V. TẤN CÔNG NỔI DẬY GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (1973 - 1975)
1. Chống “b́nh định” lấn chiếm
Ngày 29.3.1973, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài G̣n làm lễ cuốn cờ, rút đơn vị cuối cùng của quân viễn chinh Mỹ ra khỏi miền Nam. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục duy tŕ học thuyết Ních-xơn, ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu bám giữ khu vực Đông Dương và Đông Nam Á.
Hiệp định Paris về Việt Nam kư chưa ráo mực, Mỹ và ngụy quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu đă t́m mọi cách phá hoại, chúng tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, lấy “B́nh định lấn chiếm” làm biện pháp chủ yếu nhằm duy tŕ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta.
Tại B́nh Định, từ cuối năm 1972 đến khi Hiệp định có hiệu lực (28.1.1973), địch tập trung khoảng 60% binh lực hiện có của địa phương (khoảng 41.000 tên) gồm một sư đoàn cộng hoà, 2 liên đoàn biệt động, 16D bảo an, 25 đại đội, 56 trung đội bảo an, biệt kích… ồ ạt mở chiến dịch “tràn ngập lănh thổ” đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng và làm chủ của ta ở bắc Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Cát Hanh (Phù Cát) đồng thời ra sức giải toả giao thông trên Quốc lộ 1, tập trung vào các đoạn nam - bắc Tam Quan, bắc Bồng Sơn đến chợ Gồm (Phù Cát).
Để cung cấp chi phí cho chiến tranh, bù đắp vào các khoản viện trợ của Mỹ bị cắt giảm, chúng tăng các khoản thuế và đặt thêm nhiều loại thuế mới như thuế dịch vụ, thuế nhập thị, thuế chỗ ngồi, thuế trường tư thục... trong khi đó, nhiều cơ sở kinh tế của Mỹ phải đóng cửa, các ngành kinh tế phục vụ cho bộ máy chiến tranh của Mỹ bị ngưng hoạt động sau khi Mỹ rút quân về nước, hơn 50% xí nghiệp vừa và nhỏ bị đóng cửa. Các loại hàng giá tăng vọt, đồng tiền trong hai năm 1973-1974 giảm giá hơn 16 lần. 50% công nhân lao động bị thất nghiệp, 30% học sinh bị bỏ học, các tệ nạn xă hội như trộm cắp, trấn lột, mại dâm... tràn lan khắp nơi.
Năm 1973, B́nh Định phải nhập hơn 5.550 tấn gạo, đời sống của nhân dân vô cùng khốn khổ. Đó là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh trong thời kỳ này có quy mô lớn và quyết liệt hơn.
Tuy Hiệp định Paris đă có hiệu lực nhưng trên thực tế nhân dân B́nh Định chưa được hưởng một ngày hoà b́nh mà lại phải tiếp tục bước vào một cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài. Trước những âm mưu mới của địch. Trong thời gian từ ngày15.1 đến 16.3.1973, Thường vụ Tỉnh ủy có chủ trương: “Dùng du kích hợp pháp và bất hợp pháp tại chỗ diệt bọn ác ôn, bọn chiến tranh tâm lư, lực lượng huyện tập kích đánh sâu vào bọn chỉ huy càn quét, diệt bọn đầu sỏ”1 với quyết tâm chung là đẩy mạnh 3 mũi giáp công, kiên quyết chống địch “lấn chiếm và b́nh định” bảo vệ từng tấc đất của vùng giải phóng.
Ở phía Bắc, lực lượng ta đă chiến đấu quyết liệt làm thất bại cuộc hành quân phản kích nhằm chiếm lại quận lỵ Hoài Ân của địch (từ ngày 5 đến 10.1.1973) và nhiều đợt tấn công lấn chiếm vào xă Hoài Hương, Hoài Mỹ (Hoài Nhơn), khu vực đông và nam Bồng Sơn.
Ở phía nam, ta đánh bật hàng chục đợt phản kích trên quy mô lớn hơn 4 tiểu đoàn của địch vào chiến khu Cát Minh, Cát Khánh (Phù Cát) ḥng thực hiện ư đồ phá hành lang đông- tây của ta. Qun ta liên tiếp bẻ găy nhiều cuộc hành quân lấn chiếm tại các xă Mỹ Tài, Mỹ Lợi, Mỹ Đức, Mỹ Chánh (Phù Mỹ), Cát Khánh, Cát Chánh, Cát Tài (Phù Cát), các xă đông bắc B́nh Khê… Ngày 6.2.1973, tiểu đoàn 50 phục kích diệt 1 đại đội biệt động khu vực Đề Gi, Chánh Lợi, chặn đánh địch phản kích, diệt 116 tên. Ngày 11.4, lực lượng vũ trang địa phương diệt một đại đội thám báo tại khu vực phía bắc Phù Mỹ. Ngày 22.5, tiểu đoàn 50 đánh địch lấn chiếm vào Vạn Ninh (Mỹ Tài), diệt 37 tên.
Tiểu đoàn 53 bộ đội huyện và du kích Hoài Nhơn liên tục đánh địch phản kích nống lấn ở các vùng ven Quốc lộ 1, trận đánh chốt điểm cao 200 (núi Lại Khánh) - một chốt điểm then chốt trong tuyến pḥng thủ Hoài Ân diễn ra quyết liệt trong suốt tháng 4.1973.
Trong 6 tháng đầu năm 1973, lực lượng vũ trang tỉnh đă đánh hơn 1.000 trận, loại gần 6.000 tên địch, diệt 2 đại đội và 32 trung đội, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn bộ binh, 9 đại đội và 14 trung đội, phá hủy 130 xe quân sự. Tiêu biểu cho tinh thần kiên cường bám trụ, đánh địch nống lấn là các đơn vị tiểu đoàn 50, 53,55, 405, công binh 2, lực lượng vũ trang huyện Hoài Nhơn, Phù Cát, B́nh Khê…
Cùng với hoạt động quân sự, trong quư I năm 1973, có hơn 30.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị đ̣i địch thực hiện các quyền tự do, dân chủ theo tinh thần của Hiệp định Paris. Đồng bào Quy Nhơn đấu tranh đ̣i giải quyết việc làm, chống thu thuế thu nhập, chống 10 điều luật phán xử và lệnh giới nghiêm. Hơn 200 đồng bào phường Trung Cảng bao vây cơ quan ngụy quyền cơ sở chống bắt lính, chống thành lập nhân dân tự vệ và pḥng vệ dân sự. Hàng ngàn đồng bào ở các khu dồn Phú Dơng (Cát Khánh), Hoà Hội (Cát Hanh), Trà Thung (Phù Mỹ), Long Mỹ và Phú Tài (Tuy Phước) đấu tranh đ̣i về làng cũ.
Trong dịp lễ Phật đản, hơn 30.000 lượt quần chúng và tín đồ Phật giáo ở An Nhơn xuống đường biểu t́nh, công khai bàn luận về hiệp định Paris, về chính sách hoà hợp dân tộc của Mặt trận, tố cáo tội ác của địch gây ra ở các huyện phía bắc tỉnh. Hơn 14.000 đồng bào Hoài Nhơn bao vây chốt điểm địch ở đồi 10, ga Chương Hoà (Hoài Châu), chiếm lĩnh các đoạn đường số 1 ở Mỹ Lộc - An Thái (Tam Quan Bắc). Khoảng 8.000 nhân dân Phù Mỹ cùng bộ đội chiếm lĩnh đường số 1 tại các đoạn Vạn An, B́nh Dương, Mỹ Hiệp…
Mặc dù đă có sự chuẩn bị và bước đầu đánh bật nhiều cuộc hành quân nống lấn nhưng ở một số địa phương ta chưa đánh giá và nhận thức đầy đủ âm mưu, tính chất nham hiểm, quyết liệt của địch khi bước vào giai đoạn mới, trong một bộ phận cán bộ chiến sĩ và nhân dân nảy sinh tư tưởng lo lắng, bi quan, hoà b́nh chủ nghiă, ngại gây căng thẳng, ngại chiến tranh trở lại, giảm sút ư chí chiến đấu… V́ thế địch đă lợi dụng tấn công lấn chiếm một số vùng giải phóng, chúng công khai tuyên bố phá hoại Hiệp định, đưa ra khẩu hiệu “4 không”: không có ḥa b́nh, không có ngừng bắn, không có giải pháp chính trị, không có tổng tuyển cử; tăng cường bắt lính đôn quân, kiểm soát dân chúng gắt gao, cấm tự do làm ăn… thêm vào đó là vật giá leo thang, thuế má nặng nề khiến cho đời sống của nhân dân rất khó khăn.
Đầu tháng 7.1973, Tỉnh ủy họp mở rộng nhằm quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về phương hướng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam. Hội nghị Khu ủy khu V (tháng 7.1973) đề ra nhiệm vụ cụ thể và nhấn mạnh “Địch đánh phá lấn chiếm vùng ta, th́ ta kiên quyết phản công và tiến công lại” đồng thời xác định nhiệm vụ trọng tâm lúc này là “ra sức đánh bại b́nh định lấn chiếm của địch, giành dân, giữ dân, mở rộng quyền làm chủ, phát triển thực lực ta. Hướng tấn công chủ yếu là nhằm vào vùng tranh chấp và vùng địch tạm chiếm”
Ngày 15.8.1973, cùng với toàn miền, quân và dân B́nh Định mở đợt hoạt động Thu. Trong ṿng 40 ngày (15.8 đến 25.9.1973), lực lượng 3 thứ quân chiến đấu và loại hơn 1.500 tên địch, diệt 4 đại đội và 14 trung đội. Nổi bật là quân và dân bắc Hoài Nhơn cùng với trung đoàn 12 của Sư đoàn 3 kiên cường bẻ găy hàng chục cuộc phản kích lấn chiếm của trung đoàn 41, 47, thuộc sư đoàn 22 cộng hoà, liên đoàn biệt động số 4 và thiết đoàn 14, loại gần 1.000 tên địch, giữ vững vùng giải phóng ở phía tây bắc Hoài Nhơn. Đây cũng là đ̣n trừng trị cảnh cáo đanh thép vào âm mưu lấn chiếm phá hoại hiệp định đ́nh chiến của Mỹ-ngụy.
Tại Phù Cát, những tháng cuối năm 1973, địch đẩy mạnh những cuộc hành quân cảnh sát, sử dụng bọn biệt kích “thần xà” vo vùng của ta ở Cát Thắng, Cát Chánh, Cát Hiệp và Cát Sơn, nhưng chúng đă bị trừng trị đích đáng. Trong tháng 9.1973, lực lượng vũ trang Phù Cát đánh 23 trận vào các chốt điểm, loại hơn 150 tên địch, trong đó có 30 tề xă và cảnh sát ác ôn. Đặc biệt, du kích Cát Hanh liên tiếp tiến công địch, là một trong 5 xă được tỉnh tuyên dương là ngọn cờ đầu đánh giặc giỏi năm 1973. Du kích Cát Chánh chặn đánh diệt gọn một trung đội hơn 30 tên “thần xà” thiện chiến của địch đă gây nhiều nợ máu với nhân dân.1
Ở Tuy Phước, ngày 6.9.1973, đặc công 598 và Đ30 cùng bộ đội Tuy Phước tiến công các chốt điểm ở Lạc Điền (Phước Thắng), An Hoà (Phước Quang), Phổ Trạch (Phước Thuận) diệt một đại đội bảo an và 2 trung đội nghĩa quân, riêng trận đánh ngày 20.9.1973 tại Thanh Quang (Phước Thắng) diệt được 43 tên.
Ở An Nhơn, ngày 27.9.1973, tiểu đoàn 50 tập kích trụ sở xă Nhơn An, diệt 2 trung đội dân vệ và thanh niên chiến đấu, 60 tên ác ôn. Tiếp đó, ngày 22.10.1973, một đại đội của tiểu đoàn 50 diệt một trung đội dân vệ ở Nhơn Phong .
Như vậy trong năm 1973, trên mặt trận đấu tranh vũ trang ta đă tiêu diệt 16.308 tên địch, thế trận chuyển biến từ chỗ chống địch phản kích nống lấn đến chủ động tiến công tiêu diệt các chốt điểm, làm thất bại nhiều cuộc hành quân lớn của địch.
Song song với đấu tranh vũ trang, mặt trận đấu tranh chính trị, binh vận, ngoại giao cũng thu được những kết quả khả quan, ta mở được 5 đợt động viên chính trị lớn thu hút 971.615 lượt cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân tham gia. Hơn 178.000 lượt người kéo đến bao vây, biểu t́nh tại các chốt điểm, căn cứ quân sự, thị trấn, quận lỵ buộc địch phải cưú chữa cho 116 người bị thương, trả tự do cho 847 người bị chúng bắt giam. Vận động 225.000 lượt người, trong đó có 130.000 lượt người nhà binh sĩ, nhân viên ngụy quyền tham gia công tác binh vận, vận động làm ră ngũ 34 trung đội .
Bất chấp việc địch tăng cường đánh phá và “b́nh định”, đến cuối năm 1973, ta vẫn giữ được 17 xă và 100 thôn ở đồng bằng với 76.890 dân; vùng làm chủ với 41.000 dân, vùng tranh chấp 4 xă, 22 thôn với 100.000 dân. Tổng số dân ta nắm lên đến 217.890 người, chiếm 30% dân số toàn tỉnh .
Công tác xây dựng vùng giải phóng có nhiều tiến bộ vượt bậc. Ở đồng bằng, bà con nông dân đă gieo cấy 43.890 mẫu lúa, khai hoang phục hoá 3.388 mẫu. Ở miền núi, bước đầu xây dựng được 221 tổ đổi công và hợp tác xă với 5.560 nhân khẩu. Tổ chức thu mua 4.730 tấn gạo tương đương 8.675.000 đồng (BT). Rút 2.300 thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang, huy động 356.729 lượt nhân công phục vụ chiến trường. Duy tŕ 605 lớp cấp I, cấp II với 17.106 học sinh, mở 192 lớp b́nh dân học vụ bổ túc văn hoá tập trung, tại chức cho 3.525 học viên. Các đoàn thể giải phóng có hơn 42.563 hội, đoàn viên tham gia.
Như vậy, tính đến cuối năm 1973, về cơ bản ta đă đánh bại kế hoạch “tràn ngập lănh thổ” và làm thất bại một bước quan trọng âm mưu b́nh định lấn chiếm của địch , giữ vững vùng giải phóng của ta.
Bước sang năm 1974, số nguỵ quân ở B́nh Định có khoảng 48.000 tên, tăng 7.000 so với 1973. Địch tiếp tục đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng đồng thời tăng cường đàn áp, kiểm soát gắt gao vùng chúng chiếm giữ, phá hoại các hành lang vận chuyển, liên lạc của ta, tung gián điệp biệt kích và pháo kích vào những nơi chúng nghi ngờ có các cơ quan và bộ đội đóng quân, đẩy mạnh chiến tranh tâm lư, chiêu hồi. Các huyện phía bắc vẫn được xem là trọng điểm nống lấn, b́nh định.
Ngày 28.1.1974, Tỉnh ủy họp bàn thực hiện chủ trương của Thường vụ Khu ủy và các biện pháp thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (6 đến 12.11.1973), hội nghị xác định: tập trung sức chuẩn bị chiến dịch tổng hợp Hè-Thu, trong Xuân chỉ mở hoạt động đệm giữ thế chiến trường và tạo đà cho chiến dịch H- Thu.
Trong quư I năm 1974, quân và dân toàn tỉnh đánh 343 trận, loại khỏi ṿng chiến đấu 2.296 tên, trong đó, bộ đội địa phương diệt 1.340 tên. Nổi bật có một số trận như trận bộ đội đặc công nước 598 đánh ch́m một tàu trọng tải 10.000 tấn ở cảng Quy Nhơn (22.3.1974); đại đội 1 bộ đội huyện Phù Cát diệt gọn một trung đội dân vệ ở Cát Nhơn; Đ30 đặc công diệt hai trung đội bảo an ở bán đảo Phương Mai (đêm 29.3.1974).
Về đấu tranh chính trị, hơn 19.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh trực diện chống khủng bố, đàn áp tại các vùng địch kiểm soát và vùng tranh chấp. Ở Quy Nhơn cơ sở ta tổ chức vận động 4.750 thương phế binh và cô nhi quả phụ kéo đến dinh tỉnh trưởng đ̣i cung cấp gạo và nhu yếu phẩm . Hơn 156.800 quần chúng vùng ta và vùng tranh chấp được học tập chủ trương của Mặt trận và thư của Ủy ban nhân dân Cách mạng và Mặt trận dân tộc giải phóng gửi đồng bào nhân dịp đầu năm mới 1974. Quần chúng tham gia binh vận làm ră ngũ 5 trung đội ngụy quân, tấn phát 37.200 truyền đơn, thư tranh thủ, giấy thông hành cho binh lính và tề ngụy.
Phong trào ở các huyện phía nam tỉnh cũng có nhiều chuyển biến, có hơn 13.528 dân các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát, B́nh Khê trở về làng cũ sản xuất, xoá bỏ dần t́nh trạng trắng đất, trắng dân. Các địa phương này xây dựng được 1.209 cơ sở sản xuất, kết nạp 121 đảng viên, 118 đoàn viên, 190 du kích mật.
Nh́n chung, trong thời gian này, ta bẻ gẫy nhiều cuộc hành quân nống lấn của địch trên nhiều địa bàn, nhất là ở Hoài Nhơn đồng thời tổ chức tấn công khá đa dạng, biến hoá vào các sào huyệt của địch, đánh giao thông trên đường 19, đánh ch́m tàu ở bến cảng, đánh xe cơ giới ngay trên các băi xuất phát của chúng, chủ động diệt ác ôn trong vùng địch kiểm soát, vùng kẹp… gây cho địch nhiều tổn thất. Đấu tranh chính trị, binh vận tuy c̣n lẻ tẻ, quy mô không lớn nhưng vẫn duy tŕ được tính liên tục, hướng quần chúng vào các mục tiêu dân sinh, dân chủ, đ̣i hoà b́nh. Công tác xây dựng vùng giải phóng đạt kết quả tương đối toàn diện, nhất là vấn đề khôi phục, phát triển sản xuất, vận động nhân dân tham gia các hoạt động chính trị, lao động công ích với khí thế phấn khởi sôi nổi .
Ngày 27.3.1974, Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị mở rộng, đánh giá t́nh h́nh địch, ta và bàn biện pháp mở chiến dịch tổng hợp Hè-Thu. Hội nghị chủ trương: Về quân sự, bộ đội chủ lực mở khu chiến Nam và Bắc tỉnh, trọng điểm là bắc Phù Mỹ, nam Hoài Nhơn, kéo dăn lực lượng cơ động địch để tiêu diệt và tiêu hao, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy; Lực lượng vũ trang tỉnh tập trung vào khu chiến trọng điểm nam Phù Mỹ, bắc Phù Cát, các khu vực khác làm nhiệm vụ phối hợp, căng kéo địch tạo điều kiện cho chủ lực cơ động chiến dịch. Tại các thị trấn, thị xă và vùng địch kiểm soát đẩy mạnh đấu tranh chính trị gây rối hậu phương địch. Đồng bào du kích vùng giải phóng vừa phục vụ chiến dịch vừa sẵn sàng chiến đấu chống địch phản kích lấn chiếm vùng ta.1
Đêm 14 rạng ngày 15.5.1974, lực lượng địa phương phối hợp với quân chủ lực tiến công các chốt Hoà Mỹ (B́nh Thuận), Trà Sơn (B́nh An) và các ấp chiến lược, khu dồn tây sân bay G̣ Quánh. Các đơn vị chủ lực pháo kích mănh liệt vào sân bay, các trận địa pháo và chi khu B́nh Khê.
Bị tiến công dồn dập ở phía nam, địch buộc phải điều động một số đơn vị của liên đoàn biệt động số 4 đang đánh phá, lấn chiếm ở bắc Hoài Nhơn vào đối phó. Thừa cơ địch dăn đội h́nh, đêm 20 sáng 21.5.1974, một bộ phận cuả sư đoàn 3 cùng quân dân Hoài Nhơn đồng loạt tiến công và nổi dậy, diệt và bức rút một loạt chốt đóng trái phép từ Cự Tài Đông (Hoài Hảo) đến đồi 10 (Hoài Châu), đồng thời đánh ép địch ở chi khu Tam Quan, căn cứ Đệ Đức, uy hiếp mạnh đường số 1 từ Tam Quan đến B́nh Đê (giáp Quảng Ngăi). Hơn 10.000 lượt đồng bào bao vây, binh vận phá khu dồn Giao Hội (Hoài Tân) và kéo vào thị trấn Bồng Sơn. Tuyến pḥng thủ phía bắc Hoài Nhơn đă bị quân và dân ta chọc thủng.
Cùng với Hoài Nhơn, đêm 18.5.1974, tại trọng điểm tiến công nổi dậy đông nam Phù Mỹ, bắc Phù Cát, bộ đội tỉnh cùng quân dân Phù Mỹ tiến công diệt các chốt G̣ Dông (Mỹ Tài), Đồi Tranh, Trung Thứ (Mỹ Chánh). Hơn 8.000 đồng bào Mỹ Tài, Mỹ Chánh nổi dậy phá banh khu dồn G̣ Rộng và Vạn Ninh, 5 ấp chiến lược và san bằng các chốt điểm của địch.
Đêm 25.5, tiểu đoàn 55 tiến công trụ sở bọn ngụy quyền xă Mỹ Chánh diệt một đại đội bảo an và một trung đội dân vệ. Trong các ngày 27, 28.5 tiểu đoàn 50 và Đ10 đặc công cùng bộ đội huyện Phù Cát, du kích Cát Tài tiến công phá chốt Hoà Hiệp, Thái Thuận, sau đó diệt 3 trung đội từ Cát Hanh xuống tiếp ứng. Đến 30.5.1974, ta giải phóng liên vùng 5 xă Mỹ Chánh, Mỹ Tài, Mỹ Cát, Cát Tài, Cát Minh thuộc đông nam Phù Mỹ - bắc Phù Cát với 22.000 dân.
Sức tiến công dồn dập của ta đặt địch vào t́nh trạng bất ổn. Từ ngy 2.6 đến đầu tháng 7.1974, chúng điều động một lực lượng lớn mở đợt phản kích, giải toả lấn chiếm, nhưng một lần nữa lại bị quân và dân ta đánh thiệt hại nặng trên nhiều mặt trận.
Trong các ngày 26 đến 30.7.1974, ta tiến công cứ điểm Trực Đạo và Núi Nùng phá tuyến pḥng thủ hơn 10 km trên đường quốc lộ, đánh địch giải toả khu chiến bắc Phù Mỹ; hỗ trợ quần chúng nổi dậy bao vây 7 chốt ở Hoài Nhơn. Lực lượng vũ trang Phù Cát, Phù Mỹ tiến công cao điểm 338, chốt Gành (Cát Minh), chốt Phước Thung (Mỹ Phong), chốt Phú Ninh (Mỹ Lợi), phá khu dồn Chợ Gồm - Hoà Hội, khu dồn Đại Thuận (Mỹ Hiệp) và một số mục tiêu khác ở Cát Tài, Mỹ Cát, Mỹ Chánh, giải phóng xă Cát Khánh. Riêng ở B́nh Khê, toàn bộ lực lượng địch ở 18 thôn thuộc 5 xă phía đông bắc huyện rút chạy.
Bằng sức mạnh tổng hợp trong năm 1974, lực lượng 3 thứ quân ở B́nh Định đánh 2.286 trận, loại khỏi ṿng chiến đấu 18.199 tên địch, trong đó có 13.135 tên chết, bị thương 4.536 tên. Riêng trong chiến dịch Hè-Thu, ta đánh 444 trận, loại khỏi ṿng chiến đấu 5.002 tên, trong đó chết 3.780 tên, bị thương 957 tên, diệt 27 chốt điểm và vị trí trài. Bộ đội tỉnh đánh 123 trận, loại 1.601 tên; bộ đội huyện đánh 86 trận, loại 792 tên địch; du kích đánh 169 trận, loại 186 tên.1 Quần chúng tham gia nổi dậy bức rút, bức hàng 57 chốt và 27 vị trí trài, riêng chiến dịch Hè-Thu bức rút 31 chốt, phá bung 17 khu dồn dân, giải phóng hơn 24.820 dân khỏi ách ḱm kẹp.2
Cuối năm 1974, ta cắt giảm được 50% tổng số dân vùng nông thôn toàn tỉnh (530.000 dân)3
Âm mưu càn quét nống lấn của địch bị chặn đứng, buộc chúng phải lâm vào t́nh thế pḥng giữ, pḥng vệ đối phó. Chủ lực địch tập trung khá đông (sư 22 và 2 liên đoàn biệt động), mở các cuộc hành quân vào các khu chiến của ta nhưng đều bị đánh thiệt hại nặng; địa phương và phụ quân co cụm, nếu không có sự hỗ trợ của chủ lực th́ không đủ sức chống đỡ nổi các đ̣n tấn công của ta.
Đồng thời với tiến công quân sự, ta đă vận động hơn 500.000 lượt quần chúng, trong đó có 80.000 lượt quần chúng là người nhà binh sĩ ngụy tham gia đấu tranh chính trị kéo vào các quận lỵ, thị trấn, thị xă, quân y viện tố cáo tội ác của địch, chống hối lộ tham nhũng, chống bắt lính, đôn quân, tuyên truyền tin chiến thắng. Đặc biệt, tại thị xă Quy Nhơn các thương phế binh, cô nhi quả phụ, ngư dân, lao động, học sinh đấu tranh đ̣i cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm, giải quyết công ăn việc làm… kết quả buộc địch phải cứu chữa cho 100 người bị thương, bồi thường trên 2 triệu đồng, trả tự do cho 500 người bị bắt giam. Song song với đấu tranh vũ trang và chính trị, công tác binh vận khá phát triển, trong năm đă tấn phát 141.000 truyền đơn, thông lệnh, giấy thông hành, vận động đào ră ngũ 1.120 tên, 200 binh lính phản chiến bằng cách tự làm tàn phế thân thể ḿnh.
Thông qua thử thách của đấu tranh cách mạng, ta đă phát triển được 603 đảng viên mới, 959 cơ sở hợp pháp trong vùng địch, vận động 680 đoàn viên thanh niên thoát ly tham gia lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, khu và hơn 2.000 thanh niên vào du kích xă thôn. Xây dựng được đội ngũ 1.235 du kích xă, 2.475 du kích thôn, 220 du kích mật; phát triển 2110 đội viên phụ nữ, toàn tỉnh có 22.215 hội viên; phát triển 2.517 hội viên nông dân, nâng tổng số toàn tỉnh lên 14.147 hội viên, có 336 tổ đổi công với 9.783 tổ viên; phát triển thêm 778 đoàn viên công đoàn, nâng tổng số đoàn viên lên 4.192 với 329 cơ sở .
Lực lượng thanh niên xung phong và dân công làm được 38,5 km đường ô tô với 219.246 ngày công, 19 cầu, vận chuyển 3.705 tấn hàng phục vụ chiến đấu. Đă phát động phong trào thi đua “quyết tiến, quyết thắng” và nhiều đợt thi đua giành thắng lợi ở tiền tuyến, và xây dựng vùng giải phĩng. Trong năm 1974, tỉnh được Khu ủy Khu 5 khen tặng 2 Huân chương Giải phóng và 231 đơn vị và cá nhân được tỉnh khen v́ có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu.
Với thắng lợi năm 1974 mà trọng tâm là chiến dịch Hè-Thu, quân dân B́nh Định đă đánh bại về căn bản âm mưu và thủ đoạn đánh phá lấn chiếm “b́nh định” của Mỹ-ngụy ở địa phương, tạo nên những tiền đề cơ sở cần thiết về vật chất và tinh thần, sẵn sàng cùng quân dân toàn miền bước vào chiến dịch mùa xuân lịch sử 1975.
2. Tiến công và nổi dậy giải phóng quê hương
Trước những thắng lợi dồn dập to lớn trên khắp các chiến trường miền Nam trong năm 1974 tạo nên những thay đổi căn bản về chất cục diện chiến tranh, trong hai cuộc họp vào tháng 10.1974 và đầu tháng 1.1975, sau khi phân tích t́nh h́nh địch, ta, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975-1976… tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghiă, tiêu diệt và làm tan ră ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam…”, Bộ Chính trị c̣n dự kiến phát triển t́nh h́nh và chuẩn bị một phương hướng quan trọng “dự kiến giải phóng miền Nam trong năm 1975”.
Chấp hành quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định tập trung lực lượng chủ lực mạnh để mở chiến dịch tấn công với quy mô lớn lấy trận đánh mở màn vào Buôn Mê Thuột làm then chốt, giải phóng các tỉnh Tây Nguyên sau đó phát triển xuống các tỉnh duyên hải Phú Yên, Khánh Ḥa.
Căn cứ vào chủ trương của Bộ Chính trị và Khu ủy 5, Tỉnh ủy B́nh Định xác định: “Nhiệm vụ Xuân-Hè1975 là sử dụng toàn bộ lực lượng 3 thứ quân kết hợp với lực lượng chính trị mở chiến dịch tiến công tổng hợp xuân hè 1975 nhằm:
- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phương tiện chiến tranh, phá vỡ một bộ phận hệ thống pḥng ngự cơ bản và ḱm kẹp, đánh bại một bước cơ bản kế hoạch “b́nh định”, lấn chiếm của địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn đồng bằng, đẩy mạnh vùng tranh chấp lên sát Quốc lộ 1, đường 19, ven quận lỵ, thị xă.
- Khẩn trương phát triển thực lực chính trị, vũ trang, nhất là ở cơ sở vùng ven thị xă, giữ vững vùng giải phóng phiá bắc, thu hồi và đưa lên giải phóng hoàn chỉnh, chuyển phong trào thành thị lên một bước mới.
- Phối hợp với chiến trường Quân khu và sự chi viện, căng kéo địch của lực lượng trên, tranh thủ thời cơ thuận lợi đẩy mạnh tốc độ tiến công toàn diện, đều khắp.
- Hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh, kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, thực hiện 3 mũi giáp công, bức hàng, bức rút, phá lỏng kẹp, giải tán ngụy quyền, thành lập chính quyền tự quản.
- Phương châm tác chiến là: táo bạo, vững chắc, đánh phải thắng, diệt gọn, tốc độ nhanh, chất lượng cao, thương vong thấp, tiêu thụ đạn ít, càng đánh càng mạnh, đạt hiệu suất cao”.1
Để triển khai chiến dịch, ta chủ trương lấy điạ bàn nam Phù Cát, đông An Nhơn, đông bắc Tuy Phước làm trọng điểm 1; đông bắc B́nh Khê, tây An Nhơn là khu vực trọng điểm 2; Khu vực phối hợp là Hoài Nhơn, Phù Mỹ, nam Tuy Phước và Vân Canh. Bằng mọi giá phải chia cắt được đường huyết mạch chiến lược 19 trước khi quân chủ lực ta mở chiến dịch Tây Nguyên.
Đúng 5 giờ 35 pht ngày 4.3.1975, tiểu đoàn 19 công binh đánh sập cầu 12 (Cầu Dài), các đơn vị của Sư đoàn 3 đồng loạt nổ súng tiến công hàng chục chốt điểm của địch ở nam, bắc đường 19, từ lăng Mai Xuân Thưởng lên đèo Thượng Giang, Truông Ổi, Tiên Thuận (B́nh Giang - B́nh Khê) mở đầu chiến dịch xuân 1975 trên chiến trường B́nh Định, đồng thời cũng là của chiến trường Khu 5.
Thừa thắng, từ ngày 4.3.1975, lực lượng của ta tấn công tiêu diệt các cụm cứ điểm của địch trên tuyến đường 19, khu trọng điểm đông bắc B́nh Khê, tây An Nhơn, giải phóng một mảng liên hoàn 6 xă (B́nh Ḥa, B́nh An, B́nh Tân, Nhơn Phúc, Nhơn Mỹ và Nhơn Khánh). Tại khu trọng điểm nam Phù Cát, đông An Nhơn, Đông Tuy Phước ta giải phóng 5 xă (Cát Tường, Cát Nhơn, Cát Thắng, Nhơn An, Nhơn Phong); cắt đứt tuyến đường giao thông Quốc lộ 1 và 19, bao vây, cô lập địch ở quận lỵ, thị trấn, thị xă. Bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của địch từ quận xuống các xă thôn rệu ră, hoang mang, dao động rất mạnh. Khí thế quần chúng nhân dân dâng cao, tích cực hưởng ứng, phối hợp với lực lượng vũ trang của tỉnh, huyện và du kích bao vây bức rút hàng trăm chốt địch.
Giữa lúc này, tin chiến thắng từ khắp các chiến trường Buôn Ma Thuột, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngăi dội về càng thúc giục tinh thần yêu nước của quân dân B́nh Định tiến lên “Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, chớp lấy thời cơ thuận lợi, giải phóng quê hương .
Chiều ngày 24.3.1975, Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy Mặt trận tỉnh B́nh Định họp, quyết định phát động phong trào tiến công và nổi dậy đồng loạt giải phóng nông thôn, đẩy mạnh công kích và khởi nghĩa thị xă, đánh đổ toàn bộ quân địch giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng toàn tỉnh với khẩu hiệu hành động “xă giải phóng xă, huyện giải phóng huyện”.1
Chấp hành mệnh lệnh “Tổng tiến công, tổng khởi nghĩa”, quân dân khắp các huyện trong tỉnh đă nhất tề vùng lên, tiến công như vũ bo, hoàn thành sứ mệnh lịch sử đồng loạt giải phóng các huyện: Hoài Nhơn (đúng 10h sáng ngày 29.3.1975), Phù Mỹ (8h ngày 31.3), Phù Cát (9h ngày 31.3) B́nh Khê (10h ngày 31.3), An Nhơn (12h ngày 31.3), Tuy Phước (12h30’ ngày 31.3), Vân Canh (15h ngày 31.3.1975).
Diễn biến tiến công giải phóng tỉnh lỵ Quy Nhơn
Ngày 26.3.1975, trước t́nh thế lực lượng ngụy quân ở Quy Nhơn không c̣n sức kháng cự, Thiệu ra lệnh: “Tùy nghi di tản”. Ngày 28.3, ngụy quyền các cơ quan đầu năo của tỉnh tháo chạy vào Nha Trang. Sáng 30.3, địch ra lệnh phá kho đạn Đèo Son và rút khỏi Núi Một. Chớp lấy thời cơ, chiều 30.3, Ban chỉ đạo tiền phương B́nh Định họp quyết định động viên toàn Đảng bộ và quân dân toàn tỉnh xông lên đạp bằng mọi trở lực, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, tổng công kích và nổi dậy, hạ quyết tâm giải phóng Quy Nhơn trong ngày 31.3.1975.
Trung đoàn 93 nhận được lệnh hành quân cấp tốc nhanh chóng chiếm lĩnh địa bàn xă Phước Hậu mở đầu cho tiến công thị xă, tiếp đó đánh chiếm vùng chợ Dinh, khu 5, Núi Một, Cầu Đôi và vào lúc 12h30’ ngày 31.3, chia làm nhiều cánh đánh thẳng vào các vị trí quan trọng của địch ở nội thị.
Tiểu đoàn 52 chiếm cầu Sông Ngang, khóa chặt đường rút chạy của địch ở khu vực Phú Tài tiến vào Quy Nhơn; Tiểu đoàn 50 cùng các đơn vị đặc công Đ20, Đ30 và đại đội 3 Phù Cát tiến xuống khu vực bến xe, công viên, đường Nguyễn Thái Học…
Tiểu đoàn 8 tiến quân theo đường Gia Long (nay là đường Trần Hưng Đạo), tràn xuống khu 4 đến khu vực Nhà thờ Nhọn, triển khai đội h́nh bao vây, tiến công tiêu diệt địch từ hậu cứ sư đoàn 22 cộng ḥa ở An Sơn tháo chạy về Quy Nhơn co cụm lại. Tiểu đoàn trợ chiến 73 nhanh chóng chiếm Núi Một, dùng pháo bắn chi viện kịp thời cho các mũi tiến công của bộ binh đồng thời khống chế địch ở sân bay, quân cảng và hải quân địch.
15 giờ ngày 31.3, đội biệt động thị xă Quy Nhơn xuất kích bất ngờ đánh chiếm ty cảnh sát, phá nhà lao trung tâm giải thoát hơn 1.000 đồng chí, đồng bào bị địch giam giữ; 17 giờ chiếm dinh tỉnh trưởng. Cùng ngày, đơn vị đặc công nước 598 chiếm lĩnh Mũi Tấn, phối hợp với du kích, tự vệ mật phường Trung Cảng hỗ trợ cho tiểu đoàn 8 đánh chiếm quân cảng Quy Nhơn vào lúc 18 giờ.
20 giờ ngày 31.3.1975, đội biệt động thị xă bắt liên lạc, phối hợp với tiểu đoàn 50 chiếm lĩnh và cắm cờ trên tiền sảnh toà hành chính và trung tâm tiểu khu B́nh Định - cơ quan đầu năo chính trị, hành chính, quân sự của ngụy quyền tỉnh, đánh dấu cho sự kiện có ư nghiă lịch sử: Thị xă Quy Nhơn và tỉnh B́nh Định hoàn toàn giải phóng1.
Cho đến 24 giờ ngày 31.3.1975, toàn bộ các chốt điểm, căn cứ, cơ quan, kho tàng của địch ở nội thị đều bị ta chiếm lĩnh.
Khi bộ đội ta từ nhiều hướng tràn vào thị xă, quần chúng đ nổi dậy phối hợp. Hơn 1.000 quần chúng khu 3 chiếm trụ sở ngụy quyền và các kho gạo. Gần 4.000 dân khu 5 chiếm đồn cảnh sát Bạch Đằng. Hơn 2.000 đồng bào khu 1 vận động 2 trung đội dân vệ phối hợp với du kích , tự vệ mật và an ninh vũ trang nhanh chóng truy quét tàn quân và chiếm một số vị trí gần cảng. Tại khu 2, hơn 3.000 quần chúng chiếm trụ sở, hỗ trợ biệt động thị xă chiếm lĩnh dinh tỉnh trưởng, nhà lao, ty công an. Hơn 1.000 công nhân nhà ga, cảng và nhà máy điện Quy Nhơn tham gia chiếm lĩnh các công sở, cơ sở kinh tế quan trọng, kịp thời ngăn ngừa âm mưu phá hủy máy móc, tài sản, góp phần bảo vệ hầu như nguyên vẹn các cơ quan, kho tàng, cơ sở kinh tế trong thị xă.
Trong đêm 31.3.1975, ta vừa nhanh chóng truy bắt tàn quân địch trong thị xă, vừa khẩn trương triển khai kế hoạch sẵn sàng tiêu diệt bọn tàn quân của sư đoàn 22 cộng hoà, thiết đoàn 14, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị bảo an với khoảng 6.000 tên từ các nơi tràn vào Quy Nhơn, liều mạng mở đường máu tháo chạy ra biển. Trận đánh bắt đầu vào trưa 1.4.1975, bộ đội ta phá một nhịp cầu Sông Ngang, buộc địch phải theo đường Lam Sơn lọt vào trận địa mai phục sẵn, quân ta từ các hướng khép chặt ṿng vây, đánh trước, khoá sau, thọc ngang sườn, chia cắt đội h́nh dày đặc hỗn loạn của địch, xung phong chiếm và dùng các xe tăng địch nă đạn vào đội h́nh bộ binh của chúng, bắn cháy hàng chục xe quân sự… Đồng thời, tiểu đoàn trợ chiến 73 và các đơn vị bộ binh khác ngăn chặn, tiêu diệt không cho hải quân địch cho thuyền vào cứu đồng bọn. Trận đánh diễn ra ác liệt trong suốt 4 giờ đồng hồ đă kết liễu số phận sư đoàn “Trấn sơn b́nh hải” nổi danh của địch và đó cũng là những tiếng súng cuối cùng, chấm dứt hơn 20 năm chống Mỹ, cứu nước, chiến đấu ṛng ră kiên cường đầy hy sinh, gian khổ của quân và dân B́nh Định.
Trải qua cuộc chiến đấu một mất một c̣n, ṛng ră hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lâu dài, khốc liệt, hy sinh gian khổ nhưng rất hào hùng, anh dũng. Dưới sự lănh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Tỉnh ủy B́nh Định, quân và dân trong tỉnh đă đoàn kết một ḷng phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, của vùng đất “Địa linh nhân liệt”, thượng vơ, quật khởi, quê hương của vị anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Truyền thống đó tiếp tục được nhân lên và phát huy cao độ trong mọi t́nh huống khó khăn nhất. Quân và dân trong tỉnh đă vượt qua mọi thử thách, chịu dựng mọi ác liệt, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Bác Hồ kính yêu giao phó, góp phần đánh bại các âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt và làm phá sản các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ, kết thúc cuộc kháng chiến thần thánh có một không hai trong lịch sử. Mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và tiến lên chủ nghĩa xă hội.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh truyền thống yêu nước của nhân dân B́nh Định, c̣n thể hiện sự vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân cách mạng của Đảng vào điều kiện cụ thể từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể ở từng địa phương, địa bàn chiến lược, đánh đổ từng đối tượng kẻ thù của cách mạng một cách linh hoạt và sáng tạo. Đồng thời nắm bắt kịp thời t́nh h́nh địch, t́nh h́nh quần chúng nhằm khắc phục những khuyết điểm, lệch lạc, không ngừng củng cố và tăng cường xây dựng lực lượng của cách mạng. Coi trọng công tác giáo dục, vận động, tập hợp, đoàn kết, phát huy trí tuệ của quần chúng trong các cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, binh địch vận, xây dựng hậu phương của cuộc kháng chiến, phục vụ chiến đấu và chi viện cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường B́nh Định, một lần nữa khẳng định sức mạnh to lớn của toàn dân, là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện về quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, xă hội, với tinh thần tự lực, tự cường; đồng thời có sự chi viện, hỗ trợ của Trung ương và các tỉnh lân cận và trong cả nước, đặc biệt là Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh kết nghĩa.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 239.
1 Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930-1975), tr. 201, 202.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 254-255.
1 Tổng kết hoạt động Hè-Thu 1974 (30.4-15.8.1974) của tỉnh B́nh Định.
2 Tổng kết hoạt động Hè-Thu 1974 (30.4-15.8.1974) của tỉnh B́nh Định.
3 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định ( 1954-1975), sđd, tr. 260.
1 B́nh Định lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1930-1975), tr. 442.
1 Lịch sử Đảng Bộ tỉnh B́nh Định (1954-1975), sđd, tr. 274.
1 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), sđd, tr. 322