II. GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961-1965)

 

1. Chống địch càn quét, phá “ấp chiến lược”

Từ cuối năm 1960, sau khi thất bại trong việc sử dụng bộ máy chính quyền tay sai Ngô Đ́nh Diệm, đế quốc Mỹ bị động thay đổi chiến lược, chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” để đối phó với phong trào cách mạng miền Nam, chiếm lại các địa bàn và vùng dân cư đă mất, ngăn chặn phong trào đồng khởi của nhân dân miền Nam đang phát triển mạnh mẽ, cứu văn ngụy quyền tay sai đang lâm vào nguy cơ sụp đổ.   

Đặc điểm cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là dùng quân đội tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh, mở các cuộc càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn theo chiến thuật “tát nước, bắt cá”, tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân, tiêu diệt bộ đội và du kích ta.        

Cùng với việc sử dụng ngụy quân, Mỹ c̣n tăng cường viện trợ, cố vấn và các phương tiện chiến tranh hiện đại như: máy bay, xe tăng, vũ khí, đạn dược. Chúng mở liên tiếp các cuộc càn quét, gom dân. Theo kế hoạch của Xtalay-Taylo th́ có thể b́nh định miền Nam trong ṿng 18 tháng (từ giữa 1961 đến cuối 1962), sau đó là kế hoạch Giônxơn-MắcNamara, dự kiến b́nh định miền Nam trong hai năm 1964-1965. Tỉnh B́nh Định là một trong những nơi Mỹ-Diệm chọn làm thí điểm để thực hiện kế hoạch này. Một mặt địch tăng cường quân số lên tới 13 đại đội bảo an, 96 tổng đoàn dân vệ, hai trung đoàn cộng hoà; mặt khác chủ động sửa sang các tuyến đường giao thông, nhất là tuyến đường huyết mạch 19, mở rộng quân cảng Quy Nhơn, tạo thuận lợi cho việc hành quân càn quét.  

Đầu năm 1961, địch bắt đầu chiến dịch “tấn công Việt cộng”, mở hơn 60 cuộc hành quân càn quét lớn nhỏ, trọng điểm là tập trung đánh phá các huyện miền núi, vùng hành lang, bàn đạp, giáp ranh giữa ta và địch. Ở đồng bằng tăng cường đôn quân, bắt lính, xây dựng hệ thống điệp ngầm, củng cố bộ máy ngụy quân, ngụy quyền làm chỗ dựa để tăng cường đàn áp.

Khắp nơi trong tỉnh diễn ra các cuộc càn quét giết chóc, đốt phá nhà cửa, cướp bóc tài sản, điển h́nh như vụ tra tấn dă man 21 người dân ở Nhơn Lộc (An Nhơn), vụ bắt người mổ bụng moi gan nhắm rượu ở Ân Nghĩa (Hoài Ân), hoặc bắt người chặt chân tay ở Phù Cát …

Trước âm mưu thủ đoạn của địch, tháng 4.1961, hội nghị Tỉnh ủy B́nh Định quán triệt chủ trương của Liên khu ủy V: “Giải phóng toàn bộ miền núi, tiến mạnh xuống đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở, đẩy mạnh phong trào ở đô thị"1.

Ủy ban lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh được thành lập (2.1961), tiếp đó các tổ chức quần chúng giải phóng như Hội thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân và Đoàn thanh niên cách mạng lần lượt ra đời, làm ṇng cốt cho phong trào cách mạng địa phương. Trong tháng 5.1961, ta đă vận động được 330 thanh niên ṭng quân, tham gia đội vũ trang công tác của tỉnh và huyện.2

Phát huy thắng lợi của tinh thần đồng khởi, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh đă bẻ găy hơn 30 cuộc hành quân càn quét của địch vào vùng căn cứ và vùng giáp ranh ở các huyện miền núi An Lăo, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, loại hơn 300 tên địch. Điển h́nh có các trận phá khu dồn Đất Dài (An Lăo) tháng 2.1961; Trận Kon Hai - Nước Trinh (Vĩnh Thạnh tháng 3.1961) diệt 80 tên. Năm 1961, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với  quân dân Vân Canh tổ chức đánh nhiều trận tiêu diệt 181 tên3. Trong quư I năm 1961, đội vũ trang công tác tổ chức 32 cuộc vũ trang tuyên truyền, phổ biến chương tŕnh chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá  ḱm, xây dựng cơ sở xă thôn ở 7 huyện đồng bằng.

Đêm 16.7.1961, hai trung đội của đại đội Tây Sơn, cùng với bội đội huyện Hoài Nhơn tập kích đồn dân vệ Hoài Sơn, diệt 1 trung đội dân vệ và bọn chỉ huy tổng đoàn gian ác. Sáng ngày hôm sau, địch điều một trung đội đến cứu viện. Nắm được ư đồ của địch, ta đă bố trí lực lượng bất ngờ chặn đánh tại xă Hoài Sơn (Hoài Nhơn), diệt  được 53 tên, bị thương 18 tên, bắt 13 tên, thu 45 súng các loại và 3.000 viên đạn. Đây là trận đánh có tiếng vang lớn, diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, làm cho ngụy quyền trong vùng vô cùng hoảng sợ1. Lực lượng du kích xă Cát Hanh, Phù Cát (15.7.1961), xă Hoài Thanh, Hoài Nhơn (11.9.1961),… đă diệt được nhiều tên ác ôn khét tiếng ngay trong sào huyệt của địch.

Bên cạnh đó, các hoạt động đấu tranh chính trị của quần chúng cũng khá rầm rộ, quyết liệt. Gần 300 đồng bào xă Hoài Thanh nằm giữa đường cản xe địch chuyển dân đi dinh điền; nhân dân Phước Lộc, Phước Nghĩa (Tuy Phước) chống bọn nhà thầu của Mỹ phá lúa, hoa màu để mở tuyến đường giao thông từ  Cầu Gành đến vực Ông Đô. Nhiều nơi khác trong tỉnh dấy lên phong trào tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kỳ II. Nhân 7 năm ngày kư kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, các đội vũ trang công tác trong tỉnh đă mở 60 cuộc vũ trang tuyên truyền ở 32 xă đồng bằng, phát động quần chúng phá thế ḱm kẹp của địch, diệt 32 tên tề điệp có nhiều nợ máu với dân. Qun ta đ đẩy lùi hơn 20 cuộc càn quét của địch vào căn cứ và vùng giáp ranh, nổi bật là các trận đánh tại trụ sở xă Ân Nghĩa (14.5.1961) diệt 1 trung đội dân vệ, làm chủ thôn Kim Sơn; tiêu diệt một trung đội dân vệ tại Ân Hảo (Hoài Ân). Tại An Nhơn đêm 27.9.1961, lực lượng của ta tiến công trụ sở xă Nhơn Lộc, tiêu diệt 1 trung đội dân vệ, 2 trung đội bảo an, bắt 11 tên, thu 40 súng các loại.    

Đặc biệt vào đêm 6.10.1961, lần đầu tiên lực lượng vũ trang tỉnh tổ chức phục kích tại đoạn đường sắt Đá Huê (Canh Hoà, Vân Canh), lật đổ một đoàn tàu quân sự 23 toa chuyên chở vũ khí và binh lính, sau 3 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt 117 tên, bắt 10 tên, phá hủy 1 đầu máy, 3 toa tàu và nhiều quân trang, quân dụng.2 Trận đánh gây chấn động lớn trong hàng ngũ địch và tạo niềm tin, phấn khởi trong quần chúng nhân dân.       

Từ tháng 10.1961 đến tháng 1.1962, phối hợp với bước 2 hoạt động toàn Khu, quân dân B́nh Định mở đợt “Đồng khởi” đầu tiên ở đồng bằng, lấy các xă Hoài Sơn (Hoài Nhơn), Ân Ḥa, Ân Hảo (Hoài Ân) làm trọng điểm. Tỉnh ủy chủ trương “Tiến công bộ máy ḱm kẹp và lực lượng vũ trang của địch, phát động phong trào quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ xă thôn, mở rộng vùng giải phóng đồng bằng".1

Thực hiện chủ trương trên, ta tiếp tục mở 106 cuộc vũ trang tuyên truyền ở 50 xă thuộc 7 huyện đồng bằng và 2 huyện miền núi An Lăo, Vân Canh. Ở Hoài Nhơn, ta đồng loạt tiến công địch ở các xă Hoài Sơn, Hoài Hảo, Hoài Châu, Hoài Thanh, Tam Quan Nam, Hoài Mỹ, Hoài Hương và Hoài Đức. Ở Hoài Ân, các đội vũ trang công tác đột nhập vào chợ Hà Đông (Ân Hữu), Kim Sơn (Ân Nghĩa). Ở Phù Cát, ta phát động ở 10 xă, rút thanh niên thành lập 7 đội công tác. Tại B́nh Khê, ta tập kích địch ở đồn Đất Đỏ (Vĩnh Hoà).         

Phối hợp với hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh của quần chúng nổi dậy diệt ác, phá tề, lm ră bộ máy ngụy quyền xă thôn thuộc 8 xă các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ. Có 3.000 dân vùng Hà Thanh (Vân Canh) đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh binh vận nới lỏng thế ḱm kẹp của địch. Giải phóng 17 thôn và 3.000 dân ở cùng đồng bằng. Căn cứ địa miền núi được củng cố một bước và mở rộng thêm một số vùng thấp An Lăo, Vân Canh, với 16.050 người2. Xây dựng 2.161 cơ sở cách mạng, 45 đội công tác xă, 144 đội viên du kích, lực lượng vũ trang huyện có 9 trung đội, tỉnh có 2 đại đội (Tây Sơn, Trần Hưng Đạo), 1 đại đội đặc công và 3 tiểu đội trinh sát, thông tin, công binh.

Bước vào đầu năm 1962, sau những thất bại bước đầu ở B́nh Định cũng như ở các chiến trường khác trên toàn miền Nam, Mỹ-Diệm vẫn tiếp tục thực hiện kế hoạch Stalay-Taylo, đẩy mạnh việc dồn dân lập ấp chiến lược (mục tiêu lập 200 ấp trong năm 1962). Phong trào cách mạng trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, việc gây dựng cơ sở, tiếp tế, nuôi dấu cán bộ đảng viên ở đồng bằng có nhiều trở ngại, cán bộ khó gặp dân.

Tỉnh ủy B́nh Định chủ trương mở rộng hoạt động Xuân-Hè 1962, nhằm phá ách ḱm kẹp của địch, giành lại đại bộ phận nông thôn đồng bằng và miền núi; chọn Hoài Nhơn, Phù Mỹ và Phù Cát làm trọng điểm để phát động quần chúng phá ấp chiến lược.

          Mở màn đợt hoạt động, đêm 3.3.1962, đội đặc công của tỉnh phối hợp lực lượng huyện tập kích vào cứ điểm Núi Bé (Hoài Sơn), sau 30 phút chiến đấu, ta tiêu diệt gọn 1 trung đội bảo an, thu 27 súng các loại. Chiến thắng Núi Bé là trận mở đầu của lực lượng ta tiến công địch có công sự vững chắc ở B́nh Định. Tiếp theo, ta tập kích vào đồn Hội Long và trụ sở xă Ân Hảo (Hoài Ân) vào ngày 15.3.1962 và chặn đánh địch từ  Bồng Sơn lên chi viện, loại khỏi ṿng chiến đấu 20 tên.

Ngày 21.3.1962, ta chống trả lại trận tập kích của 2 đại đội địch, diệt 30 tên tại Hội Văn (Ân Hữu), tiến công đồn Hưng Nhơn (Ân Hoà) (nay là An Hoà, An Lăo). Trong tháng 6.1962, lực lượng của tỉnh, huyện đánh 24 trận, diệt 113 tên, phá 8 ấp chiến lược, giành quyền làm chủ 8 thôn thuộc các xă Mỹ Đức, Mỹ Lộc, Mỹ Hiệp, Mỹ Thọ (Phù Mỹ).

 Phối hợp với hoạt động vũ trang, trong tháng 6.1962, có hàng chục ngàn quần chúng đấu tranh chính trị ở các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát và B́nh Khê tham gia 53 cuộc mít tinh hưởng ứng lời kêu gọi khẩn cấp của Đại hội lần thứ nhất Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nổi nhất là ở Phù Mỹ và Hoài Ân. Đồng bào làm nghề biển các xă Mỹ Đức, Mỹ Thọ (Phù Mỹ) chống địch cưỡng bức đi dinh điền, đ̣i tự do làm nghề biển. Đồng bào 6 xă vùng thấp Vân Canh kéo lên quận chống bắt lính, chống gom dân vào ấp chiến lược. Đồng bào xă Cát Hanh (Phù Cát) kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu của địch chọn địa phương này làm một trong những xă điểm xây dựng ấp chiến lược ở đồng bằng. Lưc lượng giữ vai tṛ ṇng cốt cho việc phá ấp chiến lược là chị em phụ nữ. Tiêu biểu là cuộc biểu t́nh của 4.000 lượt đồng bào xă Mỹ Đức (Phù Mỹ), giương cao cờ Mặt trận, gơ mơ, đốt đuốc, hô vang các khẩu hiệu chống gom dân lập ấp chiến lược, đ̣i tự do đi lại làm ăn.                                                                                                                        

Cuối tháng 7.1962, Tỉnh ủy B́nh Định  họp đánh giá phong trào và bàn biện pháp thực hiện 3 nhiệm vụ lớn của Nghị quyết Khu ủy V, coi “chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất ở đồng bằng".1 Thực hiện nhiệm vụ của hội nghị Tỉnh ủy, trong 2 tháng 7 và 8.1962, các lực lượng vũ trang đă chủ động phối hợp tấn công địch liên tục ở Cát Hiệp (Phù Cát), B́nh Quang (B́nh Khê) , Mục Thịnh (Vân Canh) và chống địch càn quét nống lấn ở An Lăo…

Kết quả trong năm 1962, quân và dân B́nh Định đă loại khỏi ṿng chiến đấu 2.679 tên địch, mở 711 cuộc vũ trang tuyên truyền với 89.500 lượt người tham dự, hơn 17.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị, phá tan 46 ấp chiến lược, phá từng phần 134 ấp khác. Giành quyền làm chủ và tranh chấp 34.630 dân, trừng trị 337 tên ác ôn, bắt cải tạo 3.113 tên tề điệp. Nh́n chung, phong trào quần chúng ở đồng bằng khá rầm rộ nhưng ở vùng đô thị c̣n chưa phát triển.           

Bước vào năm 1963, năm nước rút cuả kế hoạch Xtalay-Taylo, Mỹ-Diệm vừa ra sức đối phó với phong trào tiến công và nổi dậy ở đồng bằng vừa đẩy mạnh đánh phá ở miền núi, ḥng thực hiện đến cùng “Quốc sách ấp chiến lược”.

Địch tăng quân ngụy lên 2 lần, cử gần 500 tên cố vấn Mỹ, mở 180 trận càn lớn nhỏ vào vùng giáp ranh và đồng bằng, tập trung vào Hoài Ân, Hoài Nhơn, Bắc Phù Mỹ. Tính đến cuối năm 1963, địch đă lập được 460 ấp chiến lược ở đồng bằng, trong đó có 180 “ấp chiến đấu”, dồn 513.518 dân (dân số toàn tỉnh khoảng 800.000), có 200.000 dân buộc phải từ bỏ nhà cửa, ruộng vườn để vào sống chui lủi trong các ấp chiến lược.                                                                              

Trước cường độ đánh phá ác liệt của địch, phong trào cách mạng trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều địa phương cán bộ, lực lượng vũ trang không đứng chân được trong dân, một bộ phận phải  rút lên căn cứ vùng núi để tránh tổn thất.                                                         

Trước những bất lợi của t́nh h́nh, tháng 3.1963, Tỉnh ủy họp kiểm điểm công tác lănh đạo phong trào, đặc biệt là vấn đề vận động quần chúng; đồng thời đề ra nhiều biện pháp khắc phục, cụ thể là chủ trương xây dựng hầm bí mật để bám dân, gây dựng cơ sở ngay trong các “Ấp chiến lược” của địch, chú trọng công tác vận động tư tưởng quần chúng, đẩy mạnh phong trào 2 chân 3 mũi giáp công chống địch càn quét, gom dân, lập ấp, tích cực xây dựng phát triển cơ sở ở đồng bằng, thị xă, thị  trấn, tiến  lên nắm phong trào  thanh  niên, học sinh, phật  giáo.1

Triển khai tinh thần của Nghị quyết Tỉnh ủy, tháng 2 và 3.1963, ta đă đẩy lùi được trận càn của địch với 1 tiểu đoàn có máy bay và pháo yểm trợ ở 2 xă n  Hảo và n Tín (Hoài n) diệt 47 tên, buộc địch phải chấm dứt trận càn2. Ta tổ chức phục kích lật đổ 1 đoàn tàu quân sự 14 toa tại đèo Phủ Cũ (23.1.1963) và một đoàn tàu quân sự khác tại B́nh Đê (6.2.1963). Ngy 9.2.1963, 23 chín sĩ Đ10 tấn công địch tại trụ sở x Mỹ Thọ, đă dũng cảm không ngại hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt đồng chí Nguyễn Kim (được Quốc hội và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, năm 1965) trong giây phút quyết định của trận đánh đă ôm bộc phá lao vào diệt lô cốt địch, tạo điều kiện để đồng đội  xốc tới  diệt 61 tên địch, bắt 5 tên, thu 25 súng.                          

Phát huy thắng lợi, ngày 26.5.1963, lực lượng vũ trang ta tổ chức tập kích vào khu quân sự Phú Tài - cơ quan đầu năo của sư đoàn bộ sư đoàn 9 địch, diệt 60 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm hoang mang dao động hàng ngũ của địch ở đô thị.                                 

Cùng thời gian này, hưởng ứng phát động thi đua trong toàn miền Nam của Trung ương cục: “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc, lập công” quân và dân B́nh Định thi đua lập công xuất sắc. Đặc biệt tháng 6.1963, ta đồng loạt tấn công địch ở khắp nơi, đánh 63 trận, riêng ở đồng bằng có 12 trận, loại hơn 1.500 tên địch, thu 120 súng các loại.                                                           

Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân dần dần được phục hồi, quy mô, tính chất ngày càng rộng răi hơn, tập hợp thu hút đông đảo tầng lớp, lực lượng không chỉ ở vùng sâu, vùng  đồng bằng mà ở ngay cả đô thị, trung tâm chính trị, nơi mà kẻ địch vẫn coi là khu vực an toàn nhất của chúng. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nhân dân ph ́p chiến lược ở An Giang, Mỹ Đức (Phù Mỹ) kéo dài quyết liệt trong 50 ngày đêm (từ 15.3 đến 5.5.1963). Đây là điển h́nh thắng lợi của 3 mũi giáp công ở B́nh Định năm 19631. Các cuộc đấu tranh xuống đường rầm rộ của hàng ngàn tín đồ phật giáo, học sinh, công nhân lao động Quy Nhơn, bằng các h́nh thức mít tinh, cầu siêu, tuyệt thực… lên án và phản đối chế độ Mỹ-Diệm đàn áp giáo dân. Phong trào này c̣n mang nội dung tích cực chống chiến tranh xâm lược và chế độ ngụy quyền tay sai, mở đầu cho phong trào đấu tranh của nhân dân ở đô thị trong tỉnh sau chín năm dưới ách thống trị phát xít của Mỹ-Diệm.                          

Phong trào chiến tranh du kích cũng phát triển đồng đều ở các huyện đồng bằng, trung du và miền núi. Vùng đồng bằng, ở Phù Cát trong 2 ngày (21-22.4.1963) chống càn 2 đại đội địch ở xă Cát Sơn, loại gần 100 tên; từ ngày 24.4 đến đầu tháng 5.1963, nhân dân hai thơn Nhơn Mỹ và Nhơn Hạnh (An Nhơn) loại gần 30 tên địch, làm tan ră 2 B dân vệ và thanh niên chiến đấu. Bộ đội huyện và du kích phối hợp tấn công địch ở Ân Tường (Hoài Ân) ngày 27.6.1963, tiêu diệt và bắt 182 tên địch. Du kích xă B́nh Quang (B́nh Khê) cùng bộ đội Vĩnh Thạnh tiêu diệt địch ở Ḥn Gấm, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá tan “Ấp chiến lược”, giành quyền hoàn toàn làm chủ thôn Vĩnh Phúc.2 Lực lượng địa phương đă anh dũng chống càn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng căn cứ. Trong chiến đấu xuất hiện nhiều gương tiêu biểu như cụ Brăng 83 tuổi, lăo du kích làng Kon Trút, đă lập chiến công xuất sắc, dùng tên tẩm thuốc độc diệt 2 tên , làm bị thương 2 tên khác.          

Tháng 9.1963, trong bước 1 của đợt hoạt động Thu-Đông, quân dân B́nh Định mở 18 trận tiến công địch, nổi bật nhất là trận đánh điểm diệt viện ở Cát Sơn (Phù Cát), ta chặn đánh 2 tiểu đoàn địch có xe tăng và máy bay lên thẳng yểm trợ, loại hơn 100 tên. Đây là trận đánh có quy mô lớn nhất trong 3 năm (1961-1963).

Để cứu văn cho sự sụp đổ của bọn ngụy quyền tay sai, ngày 1.11.1963, Mỹ bật đèn xanh cho nhóm tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầu làm đảo chính lật đổ Diệm-Nhu. Nhân t́nh h́nh chính trị địch rối ren, quân và dân B́nh Định bước vào đợt 2 Thu-Đông  với khí thế sôi động và quyết liệt hơn.                                                                                                                 

Trong 2 tháng 11-12 năm 1963, ta đánh 84 trận, loại hơn 900 tên, thu 85 súng các loại, lực lượng vũ trang hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp, phá kềm, làm tan ră bộ máy ngụy quyền ở nhiều xă thôn. Phá “Ấp chiến lược” trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ, giải phóng được nhiều vùng rộng lớn từ tây An Lăo, thung lũng Kim Sơn (Hoài Ân), nam Hoài Nhơn, đông Phù Mỹ, tây Phù Cát nối liền với vùng đông bắc B́nh Khê. Ở Khu Đông, quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, rầm rộ biểu t́nh đốt phá “Ấp chiến lược” ở Cát Chánh, (Phù Cát), Phước Hoà, Phước Thuận, Phước Sơn (Tuy Phước); phong trào cách mạng ở các huyện phía nam được phục hồi, gắn việc phá ấp với việc gây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ở cơ sở.                                                   

Vùng giải phóng được khai thông giữa miền núi và đồng bằng, ta phá được 109 “Ấp chiến lược”, trong đó có 84 ấp bị phá dứt điểm1, giải phóng và làm chủ 283 thôn với 182.928 dân, có 4 xă được giải phóng hoàn toàn là Hoài Sơn (Hoài Nhơn), Ân Nghĩa, Ân Hữu (Hoài Ân) và Cát Sơn ( Phù Cát).                                                                                                                 

Nh́n chung, qua 3 năm (1961-1963) ,trên cả 3 vùng phong trào cách mạng trong tỉnh đă có sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ, đánh và tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, đánh trúng đối tượng ḱm kẹp quần chúng nhân dân ở nông thôn, đồng bằng, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh chính trị, nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều vùng rộng lớn, mở ra khả năng vùng lên giải phóng toàn bộ nông thôn đồng bằng.                                                                                                 

 2. Mở rộng căn cứ, phát triển lực lượng giải phóng nông thôn, tấn công  vào đô thị    

Bước sang năm 1964, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới với những khó khăn thử thách, phức tạp của t́nh h́nh. Ngày 30.1.1964, Mỹ giật dây Nguyễn Khánh đảo chính hạ bệ nhóm Dương Văn Minh, đồng thời triển khai kế hoạch chiến lược mới “Giôn xơn-MắcNamara”. Thực thi kế hoạch này, chúng tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, tăng viện trợ, vũ khí và phương tiện chiến tranh, ra sức bắt lính , đôn quân, tiếp tục đánh phá quyết liệt, gom dân lập ấp giành lại các vùng đă mất về tay cách mạng.                                                                                              

Tỉnh B́nh Định là địa bàn nằm trong vùng trọng điểm “b́nh định” của địch ở Khu V và miền Nam. Giai đoạn  này lực lượng địch có 18.000 tên. Chúng mở nhiều cuộc phản kích quyết  liệt vào vùng giải phóng của ta từ bắc Hoài Nhơn đến đông bắc B́nh Khê, chiếm lại 45 thôn, lập lại 35 “ấp chiến lược”, dồn  hơn 30.000 dân vào “ấp tân sinh”, gây cho phong trào cách mạng không ít khó khăn. Đối phó với các hoạt động của địch, ta phát động phong trào chiến tranh du kích rộng khắp, chống địch phản kích, lấn  chiếm vùng căn cứ và vùng giải phóng ở đồng bằng. Lực lượng vũ trang tỉnh đă tham gia đánh 510 trận, loại 1.820 tên, riêng du kích xă đánh 145 trận; quần chúng được lực lượng vũ trang hỗ trợ nổi dậy phá 70 “ấp chiến lược”, giành lại 25 thôn vừa bị địch lấn chiếm .

Tháng 4.1964, Tỉnh ủy B́nh Định tổ chức Hội nghị nghiên cứu Nghị quyết của Khu ủy V (1.1964). Hội nghị chủ trương mở chiến dịch “Đồng khởi Khu Đông”, chọn các xă đông nam Phù Cát, Đông An Nhơn, bắc Tuy Phước làm trọng điểm,  phấn đấu giành cho được 100.000 dân ở vùng sâu, tạo hành lang và bàn đạp tấn công vào Quy Nhơn.1

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và phối hợp với đợt hoạt động của toàn khu, đêm 5.7.1964, đại đội 3 tiểu đoàn 50 bất ngờ tập kích diệt gọn 1 trung đội dân vệ chốt Càng Rang (Cát Thắng), chọc thủng tuyến pḥng thủ quan trọng của địch ở đông bắc Khu Đông, mở màn cho chiến dịch “Đồng khởi Khu Đông”.

           Các đội công tác phát động quần chúng nhân dân nổi dậy phá kềm, phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ ở cơ sở. Trong ṿng 1 tháng (5.7 đến 5.8.1964), tại các vùng trọng điểm Cát Thắng, Cát Nhơn, Cát Khánh (Phù Cát), Phước Thắng, Phước Lư, Phước Hoà (Tuy Phước) đồng loạt nổi dậy, giải phóng hoàn toàn 21 thôn của 3 xă thuộc huyện Phù Cát, 22 thôn ở 5 xă thuộc huyện Tuy Phước. Cho đến tháng 8.1964, quân và dân B́nh Định đă tiêu diệt 500 tên, làm ră 84 trung đội dân vệ và thanh niên chiến đấu; toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở các xă đông nam Phù Cát, đông Tuy Phước, đông An Nhơn bị quần chúng nổi dậy quét sạch, tạo thành một mảng liên hoàn dọc theo bờ biển dài hơn 20km gồm 34 thôn với 90.000 dân, uy hiếp trực tiếp cơ quan đầu năo của địch ở Quy Nhơn.

           Nét nổi bật của đợt “Đồng khởi Khu Đông” là với bạo lực tại chỗ m chủ yếu quần chúng đ nổi dậy phá ră bộ máy xă thôn, giành quyền làm chủ ở cơ sở. Tại các vùng mới giải phóng ta phát động quần chúng học tập các chính sách chủ trương của Mặt trận, huy động sức dân đóng góp cho cách mạng và xây dựng làng chiến  đấu, sẵn sàng đánh địch càn quét, bảo vệ vùng giải phóng.      

          Đồng thời với đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị và binh vận tấn công vào hệ thống ngụy quyền xă thôn được dấy lên khá mạnh mẽ, toàn tỉnh có 368 cuộc biểu t́nh và mít tinh, thu hút hơn 90.000 lượt quần chúng tham gia, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của hơn 700 đồng bào làm nghề biển xă Phước Lư (22.7.1964) kéo vào Quy Nhơn đấu tranh đ̣i tỉnh trưởng bồi thường những thiệt hại do quân ngụy đi càn quét gây nên. Đây là cuộc đấu tranh nhập thị đầu tiên diễn ra ở Khu 5, có ảnh hưởng lớn  trong khu vực miền Trung. 

Trong đợt đấu tranh đ̣i xoá bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” của địch, ngày 25.8.1964, hơn 10.000 quần chúng nhân dân các huyện đông nam Phù Cát, đông bắc Tuy Phước rầm rộ kéo vào Quy Nhơn bằng hai đường thủy bộ tham gia biểu t́nh cùng với lực lượng thanh niên, sinh viên, các tín đồ Phật giáo, nhân dân lao động thị xă bao vây dinh thị trưởng. Đây là cuộc đấu tranh lớn của nhân dân Quy Nhơn có  tiếng vang khắp thành thị  miền Nam.

Để đẩy mạnh hơn nữa phong trào nổi dậy và tiến công giải phóng nông thôn đồng bằng, tháng 8.1964, Tỉnh ủy họp mở rộng và quyết nghị: chuyển toàn bộ lực lượng xuống đồng bằng, chuẩn bị mọi điều kiện để mở phong trào “Đồng khởi đợt 2” (tháng 9 và tháng 10.1964).

Thực hiện chủ trương trên, trong 2 tháng 10 đến tháng 11.1964, quân và dân B́nh Định đă đánh hàng trăm trận, tiêu diệt hàng ngàn tên địch,  làm tan ră 15 trung đội bảo an, dân vệ, hơn 100 trung đội thanh niên chiến đấu. Đặc biệt vào ngày 20.10.1964, có 3 trung đội dân vệ ở Tam Quan (Hoài Nhơn) đă nổi dậy tự làm binh biến, diệt bọn chỉ huy, nộp 70 súng trở về với cách mạng. Lực lượng ta ở Hoài Ân tiến công địch dồn dập ở 5 ấp chiến lược, diệt và làm tan ră 9 trung đội, thu 100 súng. Bộ đội tỉnh và du kích xă thôn vừa tổ chức chống trả các trận càn của địch vừa chủ động tấn công bảo an, dân vệ ở Nhơn Hạnh (An Nhơn), Cát Khánh, Cát Thắng (Phù Cát), Phước Sơn (Tuy Phước), B́nh Ḥa, B́nh Giang (B́nh Khê).

Kết hợp chặt chẽ với đấu tranh vũ trang, cũng trong thời gian này quần chúng ở đồng bằng nổi dậy phá tan 100 “ấp chiến lược”, diệt, bắt cải tạo 600 tên tề điệp, giải phóng và làm chủ 110 thôn, 36 xă của 7 huyện đồng bằng với gần 120.000 dân, riêng ở Phù Mỹ đă giải phóng 42 thôn của 15 xă với gần 80.000 dân, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn ở phía đông Phù Mỹ giáp với vùng ta làm chủ ở phía đông Hoài Nhơn dài hơn 40 km; giải phóng hoàn toàn  4 xă ở Tuy Phước và  25 thôn của 6 xă khác.

Ở thị xă Quy Nhơn, vào các ngày 20 và 27.9.1964 đă diễn ra 3 cuộc đấu tranh của hàng vạn quần chúng vùng ven tiến vào nội thị bao vây đài phát thanh, buộc thủ tướng ngụy là Nguyễn Khánh phải bay ra Quy Nhơn trực tiếp dàn xếp.

Phong trào đấu tranh chính trị ngày càng lên mạnh ở nhiều nơi trong tỉnh. Tháng 11.1964, đă có tới 99 cuộc biểu t́nh với 49.281 lượt quần chúng tham dự, đáng chú ư là cuộc đấu tranh của hơn 500 đồng bào xă Phước Hiệp, có khiêng theo cả người bị thương v́ đạn pháo vào quận đường đ̣i địch cứu chữa, bồi thường; là cuộc đấu tranh của hơn 600 ngư dân xă Phước Hải và cuộc đấu tranh của hơn 1.700 đồng bào xă Phước Thắng, Phước Ḥa, Phước Sơn, Phước Lư, Cát Chánh và Cát Thắng dùng 220 xuồng, thuyền tiến vào Quy Nhơn phản đối việc bắn pháo bừa băi vào xóm làng phá hoại sản xuất và cuộc sống hàng ngày của người dân, buộc địch phải huy động cả máy bay và hải thuyền đến đối phó.

 Ngày 7.12.1964, các lực lượng của Khu, tỉnh và huyện cùng phối hợp tác chiến, sau 30 phút chiến đấu đă tiêu diệt hoàn toàn quận lỵ An Lăo với 700 tên, thu 320 súng. Chiến thắng An Lăo đánh dấu một bước trưởng thành của bộ đội ta, tạo niềm tin tưởng và phấn khởi trong quần chúng. Phát huy thắng lợi này nhân dân huyện Hoài Nhơn có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang đă diệt 80 tên địch ở Đức Hựu (Tam Quan Nam), tiến hành binh vận làm ră ngũ 200 thanh niên lầm lỡ theo địch, đồng thời hàng ngàn người cùng kéo vào thị trấn Tam Quan đấu tranh chính trị làm cho địch càng hoang mang lo sợ.                                                                                                                    

Kết thúc năm 1964, quân dân toàn tỉnh đă đánh 875 trận lớn nhỏ, số địch bị thương, bị tiêu diệt, bị bắt, đào ră ngũ lên tới 9.558 tên, thu 1.665 súng các loại, phá hoàn toàn 249 “ấp chiến lược”, giải phóng và làm chủ 300 thôn với 405.000 dân, chiếm 50% dân số trong tỉnh. Vùng căn cứ miền núi được củng cố vững chắc, vùng giải phóng ở đồng bằng  được mở rộng liên hoàn, tạo thế bao vây uy hiếp đô thị. Ba mũi giáp công đă trở thành phổ biến trong tiến công và nổi dậy, phong trào chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, xây dựng làng chiến đấu phát triển mạnh ở nhiều nơi như An Lăo, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Nhơn, đông Phù Cát, đông Phù Mỹ… trở thành trận địa đẩy lùi nhiều cuộc càn quét, pháo kích của địch.

Bước vào năm 1965, trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của nguỵ quyền miền Nam, sau khi thắng cử, tổng thống Mỹ Giôn-xơn càng lao sâu và sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Một mặt tiếp tục tăng cường lực lượng quân Mỹ ở miền Nam, mặt khác tiến hành leo thang đánh phá miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn với chiến trường. Nhưng âm mưu đó một lần nữa bị quân dân hai miền đánh trả đích đáng.

Ở B́nh Định, số cố vấn Mỹ và nhân viên kỹ thuật tăng từ 500 lên 1.000 tên; những tháng đầu năm 1965 địch tổ chức 830 cuộc càn lớn nhỏ trong đó có 135 trận quy mô từ 1 tiểu đoàn trở lên có máy bay, xe tăng yểm trợ gây cho nhân dân nhiều thương vong về tính mạng và thiệt hại về tài sản. Chỉ trong một trận càn vào xă Cát Thắng, Cát Chánh (Phù Cát tháng 4.1965) đă có 122 người chết,156 nóc nhà bị đốt; địch đàn áp dă man các cuộc biểu t́nh ở Quy Nhơn (2.1965), Bồng Sơn (5.1965).

Mặc dù, địch phản công mạnh nhưng phong trào quần chúng đă xây dựng trong những năm trước vẫn tiếp tục được củng cố, vượt qua những thử thách của kẻ thù để tiếp tục phát triển.

Khu ủy V phát động chiến dịch Xuân (từ 25.1 đến 5.3.1965) nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực và địa phương quân của địch, B́nh Định được chọn là một trong bốn trọng điểm tác chiến. Ban Thường vụ tỉnh ủy và ban chỉ huy tỉnh đội B́nh Định chọn khu vực đông An Nhơn, nam Phù Cát, bắc Tuy Phước làm địa bàn trọng điểm, hợp đồng tác chiến với bộ đội chủ lực Khu tại bắc Phù Mỹ.                                                                                                                  

Mở màn chiến dịch, đêm 6 rạng ngày 7.2.1965, đại đội 8 của tỉnh cùng du kích phối hợp với tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu tập kích vào cứ điểm Gia Hựu, Đồi 10 (Hoài Châu, Hoài Nhơn) diệt và bắt 200 tên. Cùng thời gian, lực lượng ta tấn công cứ điểm Dương Liễu (Mỹ Lợi, Phù Mỹ) diệt gọn 1 đại đội bảo an và 4 trung đội dân vệ. Tiêu diệt và loại hơn 650 tên tại Đèo Nhông (8.2.1965), đây là một trong những thắng lợi gịn giă, có ư nghĩa lớn của quân và dân B́nh Định trong giai đoạn này.

Tại mặt trận Phù Cát ta bất ngờ tập kích vào hai chốt điểm của địch ở ga Khánh Phước và trụ sở xă Cát Hanh loại khỏi ṿng chiến đấu 1 đại đội bảo an; tiến công vào ấp Hoà Hội, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá tan 8 ấp khác, giải phóng hoàn toàn  xă Cát Hanh, hành lang kháng chiến từ Tây sang Đông quốc lộ 1 được  khai thông.                                                                

Ở Hoài Nhơn, 20.000 đồng bào các xă phía bắc phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương thực hiện 3 mũi giáp công giải phóng xă Hoài Châu, Hoài Thanh, Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc, Hoài Tân, Hoài Xuân, nâng số xă được giải phóng hoàn toàn lên 10 xă trong toàn huyện.

Ở B́nh Khê, bằng lực lượng quần chúng tại chỗ là chủ yếu đă nổi dậy diệt ác, phá kềm, kết hợp với tấn công, binh vận, tiếng bom phá cầu Mỹ Thạch cùng tiếng chiêng trống vang rền của đồng bào B́nh Thuận, B́nh An đă uy hiếp địch trong suốt 30 ngày đêm (từ ngày 13.2 đến 13.3.1965), đưa khí thế phong trào quần chúng lên cao chưa từng có, giải phóng hoàn toàn 6 xă B́nh Thuận, B́nh An, B́nh Tân, B́nh Hoà, B́nh Quang, B́nh Giang. Kết thúc chiến dịch, ta đ giải phóng  53.500/74.700 dân toàn huyện.

Đối với các huyện miền núi, ở Vĩnh Thạnh  quần chúng nổi dậy giải phóng các thôn c̣n lại và giải phóng hoàn toàn quận lỵ Vĩnh Thạnh lần thứ nhất (12/3/1965)1. Tại Vân Canh đẩy mạnh tấn công vào 4 ấp: Canh Hoà, Canh Giao, Canh Phước, Canh Thành, loại khỏi ṿng chiến đấu 200 tên, thu 121 súng các loại, đưa dân số vùng giải phóng lên 4.394 người, chiếm 80% dân số và 90% đất đai toàn huyện.2

Cho đến lúc này, Quy Nhơn không c̣n là nơi an toàn của địch, ngày 10.2.1965, một tổ 6 chiến sĩ đặc công (Đ10) kết hợp với cơ sở nội thị  cải trang hợp pháp, dùng xe xích lô chở 60 kg thuốc nổ tiếp cận đánh sập khách sạn Việt Cường, diệt và làm bị thương 55 sĩ quan Mỹ. Chính tướng Oétmôlen đă thú nhận trong tường thuật của một quân nhân: “Một vụ nổ đă phá hủy một khách sạn dùng làm cư xá cho quân Mỹ. Toàn bộ khách sạn đổ sập, giết chết 23 người, làm bị thương 21 người và những người khác bị kẹt trong đống đổ nát, là số thương vong nhiều nhất của Mỹ xảy ra trong riêng một sự kiện”.3

Ngày 11.2.1965, nhân dân vùng ven Quy Nhơn kéo vào thị xă đấu tranh. Để trả  đũa cho thiệt hại sau  trận đánh tại khách sạn Việt Cường địch đă chủ trương hèn hạ tàn sát gần 300 người dân vô tội tham gia cuợc đấu tranh ny.

 Đêm 11.2.1965, Tỉnh ủy và Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức trọng thể lễ truy điệu những đồng chí và đồng bào đă hy sinh trong cuộc đấu tranh nhập thị, đồng thời phát động đợt thi đua yêu nước, biến đau thương thành hành động cách mạng. Ngay đêm đó, tiểu đoàn 50 và đại đội đặc công Đ10 tập kích chi khu quân sự G̣ Bồi (Tuy Phước), diệt một đại đội bảo an và một số dân vệ, biệt kích, góp phần trừng trị tội ác của địch, trả thù cho những người đă mất.

Trước những đ̣n tiến công và nổi dậy của ta, Mỹ-ngụy vừa ra sức bảo vệ thị xă, quận lỵ vừa điên cuồng mở 157 cuộc hành quân đánh phá các vùng làm chủ của ta liên miên trong suốt 1 tháng (từ 20.3 đến 20.4.1965).

Để đối phó với âm mưu của địch, đầu tháng 3.1965, Tỉnh ủy chủ trương mở Chiến dịch hè 1965, cùng với hoạt động vũ trang, đồng bào đă nổi dậy phá “Ấp chiến lược”, giành quyền làm chủ xă thôn. Kết quả đến tháng 6.1965, quân và dân B́nh Định đă giải phóng và làm chủ 506/640 thôn ở các huyện đồng bằng (chiếm 70,8% số thôn), 56/86 xă (63,9%) và 564.500/735.800 dân (76,7% dân số; giải phóng hoàn toàn 2 huyện miền núi Vĩnh Thạnh, Vân Canh.                             

3.  Phát động phong trào toàn dân củng cố và xây dựng vùng giải phóng

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc xây dựng vùng giải phóng là nhiệm vụ hết sức quan trọng. V́ vùng giải phóng không chỉ bao vây, áp sát cơ quan đầu năo của địch, tạo thế chia cắt chiến lược  mà c̣n là  hậu phương, chỗ dựa của ta trên nhiều lĩnh lực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xă hội, thực hiện quyền dân chủ đối với nhân dân và chuyên chính đối với kẻ thù, trực tiếp giải quyết quyền lợi ruộng đất cho nông dân đồng thời đẩy mạnh sản xuất để bồi dưỡng sức dân, trên cơ sở đó động viên nhân tài vật lực phục vụ cho tiền tuyến. Trong vùng mới được giải phóng, cuộc sống mới từng bước được thiết lập và giành được những thắng lợi bước đầu mặc dù thời gian duy tŕ không dài chỉ trong khoảng 7-8 tháng.                                                                 

Nhiệm vụ chủ yếu của việc củng cố vùng giải phóng là đoàn kết, sản xuất và giết giặc lập công. Trước hết phát động tư tưởng quần chúng, giáo dục động viên cán bộ xă thôn và nhân dân ư chí căm thù giặc, nâng cao nhiệt t́nh cách mạng, đoàn kết thương yêu giai cấp. Chính quyền cách mạng cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề quyền lợi thiết thực của người nông dân là ruộng đất và sản xuất, thi hành chính sách ruộng đất của Đảng. Từ cuối năm 1962, ta bắt đầu thực hiện thí điểm ở một số thôn, đến năm 1965 đă chia 35.238 mẫu ruộng đất công (chiếm khoảng 68,5% ruộng đất công toàn tỉnh) chia cho 426.417 nhân khẩu, tạm cấp 552 mẫu ruộng vắng chủ chia cho 2982 nông dân thiếu ruộng, thực hiện giảm tô, tổ chức các tổ đổi công hợp tác (riêng ở các huyện miền núi từ năm 1963 ta phát động phong trào ṿng đổi công và hợp tác sản xuất, lập được 200 tổ hợp tác với 1.885 người tham gia). Vận động khai hoang phục hoá hơn 553 mẫu ruộng và phát động đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nông dân, chống đói, chống địch phá hoại, dự trữ lương thực thực phẩm, thực hành tiết kiệm, giúp đỡ đồng bào ở vùng biển và miền núi gặp khó khăn do địch rải chất độc hoá học.

Bên cạnh việc tích cực sản xuất, nhân dân vùng giải phóng c̣n hăng hái đóng góp nhân tài, vật lực phục vụ tiền tuyến. Trong các năm 1960-1964, nhân dân 3 huyện miền núi Vĩnh Thạnh, An Lăo, Vân Canh đă đóng góp gần 3.000 tấn lúa, hơn 20.000 ngày công1. Ở các huyện đồng bằng từ năm 1962-1964, đóng góp 3.700 tấn lúa, 3,5 triệu đồng vào quỹ nuôi quân và quỹ động viên, vận động hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, bổ sung vào lực lượng vũ trang của tỉnh, huyện.

Công tác bố pḥng, xây dựng làng chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng  cũng luôn được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Năm 1963, toàn tỉnh xây dựng được 43 làng chiến đấu. Năm 1965, tăng lên 169 làng, trong đó có 57 làng đạt loại khá. Riêng Vân Canh, 3 năm 1962-1964 đ vận động nhân dân làm 2.335.924 chông, 4.043 mang cung, rào 18.670 mét hàng rào, đóng góp 19.410 ngày công dân công, 9.501 công bố pḥng; năm 1965 huyện Vĩnh Thạnh huy động hơn 4.000 công, cắm 820.000 chông, 28.218 cọc pḥng không, gài 1.425 mang cung, rào làng 2.034 mét…   

Trong vùng giải phóng, công tác giáo dục và y tế cũng được chú trọng. Năm 1965, toàn tỉnh có 915 lớp học với 25.897 học viên tham gia b́nh dân học vụ; giáo dục phổ thông có 1.552 lớp cấp 1 với 51.215 em học sinh và 1.045 giáo viên, 500 học sinh cấp 2,3. Đời sống tinh thần của nhân dân được cải thiện, thành lập được đoàn văn công tỉnh, 3 đội văn công ở các huyện miền núi và một số đội văn nghệ quần chúng ở các xă, huyện đồng bằng, góp phần đem lời ca tiếng hát cách mạng phục vụ nhân dân và bộ đội.

Việc vận động tập hợp các tầng lớp nhân dân vào các hội, đoàn thể cách mạng đ được chú ư. Ở các huyện miền núi có 6000 hội viên giải phóng. Ở đồng bằng năm 1961 cĩ 53 tổ giải phĩng với 475 hội viên v 2.163 cơ sở, năm 1965 tăng lên 20.000 hội viên. Hội phụ nữ giải phóng có 78.478 người, Nông hội giải phóng có 56.643 người. Lực lượng du kích, tự vệ dân quân xă thôn từ 144 người năm 1961, tăng lên 20.919 người năm 1965. Số lượng Đảng viên cũng phát triển mạnh, nếu năm 1960 chỉ có 200 đảng viên th́ năm 1965 đă có 5.453 đồng chí, đây là lực lượng ṇng cốt của phong trào cách mạng địa phương, trong chiến đấu cũng như trong xây dựng củng cố vùng căn cứ.                

Ban tự quản xă và ban tự quản thôn được tăng cường và củng cố thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở, cụ thể là:

- Hướng dẫn phong trào nhân dân du kích chiến tranh, xây dựng thôn xă chiến đấu, đánh giặc giữ làng, trừng trị bọn ác ôn, tề điệp, do thám, biệt kích, bọn phản động tay sai… bảo đảm trật tự an ninh xă thôn.

- Tuyên truyền giáo dục quần chúng về đường lối của Mặt trận Dân tộc giải phóng, động viên nhân tài vật lực cho kháng chiến, vận động nhân dân đoàn kết, phát triển văn hoá giáo dục và các hoạt động xă hội khác .

Trải qua 5 năm bền bỉ, kiên tŕ, vượt qua biết bao gian lao thử thách, quân và dân B́nh Định đă giành được nhiều thắng lợi to lớn, cùng quân và dân toàn miền Nam lần lượt bẻ găy kế hoạch Xtalay-Taylo, Mắc Namara và góp phần làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, tạo tiền đề và điều kiện để quân và dân toàn tỉnh tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu ác liệt chống “Chiến lược chiến tranh cục bộ” của kẻ thù.

 



1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 58.

2 Lịch sử công an nhân dân B́nh Định (1955-1975), 1997, tr. 43.

3 Lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh (1930-1975), tr. 135.

1 Hoài Nhơn lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sđd, tr. 200.

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh, sđd, tr. 137 (theo báo cáo của Huyện ủy Vân Canh năm 1961). Về số liệu địch bị tiêu điệt trận Đá Huê các sách đă xuất bản có sự khác nhau: tập Du kích chiến tranh trên chiến trường B́nh Định (1945-1975), 1991, tr. 101: giết chết 100 tên; B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975), 1992, tr. 222: diệt 100 tên; Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Phước (1954-1975), sđd, diệt 45 tên, làm bị thương 18 tên.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), tr. 62.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 64

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 70

1 B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975), 1992 , tr. 234, 235.

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1930-1975), sđd, tr. 228

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 76

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945-1975), tr. 171.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 80. Theo tập B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm, sđd, tr. 243: có 238 ấp bị phá, trong đó có 161 ấp bị phá sạch.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 84.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh, sđd, tr. 191.

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh , sđd, tr. 166 (dẫn theo Báo cáo của Huyện ủy Vân Canh 1965)

3 Hồi kư của Oétmôlen, “Tường tŕnh của một quân nhân”, theo B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân (1945-1975), sđd, tr. 264.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 110