng chiến chống Pháp đều giải thể để che mắt địch, thay vào đó là hội biến tướng có tính chất nghề nghiệp giúp đỡ nhau như : Hội vần công, hiếu hỉ, đi săn, làm nghề biển, bóng đá, ca nhạc… Những tổ chức biến tướng này thời gian đầu có tác dụng tích cực, nhưng về sau tan ră dần trước những đ̣n đánh phủ đầu khốc liệt của Mỹ-Diệm. Bên cạnh đó, ta c̣n xây dựng hàng ngàn cơ sở cách mạng ở khắp các xă, thôn trong tỉnh, hoạt động theo nguyên tắc đơn tuyến - nứt nhánh, nhánh nào chỉ biết nhánh ấy. Những cơ sở này đă đóng góp lương thực, thực phẩm, thuốc men, liên lạc nắm t́nh h́nh địch, nuôi dấu cán bộ, thực sự có tác dụng giúp đỡ cho cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động vượt qua trong những ngày đen tối nhất của cách mạng.

2. Các chiến địch “tố cộng”, “diệt cộng”

Ngay từ những ngày đầu mới tiếp quản, địch đă cho rằng B́nh Định là một trong những trọng điểm đánh phá trên toàn miền Nam. Chính Lênxđên trùm cơ quan t́nh báo của Mỹ ở Sài G̣n lúc bấy giờ là kẻ đă vạch ra kế hoạch đánh phá tỉnh B́nh Định mang tên “chiến dịch giải phóng”, lập ra cái gọi là “Ủy ban giải phóng tỉnh B́nh Định” do Tôn Thất Đính, một tên tay sai khét tiếng từ thời Pháp cầm đầu. Ngày 27.5.1955, 12 ngày khi ta bàn giao cho đối phương khu vực tập kết 300 ngày (địa điểm tập kết, chuyển quân cuối cùng của ta ở miền Nam), Ngô Đ́nh Diệm đă trực tiếp đáp máy bay ra Quy Nhơn thị sát t́nh h́nh, chỉ đạo việc thành lập hệ thống chính quyền tay sai tại đây2.   

Tiếp quản đến đâu địch áp đặt bộ máy hành chính đến đó. Ở cấp tỉnh thành lập toà hành chính và các ty trực thuộc, các huyện đồng bằng lập quận, 3 huyện miền núi Vĩnh Thạnh, Vân Canh, An Lăo lập nha (đến năm 1958 đổi thành quận); ở cấp xă lập hội đồng hương chính gia (1957 lập Ủy ban hành chính xă), đến năm 1956, trên toàn tỉnh có 17.871 liên  gia.

Hệ thống chính quyền hành chính thành lập có tính chất áp đặt, thành phần chủ chốt trong bộ máy các cấp là những tên tay sai phản động, chống cộng, những phần tử lợi dụng tôn giáo, địa chủ bất măn trong kháng chiến.

Lực lượng quân sự của địch trong những ngày đầu khá quy mô, gồm sư đoàn dă chiến 32 với 2 trung đoàn bộ binh số 32 và 115, chốt giữ ở hầu hết các huyện trong tỉnh, ở mỗi xă c̣n có từ 1 trung đội đến 1 đại đội hương vệ (sau c̣n gọi là dân vệ, nghĩa quân), ngoài ra, c̣n có các tổ chức thanh niên cộng hoà, thanh niên chống cộng, phụ nữ liên đới… Bên cạnh lực lượng quân sự c̣n có bộ máy công an được tổ chức từ tỉnh xuống cơ sở (cấp tỉnh gọi là Ty công an, cấp huyện là chi, khu vực gọi là Cuộc), mạng lưới mật vụ, t́nh báo do thám được tổ chức dày đặc, cài cấy xuống tận thôn xóm, liên gia. Cuối tháng 5.1955, sau khi cơ bản kiểm soát được t́nh h́nh, địch bắt đầu phát động  chiến dịch “tố cộng” giai đoạn 1 với 3 bước:    

            - Bước 1: Từ tháng 5 đến tháng 7.1955, nội dung tiếp quản kết hợp đánh phủ đầu.

          - Bước 2: Từ tháng 8 đến tháng 12.1955, đánh phá phong trào cách mạng trên diện rộng.     

- Bước 3: Từ tháng 1 đến tháng 6.1956, đánh phá phong trào cách mạng theo chiều sâu.      

          Ngày 4.3.1956, Ngô Đ́nh Diệm tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội, đơn phương lập chính quyền bù nh́n, “tố cộng”, “diệt cộng” được xem là quốc sách hàng đầu, là biện pháp chiến lược chủ yếu để càn quét, tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam.       

          Mục tiêu của, “tố cộng”, “diệt cộng” là “tập trung đánh phá vào Đảng Cộng sản”, “tiêu diệt cả tinh thần và thể xác của người cộng sản”, song trong thực tế, đối tượng “tố” và “diệt” không chỉ là đảng viên cộng sản mà c̣n là những người kháng chiến cũ, cơ sở cách mạng, gia đ́nh có người thân đi tập kết và tất cả những ai yêu chuộng hoà b́nh, độc lập, dân tộc, dân chủ, tán thành hiệp thương tuyển cử thống nhất nước nhà. Chúng nêu khẩu hiệu hành động: “khui trục cán bộ nằm vùng”, “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết nhầm hơn bỏ sót” nhằm khích lệ bọn tay chân, ác ôn điên cuồng đàn áp nhân dân.  

Cũng như các địa phương  khác ở miền Nam, tại B́nh Định địch thiết lập bộ máy chỉ đạo: “tố cộng”, “diệt cộng” từ tỉnh xuống xă. Ở tỉnh và huyện do tỉnh trưởng, quận trưởng trực tiếp điều hành, ở xă do “công dân vụ” đứng đầu, chúng được huấn luyện nghiệp vụ và trao cho quyền được bắt bớ, tra tấn, tịch thu tài sản, thậm chí bí mật thủ tiêu người không cần chứng cứ. Dựa vào mạng lưới mật vụ chỉ điểm, dân vệ, bảo an và sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, chúng liên tiếp mở các cuộc lùng sục bắt bớ, đàn áp ở khắp nơi trong tỉnh. Chỉ trong khoảng 1 năm (từ tháng 5.1955 đến 6.1956) có gần 20.000 người bị bắt giam giữ tại các trại giam,  nhà tù từ tỉnh xuống xă; riêng nhà tù ở quận Bồng Sơn đă có 500 người bị giam giữ1. Hàng loạt các vụ thảm sát man rợ, điển h́nh như vụ thảm sát 72 người ở nhà thờ Thác Đá (Hoài Đức, Hoài Nhơn), trong đó có 38 người bị lấy cuốc đập đầu rồi thả xuống giếng lấp lại; vụ An Đông (Bồng Sơn, Hoài Nhơn) có 40 người bị địch  lấy tre kẹp cổ và chôn sống hoặc vụ 25 người bị thắt cổ bỏ vào bao thả xuống vùng biển Tam Quan. Ở  huyện Phù Cát trong cuộc đấu tố tại nhà thờ Đại Ân (Cát Nhơn) các đồng chí Bùi Sửu, Trần Khâm, Nguyễn Tường, Mai Vệ, Nguyễn Xương, Trần Thị Trắc đă bị tra tấn đến chết.2 Chúng giết một lúc 23 người ở gần đồn An Lăo, Ân Ḥa (Hoài Ân), đập chết một lúc 13 người rồi bỏ xác xuống giếng Lạng ở  G̣ Dú (Tân Thạnh, Ân Tường).

Để dễ bề kiểm soát, địch tiến hành phân loại quần chúng cách mạng và gia đ́nh có người thân đi tập kết làm 3 loại: loại A gồm những cán bộ chủ chốt từ xă trở lên, có thể bị bắt, tra tấn và thủ tiêu bất kỳ lúc nào; loại B là cán bộ xă, thôn, đảng viên, gia đ́nh có người thân đi tập kết, loại này bị quản thúc nghiêm ngặt, ban đêm phải ngủ tập trung có dân vệ canh gác; loại C là hội, đoàn viên trong kháng chiến, bị quản thúc tại chỗ và đi sưu dịch liên miên. Đối  với  dân thường địch bắt lập hộ khẩu làm thẻ kiểm tra, phân 3 hạng công dân: hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp. Gia đ́nh có cán bộ, đảng viên trong kháng chiến đều có bảng treo trước cửa, mọi quan hệ đều bị theo dơi, cô lập với các gia đ́nh khác.

Nhằm kích động “phong trào toàn dân chống cộng”, địch mở liên tiếp các cuộc mít tinh “tố cộng” và  buộc nhân dân tham dự, có hàng trăm cuộc mít tinh đấu tố, 1.182 người bị tố giác là “Việt cộng”. Tại các cuộc đấu tố ở Cát Nhơn (Phù Cát), Phước An (Tuy Phước), Nhơn Hưng (An Nhơn), chúng đánh chết tại chỗ hơn 40 cán bộ, đảng viên, hàng chục người khác bị tra tấn về đến nhà th́ chết hoặc tàn phế, bệnh tật suốt đời. Mặt khác, địch c̣n buộc những cán bộ đảng viên và những người tham gia kháng chiến phải dự các lớp “tẩy năo” ở quận, liên xă, xă. Tại các lớp học này, ban ngày mọi người phải chào cờ quốc gia, tri ân Ngô tổng thống, xé cờ Đảng, ảnh lănh tụ, kư vào tờ ly khai Đảng, tố giác đồng chí ḿnh. Ban đêm, địch buộc họ phải quỳ trước bàn thờ có ảnh Ngô Đ́nh Diệm để “sám hối”, ai chịu nghe lời th́ được làm các thủ tục quy hàng, khuất phục, thả về, c̣n đối với những người trung kiên không chịu khai báo, ly khai th́ bị tra tấn bằng mọi cực h́nh, bị thủ tiêu hoặc lưu đày. Những gia đ́nh có người thân tập kết địch buộc ông bà, cha mẹ phải làm giấy từ con, cháu, vợ phải ly hôn chồng...

Đi đôi với chính sách khủng bố, đàn áp, kẻ thù c̣n áp dụng chiêu bài cải cách điền địa giả hiệu. Nội dung chính sách chúng đă thể hiện trong các Dụ số 2 ngày 8.1.1955, Dụ số 7 ngày 5.2.1955 và Dụ số 57 ngày 22.10.1956. Chúng công khai lấy 30.000 mẫu ruộng đất của dân nghèo mà chính quyền cách mạng đă chia cho nông dân th́ nay bị tước đoạt đem đấu giá bổ sung vào ngân sách xă để làm quỹ riêng.

Nông dân các huyện phải kư 31.556 khế ước với địa chủ, ép buộc phải từ bỏ quyền sở hữu ruộng đất được chia trong kháng chiến chống Pháp. Chúng ép phải kư giấy trả lại lúa tô, ruộng lĩnh canh, rồi quay trở lại làm thuê cho đại chủ. Chính quyền Diệm cấu kết với bọn địa chủ nhằm phục vụ giai cấp, chúng bắt hầu hết cán bộ kháng chiến và cán bộ các hội, đoàn thể để trả thù, vu khống buộc họ phải trả lúa, trâu ḅ. Nếu bản thân đi tập kết th́ chúng buộc gia đ́nh phải trả lại.

Rơ ràng, chính sách cải cách điền địa của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là chính sách cực kỳ phản động, thâm độc nhằm thủ tiêu những thành quả ruộng đất mà Cách mạng đă đem lại cho nông dân.

Để dễ bề kiểm soát, từ năm 1957, Mỹ-Diệm cho áp dụng chính sách “dinh điền”. Đó là h́nh thức tập trung nông dân khá điển h́nh mà chúng coi là một trong những quốc sách nhằm tách nông dân ra khỏi “Việt Cộng”. Tính đến năm 1960, trên toàn miền Nam, chúng đă xây dựng 146 cơ sở dinh điền, tập trung gần 20 vạn nông dân, chủ yếu là ở Tây Nguyên. Riêng ở tỉnh B́nh Định chỉ trong ṿng nửa tháng (25.4 đến 10.5.1957), địch đă cưỡng bức 76 gia đ́nh đi dinh điền ở Tây Nguyên và Phước Long1. Tiếp đó, trong khoảng từ tháng 4-12.1958, chúng tổ chức sáu đợt cưỡng bức dinh điền với tổng số 7.362 nông dân2, phần lớn là các gia đ́nh kháng chiến cũ nhằm dễ bề kiểm soát, bóc lột và cắt đứt quan hệ của họ với Cách mạng.

Mỹ- Diệm c̣n chủ trương áp dụng các h́nh thức tổ chức để kiểm soát và bóc lột nhân dân như thành lập các Hợp tác xă, Nông tín cuộc, Hiệp hội nông dân. Trong toàn tỉnh có 13 Hợp tác xă3. 4 quận có hiệp hội Nông dân là Tuy Phước, An Nhơn, Phù Mỹ và Hoài Nhơn tất cả có 709 chi hội, 24.395 hội viên với số vốn cổ phần là 373.370 đồng. Bên cạnh đó, chính quyền Diệm c̣n áp dụng chế độ gia tăng thuế khoá nặng nề, thuê ruộng đất ở B́nh Định năm 1957 tăng gấp đôi so với năm 1956. Nông dân canh tác ruộng đất công phải nộp hoa lợi 25% tăng lên 50%. Những năm 1958-1960 nông dân phải đóng góp đến 20 thứ thuế và cước phí vô lư như phí làm bót gác cho dân vệ, làm bản tin, mua ảnh Diệm, tiền làm thẻ kiểm tra, thẻ cử tri, làm trụ sở, phụ thu thuế vườn... Ngoài ra, mỗi người dân c̣n phải đóng góp từ 7-10 ngày công lao dịch, đi xâu.

          Để đối phó với phong trào cách mạng ở nông thôn, địch tăng cường bộ máy ḱm kẹp nhất là đối với cấp xă. Mỗi xă chúng cho thành lập xă đoàn dân từ 1 đến 2 tiểu đội, chúng cho củng cố bộ máy cai trị ở cơ sở thôn, ấp, liên gia. Tính đến năm 1956, toàn tỉnh có 17.871 liên gia.

          Đồng thời, địch tổ chức ra nhiều hội, đoàn, đảng phái phản động và bắt nông dân phải tham gia như Phong trào Cách mạng Quốc gia, Tập đoàn Công dân (Công giáo), Thanh niên cộng hoà, Phụ nữ Liên đới, đảng Cần lao nhân vị. Tất cả các hộ gia đ́nh bị chúng ghép vào “Ngũ gia liên bảo”, “Thập gia liên bảo” để dễ kiểm soát.

          Đối với dân thường bị địch bắt làm hộ khẩu, thẻ kiểm tra và chia làm 3 hạng là hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp. Các hộ gia đ́nh được phân hạng chúng có kư hiệu riêng dán ở cửa ra vào. Hạng t́nh nghi, kư hiệu ṿng tṛn màu đen; hạng lưng chừng, ṿng tṛn nửa đen - nửa trắng; hạng tốt, ṿng tṛn màu trắng.

          Các đối tượng A, B, C và các gia đ́nh có kư hiệu ṿng tṛn màu đen bị địch thường xuyên theo dơi, kiểm soát chặt chẽ, khủng bố, bắt giam, cưỡng ép đi tố cộng, buộc đầu thú hoặc đi cải huấn.

          Các chính sách cai trị của Mỹ-Diệm đă đè nặng lên cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân, không khí khủng bố, hận thù diễn ra khắp nơi làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với Mỹ-Diệm ngày càng trở nên nghiêm trọng.

          Quyền tự do đi lại của nhân dân bị cấm đoán nghiêm ngặt, tụ tập từ 3-5 người trở lên được xem là bất hợp pháp; việc cưới hỏi, ma chay, giỗ chạp, lễ hội đều phải xin phép chính quyền. Địch khuyến khích phát triển tôn giáo, nhất là Thiên chúa giáo, xây dựng nhiều nhà thờ; dùng tiền bạc, vật chất, mua chuộc, dụ dỗ, phân hóa những người kháng chiến, cô lập những người trung kiên.

          Đối với các huyện miền núi trong giai đoạn I (5.1955-5.1956), địch chủ yếu dùng mật vụ, tề điệp giả danh thương lái lên ḍ xét do thám t́nh h́nh, dùng hàng hoá (gạo, muối, vải vóc, thuốc chữa bệnh…) để mua chuộc các già làng và nhân dân. Mặt khác, từng lúc, từng nơi địch kết hợp sử dụng lực lượng quân sự, tổ chức các trận càn quét, lùng sục vùng giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng.      

          Đầu tháng 7.1956, Mỹ-Diệm phát động chiến dịch “tố cộng” giai đoạn II (7.1956-1957) với âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm hơn, trọng điểm đánh phá là vùng giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng. Chúng liên tục tổ chức các cuộc lùng sục, khui trục cán bộ “nằm vùng”. Đầu năm 1957, chúng “đặt đảng cộng sản ra khỏi ṿng pháp luật”, sau đó, Luật 10.1959 ra đời, lập toà án quân sự  đặc biệt, lê máy chém đi khắp miền Nam.   

Với tất cả những thủ đoạn, biện pháp vô cùng thâm hiểm, xảo quyệt, dă man; trong thời kỳ này địch đă gieo không biết bao nhiêu đau thương, tang tóc. Không chỉ  vô hiệu hoá một bộ phận lực lượng cách mạng và các lực lượng đối lập mà c̣n tạo nên tâm lư hoang mang, nghi kỵ, chia rẽ trong nhân dân, trong gia đ́nh, ph vỡ mối quan hệ gia đ́nh, làng xóm.

Có thể nói, đây là thời kỳ đen tối nhất của phong trào cách  mạng miền Nam nói chung và B́nh Định nói riêng. Nạn bắt bớ, khủng bố, giết chóc diễn ra khắp nơi trong tỉnh, chỉ trong thời gian ngắn (5.1955 - cuối năm 1957) đă có 155 cán bộ chủ chốt ở lại hoạt động đă bị bắt, phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề, nhân dân sống trong không khí ngột ngạt của sự đàn áp.        

           Trước những bức xúc về đời sống chính trị, tinh thần bị chà đạp, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh đă dựa vào tính pháp lư của Hiệp định Giơ-ne-vơ, đấu tranh chống lại hành động đàn áp, khủng bố những người kháng chiến cũ, ép buộc dân bỏ sản xuất đi tập trung học tố cộng, chống cưỡng bức theo đạo Thiên chúa… Đi đầu và làm ṇng cốt cho phong trào này là lực lượng thanh niên, Đoàn thanh niên yêu nước chống Mỹ-Diệm được thành lập ở bắc Phù Cát (tháng 7.1955), nam Phù Mỹ với 2.000 đoàn viên.

Cùng với việc tham gia đấu tranh chính trị, bất chấp các thủ đoạn âm mưu của kẻ thù, nhân dân vẫn t́m mọi cách che dấu, bảo vệ cán bộ đảng viên, những người kháng chiến cũ, giúp đỡ các gia đ́nh có người thân đi tập kết. Chị em có chồng con đi tập kết đă tập hợp lại cương quyết chống việc cưỡng ép ly hôn,  từ bỏ con cái.

Tuy phong trào yêu nước của quần chúng tồn tại không lâu nhưng đó là nhân tố mới, biểu hiện tinh thần và ư chí cách mạng của nhân dân B́nh Định, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh trong giai đoạn tiếp theo.      

3. Chống “tố cộng, “diệt cộng”, từng bước khôi phục phong trào

          Có thể nói chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, Mỹ-Diệm đă đẩy phong trào cách mạng trong tỉnh vào t́nh thế khó khăn nhất. Hàng loạt cán bộ đảng viên, quần chúng yêu nước bị bắt hoặc bị thủ tiêu bí mật, khủng bố đàn áp và cùng với nó là đau thương tang tóc diễn ra khắp nơi.

Tuy có một bộ phận nhỏ bị hoang mang, dao động thậm chí mất tinh thần, quy hàng, phản bội nhưng tuyệt đại đa số cán bộ đảng viên, quần chúng cách mạng vẫn kiên định một ḷng theo Đảng, theo Bác Hồ, thà chết chứ không chịu khuất phục. Có những cán bộ dù sa vào tay giặc, chịu mọi cực h́nh cho đến chết vẫn không hề khai báo như Lê Đ́nh Giao, Phạm Tiến, Hồ Văn Nghi, Trần Châu, Trần Độc, Nguyễn Chí Thành, Đặng Thành Tân, Nguyễn Mại… Đó là các đồng chí Nguyễn Khắc Nương, Trần Quang Quí, Vơ Cường, Lê Ngạn, Hồ Thị Hoàng Anh, Đinh Thị Vỹ, Nguyễn Thị Thế Ngân1… dù bị tra tấn đến chết đi sống lại vẫn không chịu chào cờ ba que, không hô “tri ân Ngô tổng thống”, không xé cờ Tổ quốc, không ly khai Đảng, tố giác đồng chí ḿnh. Đó là tấm gương của ông Tạ Khẩn, một trí thức ngoài Đảng, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban hành chính  kháng chiến thị xă Quy Nhơn (1952-1954) dù bị địch tra tấn đến què quặt vẫn cắn răng chịu đựng không hề khai báo, cuối cùng đă anh dũng hy sinh tại nhà lao Nha Trang. Đó là đồng chí Tô Phùng - tiêu biểu cho tấm gương tuổi trẻ, chí lớn, dù bị địch bắt nhiều  lần nhưng mỗi lần ra khỏi tù là t́m cách móc nối, gây dựng cơ sở để hoạt động…

          Cùng thời gian này nổi lên phong trào đấu tranh của cán bộ đảng viên, quần chúng cách mạng trong các nhà tù của địch. Điển h́nh cuộc đấu tranh của 18 tù chính trị tại xà lim số 1 nhà lao kho Hoà Thoại (nay là nhà số 9 Đào Duy Từ, Quy Nhơn) từ ngày 18 đến 24.4.1957, họ đă tuyệt thực để phản đối chế độ lao tù hà khắc, phản đối việc bố trí 30 người trong pḥng giam chỉ có 10m2, đ̣i cải thiện chế độ sinh hoạt… Tuy có 4 đồng chí hy sinh nhưng cuộc đấu tranh đă gây được tiếng vang trong tỉnh, được anh em các trại giam khác và quần chúng nhân dân Quy Nhơn ủng hộ, giúp đỡ.

Để đối phó với với phong trào ngày càng mạnh mẽ của tù chính trị các nhà lao Quy Nhơn, ngụy quyền đă gấp rút xây dựng một nhà lao mới ở Ghềnh Ráng đồng thời chuyển một số tù chính trị đến các nhà lao khác ở miền Nam như lao Thừa Phủ, Chí Hoà. Từ cuối tháng 4.1957 đến 21.1.1958 đă có 110 tù chính trị ở nhà lao Quy Nhơn bị đày ra Côn Đảo .

Những năm 1955-1957 là thời kỳ các tổ chức Đảng và phong trào quần chúng trong tỉnh bị khủng bố tàn khốc và ch́m trong đêm tối, những lớp cán bộ này bị địch bắt giết th́ lại có lớp lớp cán bộ khác phát triển từ hàng ngũ quần chúng trung kiên, tiếp tục đứng lên khôi phục phong trào, móc nối xây dựng cơ sở cách mạng.       

Trước sự khủng bố ác liệt của địch và thực tế phong trào của quần chúng, đầu năm 1958, tại Đak Hmang(Vĩnh Thạnh), Tỉnh ủy B́nh Định họp nghe phổ biến nội dung tài liệu “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn và chủ trương mới của Khu ủy V. Tỉnh uỷ chủ trương tích cực khôi phục và phát triển phong trào quần chúng, tạo ra khí thế mới cho phong trào toàn tỉnh1.   

Trong tháng 8.1957, ở xă Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh nổ ra cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân kéo dài suốt 3 ngày đêm chống lại hoạt động khủng bố tại chỗ để truy n lực lượng của ta, giành lại một số người bị địch bắt giam, thanh niên một số làng lập trại bí mật trong rừng, chống địch bắt lính.      

Tại An Lăo, đồng bào các xă vùng cao tổ chức ăn thề, lập tự vệ mật, bố pḥng chống địch càn quét. 

Ở Vân Canh, địch mở các cuộc hành quân  từ ngày 7 đến 17.11.1958 vào các xă Canh Lồ, Canh Phong và Canh Thông, nhưng đồng bào đă cắm chông, rào ngăn cản đường làm thất bại âm mưu dồn dân của địch. Trong trận càn ở Canh Lồ, Suối Các, Kon Lót địch đă chạm súng với ta, nhân dân các làng đấu tranh quyết liệt chống mua chuộc, dồn dân, bất hợp tác với địch… khiến chúng phải thú nhận: “t́nh h́nh chính trị ở đây trầm trọng”.

Tiếp theo là các hoạt động chống dồn dân diễn ra mạnh mẽ khắp 3 huyện miền núi: Ở Vĩnh Hiệp,Vĩnh Hảo (Vĩnh Thạnh), An Lo, một số làng ở vùng cao Vân Canh dời làng vào vùng sâu, bố pḥng chống địch, đặc biệt cơ sở làng Hà Luỹ đă bí mật diệt 1 tên công an quận.       

Cùng với việc đấu tranh chống dồn dân ở các huyện miền núi, phong trào ở các huyện đồng bằng cùng có những chuyển biến tích cực. Các huyện An Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn chú ư khôi phục và củng cố cơ sở ở một số xă có phong trào yếu.

Hàng loạt các cuộc đấu tranh nổ ra ở các huyện phía bắc đ̣i thực hiện quyền dân chủ, đó là phong trào quần chúng chống  việc cưỡng bức đi “dinh điền”, “quân dịch” ở Hoài Thanh (Hoài Nhơn), đồng bào lăn xả vào đầu xe cơ giới của địch ngăn cản không cho bắt người. Hàng trăm chị em ở chợ Ân (Tam Quan Nam) dùng đ̣n gánh quyết liệt chống lại bọn dân vệ cướp cá và hàng hoá của dân. Phụ huynh học sinh trường Phương Danh ( Đập đá - An Nhơn) tố cáo việc địch tổ chức ép buộc hiến máu cung cấp cho quân đội.      

Nh́n chung, các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân ngày càng quyết liệt, bên cạnh h́nh thức đấu tranh chính trị là chủ yếu đă lẻ tẻ xuất hiện h́nh thức đấu tranh bạo lực mang tính chất tự  vệ.

4. Chuyển thế tiến công

Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng ở B́nh Định cũng như toàn miền Nam  lại phải đương đầu với những thử thách quyết liệt. Ngày 23.3.1959, Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong t́nh trạng chiến tranh, tiếp đó ban hành Luật 10.1959, lê máy chém đi khắp nơi tiến hành hàng loạt các cuộc khủng bố chém giết man rợ.

Trước t́nh h́nh đó, tháng 1.1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15 mở rộng xác định đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết này có ư nghĩa rất to lớn, đáp ứng nguyện vọng cháy bỏng của quần chúng nhân dân, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên.

Dưới sự lănh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân B́nh Định bước vào thời kỳ đấu tranh mới, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa Vĩnh Thạnh.

 Ngày 6.2.1959, nhân dân của 11 làng thuộc 2 xă: làng Tơlok, Tơlék, Hàri  (Vĩnh Hiệp), 2 làng Kdriek (Ta Diệt), 5 làng Konyong, Konrơn, Konnia, Kon Dzil và Knang (Vĩnh Hảo) đấu tranh quyết liệt chống âm mưu dồn dân của chính quyền quận, đồng bào bí mật dời làng vào vùng sâu để lại lực lượng thanh niên bố pḥng chiến đấu. Tháng 3.1959, địch liên tiếp tổ chức các cuộc càn quét lớn vào các xă Vĩnh Hiệp, Vĩnh An (Vĩnh Thạnh) nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng ở đây nhưng chúng đă bị du kích và nhân dân dùng vũ khí thô sơ, tự tạo dũng cảm chống lại, gần 30 tên địch bị thương vong tại làng Tơlok. Các làng khác cũng tổ chức rào làng, bố pḥng chống địch càn quét, đỉnh cao diễn ra vào tháng 6.1959 đồng loạt 60 làng của 9 xă với hơn 5.000 người tham gia có lực lượng vũ trang yểm trợ đă nhất tề đứng lên bẻ găy các cuộc càn quét, đập tan âm mưu dồn dân của địch, giành quyền làm chủ làng xă của ḿnh.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Vĩnh Thạnh đă khẳng định sức mạnh của phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, là thắng lợi đầu tiên của chủ trương khởi nghĩa từng phần ở Khu năm nói riêng và miền Nam nói chung; tinh thần của Nghị quyết 15 đă trở thành hiện thực, tạo thế và lực mới cho phong trào cách mạng tỉnh nhà tiến thêm một bước mới; giúp cho Đảng bộ B́nh Định có thêm kinh nghiệm mới trong việc chỉ đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh.      

 Ở Vân Canh, từ tháng 1 đến tháng 3.1959, các làng Cà Bông, Ma Khao, Ma Găm, Ma Quân đă tổ chức rào làng, lập các đội tự vệ để bảo vệ làng bản, đến tháng 5.1959, phong trào này lan sang 3 xă vùng cao Canh Lồ, Canh Thông, Canh Phong. Nhân dân làng Suối Mây nổi dậy vũ trang diệt 7 tên địch, cụ Pơ Rang hơn 90 tuổi một ḿnh một ná tiêu diệt 4 tên, nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo.

Ở huyện An Lăo đến đầu năm 1960 đă giải phóng được 6 xă: An Đồng, An  Tân, An Ninh, An  Cư,  An Dân và An Mỹ.  

Ở vùng đồng bằng phong trào cách mạng cũng có sự chuyển biến, địch cũng phải thừa nhận: “Cộng sản lên mặt ở các quận, truyền đơn Việt cộng rải nhiều nơi, nhất là tháng 7 và tháng 11.1959, các liên gia trưởng, xóm trưởng và dân vệ một số nơi bị các toán Việt cộng đe doạ”1.            

Ngày 2.9.1960, trung đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh trong thời kỳ chống Mỹ được thành lập (với tên gọi đơn vị 2/9), tiếp đó, các huyện đồng bằng lập  đội vũ trang công tác, huyện miền núi lập tiểu đội vũ trang tập trung .Vừa mới ra đời, đơn vị 2/9 đă tổ chức các trận đánh đầu tiên ở Hoài Ân (đêm 23.9.1960) diệt 3 tên, bị thương 1 tên, bắt sống 8 tên, thu 23 súng. Cùng thời gian, đơn vị 2/9 của tỉnh tập kích trụ sở ngụy quyền xă Hoài Tân (Hoài Nhơn), bắt gọn một đơn vị dân vệ thu 29 súng2. Cùng đêm đó đội đặc công của ta đă diệt một trung đội dân vệ ở Kim Sơn (Ân Nghĩa, Hoài Ân). Tiểu đội vũ trang Vân Canh phục kích tại dốc Cây Dừng (18.10.1960) diệt 3 tên, bị thương 4 tên, thu 4 súng. Đội vũ trang công tác huyện B́nh Khê tấn công trụ sở xă B́nh Tân (ngày 3.12.1960). Ở An Lăo, ta tiêu diệt 1 tiểu đội địch ở Đất Dài, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá khu “định cư”, đưa dân về làng cũ.    

          Đến cuối năm 1960, ta đă giải phóng hầu hết huyện Vĩnh Thạnh, toàn bộ vùng cao huyện An Lăo, 3 xă vùng cao huyện Vân Canh. Đảng bộ có hơn 200 đảng viên được rèn luyện thử thách, làm ṇng cốt cho phong trào cách mạng ở địa phương.   

Từ khi hoà b́nh lập lại (7.1954) đến năm 1960, phong trào cách mạng ở B́nh Định đă trải qua biết bao gian truân, thử thách, ác liệt, hy sinh. Mỹ-Diệm đă dùng súng đạn, lưỡi lê, máy chém đàn áp gây cho ta những tổn thất nặng nề. Trong những năm khó khăn nghiêm trọng, càng ngời sáng lên phẩm chất của cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước, họ đă kiên định lập trường, tuyệt đối tin tưởng ở Đảng, Bác Hồ, đoàn kết dân tộc, đấu tranh quyết liệt không chùn bước trước kẻ thù, vượt qua thời kỳ hiểm nghèo đen tối nhất.

Phong trào cách mạng trong tỉnh đă trải qua thử thách, cam go, phục hồi và từng bước đi lên. Từ đấu tranh chính trị đ̣i hiệp thương tuyển cử, đến đấu tranh chống “tố cộng” “diệt cộng”, gây dựng khôi phục lại phong trào, chuyển dần sang thế tiến công. Qua thực tiễn, kinh nghiệm đă chuyển hướng h́nh thức đấu tranh từ đấu tranh chính trị, chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Trong lúc địch khủng bố ở đồng bằng, th́ ta dựa vào miền núi xây dựng căn cứ địa, củng cố lực lượng, tạo thế đứng chân để mở rộng phong trào xuống đồng bằng, giành thắng lợi từng phần, tạo tiền đề cho thời kỳ đồng khởi, đánh bại chiến lược “chiến tranh một phía” của địch.

 



1 Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr. 21.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (8.1945-5.1955), 1992, tr. 180

1 Dẫn theo số liệu các tập sách: Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (8.1945-5.1955), 1992, tr. 184; Hoài Nhơn Lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước (1930-1975), 1996, tr. 161; Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn (1930-1975), 1988, tr. 103; Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn (1930-1975), 1999, tr. 105; Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Phước (1945-1975), 1991, tr. 86; Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1930-1975), 1999, tr. 163; Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), 1998, tr. 157; Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930-1975), 1996, tr. 117; Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1930-1975), tr. 103; Lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh (1930-1975), 2000, tr. 108 .

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), 1996, tr. 12

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), 1996, tr. 15

1 Hoài Nhơn, Lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1930-1975). 1996, tr. 166, 167.

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930-1975),1996, tr. 122             

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), 1996, tr. 26

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), 1996, tr. 37

3 Các Hợp tác x: Ngnh dệt cĩ Nam B́nh (Hồi Nhơn), An Thái, Đập Đá (An Nhơn). Ngư nghiệp có Phước Chu (Tuy Phước), Quy Nhơn, Tân Mỹ (Phù Mỹ), Hương Mỹ (Hoài Nhơn). Hợp tác x Thuốc l, Hợp tc x nĩn Gị Găng (Cát Tường, Phù Cát), Hợp tác x tỉu thương hàng vải Quang Trung (Quy Nhơn), Hợp tác x Tít kiệm và tín dụng công chức (Quy Nhơn), Hợp tác x Tiết kiệm v tín dụng An B́nh (An Nhơn).

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), 1996, tr. 20; Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930 -1975), 1998, tr. 168

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 37

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 48

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân, sđd, tr. 197