III. GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ”
1. Đặc điểm t́nh h́nh
Từ năm 1965, Mỹ-ngụy tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, dân các vùng nông thôn chạy vào thành thị làm dân số tăng đột biến. Đó là hệ quả của chính sách vơ vét bóc lột, bần cùng hoá đi đôi với khủng bố, dồn dân của Mỹ-ngụy, buộc hàng vạn nông dân phải rời bỏ quê hương, xóm làng vào thành thị hoặc các trại tập trung. Theo số liệu của toà hành chính tỉnh B́nh Định, tính đến ngày 30.9.1965 có 29.299 gia đ́nh với 129.202 người dân phải vào các trại tập trung. Dân số thành thị tỉnh B́nh Định năm 1965 chỉ chiếm 5,4% tổng số dân th́ năm 1972 chiếm 26,9% tăng gấp 4 lần.
Thành phố Quy Nhơn năm 1959 hơn 28.000 dân, năm 1967 là 115.000 người, năm 1973 tăng lên là 217.819 người, trong đó có 47.000 người không có việc làm. Trái lại, ở nông thôn có 25.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang.
Kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghệp tỉnh B́nh Định lúc này chủ yếu vẫn ở trong t́nh trang quy mô nhỏ, phân tán. Một số cơ sở trực tiếp phục vụ bộ máy chiến tranh th́ được chính quyền nâng đỡ. Một số ngành thủ công truyền thống th́ khá thịnh hành như ươm tơ, dệt lụa, dệt vải ở Đập Đá, An Thái, Bồng Sơn. Các ngành chế biến như xà pḥng, dầu dừa, dầu phụng, làm giấy, làm đường cũng được xây dựng ở nhiều nơi trong tỉnh.
Từ năm 1965, Mỹ đưa quân vào miền Nam tiến hành cuộc “Chiến tranh cục bộ”. Tại B́nh Định mức độ chiến tranh trở nên vô cùng ác liệt đă ảnh hưởng đến t́nh h́nh sản xuất, kinh tế. Một số ngành công nghiệp sau năm 1965 bị sa sút, hàng ngàn công nhân có tay nghề cao bị bắt đi quân dịch. Một số cơ sở khác bị đ́nh đốn, phá sản v́ không cạnh tranh nổi với hàng hoá nước ngoài đang ồ ạt tràn vào.
Về văn hoá, ở B́nh Định lúc này tràn ngập các sản phẩm văn hoá Mỹ. Đó là các loại phim ảnh, báo chí, ấn phẩm đồi trụy, ca ngợi lối sống thực dụng kiểu Mỹ, chạy theo đồng tiền, đề cao và áp đặt lối sống xa hoa, phù phiếm làm xói ṃn các giá trị đạo đức truyền thống và t́nh yêu đất nước, quê hương.
Về giáo dục, các trường học trong thời kỳ này nói chung có phát triển. Ngoài các trường Cường Để, trường nữ Trưng Vương, tại Quy Nhơn đă thành lập thêm các trường Trung học Kỹ thuật (1962), trường Sư phạm Quy Nhơn (1962). Riêng giáo dục bậc tiểu học năm học 1965-1966 ở B́nh Định có 138 trường công với 841 lớp, 447 giáo viên và 20.124 học sinh; trường tư thục có 50 trường, 96 lớp, 96 giáo viên và 6.142 học sinh.
2. Quân Mỹ đổ bộ, những trận đánh Mỹ đầu tiên
Cuộc tiến công và nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân miền Nam từ nửa cuối năm 1964, đầu năm 1965 làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, buộc đế quốc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đưa quân đội viễn chinh Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở chiến trường miền Nam Việt Nam, thực hiện biện pháp chiến lược chủ yếu là: “T́m diệt và b́nh định” nhằm làm chủ ở miền Nam trong ṿng 18 tháng.
Kế hoạch chiến lược gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 7.1965 đến tháng 12.1965: đưa nhanh quân Mỹ, chư hầu vào miền Nam, ngăn chặn chiều hướng suy sụp của chính quyền Sài G̣n, đảm bảo an toàn cho các khu vực, gấp rút triển khai lực lượng, chuẩn bị cho phản công.
Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6.1967: quân Mỹ và chư hầu mở các cuộc hành quân “t́m diệt” ở những khu vực ưu tiên nhằm tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, phá chiến tranh du kích, hỗ trợ kế hoạch “b́nh định”, giành lại quyền chủ động cho kế hoạch lâu dài.
Giai đoạn 3: Từ tháng 7.1967 đến cuối năm 1967: tiêu diệt những đơn vị c̣n lại của quân giải phóng, vùng căn cứ du kích, cơ quan đầu năo kháng chiến, hoàn thành chương tŕnh “b́nh định”.
Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, chúng đă đề ra ba biện pháp:
Một là: Mở những cuộc hành quân lớn nhằm tiêu diệt “lực lượng chủ lực và cơ quan đầu năo của cách mạng miền Nam”
Hai là: Triển khai thực hiện kế hoạch “B́nh định nông thôn” để quét sạch cơ sở hạ tầng chính trị của ta.
Ba là: Ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam bằng chiến tranh phá hoại miền Bắc và đánh phá các tuyến đường giao thông trọng yếu của ta bởi lực lượng không quân và hải quân, ḥng làm lung lay ư chí quyết tâm kháng chiến của nhân dân ta.
Ngày 8.3.1965, đơn vị chiến đấu đầu tiên là các lữ đoàn 9, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ với 3.500 tên đổ bộ vào Đà Nẵng. Ở B́nh Định tháng 7.1965, hơn 2.000 quân Mỹ trực tiếp đổ bộ vào Quy Nhơn và tới cuối năm 1965: quân số Mỹ và chư hầu Nam Triều Tiên đă lên tới 20.000 tên (toàn miền Nam có 204.000 tên, trong đó có 180.000 quân Mỹ). Các đơn vị sừng sỏ, hiếu chiến của Mỹ gồm Sư đoàn Kỵ binh bay Số 1, Lữ 1 sư đoàn dù 101 trực tiếp chốt giữ các vị trí xung yếu bảo vệ Quy Nhơn như cụm núi các xă Phước An, Phước Sơn, Phước Thuận, Phước Lộc (Tuy Phước). Lính đánh thuê Nam Triều Tiên chiếm giữ các điểm cao dọc Quốc lộ 1 và 19 từ cầu Gành đến sông La Tinh (Phù Cát); từ Cầu Gành lên đèo B́nh Khê. Một số cơ sở hạ tầng như đường chiến lược 19, quân cảng Quy Nhơn, sân bay G̣ Quánh (Phù Cát) được xây dựng hiện đại để phục vụ mục đích quân sự .
Bên cạnh quân Mỹ và chư hầu, tại B́nh Định quân ngụy thường xuyên có từ 7-13 tiểu đoàn chủ lực, gồm hai trung đoàn 40 và 41 của sư đoàn 22 cộng hoà, 6 tiểu đoàn dù và biệt động, 20 đại đội bảo an và biệt kích, hơn 100 trung đội dân vệ, thanh niên chiến đấu, thanh niên chống du kích. Với lực lượng hùng hậu, trang bị hiện đại, có thể nói địch đă chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho việc thực hiện kế hoạch “tiêu diệt, b́nh định” lực lượng giải phóng.
Thu Đông năm 1965, địch bắt đầu tung quân càn quét nhằm răn đe và giải toả sức tấn công của ta và chuẩn bị cho phản công chiến lược. Từ tháng 8 đến 10.1965, địch mở hơn 448 trận càn lớn nhỏ trên địa bàn B́nh Định, tập trung chủ yếu ở các huyện phía nam, lấn chiếm 4 xă, 34 thôn, lùa xúc hơn 30.000 dân, gây thương vong 3.222 người, phá hủy 9114 nóc nhà.
Quân Mỹ và đặc biệt là lực lượng Nam Triều Tiên đă gây nên những vụ thảm sát man rợ, đẫm máu mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em ở các huyện Tuy Phước, An Nhơn, B́nh Khê, Phù Cát, điển h́nh như vụ lính thủy đánh bộ Mỹ làm 60 người chết và nhiễm độc nặng tại Vinh Quang (Phước Sơn- Tuy Phước) ngày 5.9.1965; vụ tàn sát tại Nhơn Mỹ (An Nhơn) tháng 10.1965; vụ lính Nam Triều Tiên trong một trận càn tại xă Phước Hoà, Tuy Phước đă tàn sát hơn 50 đồng bào, trong đó có 20 trẻ em và 22 phụ nữ; Vụ thảm sát lớn nhất, đẫm máu và man rợ nhất xảy ra tại xă B́nh An, huyện B́nh Khê trong ṿng 50 ngày (từ 22.2.1966 đến 7.4.1966) lính Nam Triều Tiên đă giết hại 1.004 người dân vô tội.
Những tội ác “trời không dung đất không tha” đó không uy hiếp được tinh thần cách mạng của quân và dân B́nh Định mà càng nung nấu thêm ư chí căm thù, quyết tâm sắt đá, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh tiêu diệt kẻ thù.
Ngoài các thủ đoạn về chiến tranh quân sự, địch c̣n chú trọng dùng chiến tranh tâm lư, như ra sức phô trương sức mạnh kinh tế, quân sự và lối sống Mỹ, gờm Nam Triều Tiên, ly gián Đảng với nhân dân, tuyên truyền chống cộng... Sự thay đổi và thực hiện chiến lược này của Mỹ đặt cách mạng và cuộc kháng chiến của nhân dân ta trước một t́nh thế cực kỳ hiểm nghèo, đời sống nhân dân hết sức khó khăn đầy thử thách nghiêm trọng, đ̣i hỏi Đảng và nhân dân ta phải có những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược để đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Ngày 20.7.1965, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi xác định lập trường quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của nhân dân ta: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta càng kiên quyết đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn”...1 Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu V và Ủy ban Mặt trận giải phóng Trung Trung Bộ phát động phong trào thi đua: “T́m Mỹ mà đánh, t́m ngụy mà diệt”, phấn đấu đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
“Tập trung lực lượng tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng toàn bộ nông thôn đồng bằng, gấp rút chuẩn bị điều kiện khởi nghĩa thị xă” chuyển sang chủ trương “ra sức tiến công địch bằng 3 mũi giáp công ở 3 vùng chiến lược, nhằm đập tan kế hoạch phản công của địch, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng, động viên đến mức cao nhất nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến”2.
Thực hiện chủ trương của Khu ủy và Tỉnh ủy về việc tăng cường củng cố lực lượng vũ trang, tiểu đoàn 50 bộ đội tỉnh được kiện toàn đủ quân số, thành lập mới tiểu đoàn 52, đại đội đặc công Đ10 được bổ sung thành 5 trung đội mạnh. Các huyện đồng bằng có một đại đội tập trung, miền núi có 2 trung đội, toàn tỉnh có 24.919 du kích và tự vệ bán thoát ly. Vận động nhân dân tham gia hàng ngàn công xây dựng thôn xă liên hoàn, xây dựng đường giao thông, địa đạo, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang cơ động đánh địch. Một thuận lợi nữa đối với tỉnh là ngày 2.9.1965, Sư đoàn 3 Sao vàng, Bộ đội chủ lực được thành lập tại Hoài Ân, hoạt động trên địa bàn B́nh Định.
Vừa đặt chân đến B́nh Định, quân Mỹ đă vấp phải sự chống trả quyết liệt, ngày 18.9.1965 với tham vọng từ đầu là tiêu diệt cho bằng được Sư đoàn 3 Sao vàng và phá đợt hoạt động Thu-Đông của ta, địch huy động hơn 60 máy bay lên thẳng và 2.000 lính của lữ 1 sư đoàn 101 đổ bộ xuống vùng Thuận Ninh thuộc xă B́nh Tân, huyện B́nh Khê, chưa kịp triển khai đội h́nh th́ chúng đă bị quân ta đánh phủ đầu, diệt 200 tên, bắn rơi 11 máy bay. Tiếp đó, trong các ngày 10 và 15.10.1965, hơn 70 máy bay lên thẳng đổ hơn 6.000 quân Mỹ phối hợp với 6 tiểu đoàn chủ lực ngụy mở cuộc hành quân “lưỡi lê sáng ngời” vào thung lũng Hội Sơn, Cát Sơn (Phù Cát) đă bị quân ta giáng trả quyết liệt, bẻ găy cuộc càn quét, diệt 443 tên, bắn rơi 17 máy bay và phá hỏng 23 chiếc khác. Phóng viên hăng AFP đi theo trận này phải thú nhận: “Cuộc hành quân ở suối La Tinh (Hội Sơn) chứng tỏ du kích Việt Cộng có đông hơn nhiều so với Mỹ”.1
Trận Thuận Ninh, Hội Sơn đă khẳng định lực lượng ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ từ trận đầu, giải tỏa được tâm lư sợ Mỹ.
Khắp nơi trong tỉnh dấy lên phong trào hưởng ứng đợt phát động thi đua. Trong lực lượng du kích tổ chức “Đội du kích diệt Mỹ, bắn máy bay Mỹ” ;thanh niên có phong trào: “Thanh niên xông lên hàng đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ”, thi đua ṭng quân nhập ngũ, ở Phù Cát có phong trào “Tiếng bom Ngô Mây”, vận động được hàng trăm thanh niên nhập ngũ…
Tại B́nh Khê, du kích xă B́nh An chặn đánh một đại đội Mỹ đi càn diệt 40 tên, thu 30 súng. Du kích B́nh Phú, B́nh Tường dùng vũ khí thô sơ và chất nổ diệt hàng chục tên Mỹ. Thiếu nhi B́nh Quang dùng mưu nhận xuồng, giết chết lính Mỹ, thu vũ khí nộp cho cách mạng. Ngày 3.12.1965, lực lượng ta ở B́nh Thành tiêu diệt hàng chục tên lính Nam Triều Tiên trong một trận càn quét của chúng.
Tại Tuy Phước, lực lượng du kích xă Phước Hoà diệt 1 tên Mỹ ở Hữu Thành, bắn rơi 1 máy bay Mỹ ở Huỳnh Giảng; du kích xă Phước Sơn dũng cảm phục kích chặn đánh một xe Jeep Mỹ, diệt 2 tên, thu vũ khí.
Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân chống Mỹ cũng phát triển khá mạnh, nổi bật chỉ trong 2 tháng (9 và 10.1965) đă có hơn 58.000 lượt người ở các vùng nông thôn kéo về Quy Nhơn tố cáo tội ác man rợ của giặc Mỹ và quân chư hầu Nam Triều Tiên đă giết hại hàng ngàn người dân vô tội, cực lực lên án phản đối quân đội viễn chinh Mỹ bắn phá bừa băi vào xóm làng, đ̣i Mỹ cút về nước.1
Đến cuối năm 1965, Mỹ ngụy đă gây cho ta những tổn thất lớn về người và của, toàn tỉnh có 1394 đồng bào bị giết hại, 1522 người bị thương. Nhưng những tội ác của chúng đă phải đền tội, quân và dân B́nh Định đă chiến đấu dũng cảm, dấy lên phong trào toàn dân đánh Mỹ, loại khỏi ṿng chiến đấu 2.041 tên Mỹ và Nam Triều Tiên, khẳng định rằng dù địch có ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật, nhưng ta vẫn có khả năng đối phó và đánh thắng ngay từ những trận đầu và về lâu dài trong những trận tiếp theo.
3. Phong trào cách mạng của B́nh Định góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ I (1965-1966)
Đến cuối năm 1965, mặc dù liên tiếp bị thất bại và tổn thất nặng nề nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và leo thang đánh phá miền Bắc.
Trước t́nh h́nh đó, tháng 12.1965, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 12, đánh giá t́nh h́nh qua nửa năm đọ sức với quân Mỹ, đồng thời củng cố quyết tâm đánh Mỹ của quân và dân ta. Hội nghị khẳng định: “Mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch không thay đổi lớn. Nhiệm vụ cuả toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hiện nay là kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ t́nh huống nào”.2
Bước vào mùa khô 1965-1966, quân địch đă mở liên tục các cuộc phản công chiến lược với ư đồ “t́m diệt” và “bẻ găy xương sống của Việt cộng” bằng 5 mũi tiến công (5 mũi tên). Mũi tiến công vào bắc B́nh Định là mũi tiến công lớn nhất, chúng huy động hai vạn quân các loại gồm sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ, sư đoàn 22 và 2 chiến đoàn dù ngụy, một trung đoàn Nam Triều Tiên, mở liên tiếp 3 cuộc hành quân: Masher (nghiền nát), White-Wing (Cánh trắng 1, 2).
Để chuẩn bị đánh trả và ứng phó với cuộc phản công quy mô lớn của địch, tháng 1.1966, Tỉnh ủy phát động phong trào thi đua yêu nước, phát huy khí thế đoàn kết chiến đấu của quân và dân trong tỉnh lên một bước mới. Phát huy thắng lợi của Đại hội thi đua công - nông - binh toàn tỉnh lần thứ nhất (8.1965) và đề ra khẩu hiệu hành động cụ thể của thời gian này là “Tây Sơn quyết thắng”.
Quân và dân B́nh Định sẵn sàng chuẩn bị tinh thần cho cuộc đọ sức quyết liệt với địch. Các xă, thôn thuộc các huyện An Lăo, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ khẩn trương củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, đặc biệt ở các xă Hoài Châu, Hoài Thanh, Tam Quan (Hoài Nhơn).
Sáng ngày 28.1.1966, địch bắt đầu mở cuộc hành quân “nghiền nát”, tấn công ồ ạt vào các xă bắc Hoài Nhơn. Sau 4 ngày đêm chiến đấu ṛng ră, quyết liệt, quân và dân B́nh Định phối hợp với bộ đội chủ lực Sư đoàn 3 Sao vàng đă loại gần 1.000 tên địch, hạ hơn 50 máy bay, bẻ găy cuộc hành quân đầu tiên của địch.1
Bị thua đau trong cuộc hành quân ở bắc Hoài Nhơn, ngày 7.2.1966, Mỹ-ngụy lồng lộn mở cuộc hành quân khác với quy mô lớn hơn với mật danh “cánh trắng” tấn công vào thung lũng An Lăo, lực lượng ta đă kiên cường chống trả, loại khỏi ṿng chiến đấu hơn 800 tên Mỹ-ngụy, bắn rơi 8 máy bay. Tuy nhiên, trong cuộc hành quân này địch đă thẳng tay tàn sát nhiều dân thường, khiến cho một nhà báo phương Tây phải lên tiếng trước công luận quốc tế “Cuộc hành quân “cánh trắng” khổng lồ ở thung lũng An Lăo chủ yếu đánh vào những người dân thường tay không, đó là cuộc hành quân đê tiện, bỉ ổi nhất”.2
Hưởng ứng cao trào thi đua: “Toàn dân quyết tâm đánh Mỹ”, bộ đội và du kích liên tiếp ghi nhiều chiến công trên nhiều địa bàn. Ngày 14.2.1966, lực lượng ta đ phá vỡ một cuộc hành quân của địch ở Vườn Thơm, Nhơn Tịnh diệt 127 tên, bắn rơi 3 máy bay.Trong trận càn của địch tại Hy Văn, Hoài Châu (Hoài Nhơn), ta tiêu diệt 420 tên. Lực lượng du kích Hoài Hảo diệt 50 tên Mỹ, du kích Hoài Ân diệt 70 tên Mỹ, chiến sỹ du kích Phạm Tường (Hoài Sơn) diệt 35 tên Mỹ, đạt hai danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt máy bay” .
Nhân dân các xă trong vùng chiến sự đă không quản ngại bom đạn, hy sinh làm tốt công tác hậu cần, phục vụ chiến đấu, tham gia tải đạn, cứu thương tiếp tế lương thực, thực phẩm, nước uống đến tận chiến hào cho bộ đội. Tinh thần yêu nước, tấm ḷng thủy chung với cách mạng thể hiện trong những hành động cụ thể của mỗi người dân. Ở Hoài Châu, đồng bào dấu thương binh trong bồ lúa để che mắt địch, dùng sữa mẹ để hồi sức cho thương binh mất máu nặng, có gia đ́nh nhận hàng chục thương binh về chăm sóc, nuôi dưỡng b́nh phục, trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu chiến đấu… tất cả đă tạo thêm niềm tin và sức mạnh cho bộ đội trực tiếp chiến đấu, chiến thắng kẻ thù.
Như vậy, chiến thắng bắc B́nh Định đầu năm 1966 đă bẻ găy mũi tên lớn nhất trong 5 mũi tên của kế hoạch phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ, là chiến thắng lớn nhất từ trước đến nay, tiêu diệt nhiều quân Mỹ nhất và bắn rơi nhiều máy bay nhất. Qua những trận đánh này “Ở B́nh Định... đ xuất hiện hàng trăm dũng sĩ diệt Mỹ và đơn vị anh hùng diệt Mỹ”, là thắng lợi của tinh thần quyết tâm chiến đấu dũng cảm của quân và dân địa phương, là sức mạnh tổng hợp của sự hợp đồng tác chiến giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích xă thôn, là kết quả cuả t́nh đoàn kết quân dân.
Cùng với các huyện phía bắc, trong thời gian này ở các huyện phía nam tỉnh cũng bẻ găy hơn 451 trận càn quét lớn nhỏ của địch. Tiểu đoàn 50, 52 và Đ10 đặc công tỉnh lập được nhiều chiến công xuất sắc, giáng trả những đ̣n đích đáng vào các cuộc hành quân càn quét của 2 trung đoàn Nam Triều Tiên, loại khỏi ṿng chiến đấu 600 tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay lên thẳng.
4. Chống phản kích của địch mùa khô lần thứ II (1966-1967)
Bị thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, Mỹ tiếp tục tăng quân số ở miền Nam từ 20 vạn lên gần 50 vạn, mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ II, mục tiêu chủ yếu là chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Đối với chiến trường Khu V, B́nh Định được xem là một trong những địa bàn trọng điểm, địch tập trung tới 60.000 quân (toàn khu có 350.000), triển khai hai gọng ḱm: “b́nh định” ở các huyện phía nam và “b́nh định” kết hợp “t́m diệt” ở các huyện phía bắc.
Đông-Xuân 1966-1967, trên địa bàn toàn tỉnh, Mỹ-ngụy đă mở hơn 100 cuộc càn quét, điển h́nh là cuộc hành quân “Đại bàng 180”. Hơn 30 tiểu đoàn quân Mỹ, Nam Triều Tiên và quân ngụy được sự yểm trợ tối đa về hỏa lực phi pháo, máy bay B52 tiến hành đánh phá dai dẳng ác liệt kéo dài hàng tháng vào các vùng căn cứ của ta tại Núi Bà và vùng đông bắc Phù Cát, đông nam Phù Mỹ, gần 1 vạn chiến sĩ đồng bào nằm trong lưới bao vây của địch.
Ở vùng trọng điểm các huyện phía bắc, rút kinh nghiệm sau thất bại trong cuộc phản công lần thứ nhất, địch không chỉ càn quét, lấn chiếm “t́m diệt” quân chủ lực của ta mà c̣n thực hiện đánh phá có tính chất hủy diệt bằng các biện pháp cày ủi, phi pháo, rải bom, chất độc hoá học nhằm triệt tiêu mọi nguồn sống, nguồn lực trong dân, mọi cơ sở tiếp ứng cho cách mạng, biến hàng trăm thôn xóm thành vùng trắng, hàng vạn người dân bị lùa vào các trại tập trung, khu dồn, sống trong cảnh “màn trời, chiếu đất”, cái chết luôn treo lơ lửng trên đầu.
Vùng giải phóng sau năm 1965 của ta bị thu hẹp, mất hơn 35 vạn dân ở các huyện đồng bằng. Lực lượng vũ trang bị thương vong, bật ra khỏi dân, nguồn tiếp tế bị cắt đứt, cán bộ, bộ đội, du kích sống trong cảnh đói cơm, nhạt muối, thiếu thốn trăm bề.
Khó khăn và tổn thất nghiêm trọng này, nguyên nhân cơ bản là ta thiếu nhạy bén, lúng túng trước t́nh h́nh, không lường trước được những âm mưu thủ đoạn đánh phá ác liệt của kẻ thù; khi lực lượng bị đánh bật ra khỏi dân th́ việc thực hiện bám trụ trong dân, gây dựng khôi phục lại phong trào triển khai chậm.
Để khắc phục t́nh h́nh trên, cuối năm 1966 đầu năm 1967, Tỉnh ủy xác định: “Nhiệm vụ chống càn, lấn chiếm, xúc tát dân, giữ vững phong trào phía Bắc, khôi phục phong trào phía Nam là nhiệm vụ trọng tâm số một cuả Đảng bộ”1; tiếp tục thực hiện phong trào “Tự hào dân tộc, hiến kế, hiến sức chống Mỹ, cứu nước” (từ tháng 9 đến 12.1966) và phong trào “Tây Sơn quyết thắng làm theo lời Bác”.2
Khắp nơi trong tỉnh thi đua yêu nước đă trở thành phong trào quần chúng rộng răi với nhiều nội dung phong phú. Cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân thực hiện phương châm 4 bám: Đảng bám dân, trên bám dưới, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch. Việc thực hiện trong Đảng phong trào thi đua xây dựng “Chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt”; các hội đoàn thể có các phong trào “5 tốt” của phụ nữ, “5 xung phong” của đoàn thanh niên.
Phong trào thi đua yêu nước, căm thù giặc cao độ đă biến thành hành động cụ thể. Trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân từ miền núi xuống đồng bằng, duyên hải, đô thị đều dấy lên tinh thần không quản ngại hy sinh gian khổ, kiên cường gan dạ bám đất, bám dân, bám địch mà đánh, mở đường mà đi, từng bước khôi phục phong trào và giành nhiều thắng lợi to lớn.
Ngày 22.8.1966, bộ đội ta tổ chức đánh địch ở Thuận Hạnh (B́nh Khê), loại 380 tên Mỹ. Trong trận đánh này, đồng chí Vơ Lai đă nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần gan dạ vừa là một chỉ huy quả cảm, vừa trực tiếp tiêu diệt hàng chục tên địch (Đồng chí đă được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Tiếp đó, vào ngày 8.9.1966, ta tiêu diệt tiêu hao một tiểu đoàn địch ở Mỹ Hiệp (Phù Mỹ), pháo kích vào căn cứ sở chỉ huy sư đoàn không vận số 1 Mỹ ở Núi Một, Cát Hanh (Phù Cát) loại hàng trăm lính Mỹ.Trận tập kích vào trung đoàn 41 ngụy ở Mỹ Lộc (Phù Mỹ), loại khỏi ṿng chiến đấu hàng trăm tên. Trong ṿng 1 tháng (23.9 đến 23.10.1966) quân dân các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát kiên cường chống trả cuộc hành quân “Đại bàng 180” của gần 30 tiểu đoàn quân cơ động Mỹ-ngụy, Nam Triều Tiên, đ đánh bật hàng chục cuộc hành quân của địch vào căn cứ của ta ở Núi Bà.
Trong cuộc chiến đấu một mất một c̣n với kẻ thù hung hăn đă xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đồng chí Xô y tá một ḿnh chống chọi mấy chục tên lính Nam Triều Tiên, du kích Nguyễn Cường (Cát Chánh ) và các mẹ Vơ Thị Mai, Trần Thị Thừa, Trần Thị Huệ... đă hy sinh bản thân hoặc đứa con yêu quư của ḿnh để cứu bộ đội, đồng đội và nhân dân trong t́nh thế ngặt nghèo. Em Lê Đức Cường dũng cảm mưu trí diệt 13 lính Nam Triều Tiên ở hang đđá Vĩnh Trường, bị thương nặng, súng hết đạn, em lấy máu viết vào khăn tay: “Khi Đảng cần tôi sẵn sàng hy sinh, chúc các anh đánh giặc để trả thù cho đồng bào". Hàng ngàn cán bộ, du kích và đồng bào thà hy sinh bởi hơi độc và đói khát trong các hang đá, quyết không chịu đầu hàng, không để lọt vào tay giặc.
Tháng 5.1967, Tỉnh ủy chủ trương mở đợt hoạt động Hè-Thu 1967, sử dụng lực lượng vũ trang tỉnh tiến công các căn cứ bàn đạp của địch, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích nhất là ở các vùng thị trấn, thị tứ. Mở đầu cho đợt hoạt động này, đêm 9.5, các chiến sĩ đặc công Đ10 tấn công khu kho xăng dầu Quy Nhơn, thiêu hủy hơn 10 triệu lít xăng dầu; đêm 16.6, đơn vị đặc công Đ10 lại tấn công căn cứ Đệ Đức (bắc Bồng Sơn) diệt hơn 100 tên Mỹ, phá hỏng 21 máy bay. Tiếp đó, lực lượng ta tổ chức chống càn ở thung lũng Cát Sơn (Phù Cát), tiến công vào chi khu quận lỵ Phù Mỹ, trận địa pháo và sân bay dă chiến Đèo Nhông.
Phối hợp với chiến trường Quân khu trong đợt hoạt động chuẩn bị cho năm 1968, cuối tháng 8.1967, lực lượng ta tấn công thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan. Tại khu Đông và B́nh Khê, 20.000 dân thuộc 50 thôn nổi dậy giành quyền làm chủ, với chiến thắng này, phong trào cách mạng các huyện phía nam được khôi phục và chuyển thế đi lên.
Mặt trận đấu tranh chính trị phát triển ngay trong ḷng địch ở các thị trấn, thị xă. Tiêu biểu là phong trào của học sinh, công nhân lao động, tín đồ Phật giáo ở Quy Nhơn và các thị trấn đấu tranh chống tṛ hề bầu cử tổng thống (3.9.1967) và nghị viện (22.10.1967). Ở nông thôn có phong trào chống càn quét, chống cướp bóc, đ̣i bồi thường thiệt hại. Cuộc đấu tranh chống cướp đất kéo dài gần 1 năm của đồng bào xă Cát Trinh (Phù Cát) ngy 28.8.1967. Cuộc đấu tranh của hàng ngàn đồng bào An Nhơn, Phù Cát tràn vào sân bay G̣ Quánh, hỗ trợ cho 1.500 công nhân đang xây dựng tại đây đ́nh công chống chủ thầu Mỹ, đ̣i bồi thường thiệt hại trên vùng đất bị chiếm làm sân bay. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của 500 đồng bào xă Cát Hanh (Phù Cát) chống lính Nam Triều Tiên hăm hiếp phụ nữ, đánh đập dân vô cớ. Kinh nghiệm đấu tranh ở đây đă lan nhanh thành phong trào đấu tranh chống lính Nam Triều Tiên ở các huyện phía nam.
Đầu tháng 11.1967, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng sau khi nghiên cứu các Nghị quyết của Bộ Chính trị (6.1967), Nghị quyết của thường vụ Khu ủy (9.1967) đă đề ra phương hướng, nhiệm vụ của toàn Đảng bộ “Động viên toàn đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh nỗ lực phi thường, quyết tâm cao thực hiện công kích và khởi nghiă bằng 3 mũi giáp công thật mạnh mẽ để phối hợp với toàn khu và toàn miền hoàn thành nhiệm vụ Đông-Xuân 1968”1.
Trọng điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy là khu Đông gồm Quy Nhơn, đông bắc Tuy Phước, đông An Nhơn và đông Phù Cát. Ban cán sự Đảng khu Đông được thành lập (do đồng chí Tô Đ́nh Cơ, phó Bí thư Tỉnh ủy làm bí thư), trực tiếp giúp ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo phong trào ở đây. Các huyện khác lấy khu vực quanh quận lỵ, thị trấn làm trọng điểm.
Từ ngày 5.12.1967 đến 20.1.1968, chuẩn bị cho Xuân Mậu Thân, ta tổ chức tấn công địch ở G̣ Trạm (Nhơn Tân, Phù Cát), và thị trấn Đập Đá (lần 1). Ngày 19.1.1968, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt suốt 5 ngày đêm liền ở xung quanh làng Phương Danh (trận Đập Đá lần 2), do lực lượng không cân sức, một người phải đương đầu với trên 20 tên địch, hết đạn các chiến sĩ ta phải xông lên đánh xáp lá cà và anh dũng hy sinh đến người cuối cùng; tinh thần chiến đấu của bộ đội ta ở Phương Danh đă nêu tấm gương sáng cho đồng bào và chiến sĩ toàn tỉnh.
Lực lượng của ta tổ chức tiến công vào quận lỵ Tuy Phước (đêm 22.12.1967) thu được thắng lợi lớn, 100 trong tổng số 114 thôn mà địch coi như “b́nh định” xong, quyền làm chủ đă thuộc về tay nhân dân. Đây là một trong những tiền đề tạo điều kiện cho ta tấn công vào thị xă năm 1968. Các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ cũng thu kết quả lớn trong việc chống kế hoạch “b́nh định” của địch, giữ vùng giải phóng. Xă Hoài Châu có nhiều thành tích xuất sắc trong việc bám trụ, bẻ găy âm mưu “b́nh định”. Du kích các xă Cát Hanh, n Thạnh bám trụ địa bàn, thực hiện “tay súng tay cày”, diệt được nhiều ác ôn, đó là tấm gương của các anh chị du kích Phạm Thị Đào, Nguyễn Thị Danh, Lê Đ́nh Long, Nguyễn Cường, Trần Thị Kỷ… Chạm trán với du kích luôn là nỗi ám ảnh của kẻ địch, nhiều tên Mỹ đă phải thốt lên “Họ là một lực lượng đáng sợ, không t́m thấy họ ở chỗ chúng ta đến, nhưng họ sẵn sàng gặp chúng ta ở tất cả mọi nơi”.
Năm 1967, thế trận diễn ra phức tạp, ác liệt, phải đương đầu với sư đoàn không vận số 1 Mỹ và lính Nam Triều Tiên được trang bị hỏa lực hùng hậu, nhưng quân và dân B́nh Định đă vượt qua khó khăn thử thách, liên tục giáng trả kẻ địch những đ̣n đích đáng với 1.636 trận đánh, loại khỏi ṿng chiến đấu 21.260 tên, trong đó có 8.580 tên Mỹ, 2.034 lính Nam Triều Tiên, 32 lính Thái Lan. Riêng lực lượng du kích đánh 1.177 trận, loại khỏi ṿng chiến đấu 10.700 tên1. Có những trận đánh lớn ở Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn… diệt gọn hàng tiểu đoàn và đại đội Mỹ, ngụy, chư hầu, phá hủy hàng vạn tấn bom đạn, xăng dầu và các phương tiện chiến tranh khác. Đó là trận Mỹ Tài (19.8.1967) đánh thiệt hại nặng 3 đại đội địch, trận Mỹ Thắng (6.1967), trận Chợ Dinh (Tuy Phước), trận đánh vào quân cảng Quy Nhơn (22.12.1967) diệt hơn 100 tên Mỹ… Thành tích đánh Mỹ của quân và dân trong tỉnh đă được ghi nhận xứng đáng, trong ṿng 1 năm (9.1966 đến 9.1967), toàn tỉnh có 266 tập thể và cá nhân được tặng danh hiệu ”Dũng sĩ diệt Mỹ”, trong đó có 26 “Dũng sĩ bắn máy bay Mỹ”.2
Qua việc bẻ găy hai cuộc phản công chiến dịch ma khô, đặc biệt là đợt hoạt động Hè-Thu 1967, ta đă đẩy quân địch vào thế bị động, lúng túng, góp phần tích cực chuẩn bị điều kiện cho phong trào tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
5. Tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Sau khi Mỹ-ngụy liên tiếp bị thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965-1966 và 1966-1967), cục diện chiến trường tiếp tục chuyển biến có lợi cho cách mạng miền Nam. Trước dư luận rộng răi và phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng phát triển ở nhiều nước trên thế giới và ngay trong nội bộ nước Mỹ, một mặt làm cho giới cầm quyền Nhà Trắng dao động, lúng túng, mặt khác vẫn tỏ ra ngoan cố dấn sâu thêm vào cuộc chiến tranh phi nghiă, tiếp tục tăng quân số lên 120 vạn tên trong đó có 50 vạn quân Mỹ, đổ thêm viện trợ và phương tiện quân sự vào miền Nam.
Tháng 1.1968, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III), hạ quyết tâm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định, phải tạo được một bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh, bằng phương pháp tổng công kích, tổng phản công. Ta chủ trương đánh vào 4 trong số 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xă và hàng trăm thị trấn trong chiến dịch Mậu Thân.
B́nh Định là một trong những trọng điểm nổi dậy của chiến trường Khu V. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương và của Khu ủy, công tác chuẩn bị cho nổi dậy được tiến hành khẩn trương. Ban chỉ đạo mặt trận được thành lập để thống nhất các hoạt động trong toàn tỉnh, mở nhiều đợt chỉnh huấn về chủ trương tiến công nổi dậy nhằm làm chuyển biến về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân. Lực lượng vũ trang được bố trí theo các hướng, có sự phối hợp giữa các địa bàn trọng điểm, lực lượng quần chúng gồm 272.000 người được tổ chức tập hợp thành hàng ngũ 590 đại đội, sẵn sàng chi viện và xuống đường đấu tranh.
Thời gian này, quân số địch ở B́nh Định có khoảng 65.000 tên, chúng tăng cường mở nhiều cuộc lùng càn quyết liệt các huyện phía bắc tỉnh; ở phía nam địch tập trung đánh phá ḥng ngăn chặn các hành lang của ta, đặc biệt là hành lang Đông-Tây. Tại Quy Nhơn, địch tăng cường cảnh sát dă chiến, kiểm soát nghiêm ngặt các ngả đường ra vào thị xă.
Chấp hành lệnh tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, với tinh thần “Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” quân và dân toàn tỉnh đă tiến công dồn dập vào các căn cứ quân sự, hậu cần, sở chỉ huy của địch, làm rung chuyển bộ máy cai trị của Mỹ-ngụy ở khắp 11 quận lỵ và thị xă Quy Nhơn. Riêng ở Quy Nhơn, do không nhận được lệnh điều chỉnh giờ nổ súng nên 3 giờ sáng ngày 30.1.1968 (tức đêm giao thừa, theo lịch miền Bắc là ngày 29.1.1968), các cánh quân của ta từ nhiều hướng tấn công vào nội thị, đẩy lùi hàng chục cuộc phản công ứng cứu của Mỹ-ngụy, tiêu diệt 130 tên, lực lượng ta trụ lại thị xă trong ṿng 7 ngày (30.1 đến 5.2.1968).
Cùng thời gian, Sư đoàn 3 Sao vàng cùng lực lượng các huyện từ miền núi xuống đồng bằng nhất loạt nổ súng tấn công vào hang ổ của địch ở các quận lỵ, các cơ sở hậu cần, quân sự ở Đèo Son, Miếu Lở, Sư đoàn bộ sư đoàn 22, Đệ Đức cùng nhiều cứ điểm đồn bót, đường giao thông chiến lược, sân bay, kho tàng khác. Lực lượng ta đă tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh. Chỉ tính trong ṿng một tháng đầu tấn công và nổi dậy (30.1 đến 29.2.1968), quân dân B́nh Định đă loại khỏi ṿng chiến đấu 4.317 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 33 máy bay, 163 xe quân sự. Đặc biệt, tiểu đoàn 50, Đ10 ngay đêm đầu nổ súng tấn công vào chi cảnh sát, nha thông tin, đài phát thanh, nha quân vụ, bến ô tô Bạch Bằng, nhà ga Quy Nhơn… đă anh dũng chiến đấu lập chiến công xuất sắc, được Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
Những chiến thắng của ta đầu Xuân 1968, đặc biệt là thắng lợi trong Tết Mậu Thân thể hiện tinh thần anh dũng tiến công, ư thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân toàn tỉnh, tạo ra thế trận mới, thế tiến công và nổi dậy liên tục và đồng loạt trên khắp các địa bàn.
Chiến công nối tiếp chiến công, trong các tháng 5, 6, 7, 8 năm 1968, quân và dân B́nh Định với khí thế của những ngày tháng lịch sử đồng khởi mùa xuân, liên tiếp tấn công vào 8 cứ điểm dọc Quốc lộ 1, bắc Phù Mỹ, Phú Tài, tháp Bánh Ít, Lương Nông, Cát Thắng. Lữ đoàn 173 của Mỹ chân ướt chân ráo đến B́nh Định thay cho sư đoàn không vận số 1 đă bị nếm đ̣n chí tử, hàng trăm tên bị tiêu diệt cùng với hàng chục xe bọc thép và phương tiện hỏa lực hiện đại. Trên chiến trường các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn nhiều đại đội Nam Triều Tiên, trung đoàn 40, 41 ngụy cũng phải chịu những tổn thất nặng nề.
Năm 1968, lực lượng 3 thứ quân đánh 2.313 trận, loại khỏi ṿng chiến đấu 30.000 tên địch (trong đó có 8.103 tên Mỹ, 2.684 Nam Triều Tiên), riêng bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích đánh 2.060 trận, loại hơn 20.000 tn (4.609 tên Mỹ, 1.278 lính Nam Triều Tiên). Kết hợp với tiến công và nổi dậy, quân dân các địa phương đă diệt ác phá kềm giành quyền làm chủ ở 114 thôn thuộc 45 xă với 117.770 dân, vận động 974.450 lượt người tham gia đấu tranh trực diện với Mỹ-ngụy. Nổi bật có các xă Hoài Châu, Hoài Hảo (Hoài Nhơn), Mỹ Thắng, Mỹ Đức (Phù Mỹ), Cát Hanh (Phù Cát), Phước Thắng (Tuy Phước)… Phong trào toàn dân tham gia xây dựng làng xă chiến đấu cũng diễn ra khá sôi nổi, có 3 xă Hoài Châu (Hoài Nhơn), An Mỹ (An Lăo) và Nhơn Hậu (An Nhơn) đạt cờ thi đua “Xă chiến đấu khá nhất”.
Trong chiến đấu, lực lượng du kích ngày càng được củng cố và phát triển. Cuối năm 1968, toàn tỉnh có 14.000 đội viên dân quân du kích. Du kích thực hiện nhiệm vụ đánh giặc, giữ làng, chống địch càn quét, lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kềm giành quyền làm chủ, tinh thần dũng cảm và những trận đánh “thoắt ẩn thoắt hiện” mưu trí sáng tạo của họ đă làm cho quân Mỹ nhiều phen khiếp sợ. Riêng năm 1968, du kích đ tiêu diệt 42,5% trong tổng số địch bị ta tiêu diệt, phá huỷ 51% xe cơ giới, bắn rơi 38,11% máy bay.
Ở các huyện miền núi, phong trào du kích xă An Mỹ (An Lăo) xứng đáng là ngọn cờ đầu đánh Mỹ. Năm 1968, loại 50 tên Mỹ (hai năm 1967-1968 diệt 3.066 tên Mỹ). Du kích các xă Hoài Châu, Hoài Hảo, Hoài Thanh (Hoài Nhơn), Mỹ Trinh, Mỹ Thọ (Phù Mỹ) đă từng chiến đấu tiêu diệt hàng trung đội địch. Điển h́nh có 7 chiến sĩ du kích xă Hoài Châu, ngày 6.5.1968 đă diệt gọn 1 trung đội lính bảo an tại cầu Ơng Tự và thu nhiều vũ khí. Du kích xă Ân Thạnh (Hoài Ân) đă táo bạo thọc sâu vào ḷng địch diệt hàng chục ác ôn; Đội du kích Mỹ Thọ (Phù Mỹ) nổi tiếng là đội quân “chí lớn, gan dạ” kiên tŕ đánh giỏi. Du kích các xă Mỹ An, Mỹ Thắng, Mỹ Thọ cải tiến pháo lép của địch để chống xe tăng, diệt địch. Năm 1968, du kích và lực lượng địa phương huyện Phù Mỹ đă phá hỏng 186 xe quân sự, trong đó có 51 xe bọc thép, chiếm 33,3% tổng số xe bị phá hỏng toàn tỉnh. Du kích toàn tỉnh đă loại khỏi ṿng chiến đấu 8.564 tên địch (có 2.575 tên Mỹ, 368 lính Nam Triều Tiên), bắn rơi và bắn hỏng 37 máy bay, phá hủy 244 xe quân sự.1
Qua chiến đấu đă xuất hiện nhiều gương tiêu biểu thể hiện tinh thần yêu nước, ư chí tiến công. Đó là h́nh ảnh liệt sĩ Lâm Văn Tương đă bơi qua sông sâu sóng dữ, vượt 12 lớp rào thép gai, đánh sập nhà tên quận trưởng, chi cảnh sát, nha thông tin, chống chọi với gần 1 đại đội lính Nam Triều Tiên, diệt hàng chục tên. Trung đội trưởng, chiến sĩ thi đua Trần Ngọc Hồ (tiểu đoàn 50) năm 1968 diệt 39 tên địch. Đó là y tá Hồ Thị Hạnh, tiêu biểu cho tinh thần trách nhiệm của người thầy thuốc, có những lúc chị đă thức trắng 5 đêm để chăm sóc thương binh, 200 lần phục vụ bên bàn mổ không để xảy ra sơ xuất. Bên cạnh đó c̣n nhiều gương sáng của các chiến sĩ thi đua của tỉnh như Nguyễn Văn Chương, chính trị viên phó D50; Đinh Thao, trung đội phó trinh sát tỉnh; Nguyễn Huế, đại đội phó đặc công tỉnh; Phan Đ́nh Tiên, trung đội phó bộ đội B́nh Khê…
Mặc dầu có những khó khăn tổn thất, t́nh thế đôi khi tưởng như khó có thể vượt qua nhưng trong khói lửa của chiến tranh cách mạng, các lực lượng vũ trang, bán vũ trang cũng như lực lượng chính trị đă trưởng thành vượt bậc. Trong 3 năm (1966-1968), ta đă loại 82.335 tên địch (có 26.157 tên Mỹ), bắn rơi và phá huỷ 771 máy bay, có 1.353.698 lượt người tham gia đấu tranh chính trị. Với những thành tích vượt bậc đó quân dân toàn tỉnh đă được Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng những phần thưởng cao quư, xứng đáng: 17 Huân chương Thành đồng hạng Nhất, Hai, Ba, 216 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, hạng Hai, hạng Ba; 52 Huy chương hạng Nhất, Hai.1
Cùng với toàn miền, quân và dân B́nh Định lần lượt đánh bại hai cuộc phản công mùa khô (1965-1966, 1966-1967) tiến đến giành thắng lới to lớn trong tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
1 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB. Sự Thật, Hà Nội, tập 10, tr. 131.
2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 120-121
1 B́nh Định lịch sử chiến tranh 30 năm, sđd, tr. 290.
1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, NXB. Thuận Hoá, 1998, tr. 404.
2 Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương tŕnh cao cấp, tập 2, NXB. Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1986, tr. 74.
1 Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân, 1999, tr. 265.
2 B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân (1945-1975), sđd, tr. 299.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975) , sđd, tr. 142.
2 Tổng kết phong trào thi đua công-nông-binh tỉnh B́nh Định từ năm 1966-1968, Tài liệu lưu Ban Tuyên giáo tỉnh B́nh Định
1 Nghị quyết Tỉnh ủy mở rộng tháng 11.1967, lưu Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.
1 Chiến tranh du kích trên chiến trường B́nh Định, sđd, tr. 152
2 Theo báo cáo tổng kết phong trào nhân dân du kích chiến tranh B́nh Định từ tháng 9.1966 đến tháng 9.1967
1 Báo cáo tổng kết phong trào thi đua công, nông, binh tỉnh B́nh Định từ 1966-1968 .
1 Báo cáo tổng kết phong trào thi đua công, nông, binh tỉnh B́nh Định từ 1966-1968 .