I. XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI, CUỘC SỐNG MỚI, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ CHUẨN BỊ CUỘC KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI (8.1945 ĐẾN 12.1946)

 

1.Vài nét về t́nh h́nh B́nh Định sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945

          Cách mạng Tháng Tám thành công đă lật nhào ách thống trị của đế quốc, phong kiến, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xă hội. Nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á đă ra đời. Sau hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, lần đầu tiên nhân dân B́nh Định được sống trong một đất nước độc lập, làm chủ quê hương đất nước ḿnh. Giành được chính quyền là thành quả cao nhất của cuộc Cách mạng Tháng Tám. Từ đây, chúng ta có chính quyền để xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Chính v́ vậy, việc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu của nhân dân ta lúc này.

          Cũng giống như cả nước, chính quyền mới ở B́nh Định phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách.

          Hậu quả của nạn đói năm Ất Dậu (1945) do Pháp, Nhật gây ra đă ảnh hưởng đến B́nh Định làm nhiều gia đ́nh thiếu ăn, sản xuất bị đ́nh trệ, hàng hóa trở nên khan hiếm. Cảng Quy Nhơn cũng vắng bóng tàu  thuyền cập bến. Công nhân phần lớn thất nghiệp...Những di hại của một nền văn hóa "giáo dục ngu dân" do thực dân phong kiến để lại rất nặng nề: hơn 90% nhân dân bị mù chữ; các tệ nạn xă hội như cờ bạc, rượu chè, đĩ điếm, trộm cắp, mê tín dị đoan, ma chay cúng tế đă giảm nhiều sau Cách mạng Tháng Tám, song vẫn là những vấn đề cấp bách cần giải quyết.

          Đi liền với những khó khăn về kinh tế - xă hội th́ nạn "Thù trong giặc ngoài" đe dọa nghiêm trọng đến chế độ mới, chính quyền mới trong lúc lực lượng quân sự, khả năng pḥng thủ của ta c̣n yếu. Có thể nói B́nh Định là một địa bàn chiến lược quan trọng, một tỉnh có tiềm lực lớn về nhân tài, vật lực. Ở đây có cảng Quy Nhơn, có đường sắt, đường quốc lộ nối liền Bắc Nam, có đường 19 lên Tây Nguyên và nối liền với Hạ Lào, Đông Bắc Cămpuchia. Do đó, sau khi gây hấn ở Nam Bộ, thực dân Pháp quyết chiếm B́nh Định để có một thế đứng chiến lược ở Trung Đông Dương, chia cắt chiến trường toàn quốc, thu hẹp hậu phương liên khu V. Riêng ở Quy Nhơn, lực lượng quân Nhật c̣n lại 50 tên để giữ nhà băng và liên lạc với quân Nhật ở bên ngoài. Tàu bè của địch thường xuyên lui tới vùng biển Quy Nhơn để thăm ḍ t́nh h́nh và t́m cách bắt liên lạc với bọn phản động1.

          Trên đất liền, bọn phản động ngấm ngầm hoạt động chống phá cách mạng. Chúng xuyên tạc chế độ dân chủ cộng ḥa, nói xấu Cộng sản, Việt Minh và các chủ trương, chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời, đề cao sức mạnh của Đồng minh của thực dân Pháp và các thế lực tay sai của Bảo Đại. Một nhóm người Hoa thân Tưởng tự cho ḿnh là người của phe Đồng minh chiến thắng, nên đă có thái độ quá khích. Họ tổ chức treo cờ, ảnh Tưởng Giới Thạch, cử đại biểu ra Đà Nẵng để chào mừng quân Tưởng. Những hành động quá khích đó đă dẫn đến sự va chạm của người Việt và người Hoa ở một số nơi như Đập Đá, An Thái, Phù  Mỹ... làm cho t́nh h́nh thêm phức tạp.

          B́nh Định là tỉnh có số đông đồng bào theo đạo Thiên chúa. Ở đây, có  toà giám mục và nhiều nhà thờ như Đại chủng viện Quy Nhơn, Tiểu chủng viện Ḷng Sông (Tuy Phước), Nhà gịng Kim Châu (An Nhơn). Nói chung, giáo dân có tinh thần yêu nước, phấn khởi khi nước nhà đă giành được độc lập, hăng hái tham gia vào công cuộc cách mạng; nhưng một số bị bọn lợi dụng tôn giáo lôi kéo, xuyên tạc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc nên dẫn đến lưng chừng, do dự, thậm chí có người bi quan với sự nghiệp cách mạng.

          Đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể tuy hăng hái, nhiệt t́nh cách mạng, nhưng quản lư một chính quyền mới, một xă hội mới là công việc hết sức mới mẻ, chưa có kinh nghiệm, nên không thể tránh khỏi những vấp váp lúng túng, có khi dẫn đến những hành động quá tả hay quá hữu của buổi ban đầu. Trong lúc đó, lực lượng vũ trang c̣n non yếu, phần lớn cán bộ chỉ huy chưa có hiểu biết về quân sự và kinh nghiệm chiến đấu, trang bị thiếu thốn, chỉ có giáo mác, đại đao, mă tấu, một ít súng trường lấy được của Nhật...

          Từ t́nh h́nh thực tế trên, các tổ chức Đảng, cán bộ Đảng viên và nhân dân B́nh Định đứng trước những thử thách nghiêm trọng, tưởng chừng như không vượt qua nổi. Do đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân B́nh Định càng thấm thía câu nói của Lênin: "Giành chính quyền đă khó, song việc giữ chính quyền cách mạng trong thời kỳ non trẻ c̣n khó hơn"1.

          Song, nhân dân B́nh Định có ḷng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, có chính quyền mới, có tổ chức Đảng đă dày dạn trong đấu tranh cách mạng, lại được sự lănh đạo sáng suốt, kịp thời của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, nhân dân được sống trong những ngày độc lập, tự do trên quê hương đất nước ḿnh, đó là những thuận lợi cơ bản, những nhân tố quan trọng để nhân dân B́nh Định vượt qua những khó khăn thử thách.

          Cũng như cả nước, Cách mạng Tháng Tám đă đem lại cho B́nh Định thế và lực mới. Khi thế cách mạng của nhân dân lên cao chưa từng thấy. Chính trong điều kiện đó, Đảng bộ và nhân dân B́nh Định càng ư thức sâu sắc trách nhiệm của ḿnh: ''Già, trẻ, trai, gái, triệu người như một chạy đua với thời gian, ra sức phát triển lực lượng, xây dựng và bảo vệ chế độ mới"2.

          Hơn lúc nào hết, thời gian đối với nhân dân B́nh Định lúc này là lực lượng là điều kiện cần thiết để ứng phó với mọi t́nh thế.

         2. Củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới

          a. Kiện toàn bộ máy chính quyền cách mạng, củng cố cơ sở Đảng, phát triển các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang.

          Để đưa đất nước ra khỏi nguy cơ "ngàn cân treo sợi tóc", sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 25.11.1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị: "Kháng chiến kiến quốc" nêu rơ những nhiệm vụ trước mắt là: "Phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân".

          Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ, đầu tháng 9.1945, Tỉnh ủy lâm thời B́nh Định và Ủy ban Việt Minh, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời đă họp để xem xét t́nh h́nh. Dựa vào 6 nhiệm vụ cấp bách của cả nước do Hồ Chủ tịch đề ra trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3.9.1945, và căn cứ vào thực tế ở địa phương, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ trước mắt của nhân dân B́nh Định là: Nghiêm chỉnh chấp hành các nhiệm vụ của Trung ương đề ra, củng cố chính quyền các cấp, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở để bảo đảm sự lănh đạo của Đảng, phát triển các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động quần chúng trấn áp bọn phản cách mạng, nhanh chóng ổn định t́nh h́nh, cải thiện đời sống nhân dân, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài...1. Đây là những chủ trương quan trọng, vừa đáp ứng t́nh h́nh trước mắt, vừa chuẩn bị đối phó lâu dài với chiến tranh.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải củng cố nhà nước về mặt pháp lư và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.Ngày 22.11.1945, chính phủ ra sắc lệnh tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội, cơ quan lập pháp  của nước Việt Nam  dân chủ cộng ḥa, và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp trong cả nước.

Ngày 23.12.1945, B́nh Định đă tiến hành bầu cử Quốc hội2. Số đại biểu Quốc hội của tỉnh B́nh Định được bầu là 12 vị. Cuộc tổng tuyển cử được tiến hành theo chế độ phổ thông đấu phiếu, không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo, dân tộc, hễ là công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền đi bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân B́nh Định từ thành thị cho đến nông thôn, từ miền núi cho đến miền biển được cầm lá phiếu bầu cử những người đại diện của ḿnh vào cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Không khí cuộc bầu cử như một ngày hội lớn, thể hiện nhân dân thực sự là người làm chủ đất nước. Do vậy, gần 100% số cử tri đă tham gia bầu cử. Tất cả các ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử 100% với số phiếu rất cao.

Để củng cố các đơn vị hành chính, đầu năm 1946, tỉnh B́nh Định tiến hành giải tán cấp tổng, sáp nhập các thôn làng thành xă lớn (Hiệp xă lần thứ nhất) từ 679 thôn làng thành 212 xă3.

Theo quyết định của Quốc hội, tháng 3.1946, B́nh Định tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tháng 6.1946, bầu cử hội đồng nhân dân cấp xă.

Sau các cuộc bầu cử, chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố. Hội đồng nhân dân các cấp đă bầu ra các Ủy ban hành chính thay thế cho các Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời được h́nh thành khi giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Uỷ ban hành chính tỉnh B́nh Định do đồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch.

Theo chính sách đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, thành phần tham gia chính quyền các cấp ngoài những người trung kiên, những cán bộ cách mạng đầy nhiệt huyết, toàn tâm, toàn ư v́ lợi ích của nhân dân, tỉnh đ chủ trương mời một số đại biểu các dân tộc ít người, các nhân sĩ, trí thức, những quan lại cũ yêu nước... vào chính quyền để phát huy sự đóng góp của họ cho chính quyền mới. Riêng ở các xă miền núi, chính quyền đều do những Ca rá, những người có uy tín trong nhân dân đảm nhiệm và do nhân dân bầu công khai.

Cùng với việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước, Tỉnh ủy B́nh Định, Ủy ban hành chính đă chú trọng mở những lớp huấn luyện nhằm bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chính quyền và các đoàn thể để họ nhận rơ t́nh h́nh nhiệm vụ, thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Những việc làm trên, chính quyền các cấp bước đầu được củng cố. Nó thực sự là chính quyền của dân, do dân và v́ dân.

Đi đôi với việc kiện toàn hệ thống chính quyền các cấp, công tác xây dựng Đảng hạt nhân lănh đạo của phong trào cách mạng cũng được chú trọng. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở B́nh Định đă có ban Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Trần Lương làm Bí thư. Tháng 3.1946, đồng chí Trần Quư Hai thay mặt Xứ ủy Trung Kỳ về B́nh Định triệu tập hội nghị để truyền đạt chủ trương về công tác xây dựng Đảng của Xứ ủy. Tại đây, đồng chí đă chỉ đạo lập Tỉnh ủy lâm thời B́nh Định lần thứ ba gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Lê làm Bí thư. Từ đây công tác xây dựng Đảng ngày càng được đẩy mạnh. Tỉnh ủy lâm thời B́nh Định thành lập ban vận động xây dựng Đảng ở các huyện, thành lập những chi bộ đầu tiên. Tháng 6- 1946, cả 7 huyện, thị đều có chi bộ Đảng với tổng số 32 đảng viên. Công tác phát triển Đảng đă xuống sâu tận xă thôn. Cuối năm 1946 đầu năm 1947 (tháng 1), toàn tỉnh đă có 1041 đảng viên với 104 chi bộ, trong đó có 3 chi bộ cơ quan cấp tỉnh, 13 chi bộ cơ quan cấp huyện, hai chi bộ xí nghiệp như chi bộ đồn điền An Trường1 (An Nhơn) và chi bộ xưởng dệt Phú Phong - Delignon. Lần lượt các Huyện ủy chính thức được thành lập. Như vậy, hệ thống tổ chức Đảng trong toàn tỉnh được h́nh thành. Đây là một nỗ lực lớn của Đảng bộ B́nh Định, bảo đảm sự lănh đạo thống nhất của Đảng từ tỉnh đến cơ sở.

Nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân làm chỗ dựa cho Đảng và chính quyền cách mạng, Đảng bộ B́nh Định cũng hết sức chú trọng củng cố và phát triển tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Mặt trận Việt Minh tỉnh được chính thức thành lập vào cuối năm 1945 do đồng chí Trần Lê làm chủ nhiệm. Đây là tổ chức công khai thay mặt Đảng chỉ đạo mọi hoạt động sau ngày giành chính quyền. Chỉ sau một thời gian ngắn, Mặt trận Việt Minh đă phát triển sâu rộng đến các huyện, xă,thành phố. Ở thị xă Quy Nhơn, Mặt trận Việt Minh đă nhanh chóng thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia vào mặt trận.

Mặt trận Việt Minh tỉnh đă ra tờ báo "Tranh đấu" để tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng trong quần chúng. Tháng 6.1946, theo chỉ thị của cấp trên, Tỉnh ủy B́nh Định thành lập "Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam" (gọi tắt là Hội Liên Việt) nhằm tập hợp đoàn kết rộng ri các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo dân tộc để kháng chiến, kiến quốc. Tỉnh ủy B́nh Định c̣n chủ trương thành lập "Hội Hoa - Việt" nhằm động viên những người Hoa tham gia vào phong trào cách mạng và ủng hộ kháng chiến, "Hội Hoa-Việt" được phát triển vào những nơi có nhiều người Hoa sinh sống như ở An Thái, Đập Đá, Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan. Cùng với Mặt trận Việt Minh, các tổ chức đoàn thể quần chúng như: "Công nhân cứu quốc", "Nông dân cứu quốc", "Thanh niên cứu quốc", "Phụ nữ cứu quốc", "Phụ lăo cứu quốc", "Nhi đồng cứu quốc"... cũng nhanh chóng được xây dựng và phát triển. Dưới sự lănh đạo của Tỉnh ủy, các đoàn thể quần chúng nói trên đă lần lượt tổ chức đại hội để bầu ra Ban chấp hành các cấp như Phụ nữ 10.1945, Thanh niên 11.1945, Công nhân 1.1946, Nông dân 2.1946, Liên Việt 6.1946... Nhờ đó, các đoàn thể quần chúng ngày càng lớn mạnh. Hội phụ nữ cứu quốc B́nh Định, từ cuối năm 1945 đầu năm1946 đă được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh từ tỉnh đến cơ sở xă, thôn. Hội đă thành lập "Đội tuyên truyền xung phong" do chị Đinh Thị Ngọc Tảo làm đội trưởng nhằm động viên chị em tham gia vào công cuộc củng cố chính quyền, xây dựng cuộc sống mới. Công nhân cứu quốc B́nh Định đến tháng  8.1946, đổi thành Công đoàn. Liên hiệp Công đoàn B́nh Định lúc bấy giờ do đồng chí Trần Tín, một trong những đại biểu Quốc hội khóa I làm Thư kư...

Để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền, sẵn sàng đối phó với kẻ địch, Tỉnh ủy B́nh Định hết sức coi trọng việc xây dựng các lực lượng vũ trang. Các đội tự vệ được h́nh thành trong Cách mạng Tháng Tám, nay được củng cố và phát triển. Với truyền thống thượng vơ, nhân dân B́nh Định tích cực tham gia vào các đội tự vệ vũ trang. Họ tự sắm sửa vũ khí, hăng hái luyện tập ngày đêm. Lực lượng tự vệ đă được xây dựng khắp các huyện, thành phố và thôn xă. Mỗi huyện có một đại đội tự vệ, mỗi thôn xă có một trung đội. Ở Quy Nhơn thành lập được trung đội thủy quân mang tên là Ngô Quyền với 100 chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ ven biển. Ở các xă ven biển của Phù Cát đă thành lập đội vũ trang ven biển để chống sự xâm nhập của địch từ biển vào. Các xă này đă lập hai đài quan sát ở phía nam và phía bắc núi Bà để làm nhiệm vụ cảnh giới, thông báo kịp thời cho nhân dân biết khi có tàu địch đến1.

Cùng với việc xây dựng lực lượng tự vệ, Tỉnh ủy B́nh Định cũng hết sức quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang tập trung. Đầu 9.1945, tại thành phố Quy Nhơn, chi đội giải phóng quân mang tên Phan Đ́nh Phùng được thành lập. Chi đội do Nguyễn Giáo làm chi đội trưởng gồm 3 phân đội: Nguyễn Huệ, Tăng Bạt Hổ, Mai Xuân Thưởng và một trung đội nữ. Đây là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh B́nh Định được tuyển chọn từ những chiến sĩ của đội tự vệ sắt và tự vệ cứu quốc trước đây. Tháng 5.1946, chi đội Phan Đ́nh Phùng chuyển thành Trung đoàn 95 vệ quốc đoàn của Liên khu 5. Tháng 12.1946, Ban quân sự  tỉnh được thành lập.

Bên cạnh chi đội giải phóng quân, một "Đại đội pḥng thủ" được thành lập gồm hai trung đội nam, và một trung đội nữ  để bảo vệ bờ biển, c̣n gọi là đơn vị "Thủy đội Bạch Đằng".

Vấn đề trang bị và vũ khí của các lực lượng vũ trang chủ yếu là giáo mác, một ít súng trường, tiểu liên lấy được của Nhật.

Để khắc phục t́nh trạng thiếu vũ khí, Tỉnh ủy chủ trương thành lập các xưởng quân giới. Tháng 9.1945, xưởng quân giới Hoàng Hoa Thám ra đời (An Khê), tiếp đến tháng 10.1946 là xưởng Quang Trung (B́nh Ḥa, Hoài Ân). Máy móc dụng cụ, công nhân, cán bộ kỹ thuật của các xưởng này đă được tập hợp từ các cơ sở của Pháp như các cơ xưởng ở Quy Nhơn, xưởng Delignon ở Phú Phong...

Nhiệm vụ của các xưởng quân giới là sửa chữa các loại vũ khí thu được của Nhật, Pháp và sản xuất một số bom, ḿn, dao rựa, lựu đạn, cuốc xẻng... nhằm cung cấp cho bộ đội và dân quân tự vệ. Mỗi cơ xưởng có từ 100 đến 200 công nhân, làm việc suốt ngày đêm. Số vũ khí sản xuất được c̣n chi viện cho quân và dân vùng cực Nam Trung Bộ khi Nam Bộ kháng chiến diễn ra. Có thể nói, xưởng quân khí Hoàng Hoa Thám và Quang Trung là cơ sở quan trọng để h́nh thành công nghiệp quốc pḥng sau này của Liên khu 5 và tỉnh B́nh Định.

Ngành Công an B́nh Định cũng nhanh chóng được thành lập từ tỉnh đến cơ sở. Ty Công an B́nh Định lúc này gọi là ty Trinh sát, gồm hai ban: ban Điều tra và ban Trật tự do Nguyễn Phát Nguyên, sau đó là Phạm Sanh phụ trách. Những người được tuyển vào cơ quan trinh sát là những đồng chí ưu tú trong các tổ chức tự vệ sắt, tự vệ vũ trang... Đến cuối năm 1946, lực lượng công an B́nh Định có gần 100 cán bộ, nhân viên, mỗi huyện có từ 5-7 người, mỗi xă có từ 2-3 người. Lực lượng công an B́nh Định vừa mới ra đời đă bước ngay vào cuộc đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ các cơ quan quan trọng của Đảng và chính quyền, giữ ǵn an ninh trật tự, nhất là những nơi xung yếu như Quy Nhơn, Đập Đá, Bồng Sơn...

          b. Giải quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế - xă hội.

          Sau ngày giành chính quyền, công việc cấp bách của Đảng và chính quyền B́nh Định là phải giải quyết khó khăn đang đe dọa cuộc sống của gần 70 vạn dân trong tỉnh1. Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa (mỗi bữa một bơ). Đem số gạo đó để cứu dân nghèo”2, nhân dân B́nh Định đă “đồng cam cộng khổ”, “thương yêu đùm bọc lẫn nhau”, “nhường cơm xẻ áo”, để vượt qua những ngày đói kém này. Một phong trào quyên góp, tổ chức “ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói”... được phát động trên tinh thần “t́nh làng nghĩa xóm”, “lá lành đùm lá rách”. Nhờ vậy, nhiều đồng bào nghèo được cứu đói, số lương thực thu được c̣n cứu trợ cho đồng bào các tỉnh phía bắc đang bị đói nghiêm trọng.

          Song, biện pháp lâu dài và cơ bản để giải quyết nạn đói tận gốc là phát động phong trào tăng gia sản xuất. Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: "Tăng gia sản xuất!, Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!" đă được nhân dân B́nh Định hưởng ứng một cách tích cực. Với khẩu hiệu "tấc đất, tấc vàng", nông dân B́nh Định đă đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất. Từ các huyện lị cho đến các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, mọi nhà, mọi người đều tận dụng đất để trồng rau màu, khoai sắn. Diện tích gieo trồng được tận dụng để cấy cày, nông dân c̣n tranh thủ khai phá đất đồi, đất g̣ bị bỏ hoang, tích cực làm phân xanh, phân chuồng để thâm canh, tu bổ hệ thống mương, máng, xe nước dọc theo con sông Lại Giang, đổi mới việc quản lư hệ thống thủy nông để phân phối nước thuận lợi, công bằng, tránh t́nh trạng lũng đoạn của một số người có quyền thế trước đây.

          Cùng với phong trào tăng gia sản xuất nông nghiệp, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng được phục hồi. Nghề trồng bông dệt vải ở An Nhơn, B́nh Khê, trồng dâu nuôi tằm ở Hoài Nhơn, nghề rèn đúc công cụ sản xuất và đồ dùng gia đ́nh ở Bồng Sơn, Đập Đá, nghề chế biến từ cây dừa, cây mỳ ở Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Nhơn... được khuyến khích phát triển, đă khơi dậy tiềm năng sản xuất hàng tiêu dùng của tỉnh.

          Phong trào tăng gia sản xuất gắn liền với tiết kiệm lương thực. Việc nấu rượu, làm bún, bánh bằng gạo được triệt để hạn chế. Nhà nhà đều có hũ gạo tiết kiệm để cứu đói.

          Nhờ biết dựa vào dân, phong trào tăng gia sản xuất cứu đói chỉ sau một thời gian ngắn đă đạt được những kết quả căn bản. Khắp nơi, lúa ngô khoai, mỳ phủ xanh một màu. Diện tích lúa và hoa màu tăng 40.000 mẫu. Vụ mùa đầu tiên năm 1945 và tiếp đến vụ Đông xuân 1945-1946 đạt khá, mùa màng bội thu. Thắng lợi trên mặt trận chống đói đă đem lại niềm tin, niềm phấn khởi cho quần chúng đối với chính quyền cách mạng, đối với chế độ mới.

          Đi liền với chống đói, Đảng và chính quyền cách mạng tỉnh B́nh Định hết sức quan tâm đến việc tăng cường bồi dưỡng sức dân, thực hiện những cải cách dân chủ quan trọng. Chính quyền cách mạng đă ban bố quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, tịch thu ruộng đất của bọn thực dân, Việt gian chia cho dân cày nghèo thiếu ruộng, băi bỏ chế độ thuế thân và các thứ thuế vô lư khác, xóa nợ cho nông dân, tiến hành chia lại ruộng đất công điền, công thổ một cách công bằng hợp lư cho cả nam lẫn nữ từ 18 tuổi trở lên.

          Công nhân làm trong các xí nghiệp cũ của Pháp được tiếp tục làm việc và được hưởng luật ngày làm việc 8 giờ do Chính phủ quy định.

          Giới tiểu thương, tiểu chủ được phép buôn bán những mặt hàng thiết yếu cho dân, thủ tiêu luật hạn chế việc chuyên chở lúa gạo do Pháp-Nhật đặt ra trước đây, nghiêm trị những kẻ đấu cơ, tích trữ  thóc gạo, làm hại đến nền kinh tế...1.

          Những cải cách dân chủ nói trên đă mạng lại lợi ích cho nhân dân. Nhân dân thấy rơ ḿnh thực sự là người dân của một nước độc lập. Đúng như Hồ Chủ tịch nói: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, th́ độc lập cũng chẳng có ư nghĩa ǵ"1.

          Trên mặt trận văn hóa giáo dục, việc chống giặc dốt, chống nạn mù chữ trở thành nhiệm vụ quan trọng của Đảng và chính quyền B́nh Định. Một dân tộc mà hơn 95% dân số mù chữ th́ không thể nói đến làm chủ, tham gia vào việc quản lư nhà nước và phát triển văn hóa dân tộc. Hồ Chủ tịch nói "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". V́ vậy ngày 8.9.1945, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập "Nha B́nh dân học vụ", tiến hành công tác xóa nạn mù chữ trong cả nước. Hồ Chủ tịch đă ra lời kêu gọi "Những người biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ "... vợ chưa biết th́ chồng bảo, em chưa biết th́ anh bảo, cha mẹ không biết th́ con bảo... Phụ nữ lại cần phải học..."2

          Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, phong trào b́nh dân học vụ ở B́nh Định diễn ra khắp nơi, từ thành thị cho đến nông thôn, từ gia đ́nh cho đến mọi người. Lớp học được tổ chức bất cứ nơi đâu thuận tiện cho người đi học như đ́nh chùa, xưởng máy... Có lớp tổ chức ban trưa, có lớp buổi tối. H́nh ảnh các em bé 7- 8 tuổi cho đến các cụ già 60-70 tuổi, các chị, các má đêm đêm bên ngọn đèn dầu cặm cụi đánh vần từng chữ một cách kiên nhẫn thể hiện tính chịu khó, hiếu học của nhân dân ta.

          Để khắc phục khó khăn về phương tiện học tập, nhiều nơi đă có sáng kiến dùng đất sét, than làm phấn, mo cau, lá chuối non phơi khô làm giấy. Nhiều biện pháp vừa có tính chất cổ động, vừa có tính chất bắt buộc cũng được áp dụng như: lập cổng chào trên đường, ai đọc được những chữ trên bảng th́ cho đi qua, ai không đọc được th́ bắt lội ruộng hoặc vượt qua những chướng ngại vật đặt sẵn. Nhiều sáng tác minh họa để cho người đi học dễ nhớ, dễ hiểu cũng được tuyên truyền như:

                                      O tṛn như quả trứng gà

                                                Ô th́ đội nón, ơ th́ thêm râu.

          Phong trào b́nh dân học vụ ở B́nh Định phát triển sâu rộng đến cả miền núi. Kết quả, đến cuối năm 1946, phong trào b́nh dân học vụ ở B́nh Định đă có nhiều thành công trong việc xóa nạn mù chữ. Xă Phước Lộc, huyện Tuy Phước vào tháng 12 năm 1948, được tỉnh và Liên khu 5 cấp giấy công nhận là một trong những xă " thanh toán nạn mù chữ sớm nhất". Công tác xóa nạn mù chữ đă trở thành một phong trào quần chúng rộng khắp toàn tỉnh.

Cùng với phong trào b́nh dân học vụ, Tỉnh ủy và chính quyền B́nh Định cũng chuẩn bị tốt cho các em bước vào năm học mới, năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa (1945-1946) với một nền giáo dục mới nhằm đào tạo những công dân phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đến năm học 1946 - 1947, toàn tỉnh đă có 780 lớp học với 24.642 học sinh bậc tiểu học, và 200 học sinh bậc trung học1. Như vậy, sự nghiệp giáo dục phổ thông được chú trọng phát triển.

          Đi đôi với chống giặc dốt, cuộc vận động nếp sống mới, bài trừ các hủ tục cũng được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân. Nhân dân đă có ư thức đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, bài trừ các tệ nạn như cờ bạc, rượu chè, ma chay, đ́nh đám, mê tín dị đoan, những tập quán lạc hậu. Đời sống văn hóa trong nhân dân được cải thiện. Nhiều huyện, xă, thôn xóm đă tổ chức sinh hoạt văn nghệ tập thể. Các bài ca cách mạng được dạy cho nhân dân và thiếu nhi. Ở thành phố Quy Nhơn, rạp hát Morin được đổi tên thành rạp "Ánh sáng", thường xuyên tổ chức các đêm văn nghệ, mời cả đoàn kịch nổi tiếng của Thế Lữ ở Thủ đô Hà Nội vào diễn. Một số tờ báo như tờ "Tia Sáng" ở Quy Nhơn đă kịp thời phục vụ nhu cầu thông tin cho nhân dân. Ty Thông tin B́nh Định đă xuất bản tờ "Tin tức" nhằm tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và chính phủ. Mỗi thôn xóm khu phố đều có lập đội tuyên truyền lưu động do cán bộ văn hóa thông tin xă phụ trách. Những ngày lễ ngày Tết có treo cờ, tổ chức mít ting, hội họp, hát vang những bài ca cách mạng. Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch: "Xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc ǵ cũng cần có sức khỏe mới thành công"2, nhân dân B́nh Định đă đẩy mạnh phong trào ăn sạch, ở sạch, vệ sinh pḥng bệnh, rèn luyện thân thể, làm sạch đường làng. Mạng lưới y tế toàn tỉnh từng bước được h́nh thành ở các huyện để chữa bệnh cho dân. Có thể nói, một cuộc sống mới đă bắt đầu.

          Để xây dựng nền tài chính quốc gia, động viên nhân dân tự nguyện đóng góp vào ngân quỹ nước nhà, ngày 4.9.1945, Chính phủ ra sắc lệnh gây "Quỹ độc lập", phát động"Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng". Với tinh thần  xây dựng đất nước, nhân dân B́nh Định đă tích cực hưởng ứng phong trào. Khắp toàn tỉnh, từ những người giàu có đến những người nghèo khó, ai ai cũng tự nguyện ủng hộ "Quỹ độc lập". Nhiều người đă ủng hộ cả hoa tai, kiềng vàng, nhẫn cưới, những vật kỷ niệm thiêng liêng của đời ḿnh. Nhiều gia đ́nh đă ủng hộ cả bộ tam sự, ngũ sự bằng đồng đang thờ của ḿnh cho chính phủ.

          Kết quả, từ ngày 17 đến ngày 24.9.1945, nhân dân B́nh Định đă quyên góp được 25 kg vàng và hàng trăm tấn đồng. Các địa phương thu khá như Quy Nhơn 5 kg vàng, Tuy Phước 4 kg, An Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Cát khoảng 100 lạng vàng...1.

Tuần lễ vàng, tuần lễ đồng đă thực sự trở thành một phong trào có tính chất quần chúng, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp xây dựng chế độ mới. Ngoài ra, nhân dân B́nh Định đă đóng góp vào cơng quỹ, đảm phục vụ quốc pḥng với hàng trăm triệu đồng.

          3. Chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài

Ngày 23.9.1945, núp dưới bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài G̣n, âm mưu trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Đồng bào Nam Bộ đă đứng lên kháng chiến. Tháng 10.1945, địch đánh chiếm Nha Trang, rồi mở rộng ra Phú Yên, âm mưu đánh chiếm cả Quy Nhơn .

Trước sự  gây hấn của thực dân Pháp, Tỉnh ủy B́nh Định đă kịp thời tổ chức nhiều cuộc mít tinh biểu t́nh để phản đối hành động xâm lược của thực dân Pháp, ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy B́nh Định phát động phong trào ủng hộ sức người, sức của cho đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Nhiều con em B́nh Định đă xung phong lên đường ṭng quân giết giặc. Các mẹ, các chị đă quyên góp tiền bạc, thuốc men, lương thực, quần áo gửi cho bộ đội đang chiến đấu ở Nam Bộ, Nha Trang. Trên các ga lớn của tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua B́nh Định như Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ, B́nh Định, Diêu Tŕ... nhân dân, cán bộ đă tổ chức đón đưa các đoàn quân Nam Tiến, thăm hỏi, tiếp tế lương thực, tặng quà bánh, thuốc men, thể hiện t́nh cảm sâu sắc của đồng bào đối với các chiến sĩ chiến đấu cho độc lập và tự do của Tổ quốc. 

Những hành động gây hấn của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn. Ngày 10.12.1945, tàu chiến địch đột nhập Cù Lao Xanh, mưu toan đổ bộ lên Quy Nhơn để cùng với 50 lính Nhật đang chiếm giữ nhà băng đánh chiếm thành phố. Ngày 12.12.1945, bộ đội ta đă kịp thời tấn công nhà băng Quy Nhơn, buộc quân Nhật đầu hàng. Tàu chiến Pháp cũng phải rút lui. Tháng 7.1946, thực dân Pháp đánh chiếm An Khê, chuẩn bị lập đầu cầu đánh xuống B́nh Định.

          Trước t́nh h́nh ngày càng khẩn trương, Tỉnh ủy B́nh Định nhận định: "Sớm muộn ǵ địch cũng cố sức đánh chiếm B́nh Định. Nếu chưa đánh được, chúng cũng đánh phá bằng nhiều thủ đoạn, gây khó khăn, thiệt hại cho ta, làm cho t́nh h́nh mất ổn định". Từ đó, Tỉnh ủy chủ trương: "Cần phải kiên quyết không cho chúng đổ bộ lên đất liền, tăng cường công tác chuẩn bị chiến đấu, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang cơ sở, phát động phong trào toàn dân pḥng gian bảo mật, luyện tập quân sự, xây dựng trận địa bố pḥng, làng xă chiến đấu, đồng thời thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến"1

          Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Ủy ban Kháng chiến các cấp được thành lập. Công tác "tiểu thổ kháng chiến" được tiến hành khẩn trương. Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính đă động viên nhân dân tự tay phá hủy nhà cửa, đến chùa, nhà thờ họ..., những nơi mà địch có thể đóng quân hoặc đồn trú. Phá hoại cũng là để kháng chiến, nhân dân B́nh Định tập trung phá thành B́nh Định, thị xă Quy Nhơn, đépot xe lửa Diêu Tŕ... những nơi mà địch có thể chiếm đóng, lập căn cứ quân sự. Chỉ sau một thời gian ngắn, thị xă Quy Nhơn, thành B́nh Định trở nên hoang tàn, đổ nát. Nhân dân B́nh Định thực sự hy sinh lớn lao v́ nền độc lập của nước nhà.

Trên các tuyến đường giao thông huyết mạch như Quốc lộ I, đường 19, các đường tỉnh lộ Bồng Sơn - An Lăo, Cầu Dơi - Kim Sơn... đều bị xẻ từng đoạn, đào hào, đắp ụ để cản bước tiến của địch. Trên các băi trống hàng ngàn cọc nhọn được cắm tua tủa để đề pḥng quân địch nhảy dù. Nữ dân quân Hoài Châu (Hoài Nhơn) đă lên rừng chặt cây, hoặc dùng tre, cau vườn vót nhọn để xây dựng băi chông rộng trên băi cát Đồng Chu2. Các tuyến pḥng thủ cũng được xây dựng. Tỉnh cũng huy động nhân dân, bộ đội, dân quân tự vệ xây dựng các tuyến bố pḥng ở những hướng mà địch có thể tới. Tuyến pḥng thủ Tam B́nh (B́nh Quang, B́nh Tường, B́nh Giang) được tập trung xây dựng để đối phó với địch từ An Khê đánh xuống. Ở đây, tỉnh cũng thành lập ban chỉ đạo khu Tam B́nh nhằm hướng dẫn nhân dân, bộ đội bố pḥng chặt chẽ.

Mặt bắc và nam, tỉnh lập pḥng tuyến đèo Cù Mông, đèo B́nh Đê để ngăn chặn địch đánh vào từ những hướng này. Đồng thời, Tỉnh ủy cũng chú trọng xây dựng tuyến pḥng thủ ven biển Quy Nhơn, Đề Gi - Tam Quan để pḥng địch đổ bộ lên từ mặt biển.

Ngoài ra, một số huyện cũng chú trọng xây dựng các tuyến chiến đấu như: Phù Cát xây dựng tuyến Mỹ Hóa - Chợ Gồm, Hoài Nhơn xây dựng tuyến đèo B́nh Đê, B́nh Khê xây cất các chốt: Núi Một, Ḥn Sưng. Có thể nói, công tác bố pḥng để chống quân Pháp đổ bộ vào B́nh Định được quán triệt sâu rộng trong nhân dân và lực lượng vũ trang.

Để chuẩn bị chiến đấu, tỉnh chủ trương tản cư phụ nữ, người già, trẻ em ở thành phố Quy Nhơn... về sâu trong nông thôn, đồng thời di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc từ thành thị về thôn quê, giáo dục nhân dân bảo mật pḥng gian, chống chiến tranh gián điệp của địch, chuyển các xưởng quân giới về vùng B́nh Ḥa (Hoài Ân), Thạch Bàn (Cát Sơn, Phù Cát)... Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng "tản cư cũng là kháng chiến", nhân dân Quy Nhơn, và các thị trấn, thị xă dọc theo đường Quốc lộ I đă chấp hành triệt để lệnh của chính phủ. Họ thực hiện "vườn không nhà trống", không để một hạt gạo rơi vào tay giặc.

Cũng trong thời gian này, các phái đoàn của Đảng và Chính phủ vào làm việc với Khu 5 và B́nh Định đă động viên kịp thời Đảng bộ và nhân B́nh Định trong công cuộc xây dựng chế độ mới cuộc sống  mới và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Tháng 12.1945, phái đoàn của đồng chí Lê Văn Hiến vào nghiên cứu t́nh h́nh chung, tháng 1.1946, phái đoàn của đồng chí Vơ Nguyên Giáp vào khảo sát chiến trường, kiểm tra t́nh h́nh quân sự. Tháng 11.1946, phái đoàn của đồng chí Phạm Văn Đồng và cụ Huỳnh Thúc Kháng vào truyền đạt t́nh h́nh nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sự có mặt của các phái đoàn Đảng và Chính phủ đă gây niềm tin tưởng tuyệt đối của Đảng bộ và nhân dân B́nh Định vào sự lănh đạo của Trung ương  Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch.

Tóm lại, sau hơn một năm xây dựng  chế độ mới, cuộc sống mới và bảo vệ chính quyền cách mạng, Đảng bộ và nhân dân B́nh Định  đă đạt được những thành tích đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố. Khối đoàn kết toàn dân được mở rộng thông qua việc xây dựng Mặt trận dân tộc và các đoàn thể quần chúng. Các lực lượng vũ trang được chú ư xây dựng ngay từ đầu sau Cách mạng Tháng Tám. Công tác chống giặc đói, chống giặc dốt, và các vấn đề xă hội được giải quyết tận gốc... Đảng bộ B́nh Định, một Đảng bộ kiên cường trong Cách mạng Tháng Tám, nay đă biết vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ vào một địa bàn có tầm vị trí chiến lược ở miền Trung Đông Dương. Đảng bộ nh́n thấy rơ âm mưu của thực dân Pháp đối với B́nh Định, do đó, công tác xây dựng các lực lượng vũ trang, lập các tuyến pḥng thủ quan trọng, đặt các băi chông ḿn... để đề pḥng khả năng địch đổ bộ vào B́nh Định được chuẩn bị khẩn trương và rất sớm.

Thắng lợi của công cuộc xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới và bảo vệ chính quyền cách mạng là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân B́nh Định bước vào cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ, bảo vệ vững chắc vùng tự do Liên khu V.



1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh B́nh Định 1992, tr. 13.

1 Lênin toàn tập, tập 34, NXB. Tiến Bộ, Hà Nội 1976, tr. 583.

2 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), tập I, NXB. QĐND, Hà Nội 1955, tr. 42.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, sđd, tr. 15-16.

2 Lúc đầu Trung ương quyết định ngày bầu cử Quốc hội chung cho cả nước là ngày 23.12.1945, nhưng có một số nơi chuẩn bị chưa kịp, nên phải hoăn đến ngày 6.1.1946. B́nh Định và một số tỉnh khác chuẩn bị xong, nên được phép bầu cử đúng ngày 23.12.1945 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, tr. 16).

3 Khi hợp nhất xă, B́nh Định có 7 huyện: Hoài Nhơn, An Nhơn, Phù Cát, Hoài Ân, Phù Mỹ, Tuy Phước, B́nh Khê với 679 thôn (làng) thành 212 xă. Các vùng miền núi như Vân Canh, Vĩnh Thạnh, Kim Sơn, An Hảo (thuộc huyện B́nh Khê) có 165 làng th́ sáp nhập 138 làng thành 35 xă, c̣n 27 làng vẫn giữ nguyên.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, sđd, tr. 35-36

1 Hiệu lệnh tại hai đài quan sát được quy định là, Khi nào có hai cặp bồ được kéo lên chính là lúc tàu địch đến. Do vậy ở B́nh Định được lưu truyền câu ca dao:

Tai nghe kẻng đánh beng beng

Ngó lên phía núi ṭng teng hai bồ

Anh về xếp đặt ba lô

Chờ khi có lệnh mang vô lên đường

(Bộ chỉ huy quân sự huyện Phú Cát- Lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng- B́nh Định, tr. 49)

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, sđd, tr. 26.

2 Hồ Chí Minh toàn tập- NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 31.

1 Kinh tế Việt Nam (1945-1954). NXB. Khoa học, Hà Nội, 1996, tr. 21

1 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr. 56.

2 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB. Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1995, tập 4 , tr. 36-37.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 30.

2 Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1958, tập 2, tr. 82.

1 Nguyễn Ngọc Anh, Thi đua yêu nước, một nhân tố thắng lợi của quân và dân B́nh Định trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ;  Liên đoàn Lao động tỉnh B́nh Định.

1 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B́nh Định, Những chặng đường chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang B́nh Định. 1998, tr. 85.

2 Lịch sử phong trào phụ nữ  tỉnh B́nh Định - tập I, B́nh Định, tr. 85.