IV. CHỐNG PHÁ KẾ HOẠCH “B̀NH ĐỊNH” GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC
“VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969-1972)
1. Chống kế hoạch “b́nh định cấp tốc” của địch
Mặc dầu đă leo thang đến cao độ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam nhưng đế quốc Mỹ vẫn không đè bẹp được ư chí độc lập tự do và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Cuộc tập kích chiến lược đầu xuân Mậu Thân 1968 ở khắp các thành thị và nông thôn miền Nam đánh dấu sự phá sản thảm hại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Đây là thất bại về mặt chiến lược của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam, buộc Giôn-xơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc từ ngày 1.11.1968, chấp nhận đàm phán bốn bên ở Paris.
Sau Giôn-xơn, Ních-xơn lên cầm quyền đă theo đuổi cuộc chiến tranh đầy tội ác với chiến lược mới “Chiến lược Việt Nam hố chiến tranh”. Thực chất của cuộc chiến tranh là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam bằng súng đạn và đô la của Mỹ, dùng quân ngụy và hỏa lực được tăng cường tới mức tối đa thay cho binh lính Mỹ trên chiến trường, “thay màu da của xác chết”, cho đây là “cuộc nội chiến” nhằm đánh lừa dư luận thế giới.
Chính một thượng nghị sĩ Mỹ, ông Mắc-ga-vơn cũng đă phải thừa nhận rằng ”Việt Nam hóa chiến tranh” là “một chính sách rất độc ác, chưa nói là phi đạo lư của chúng ta, khi chúng ta tạo ra một chính phủ do chúng ta bảo hộ ở miền Nam Việt Nam rồi ủng hộ bằng vũ khí, tiền tài để họ tiếp tục giết hại đồng bào họ. Và đây là thực chất của vấn đề Việt Nam hoá: cố gắng tiến hành chiến tranh bằng tay người khác".2
Đối với B́nh Định, Mỹ-ngụy vẫn coi đây là một trong những địa bàn trọng điểm đánh phá khốc liệt, địch tăng cường lực lượng từ 44.856 tên vào cuối năm 1968 lên 56.000 tên vào đầu năm 1969, mở liên tiếp 572 cuộc hành quân cướp phá, bắn giết, dồn dân, bắt lính. Vừa kết hợp sử dụng vũ lực quân sự trắng trợn, vừa thực hiện những thủ đoạn vô cùng thâm độc, tinh vi về chính trị, kinh tế, văn hoá xă hội và chiến tranh tâm lư. Thí điểm kế hoạch “b́nh định”, Mỹ và tay sai gây ra chồng chất tội ác đẫm máu, tàn sát dă man quần chúng nhân dân mà chủ yếu là phụ nữ và trẻ em bằng các h́nh thức man rợ như đập đầu, mổ bụng, moi gan, hăm hiếp, chôn sống v.v... chúng tăng cường các đợt oanh tạc ném bom và rải thảm chất độc hoá học xuống khắp các vùng dân cư nhằm tiêu diệt sự sống của người dân. Theo số liệu của Lầu Năm góc, nếu năm 1965, năm đầu của chính quyền Giôn-xơn đă dội 315.000 tấn bom đạn th́ đến năm 1969, năm đầu của chính quyền Nich-xơn, con số đó tăng lên 4 lần, tức là 1.387.000 tấn. Về chất độc hóa học, số diện tích bị rải tăng từ 700.000 ha 1965 lên tới 1.000.000 ha năm 1969”.1
Ở các thị trấn, thị xă, địch đẩy mạnh chiến dịch “Phượng hoàng” và “Đồng tiến”, thực hiện kế hoạch đội ngũ hóa, buộc mọi người tham gia các tổ chức chính trị, đảng phái phản động.
Trước t́nh h́nh trên tháng 1.1969, Thường vụ Tỉnh ủy họp ra nghị quyết “Ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh mạnh phương tiện chiến tranh và giao thông. Tiêu diệt lực lượng ḱm kẹp, đẩy mạnh phong trào quần chúng nổi dậy giải phóng nông thôn, đồng thời liên tục tấn công địch ở thị xă cả quân sự và chính trị”2, mở chiến dịch Xuân-Hè 1969. Tiếp đó vào tháng 3.1969, Tỉnh ủy và Ủy ban cách mạng tổ chức Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua công, nông, binh toàn tỉnh, nhằm tổng kết phong trào thi đua từ 1966-1968, đồng thời phát động đợt thi đua “Mùa xuân quyết thắng” .
Mở đầu chiến dịch Xuân, đêm 22 rạng 23.2.1969 lực lượng vũ trang tỉnh cùng lúc tiến công vào 125 mục tiêu kho tàng, sân bay, thị xă, thị trấn, vùng ven, sở chỉ huy địch. Ở Quy Nhơn, ta đồng loạt tiến công vào 7 mục tiêu, diệt 420 tên, phá hủy 48 kho tàng với 43.000 tấn bom đạn3. Cùng thời gian, lực lượng vũ trang huyện Hoài Nhơn tập kích vào căn cứ Đệ Đức, diệt 500 tên, phá hủy 10 máy bay. Bộ đội huyện An Lăo và du kích đánh địch đi càn, tiêu diệt 1 trung đội. Du kích các xă của huyện Phù Mỹ hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy diệt hàng trăm tên địch, phá ră hàng mảng ấp chiến lược.
Trong chiến dịch này, quân và dân địa phương đă loại khỏi ṿng chiến đấu 2.936 tên địch, có 599 tên Mỹ, 403 lính Nam Triều Tiên. Song song với tiến công quân sự, lực lượng du kích cùng đồng bào khắp nơi trong tỉnh liên tục nổi dậy với hơn 68.000 lượt người, tiêu diệt hơn 600 ác ôn, phá 68 “Ấp chiến lược”, đưa 2.650 dân trở về làng cũ. Trong quí I năm 1969, có 21 cuộc đấu tranh của 6.000 đồng bào ngư dân ven biển kéo thuyền lên bờ không ra biển làm ăn phản đối việc tăng thuế, bóp chẹt giá bán hải sản. Cuộc đấu tranh chống giải tỏa vùng ven biển, đ̣i tự do ra biển làm ăn của ngư dân Đề Gi (Phù Cát), Tam Quan (Hoài Nhơn). Các cuộc đấu tranh chống “B́nh định cấp tốc”, giữ vững quyền làm chủ của đồng bào ngư nghiệp huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Cùng thời gian, đồng bào ở nhiều nơi bằng h́nh thức tập trung đi “chợ nhồi”, nhiều khi tập hợp lên đến 3.000 người, sau đó biến thành cuộc đấu tranh chính trị phản đối chế độ hà khắc của Mỹ-Thiệu.
Sau chiến dịch Xuân, ta tiếp tục mở chiến dịch Hè 1969 (11.5 đến 20.6.1969), tập trung mọi nỗ lực đánh trả kế hoạch “B́nh định cấp tốc”, tiêu diệt lực lượng ḱm kẹp và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch .
Ngy 11.5.1969, bộ đội và du kích tiến công quận lỵ Phù Mỹ, thọc sâu vào sào huyệt của chúng là chi công an - cảnh sát, nhà hội đồng, diệt 1 trung đội dân vệ và một đoàn “b́nh định”. Nổi bật là cuộc đấu tranh bảo vệ và giải vây cho hàng trăm cán bộ, bộ đội của đồng bào xă Mỹ Thọ, Phù Mỹ (5.1969). Bộ đội huyện và du kích An Lăo đánh 32 trận, diệt 250 tên, bắn rơi 13 máy bay lên thẳng, Lực lượng ta tiến công đ tiêu diệt một trung đội dân vệ tại thôn Thái Phú (Cát Tài, Phù Cát) ngày 16.5.1969. Chiến dịch Xuân-Hè bộ đội và du kích Vân Canh đánh 14 trận, diệt 111 tên…
Song song với đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị của đồng bào ở thị xă, thị trấn và vùng địch kiểm soát diễn ra khá mạnh mẽ. Đó là cuộc đấu tranh của 400 công nhân lao động và học sinh Quy Nhơn đ̣i nghỉ ngày lễ Quốc tế Lao động 1.5, sau đó 4.000 công nhân lao động và học sinh xuống đường biểu t́nh tuần hành từ khu 1 đến khu 6 phản đối quyết liệt bọn Mỹ giết hại nhân dân trong tỉnh1. Nhân ngày lễ Phật đản (12-13.5.1969) hơn 5 vạn quần chúng, chủ yếu là ở Quy Nhơn, An Nhơn đă xuống đường biểu t́nh, trương cờ, khẩu hiệu tố cáo tội ác của ngụy quyền Thiệu-Kỳ, đ̣i tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, trả tự do cho Hoà thượng Thích Thiện Minh, chấm dứt chiến tranh văn hồi hoà b́nh, hưởng ứng giải pháp 10 điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam… Đây là cuộc đấu tranh có quy mô lớn nhất từ năm1966-1969, ảnh hưởng rộng lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân, lôi kéo được cả binh lính và gia đ́nh binh sĩ ngụy tham gia, tạo được khí thế và khả năng mới cho phong trào đấu tranh công khai hợp pháp. Tiếp đó ngày 30.5.1969, tất cả các trường học, chợ, nghiệp đoàn đều băi khoá, băi chợ và đ́nh công…
Với khí thế của thắng lợi của chiến dịch Xuân và thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về việc chống địch nống lấn, tiến tới đánh bại kế hoạch “B́nh định cấp tốc” của địch, đêm ngày 11 rạng ngày 12.8.1969, quân và dân toàn tỉnh đồng loạt tiến hành chiến dịch Thu (mật danh là chiến dịch Đ). Lực lượng của ta đă đồng loạt tiến công vào các vị trí then chốt và sào huyệt của địch. Bộ đội Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, An Lăo, Vân Canh dựa vào làng chiến đấu bẻ găy nhiều cuộc hành quân càn quét, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ, diệt gần 1 đại đội địch ở làng Kon Kring (Vĩnh Thạnh), 1 ban chỉ huy tiểu đoàn bảo an ở Ân Tường (Hoài Ân). Bộ đội và du kích Hoài Nhơn tiến công diệt gọn một đoàn “cán bộ b́nh định” cùng nhiều tên mật vụ, t́nh báo ở xă Hoài Mỹ. Ta đánh địch ở các xă Mỹ Hiệp, Mỹ Trinh, Mỹ Thắng, Mỹ Thọ (Phù Mỹ) diệt 58 tên địch, bắn cháy 8 xe quân sự.
Trong lúc phong trào cách mạng đang trên đà phát triển th́ ngày 3.9.1969, nhân dân miền Nam nói chung và B́nh Định nói riêng được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời1 - một cái tang chung và nỗi niềm tiếc thương vô hạn của cả dân tộc, làm lay động hàng triệu trái tim người dân Việt Nam. Bất chấp sự ngăn cản của kẻ thù, bàn thờ được đồng bào lập ở nhiều nơi để tỏ ḷng thành kính và biết ơn công lao trời biển và đức độ của vị cha già kính yêu. Nhiều gia đ́nh trong vùng địch tạm chiếm bí mật làm lễ truy điệu, tập hợp nhau cùng ôn lại tiểu sử và những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Người.
Biến đau thương thành sức mạnh, quân và dân toàn tỉnh học tập thấm nhuần và làm theo Di chúc thiêng liêng của Người, phát động phong trào thi đua “Noi gương, noi chí Bác Hồ, lập công đền ơn Bác” (từ tháng 9.1969 đến tháng 5.1970).
Mở đầu cho phong trào thi đua, lực lượng vũ trang tỉnh tập kích vào khu kho Miếu Lở lần thứ 5, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh; bộ đội huyện Tuy Phước tiến công khu nhân viên kỹ thuật ở Ngọc Châu (Phước Long), phá sập 4 nhà kho, diệt nhiều tên địch; Đặc công tỉnh phối hợp với biệt động Quy Nhơn và du kích xă Phước Hậu tập kích kho xăng Phú Hoà, một kho trung chuyển lớn từ cảng lên để cung cấp cho các tỉnh Tây Nguyên và lân cận, thiêu hủy gần 10 triệu lít xăng, diệt 30 lính Nam Triều Tiên, gây khó khăn trở ngại cho địch trong việc tiếp tế cung ứng nhiên liệu. Ngày 23.9.1969, ở chợ Tân Dân (Cát Hanh) hai nữ du kích dũng cảm là chị Định và chị Lan ném lựu đạn vào nhóm “b́nh định” ác ôn đang tập trung đánh cờ bạc, diệt 28 tên.
Trong đợt hoạt động Đông (3 đến 21.11.1969), lực lượng vũ trang An Nhơn, Hoài Ân, Hoài Nhơn, B́nh Khê, du kích và tự vệ Quy Nhơn tiến công đánh địch ở nhiều nơi, loại khỏi ṿng chiến đấu hơn 300 tên địch.
Năm 1969 cũng là năm mà quân dân trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thời kỳ sau tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Địch tổ chức phản kích ác liệt, đẩy lùi lực lượng vũ trang ta ra xa vùng kiểm soát của chúng. Chúng mở các đợt đánh phá “b́nh định” vào các vùng nông thôn, đồng bằng, bom đạn địch ném liên miên khiến cho nông dân không sản xuất được và t́nh trạng thiếu đói xảy ra ở một số nơi. Nhưng với quyết tâm cao “Làm theo di chúc cuả Bác”, “Hoàn thành nhiệm vụ giành và giữ dân”, quân và dân B́nh Định đă loại hơn 24.000 tên địch, thu 550 súng các loại, phá hủy 100 nhà kho, hơn 100.000 tấn bom đạn, đốt cháy 126 triệu lít xăng dầu, bắn rơi và phá hỏng 197 máy bay, phá hủy và đánh hỏng 282 xe quân sự.1 Ở các huyện miền núi, lực lượng vũ trang và du kích phối hợp chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm bảo vệ vững chắc vùng căn cứ: quân và dân Vĩnh Thạnh đánh 50 trận, loại 350 tên, Vân Canh đánh 24 trận diệt 220 tên, bắn rơi 4 máy bay, Hoài Ân đánh 248 trận loại 1.385 tên…
Phong trào đấu tranh chính trị chống “B́nh định cấp tốc” được phát động ở các thị trấn, thị tứ, vùng ven, bất chấp sự đàn áp của địch. Năm 1969 có 5.204 cuộc đấu tranh chính trị và binh vận với 970.000 lượt người tham gia, đặc biệt đă có 320 cuộc đấu tranh chính trị có tính bạo lực của quần chúng bao vây các đồn bót, căn cứ quân sự, cơ quan dân sự quận lỵ của địch; trên 51.000 lượt quần chúng, có cả gia đ́nh ngụy quân, ngụy quyền tham gia đấu tranh binh vận, làm ră ngũ được 1.376 tên pḥng vệ dân sự.
Ở các vùng giải phóng thực lực cách mạng được tăng cường, nhất là phong trào đẩy mạnh sản xuất, đóng góp nhiều lương thực cho cách mạng, trong năm 1969 đă đóng góp và thu mua được 1.120 tấn gạo, 9.500.286 đồng. Huy động 94.500 ngày công tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ tiền tuyến, vận động hơn 300 thanh niên thoát ly tham gia lực lượng vũ trang; giải phóng và giành quyền làm chủ cho hơn 105.000 dân.
Phong trào cách mạng của quân và dân B́nh Định trong các chiến dịch năm 1969 phát triển đúng hướng đều khắp, thu được những thắng lợi đáng kể, bước đầu góp phần làm lung lay chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, hạn chế một phần kế hoạch “B́nh định cấp tốc” của Mỹ-ngụy, buộc địch phải thừa nhận: “Tỉ lệ ấp tân sinh ở vùng căn cứ đạt 0,6% (5 ấp), tỉ lệ dân bị kẹp lại đạt 47%. Kết quả công tác b́nh định và xây dựng ở B́nh Định tiến triển mức độ trung b́nh và năm 1970 c̣n khó khăn hơn”.1
2. Bẻ găy các kế hoạch “b́nh định nông thôn”
Bước sang năm 1970, Mỹ-ngụy tiếp tục thực hiện kế hoạch “B́nh định cấp tốc” mở 1.000 cuộc hành quân lấn chiếm với mức độ ngày càng quyết liệt hơn, trong đó có 409 trận càn có quy mô từ 2 đại đội trở lên, đặc biệt là hai trận càn lớn huy động đến một lữ đoàn đánh phá ác liệt vào vùng căn cứ và giáp ranh với âm mưu đẩy lực lượng chủ lực của ta ra xa các vùng chúng chiếm đóng.
Những thủ đoạn quân sự ác liệt của địch không khỏi có tác động ảnh hưởng đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân, Tỉnh ủy kịp thời tổ chức đợt sinh hoạt chính trị nhằm khắc phục những biểu hiện tâm lư hoang mang, dao động, cầu an, ngại gian khổ hy sinh; củng cố ḷng tin, nâng cao tinh thần yêu nước, ư chí căm thù giặc…
Nhiệm vụ của Đảng bộ và nhân dân B́nh Định trong giai đoạn này được xác định là quyết tâm đánh bại kế hoạch “B́nh định cấp tốc”, tiêu diệt lực lượng của Mỹ-ngụy, mở rộng vùng giải phóng.
Ngay từ những ngày đầu tháng 1.1970, những trận đánh của bộ đội địa phương diễn ra quyết liệt, buộc địch phải rút lui khỏi các cửa khẩu suối Son, Dốc Dài, Mỹ Hiệp (Phù Mỹ). Ngày 3.1, đặc công ta tiến công chốt điểm G̣ Ú (Hoài Nhơn), các tiểu đoàn thuộc trung đoàn 22 hoạt động sâu, cầm chân địch ở Hoài Nhơn tạo điều kiện cho các nơi khác tiến công tiêu diệt địch.
Cùng thời gian này, ở các huyện phía nam ta bất ngờ tiến công căn cứ đóng quân của lính Nam Triều Tiên ở B́nh Khê, Vĩnh Thạnh phá toang một vùng ấp chiến lược dọc hai bên đường 19.
Phong trào của quần chúng nổi dậy phá khu dồn, ấp chiến lược, tiêu diệt chốt điểm, đánh phá giao thông, diệt “b́nh định”, ác ôn được phát động rầm rộ ở khắp nơi trong tỉnh. Cao điểm trong tháng 3.1970, lực lượng ta đă tổ chức tiến công dồn dập vào các chốt điểm của địch với phương châm “Ḱm Mỹ, diệt ngụy, phá ḱm, giành dân” nhằm khôi phục phong trào cách mạng ở Phù Mỹ, Hoài Nhơn và ở một số vùng thuộc các huyện phía nam.
Đêm 31.3.1970, đặc công ta nổ súng vào Núi Lá (Phù Mỹ), sau 30 phút chiến đấu, ta đ tiêu diệt phần lớn sinh lực địch của tiểu đoàn 3 và 1 trung đội thuộc trung đoàn 41 ngụy. Cùng với Núi Lá, một loạt 15 cứ điểm, trận địa pháo, quận lỵ bị các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện tiến công dồn dập, gây cho địch nhiều thiệt hại.
Ngày 5.4.1970, một tiểu đoàn của lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ bộ xuống rừng Dầu, Cát Sơn (Phù Cát) và đồi Tranh, Mỹ Hiệp (Phù Mỹ), bị các lực lượng vũ trang ta ḱm chân, bao vây không cho chng triển khai ư đồ v đánh chúng thiệt hại nặng. Cùng thời gian, 2 tiểu đoàn chủ lực cùng bộ đội huyện tổ chức thọc sâu xuống đông Phù Mỹ, tiến công một loạt ấp chiến lược ở các xă Mỹ Đức, Mỹ Chánh, Mỹ Thọ… diệt và bắt hàng trăm tên bảo an, nhiều tên “b́nh định”, ác ôn phải đền nợ máu. Ngay sau đó (8.4), ta lại bẻ găy cánh quân đến cứu viện trên đoạn đường Mỹ Chánh, Mỹ Thọ.
Ở phía nam, bộ đội tỉnh, huyện và du kích xă, thôn tập kích vào các khu kho Gành Ráng, Đèo Son, diệt địch ở Đập Đá (An Nhơn), Cát Trinh( Phù Cát), Quán Cầu (Tuy Phước).
Được sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng vũ trang, phong trào quần chúng nổi dậy diệt ác phá ḱm, phá ấp, giành quyền làm chủ ở xă thôn thu được nhiều kết quả. Riêng 3 huyện Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước đă có 20 thôn cùng 20.000 dân giành được quyền làm chủ. Ở Hoài Nhơn, Hoài Ân, bắc Phù Mỹ có phong trào quần chúng nhân dân chống phát quang, rào làng, dồn dân vào ấp chiến lược và các khu dồn…
Để trấn an khích lệ tinh thần binh sĩ và tháo gỡ thế bị động trên chiến trường tỉnh Đ́nh Định, từ tháng 5.1970, Mỹ-ngụy dùng 4 tiểu đoàn mở trận càn vào các vùng căn cứ của tỉnh ở Vĩnh Thạnh, đông bắc B́nh Khê, Cát Sơn (Phù Cát). Nhưng ngay từ khởi đầu đă bị lực lượng ta chặn đánh quyết liệt chng bị thương vong đáng kể. Tiếp đó, từ ngày 16 đến 30.6.1970, ta tổ chức chặn đánh 6 tiểu đoàn địch càn vào tây Phù Mỹ - Phù Cát, tây bắc An Nhơn. Và cả hai mũi tiến công của địch nhằm tiêu diệt lực lượng chỉ huy của ta ở vùng căn cứ đều bị thất bại thảm hại.
Tại các huyện đồng bằng, phong trào chiến tranh du kích được phát động mạnh mẽ với phương châm tác chiến cơ động linh hoạt sáng tạo, dùng lực lượng ít, nhỏ để tiêu diệt tiêu hao sinh lực địch, chủ yếu nhằm vào đối tượng ác ôn, có nợ máu ở cơ sở. Các đội diệt ác, an ninh mật được thành lập ở các xă, đặc biệt đă tập hợp được đông đảo thiếu niên yêu nước, dũng cảm mưu trí vào đội “chim én”, các em trở thành tai mắt giúp cha anh ḿnh giết giặc bảo vệ thôn xóm quê hương, điển h́nh là đội “chim én” xă Hoài Thanh sau đó lan ra các xă của huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ và toàn tỉnh .
Hoạt động của phong trào du kích đă làm quân thù khiếp sợ, cảnh báo và hạn chế sự hung hăn của bọn ác ôn ở cơ sở, góp phần chọc thủng thế ḱm kẹp của địch ở xă thôn, tạo điều kiện cho quần chúng phấn khởi nổi dậy diệt ác, phá ḱm, giành quyền làm chủ. Tiêu biểu có tấm gương xuất sắc của các chiến sĩ Phạm Thị Đào, Vơ Thị Huy, Nguyễn Thị Phúc (được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân), Nguyễn Thị Lang, Nguyễn Minh Thành, Vơ Nhâm, Huỳnh Khỏe…
Trong hoạt động Xuân-Hè1970, ta đă diệt 11.000 tên địch (có 7.000 tên thuộc diện ḱm kẹp), so với Xuân-Hè 1969 có nhiều mặt nhảy vọt: số địch bị loại khỏi ṿng chiến đấu tăng 4 lần, số ác ôn bị diệt tăng 2 lần, số xe cơ giới bị phá hủy tăng 5 lần, số vũ khí thu được tăng 3,5 lần. Bên cạnh những thành tích về mặt quân sự, phong trào quần chúng buớc đầu vượt qua những khó khăn, thử thách, được phát động trên diện rộng với 53 xă và 250.000 lượt người tham gia đấu tranh giành quyền làm chủ, đưa dân số vùng làm chủ của ta lên 90.000 với 61 thôn.
Với thắng lợi này, quân dân B́nh Định bước đầu phá vỡ một số mắt xích chủ yếu trong hệ thống kiềm kẹp của địch ở đồng bằng. Thực lực cách mạng được kiện toàn, củng cố, qua rèn luyện thử thách đă xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, đồng thời phát triển được một đội ngũ Đảng viên trung kiên làm ṇng cốt cho phong trào. Toàn tỉnh có 5.371 đảng viên (tăng 397 người so với năm 1968); các tổ chức đoàn thể quần chúng cũng được quan tâm phát triển, kết nạp 800 đoàn viên thanh niên, 3.800 hội viên Thanh niên giải phóng, 5.000 hội viên Phụ nữ giải phóng, 2.500 hội viên Nông hội. Vận động nhân dân đóng góp cho cách mạng hơn 300 tấn gạo, 2,7 triệu đồng, huy động hàng vạn ngày công tham gia phục vụ chiến trường. Đây là thắng lợi to lớn và khá toàn diện trên cả 3 vùng, đă đẩy lùi một bước kế hoạch “b́nh định nông thôn” của địch.1
Từ giữa năm 1970, sau thất bại của kế hoạch “B́nh định cấp tốc”, Mỹ-ngụy chuyển sang thực hiện kế hoạch“B́nh định đặc biệt”. Tại B́nh Định, chúng huy động một lực lượng lớn gồm 50 đại đội bảo an cùng 285 trung đội dân vệ, cảnh sát dă chiến hỗ trợ cho 70 đoàn “b́nh định” ráo riết thực hiện kế hoạch mới. Trong vùng địch kiểm soát, bộ máy tề ngụy xă thôn được củng cố lại, cưỡng ép nhân dân vào các tổ chức phản động, đẩy mạnh các hoạt động “tam giác chiến”, phát triển lực lượng “phượng hoàng”… ḥng vô hiệu hoá cơ sở hạ tầng cách mạng, khui trục lực lượng ta ra khỏi dân. Có thể nói các hoạt đồng điên cuồng phá hoại của địch đă gây cho ta nhiều tổn thất, trong hai năm 1970-1971, có 1.254 cán bộ, đảng viên hy sinh và bị địch bắt, nhiều cơ sở cách mạng bị địch trấn áp, bắt bớ, ở một số nơi phong trào phải tạm lắng xuống…
Trước t́nh h́nh đó, đầu tháng 7.1970, Tỉnh ủy họp xác định nhiệm vụ trọng tâm của quân và dân địa phương là: Ra sức đánh bại “B́nh định đặc biệt”, diệt kẹp, giành dân. Xây dựng vùng làm chủ đồng bằng và căn cứ miền núi vững mạnh. Ngày 8.5.1970, Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 13 về phát động phong trào thi đua: “Noi gương nối chí Bác Hồ, quyết thắng giặc Mỹ”. Nội dung của chỉ thị nhằm tổng kết phong trào thi đua yêu nước từ tháng 9.1965 đến tháng 5.1970, b́nh chọn những “Con hiếu Bác Hồ, cháu hiếu Bác Hồ”, đồng thời đề ra nhiệm vụ của phong trào thi đua yêu nước đến tháng 9.1971 là góp phần tiêu diệt và làm tan ră nhiều sinh lực địch, đánh bại âm mưu “B́nh định đặc biệt” của địch, giành giữ dân, sản xuất nhiều lương thực, xây dựng thực lực cách mạng… Không chỉ phát động chung chung, chỉ thị c̣n đề ra các nội dung thi đua cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng, lực lượng:
- Đối với lực lượng vũ trang là ra sức thi đua đánh giặc giỏi, đạt hiệu suất chiến đấu cao.
- Đối với các đoàn thể quần chúng: Nông dân thi đua bám trụ phát triển sản xuất nhiều lương thực; Phụ nữ thi đua 4 đảm đang; thanh niên thi đua thực hiện 5 xung phong, 4 nhất; công nhân, công đoàn thi đua giữ vai tṛ ṇng cốt trong diệt ác phá kềm…
Về tổ chức thực hiện phong trào thi đua được chia làm 3 đợt, lấy những ngày kỷ niệm lớn của đất nước làm tâm điểm:
Đợt 1: Từ tháng 6.1970 đến 9.1970, nhằm lập thành tích kỷ niệm 25 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9.
Đợt 2: Từ tháng 10.1970 đến 2.1971, kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và 41 năm sinh nhật Đảng.
Đợt 3: Từ tháng 3.1971 đến tháng 5.1971, lập thành tích mừng sinh nhật Bác.
Mở đầu cho việc hưởng ứng phong trào thi đua ngay từ đầu tháng 7.1970 đến tháng 10.1970, lực lượng vũ trang tỉnh tiến công địch đều khắp các điạ bàn, lấy trọng tâm là tiêu diệt các chốt điểm: đánh chặn giao thông đoạn quốc lộ từ Phù Cát đi Phù Mỹ, bẻ găy cuộc càn quét của địch lên căn cứ Vĩnh Thạnh, diệt bọn bảo an ở chợ Dinh, đánh bọn Nam Triều Tiên ở Vân Canh, Phước Thành (Tuy Phước), phá hỏng một kho đạn ở G̣ Loi (Hoài Ân)…
Sôi nổi nhất là cuộc đấu tranh của hàng vạn học sinh và nhân dân Quy Nhơn từ ngày 7 đến 10.12.1970, phản đối lính Mỹ giết hại em Nguyễn Văn Minh, 12 tuổi học sinh lớp 6 trường trung học tư thục Tây Sơn (nay là trường Tiểu học Đống Đa). Cơ sở hợp pháp của ta đă kịp thời vận động hơn 4 vạn người xuống đường đấu tranh, khiêng xác em Minh tuần hành trên các đường phố, đoàn biểu t́nh với khí thế sôi sục hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc Mỹ xâm lược”, “Lính Mỹ phải cút khỏi Quy Nhơn và cút ngay về nước”, phản đối ngụy quyền dung túng giết hại trẻ em vô tội, đ̣i bồi thường nhân mạng… quần chúng bao vây, đập phá 3 nhà có lính Mỹ ở, lật đốt hơn 10 xe Mỹ, cướp súng đánh trọng thương nhiều tên quân cảnh và lính Mỹ, sau đó kéo đến bao vây toà hành chính tỉnh, buộc tỉnh trưởng Nguyễn Minh Hùng phải trực tiếp giải quyết những yêu sách của nhân dân. Trước áp lực của phong trào quần chúng, tư lệnh quân khu II ngụy phải tức tốc bay vào Sài G̣n thỉnh cầu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có biện pháp đối phó. Đại sứ Mỹ, Bân-cơ phải phái tướng Abram, trưởng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam ra Quy Nhơn dàn xếp.
Vụ em Nguyễn Văn Minh và cuộc đấu tranh của học sinh, quần chúng Quy Nhơn có tiếng vang rất lớn, gây xúc động mạnh, thu hút sự chú ư của đông đảo nhân dân địa phương và các tỉnh thành miền Nam, nhận được sự đồng t́nh ủng hộ, tạo nên làn sóng phản đối Mỹ ở khắp nơi. Đây là cuộc đấu tranh chính trị kết hợp bạo lực của quần chúng cĩ quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, có sức công phá và lan toả mạnh mẽ, diễn ra ngay trong ḷng đô thị có cơ quan đầu năo của địch, nơi mà địch vẫn xem là an toàn nhất đă bị rung chuyển, mở ra khả năng đưa phong trào cách mạng ở đô thị tiến lên một bước mới.
Qua phong trào thi đua yêu nước năm 1970, lực lượng 3 thứ quân trong tỉnh đă loại khỏi ṿng chiến đấu 24.000 tên địch, đặc biệt đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi thu hút 420.000 lượt quần chúng tham gia vào 665 cuộc nổi dậy diệt ác, phá ḱm, nhổ chốt, phá khu dồn..
Để kịp thời động viên, cổ vũ phong trào đồng thời rút kinh nghiệm và nhân rộng các gương điển h́nh, cuối năm 1970, Tỉnh ủy tổ chức tổng kết phong trào chiến tranh du kích và Đại hội chiến sĩ thi đua toàn tỉnh. Đại hội đă b́nh chọn tiểu đoàn 405, Đ10, Đ30, 508 là những đơn vị xuất sắc1. Trong lực lượng du kích có các điển h́nh như: Đinh Răng, dân tộc Bana Vĩnh Thạnh, diệt 83 tên địch, Cao Vinh du kích xă Mỹ Thắng diệt 60 tên địch (trong một trận đánh tại thôn Tám, anh đă tiêu diệt được 25 tên Mỹ), nữ chiến sĩ vận tải Đặng Thị Xuân Phương, chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Thị Tài và hàng trăm tấm gương tiêu biểu khác là h́nh ảnh sinh động của tinh thần yêu nước, ư chí tiến công của quân và dân B́nh Định trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước hào hùng.
Đầu năm 1971, ḥng cứu văn t́nh thế sa lầy và thất bại trên các chiến trường, địch tập trung mở cuộc hành quân chiến lược tại đường 9 Nam Lào với tham vọng phá hoại căn cứ cách mạng của ta, cắt đứt tuyến đường ṃn Hồ Chí Minh, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam.
Sư đoàn 22 ngụy đang đứng chân trên địa bàn B́nh Định cũng được điều động lên vùng 3 biên giới, tạo ra cơ hội thuận lợi cho phong trào cách mạng trong tỉnh tiến công vào chương tŕnh “b́nh định” của địch.
Tỉnh ủy chủ trương mở chiến dịch Xuân-Hè 1971, chỉ đạo thực hiện 5 phong trào: chống b́nh định; chống đôn quân bắt lính; đẩy mạnh chiến tranh du kích; đẩy mạnh phong trào thị trấn thị xă; xây dựng vùng giải phóng, tiếp tục cuộc vận động tổ chức cơ sở xă thôn. Toàn tỉnh chia làm 6 mảng, trọng điểm là Hoài Nhơn, Phù Mỹ, đông bắc Phù Cát.
Khởi động cho chiến dịch Xuân-Hè 1971, ở phía nam, trung đoàn 12 ra quân giành thắng lợi gịn giă pháo kích cấp tập vào sân bay quân sự G̣ Quánh, diệt 112 tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật; phục kích trên tuyến đường huyết mạch 19 phá huỷ 25 xe cơ giới, diệt 60 tên lính Nam Triều Tiên; tiến công diệt chốt Vạn Định, Tân Ốc, Vạn Phú ( Mỹ Lộc).
Đánh xoá sổ hai chốt điểm G̣ Hiệu, G̣ Dế (Hoài Ân), các chốt điểm ở thị trấn Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Cát, Đập Đá bị lực lượng huyện và du kích liên tục quấy rối . Trong tháng 3.1971, hàng loạt chốt điểm khác bị tiêu diệt ở Quy Thuận (Hoài Nhơn), Trung Thứ, Cầu Cương, G̣ Lang, hội đồng xă Mỹ Chánh (Phù Mỹ). Hiệp đồng với tiếng súng diệt chốt điểm, tiếng mơ tre, thanh la nổi lên ở khắp các xă thôn đồng bằng uy hiếp áp đảo mạnh mẽ bọn tề nguỵ, khiến chúng phải nếm trải những giờ phút hăi hùng thật sự .
Từ ngày 12 đến 18.2.1971, hơn 40.000 lượt đồng bào Quy Nhơn cuồn cuộn xuống đường đấu tranh chống bắt lính, đôn quân, chống đưa quân ngụy tham gia xâm lược 2 nước bạn Lào và Campuchia, đ̣i trả chồng con bị bắt đưa ra trận làm bia đỡ đạn cho Mỹ, đ̣i bồi thường thiệt hại cho thương phế binh, cô nhi quả phụ, đ̣i rút hết quân Mỹ và chư hầu Nam Triều Tiên về nước, chấm dứt chiến tranh... Quần chúng liên tục bao vây dinh tỉnh trưởng, toà hành chính, chiếm lĩnh khu sĩ quan Mỹ ở Gành Ráng, đánh bị thương 4 tên Mỹ và Nam Triều Tiên, phá hủy 30 xe cơ giới và nhiều trang thiết bị phương tiện chiến tranh. Cùng lúc này có hàng trăm binh sĩ ngụy bị thương trên các mặt trận ồ ạt đổ về Quy Nhơn, nguyền rủa, đánh nhau với lính Mỹ và cảnh sát, đập phá cưỡng bức gây nên t́nh trạng rối loạn trong thị xă.
Cùng với Quy Nhơn, hơn 4.100 lượt quần chúng tại các thị trấn Đập Đá, B́nh Định (An Nhơn, Phú Phong (Tây Sơn) nổi dậy đánh 13 lính Mỹ, phá hỏng 2 xe quân sự.
Giữa tháng 3.1971, sau 32 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đă đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-ngụy, bẻ găy xương sống của cái gọi là cuộc thử nghiệm lớn nhất của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của địch. Tin chiến thắng từ mặt trận đường 9 Nam Lào dội về làm nức ḷng nhân dân B́nh Định, có tác động cổ vũ tích cực đến cục diện chiến trường ở đây. Lực lượng vũ trang ta mở đợt hoạt động Hè (28.3 đến 25.6.1971, dồn dập tấn công các chốt điểm ở khu vực đông và tây Phù Mỹ, các huyện Hoài Ân, Phù Cát, B́nh Khê, Vĩnh Thạnh và nhiều nơi khác trong tỉnh.
Các lực lượng 3 mũi giáp công của Phù Mỹ nhân cơ hội chủ lực địch bị bộ đội chủ lực bao vây kèm chặt trên Quốc lộ 1, tấn công san bằng chốt G̣ Cớ (Mỹ Đức) do một đại đội lính bảo an án ngữ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy bức rút và bức hàng 12 chốt điểm khác. Thừa thắng hơn 2000 đồng bào các xă Mỹ Hiệp, Mỹ Chánh, Mỹ Thắng, Mỹ Đức, Mỹ Thành trang bị gậy gộc, giáo mác kết hợp với bộ đội và du kích nổi dậy phá ră hàng loạt “Ấp chiến lược” khu dồn.
Ở Hoài Nhơn, nhân dân các xă Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Hảo, Tam Quan, Hoài Thanh được lực lượng vũ trang hỗ trợ phá khu dồn Thiện Đức, Nhuận An, Thiện Chánh, bao vây bức rút các chốt điểm Núi Bé, Lộ Diêu, Quy Thuận, tổng cộng ta diệt 8 chốt, bức rút 28 chốt điểm, giải phóng gần 1 vạn dân.
Nhân dân các xă Cát Hanh (Phù Cát) cùng du kích nổi dậy phá tan khu dồn Vĩnh Kiên, Khánh Lộc, Khánh Phước, phối hợp với quân chủ lực diệt một đại đội bảo an ở Tân Hoá, chặn đánh quân cứu viện tại Chánh An diệt 29 tên, bắt sống hai tên Nam Triều Tiên.
Ở An Nhơn, đồng bào Nhơn Mỹ dùng mưu tước súng một trung đội dân vệ, đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh chính trị, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của hàng trăm quần chúng kéo dài 15 ngày bao vây sân bay G̣ Quánh đ̣i bồi thường thiệt hại, đ̣i quân Mỹ, Nam Triều Tiên rút về nước.
Ở vùng ven Quy Nhơn, du kích xă Phước Hậu (nay là Nhơn Phú, Nhơn B́nh) tiến công trụ sở xă giữa ban ngày, diệt và làm bị thương 25 tên tề điệp ác ôn. Tại Tuy Phước, ta diệt chốt Phước Long, bức rút 4 chốt khác, quần chúng nổi dậy phá ră 2 trung đội ngụy.
Nhân ngày Phật đản (9.5.1971), hàng vạn đồng bào Quy Nhơn và các thị trấn trong tỉnh xuống đường đ̣i quân Mỹ và chư hầu rút về nước, đ̣i Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận các giải pháp chính trị của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đưa ra tại hội nghị Paris.
Sáu tháng đầu năm 1971, quân và dân B́nh Định đă loại khỏi ṿng chiến đấu 10.600 tên địch, có 116.000 lượt quần chúng nổi dậy bao vây buộc địch phải bức hàng, bức rút, san bằng 96 chốt điểm. Trên 389.500 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị công khai hợp php, làm công tác binh vận đă vận động được 3.000 lính đào ră ngũ.1
Những tháng cuối năm 1971, cục diện chiến trường miền Nam tiếp tục diễn biến có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Ở B́nh Định từ 30.7 đến 18.8.1971, toàn bộ quân chiến đấu Mỹ rút khỏi địa bàn, chỉ c̣n lại 1 tiểu đoàn chuyên môn kỹ thuật, 1 đại đội công binh, quân số lính các loại của địch có 53.820 tên đóng tại 60 chốt điểm, chuyển sang kế hoạch “B́nh định trọng điểm mới”. Bên cạnh các hoạt động quân sự, địch tăng cường các hoạt động chiến tranh tâm lư, tung gián điệp, t́nh báo, bọn chiêu hồi, chiêu hàng vào vùng ta, đôn quân bắt lính thay cho lính Mỹ và chư hầu Nam Triều Tiên.
Để đối phó với âm mưu của địch, quân và dân B́nh Định triển khai đợt hoạt động từ ngày 25.8 đến tháng 10.1971, ta đánh 484 trận, loại 2.868 tên địch, đánh ch́m 1 tàu trọng tải hơn 10.000 tấn, vùng lỏng kẹp tăng lên 70.000 dân. Có hơn 52.000 quần chúng nổi dậy, 78.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị.
Nhận định về sự mất ổn định của hệ thống quản lư hành chính ở miền Nam Việt Nam, tờ Diễn đàn thông tin quốc tế của Mỹ số ra ngày 19.9.1971 viết: “tỉnh B́nh Định là một chiến lũy của cộng sản. Đứng về góc độ “b́nh định” t́nh h́nh tỉnh này xếp vào hàng 44 trong số 44 tỉnh ở miền Nam Việt Nam”.1 Tướng Pon-van, trưởng đoàn cố vấn Mỹ tại quân khu II ngụy, kẻ vạch ra và chỉ huy kế hoạch “B́nh định nước rút” và “B́nh định trọng điểm mới”, sau khi thị sát t́nh h́nh thực hiện kế hoạch tại B́nh Định đă than phiền về sự rệu ră của quân ngụy: “Hàng vạn quân địa phương của chính phủ Việt Nam ở tỉnh này đă bất lực. Nó là lực lượng kém cỏi nhất tôi chưa từng thấy trong 9 năm sống ở Việt Nam” (theo UPI ngày 16.9.1971) .2
Thắng lợi của năm 1971 trên mặt trận B́nh Định đă góp phần làm thất bại kế hoạch “B́nh định nông thôn”, xương sống của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, tiêu diệt và làm tổn thất nhiều sinh lực địch. Với thành tích đó, quân và dân B́nh Định được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng thưởng 67 Huân chương các loại, trong đó có 3 Huân chương Thành đồng hạng Nhất và hạng Nh́.
T́nh h́nh phong trào cách mạng mở ra những triển vọng mới, lực lượng quần chúng nổi dậy nhiều nơi đă làm lỏng thế ḱm kẹp của địch. Chúng ta liên tục tiến công địch, so sánh lực lượng và tinh thần chiến đấu ngày càng có lợi cho ta, ta đang thế thắng, thế tiến công; c̣n địch đang ở thế thua, thế bị động, chúng đang có dấu hiệu sụp đổ, tan ră. Đó là những thuận lợi cơ bản để tiến hành cuộc tiến công chiến lược Xuân-Hè 1972.
3. Chiến dịch tiến công Xuân-Hè 1972
Từ sau chiến thắng đường 9 Nam Lào, cục diện chung trên chiến trường phát triển theo chiều hướng có lợi cho ta. Song đế quốc Mỹ vẫn t́m mọi cách kéo dài cuộc chiến tranh, hội nghị Paris về Việt Nam v́ thế vẫn dẫm chân tại chỗ.
Để giành thắng lợi quân sự có ư nghiă quyết định, từ đó buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho ta ở Hội nghị Paris, Đảng ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972.
Trong chiến dịch Xuân-Hè 1972, theo kế hoạch chung của toàn chiến trường khu V, mặt trận B́nh Định được chia thành hai trọng điểm: trọng điểm phiá Bắc tỉnh gồm 7 xă phiá bắc Phù Mỹ và hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, chủ yếu là huyện Hoài Ân. Trọng điểm phiá nam gồm các xă nam Phù Mỹ và các huyện Phù Cát, An Nhơn, B́nh Khê, Tuy Phước, chủ yếu là Đập Đá và đông Tuy Phước. Từng trọng điểm h́nh thành tổ chức chiến dịch tổng hợp, phát huy sức mạnh cao nhất của lực lượng chủ lực và địa phương, thực hiện tiêu diệt địch, giải phóng nông thôn và đồng bằng.
Công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương. Đảng ủy mặt trận B́nh Định, Hội đồng cung cấp tiền phương các huyện phía bắc và Ban chỉ huy tiền phương khu vực trọng điểm phiá nam được thành lập. Nhiều lớp tập huấn, nhiều đợt sinh hoạt chính trị được tổ chức cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, tư tưởng tiến công cách mạng “nói thắng làm tới” được phát động rộng răi. Ta đ vận động hơn 1.500 thanh niên bổ sung cho các lực lượng vũ trang địa phương và sư đoàn 3 chủ lực. Lực lượng quần chúng đấu tranh chính trị và khởi nghĩa vũ trang 4 huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát với 40.000 người được tổ chức thành 102 tiểu đoàn và 101 đại đội1.
Bên cạnh việc củng cố lực lượng, công tác hậu cần cũng được chú trọng, đă vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm cho mặt trận bằng “chiến dịch gạo”, quần chúng tham gia tải đạn, dự trữ lương thực, mở 70km đường giao thông phục vụ cho công tác hành quân, vận chuyển nhu yếu phẩm đạn dược bằng xe cơ giới và xe thồ từ Kim Sơn đi Kông Hà Nừng, Long Ḥa - Cây Muối, Bồng Sơn - Hóc Đèn.
Để áp đảo quân địch, tạo thế và lực trước khi bước vào chiến dịch Xuân-Hè 1972, ta tổ chức đánh địch ở nhiều nơi: Ở Phù Mỹ, các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện trong 3 tháng đầu năm 1972 đă đánh hơn 50 trận, loại gần 2.500 tên địch; quần chúng nhân dân nổi dậy chống “b́nh định” quyết liệt, nhất là các thủ đoạn “tam giác chiến” giành quyền làm chủ thêm 5 thôn với 500 dân. Cùng thời gian, ở Tuy Phước, Quy Nhơn, ta đánh 32 trận, loại 150 tên địch. Đặc biệt, vào ngày 8.1.1972, một tổ gồm 5 đoàn viên hợp pháp của chi đoàn Trần Văn Ơn đă dũng cảm ném lựu đạn vào một nhóm quan chức cấp tỉnh và thị xă đang dự cuộc lửa trại tại sân vận động Quy Nhơn, diệt tại chỗ tên trung tá phó tỉnh trưởng, 7 tên quan chức đứng đầu các ngành quan trọng của tỉnh và làm bị thương nhiều tên khác trong đó có cả tên tỉnh trưởng. Sự kiện này có tiếng vang lớn không chỉ ở trong tỉnh mà c̣n lan ra toàn khu, gây hoang mang dao động trong hàng ngũ địch, tên chỉ huy cảnh sát B́nh Định bị cách chức. Với thắng lợi này chi đoàn Trần Văn Ơn được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Hai.
Về đấu tranh chính trị, nổi bật có cuộc đấu tranh của 5 vạn lượt đồng bào Hoài Ân, Hoài Nhơn, bắc Phù Mỹ kéo dài trong suốt 7 ngày liền (8 đến 14.3.1972) nhằm phản đối việc một Phật tử (cũng là cơ sở hợp pháp của ta ở Hoài Ân) bị địch giết hại, đông đảo quần chúng kéo tới bao vây quận lỵ Bồng Sơn đ̣i ngụy quyền địa phương phải giải quyết các yêu sách của dân. Cuộc đấu tranh này diễn ra quyết liệt và nhận được sự ủng hộ của nhân dân, học sinh, sinh viên từ các địa phương bạn như Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngăi, Sài G̣n… Khẩu hiệu của cuộc đấu tranh là đ̣i địch phải bồi thường thích đáng cho gia đ́nh nạn nhân, trừng trị bọn ác ôn giết người, chấm dứt các hành động bắt bớ, khủng bố bừa băi, không trả thù những người tham gia đấu tranh, để đồng bào tự do đi lại làm ăn, trở về làng cũ. Quận lỵ Bồng Sơn ch́m trong làn sóng đấu tranh sôi sục của quần chúng, chi cảnh sát bị đập phá, đường giao thông từ xă Hoài Tân đến trung tâm quận lỵ bị tắc nghẽn. Hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng địch buộc phải xuống nước, dở tṛ xoa dịu bằng h́nh thức cách chức chi trưởng cảnh sát Nguyễn Ngọc Xuân và tống giam một số tên cảnh sát khác.1
Nhân cơ hội địch đang hoang mang, lúng túng t́m cách đối phó với cuộc đấu tranh ở Bồng Sơn, các cơ sở công nhân lao động đẩy mạnh các hoạt động trong ḷng đô thị nhằm phối hợp và hỗ trợ cho phong trào ở các huyện phiá bắc. Nhiều nơi đồng bào phối hợp với bộ đội và du kích bao vây, bức hàng, bức rút đồn bốt, diệt ác ôn, tề điệp thu hàng trăm súng các loại. Đặc biệt là tinh thần kiên cường của nhân dân thôn Hưng Thạnh thuộc vùng ven Quy Nhơn đă bẻ găy nhiều âm mưu thủ đoạn tấn công của kẻ thù, đóng góp sức người, sức của nuôi dấu che chở cán bộ chiến sĩ, làm cầu nối - bàn đạp cho các lực lượng của ta vào hoạt động tại nội thị.
Những cuộc đấu tranh nói trên đă, tạo thế, tạo đà cho phong trào đấu tranh của nhân dân toàn tỉnh bùng lên mănh liệt trong Xuân-Hè 1972.
Rạng ngày 9.4.1972, ta điểm hỏa trận G̣ Loi (Hoài Ân) mở đầu cho chiến dịch, sau 20 phút chiến đấu quyết liệt, lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh đă kiêu hănh tung bay trên nóc lô cốt ba tầng của địch. Cùng đêm, các lực lượng ta tiêu diệt 6 chốt điểm xung quanh. G̣ Loi bị mất, mở toang cánh cửa ở phía tây-nam. Trong các ngày 10 và 11.4.1972, địch liên tiếp mở các đợt phản kích ḥng chiếm lại các chốt điểm vừa bị mất, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt giữa ta và địch, lực lượng ta phải giằng co giữ từng quả đồi, hang đá. Ta xoá sổ 4 đại đội bảo an... (BT).
Ngày 14.4.1972, lực lượng ta tiến công chi khu quân sự Tam Quan và căn cứ Đệ Đức, sở chỉ huy của trung đoàn 40 ngụy. Trong các ngày 17, 18, sáng 19.4.1972, bộ đội ta tiếp tục đánh vào vùng ngoại vi và sào huyệt quận lỵ Hoài Ân và trưa 19.4 giải phóng toàn huyện Hoài Ân với hơn 30.000 dân. Đây là huyện đồng bằng trung du đầu tiên của Khu V được giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cũng là một trong những huyện của chiến trường miền Nam được giải phóng hoàn toàn trong chiến dịch Xuân-Hè 1972. Một tuần lễ sau khi quận lỵ được giải phóng Đại tướng Vơ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương đă gửi điện khen ngợi thành tích xuất sắc của Sư đoàn 3 Sao vàng và quân dân tỉnh B́nh Định. Từ đây Hoài Ân thực sự trở thành căn cứ và bàn đạp tiến công cuả ta trên chiến trường B́nh Định và Khu V trong những năm tiếp theo.
Sau chiến thắng vang dội ở Hoài Ân, ta tiếp tục chia cắt lực lượng địch ở Bồng Sơn và Phù Mỹ tạo điều kiện để sáng 25.4.1972, các cánh quân đồng loạt tiến công 25 mục tiêu của địch từ Đèo Nhông ra đến nam Bồng Sơn, bao vây căn cứ địch ở B́nh Dương, trận địa pháo Đèo Nhông, tiêu diệt các chốt từ Mỹ Thọ ra Mỹ Thắng lên Mỹ Đức, giải phóng hoàn toàn 7 xă phiá bắc huyện Phù Mỹ, vùng chiếm đóng của địch ở B́nh Định bị chia cắt làm đôi.
Thời cơ giải phóng huyện Hoài Nhơn đă điểm, ngày 29.4, ta nổ súng tấn công và giải phóng quận lỵ Bồng Sơn. Tin chiến thắng Bồng Sơn lan nhanh khắp các vùng trong huyện, như phản ứng dây chuyền trong các ngày 27, 28.4.1972, hàng vạn đồng bào các xă Hoài Hảo, Hoài Châu, Hoài Hương, Hoài Thanh, Hoài Mỹ… được lực lượng vũ trang hỗ trợ nổi dậy tiêu diệt 13 chốt, bức rút, bức hàng 62 chốt điểm khác. Bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng huyện và nhân dân các xă phiá bắc tiến công cứ điểm đồi 10 và chi khu quân sự Tam Quan, cắt đường rút lui tháo chạy của địch ra Quảng Ngăi và ngày 2.5.1972 giải phóng hơn 110.000 dân huyện Hoài Nhơn.
Suốt 24 ngày đêm từ 8.4 đến 2.5.1972 tiến công và nổi dậy dồn dập của lực lượng vũ trang và nhân dân các huyện phía bắc, đă giải phóng một vùng liên hoàn rộng lớn gồm 3 huyện An Lăo, Hoài Ân, Hoài Nhơn và 7 xă phiá bắc huyện Phù Mỹ với diện tích 2.000 km2 và hơn 200.000 dân.
Thắng lợi của quân và dân bắc B́nh Định trong chiến dịch Xuân- Hè 1972 có ư nghiă quan trọng, giải phóng một địa bàn trọng yếu, làm tan ră nguỵ quân và hệ thống ngụy quyền tại các địa phương này, là điển h́nh của sự kết hợp giữa sức mạnh tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích với khí thế nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng nhân dân, xứng đáng là ngọn cờ đầu của cả miền Nam trong chiến dịch.
Đồng thời với những chiến thắng của mặt trận phía bắc, vùng trọng điểm phía nam tỉnh cũng giành được những thành tích đáng khích lệ. Từ 12.4.1972, quân và dân 4 huyện phía nam và thành phố Quy Nhơn đồng loạt nổ súng mở màn chiến dịch Xuân- Hè 1972.
Ở Phù Cát, lực lượng ta tiến công và nổi dậy giành quyền làm chủ 25 thôn của các xă: Cát Hanh, Cát Tài, Cát Minh, Cát Trinh, Cát Nhơn. Ngày 20.4, trước sức tiến công của ta, địch ở chi khu quận lỵ Vĩnh Thạnh rút chạy. Thừa thắng, B́nh Khê nổi dậy giải phóng hoàn toàn 25 thôn thuộc 5 xă; An Nhơn giải phóng 6 xă, Tuy Phước làm chủ 25 thơn thuộc 5 xă. Ở Quy Nhơn, tiểu đoàn 50 của tỉnh tập kích đồn bảo an Núi Một, Cầu Đôi, tiếp đó, đại đội đặc công nước 598 đă đánh ch́m một tàu thủy trọng tải 10.000 tấn tại cảng Quy Nhơn…
Ngày 7.6.1972, ta tấn công sở chỉ huy quận lỵ An Nhơn, diệt một tiểu đoàn và một đại đội bảo an, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn bảo an khác, làm chủ thị trấn Đập Đá trong 3 ngày. Chiến thắng Đập Đá vừa là chiến thắng lớn của quân dân các huyện phiá nam nói riêng vừa là thành tích nổi bật của quân và dân B́nh Định nói chung trong “mùa hè 1972 đỏ lửa”.
Như vậy, cho đến cuối chiến dịch, ta đă tiêu diệt và làm tan ră hơn 20.000 tên địch, giải phóng hoàn toàn 4 huyện An Lăo, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, Hoài Nhơn, 10 xă của huyện Phù Mỹ, 18 xă và 25 thôn của các huyện phiá nam với 270.000 dân, nếu kể cả dân ở vùng làm chủ th́ con số này lên đến 330.000 người.
Thắng lợi gịn giă cuả chiến dịch được Thường vụ Tỉnh ủy khẳng định là: “thắng lợi có ư nghiă chiến lược quan trọng, ta đă đánh bại về cơ bản chương tŕnh “b́nh định nông thôn” của địch ở địa phương, góp phần đánh bại thêm một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của địch.1
Chính báo chí Mỹ cũng phải thừa nhận sự thất bại nặng nề trên chiến trường B́nh Định, ngày 26.4.1972, hăng thông tấn AP đă b́nh luận “Những thành tích phải trải qua một quá tŕnh khó khăn mới đạt được của quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên và quân Nam Việt ở các tỉnh nằm giữa miền Trung gần 1 triệu dân này đă bị bóp vụn” .
Thua đau trong chiến dịch Xuân-Hè 1972, địch đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, nhưng với bản chất ngoan cố hiếu chiến, Mỹ-ngụy vẫn tiếp tục tiến sâu, sa lầy hơn nữa vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tập đoàn cầm quyền đứng đầu là Ních-xơn huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá hậu phương miền Bắc lần thứ hai với quy mô và mức độ khốc liệt mang tính chất hủy diệt. Ở miền Nam, Mỹ tăng viện trợ, hà hơi tiếp sức cho chính quyền Sài G̣n, tăng cường đôn quân bắt lính để bổ sung cho số bị thương vong trong chiến dịch Xuân-Hè 1972.
Tại B́nh Định, địch huy động một lực lượng lớn với đủ các quân binh chủng có pháo binh, không quân, hạm đội Mỹ yểm trợ mở hàng loạt các cuộc phản kích vào các huyện phía bắc vừa được ta giải phóng. Từ ngày 1 đến 14.7.1972, địch ồ ạt đưa quân đánh chiếm lại hầu hết các xă nằm trên trục hành lang Quốc lộ 1 từ B́nh Dương đến đèo Phủ Cũ, nống lấn đến Bồng Sơn (17.7), Tam Quan (23.7). Ở các huyện phía nam từ tháng 7 đến tháng 10.1972, địch dồn sức tái chiếm hầu hết các xă vùng đông bắc B́nh Khê, tây và đông An Nhơn, Phù Cát, đông bắc Tuy Phước và các xă phía tây vùng ven thị xă Quy Nhơn.
Trước t́nh h́nh địch phản kích tái chiếm ào ạt với mức độ và quy mô khốc liệt, ngày 7.7.1972, Thường vụ Tỉnh ủy chủ trương tổ chức đánh địch phản kích, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng, vùng làm chủ, đồng thời mở chiến dịch ma Thu 1972 .
Quân và dân trong tỉnh đă kiên cường đánh trả các đợt phản kích của địch đồng thời tiếp tục tiến công vào các mục tiêu chiếm giữ của chúng. Từ giữa tháng 7 đến đầu tháng 8.1972, bộ đội chủ lực tỉnh và lực lượng huyện Phù Cát, Tuy Phước đánh hàng chục mục tiêu, diệt 7 đại đội, 4 trung đội bảo an, dân vệ. Đặc công tỉnh và biệt động Quy Nhơn tiến công địch dồn dập ở Khu 2, Khu 6, cầu Đôi, Hưng Thạnh, đường Quang Trung, kho quân vụ Khu 1, đánh ch́m 3 sà lan tại cảng Quy Nhơn…
Ở phiá bắc, Sư đoàn 3 cùng quân dân các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn đẩy lùi nhiều đợt phản kích, tái chiếm của địch. Đặc biệt đă bẻ găy 9 đợt phản kích ác liệt của địch ḥng tái chiếm quận lỵ Hoài Ân, giữ vững vùng giải phóng của huyện này cho đến ngày chiến thắng mùa xuân 1975.
Trải qua 4 năm đấu tranh anh dũng (1969-1972) chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, quân và dân B́nh Định càng được tôi luyện qua thử thách khắc nghiệt và trưởng thành về mọi mặt, liên tục tấn công địch giành thắng lợi to lớn trên các mặt trận: vũ trang, chính trị và binh vận, kinh tế; tập hợp đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng góp phần đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn v kế hoạch “B́nh định nông thôn” của địch.
Sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được phát huy cao độ ở cả 3 vùng miền núi, đồng bằng và đô thị. Đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương và quần chúng tại chỗ để giải phóng từng bộ phận, từng mảng tiến tới giải phóng một vùng liên hoàn rộng lớn gồm 4 huyện phía bắc trong năm 1972.
Thắng lợi của 4 năm, mà đỉnh cao là chiến dịch Xuân-Hè 1972 của quân và dân B́nh Định góp phần tạo ra cục điện mới, động lực mới cùng với toàn miền tiếp tục tiến công, đánh bại làm hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ-ngụy, buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom phá hoại miền Bắc (31.12.1972) và kư Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà b́nh ở Việt Nam ( 27.1.1973).
2 Phạm Văn Bạch và Nguyễn Thành Vĩnh, Tội ác xâm lược thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, NXB. Sự Thật, 1976, tr. 54, 56.
1 Phạm Văn Bạch và Nguyễn Thành Vĩnh, Tội ác xâm lược thực dân mới cuả Mỹ ở miền Nam, NXB. Sự Thật, 1976, tr. 54, 56.
2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 176.
3 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 245-246
1 Báo cáo công đoàn 6 tháng đầu năm 1969, lịch sử công đoàn và phong trào CNLĐ B́nh Định từ 1930 đến 1975, 1992, tr. 137
1 Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác (19.5.1990), TW Đảng chính thức công bố Bác từ trần vào lúc 9h 45’ ngày 2.9.1969.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 183.
1 Báo cáo của trung tâm điều hợp b́nh định và xây dựng Sài G̣n gửi cho Phủ tổng thống ngụy. Lịch sử Đảng bộ B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 185
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 191.
1 Tổng kết chiến tranh du kích trên chiến trường B́nh Định 1970, tài liệu lưu Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 205.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 208.
2 Dẫn theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 208.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 215-216
1 Lịch sử phong trào công nhân và hoạt động công đoàn B́nh Định (1930-1975), tr. 158.
1 Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy tháng 8.1972.