II. XÂY DỰNG VÀ GIỮ VỮNG VÙNG TỰ DO, THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
PHỐI HỢP VỚI CÁC CHIẾN TRƯỜNG (1947-1952)
1. Quan điểm của Tỉnh ủy B́nh Định về xây dựng và giữ vững vùng tự do
Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946), chiến trường Nam Trung Bộ h́nh thành hai vùng rơ rệt: vùng tự do và vùng bị tạm chiếm. Tháng 12.1946, thực dân Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng. Tháng 1.1947, địch đánh ra nam Phú Yên, đồng thời mở rộng khu căn cứ An Khê bằng một hệ thống đồn bốt, h́nh thành thế bao vây vùng tự do Liên khu V.
Nằm ở vùng ven biển miền Trung, B́nh Định là một trong những tỉnh thuộc vùng tự do hoàn toàn.
Ngày 2.7.1947, 2.000 quân Pháp tiến công thị trấn Phú Phong, chuẩn bị bàn đạp để đánh tỉnh B́nh Định. Được sự chỉ đạo của Liên khu ủy Khu V và dưới sự lănh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy B́nh Định, lực lượng vũ trang tỉnh đă đưa một phân đội "quyết tử" luồn lên An Khê, bám đánh địch ở đường 19. Ngày 3.7.1947, 300 quân địch lọt vào trận địa mai phục của ta trên đèo Bồ Bồ và đă bị đánh bất ngờ. Tiếp đó, các đợt tấn công ồ ạt của thực dân Pháp đánh chiếm B́nh Định đều bị đẩy lùi và bị tiêu diệt. Vùng tự do tỉnh B́nh Định được giữ vững.
B́nh Định là một tỉnh đất rộng, người đông (năm 1947 có gần 700.000 dân), lại là tỉnh có tụ điểm giao thông quan trọng xuyên Việt và xuyên Đông Dương. Do vậy, B́nh Định có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và kinh tế, là căn cứ địa cách mạng, là hậu phương chiến lược của chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. B́nh Định được mệnh danh là Thủ phủ của vùng tự do Liên khu V.
Trong những ngày đầu kháng chiến, thực dân Pháp chưa đủ sức đánh chiếm B́nh Định nhưng chúng đ tăng cường các thủ đoạn đánh phá, tổ chức những cuộc hành quân nhỏ thọc sâu xuống vùng giáp ranh Vĩnh Thạnh, B́nh Khê, bao vây, khủng bố nhân dân, móc nối với bọn phản động để đánh phá bên trong...
Từ thực tế trên, Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, các lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu và kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch. Trong bất cứ t́nh huống nào, quyết tâm giữ vững B́nh Định là tỉnh tự do, là hậu phương của chiến trường Liên khu V và Tây Nguyên. Đồng thời, ra sức xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống của nhân dân, tăng cường sức mạnh mọi mặt để làm tṛn nhiệm vụ hậu phương, động viên sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến.
Nhận thức của Tỉnh ủy B́nh Định hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Trung ương là biến vùng tự do khu V thành căn cứ địa, là hậu phương lớn của chiến trường Nam Trung Bộ (bao gồm cả Tây Nguyên). Sự lớn mạnh của Liên khu V và B́nh Định thể hiện ở đời sống nhân dân được cải thiện, các chính sách xă hội được giải quyết, kinh tế, văn hóa kháng chiến được phát triển... chính là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao và niềm tin đối với nhân dân các vùng bị tạm chiếm.
2. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân - toàn diện ở vùng tự do
a. Xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể.
Để giữ vững vùng tự do và làm tṛn nhiệm vụ hậu phương, việc xây dựng thực lực cách mạng trở thành nhiệm vụ quan trọng, trong đó công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trở thành nhiệm vụ trước mắt hết sức khẩn trương.
Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, công tác xây dựng Đảng được chú trọng cả ba mặt: chính trị - tư tưởng và tổ chức. Căn cứ vào sự chỉ đạo của Liên khu ủy và t́nh h́nh trong tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất được triệu tập ngày 22.1.1947 tại thành B́nh Định. Vinh dự của đại hội là được đón đồng chí Phạm Văn Đồng, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về tham dự. Đại hội đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ vững mạnh để lănh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc trong mọi t́nh huống, tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch, bảo đảm B́nh Định là tỉnh tự do, tỉnh hậu phương của chiến trường khu V, đồng thời ra sức củng cố hệ thống tổ chức Đảng, tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, không ngừng nâng cao tŕnh độ, năng lực lănh đạo của các cấp ủy Đảng và Đảng bộ.
Đảng bộ đă bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 13 đồng chí. Đồng chí Trần Lê - được bầu làm Bí thư.
Ở B́nh Định, trừ một số xă miền núi, c̣n hầu hết các xă đồng bằng đều có chi bộ và chi ủy từ 3 đến 5 ủy viên. Ban Chấp hành Huyện ủy từ 9 đến 13 ủy viên, tỉnh ủy có 13 đến 15 ủy viên.
Đại hội các cấp họp trong hoàn cảnh toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp đă bùng nổ, nên có một ư nghĩa rất quan trọng, đó là đă rút được những kinh nghiệm quư báu sau một năm, xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới, bảo vệ chính quyền cách mạng và chuẩn bị kháng chiến, đề ra được những biện pháp cấp bách để đẩy mạnh cuộc kháng chiến, kiện toàn được cơ quan lănh đạo các cấp. Đặc biệt, đại hội trang bị những nhận thức, quan điểm đường lối kháng chiến của Đảng, tạo ḷng tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân vào kháng chiến nhất định thắng lợi, vào sự lănh đạo đúng đắn của Trung ương và Hồ Chủ tịch.
Sau đại hội, sinh hoạt Đảng và sự lănh đạo của cấp ủy Đảng đi dần vào nề nếp. Cấp ủy từ huyện trở lên thành lập ban tuyên huấn, ban tổ chức, văn pḥng, Đảng đoàn chính quyền, Đảng đoàn Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, phân công cấp ủy viên chuyên trách công tác tổ chức, tuyên huấn, dân vận và dân quân.
Đây là một nỗ lực lớn trong việc h́nh thành hệ thống tổ chức Đảng để đảm bảo sự lănh đạo thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Hầu hết Đảng viên là thanh niên bần nông, trung nông, tiểu tư sản, được rèn luyện thử thách qua chiến đấu và công tác kháng chiến. V́ vậy, toàn Đảng bộ dấy lên phong trào xây dựng chi bộ tự động công tác theo ba tiêu chuẩn: thường xuyên tổ chức tự phê b́nh và phê b́nh để nâng cao chất lượng Đảng viên, động viên đông đảo quần chúng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng phong trào chiến tranh nhân dân và chi viện đắc lực cho tiền tuyến.
Để nâng cao tŕnh độ và giáo dục đảng viên, Tỉnh ủy và các Huyện ủy thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng huấn luyện. Cán bộ lănh đạo tỉnh, huyện trực tiếp về tận cơ sở giảng bài, bồi dưỡng cán bộ với các nội dung bàn về chủ nghĩa cộng sản, về cách mạng dân tộc dân chủ và đạo đức cách mạng "cần kiệm liêm chính chí công vô tư". Đặc biệt được đồng chí Phạm Văn Đồng trực tiếp tŕnh bày tài liệu "Sửa đổi lề lối làm việc" của Hồ Chủ tịch (10.1947) đă nâng cao được ư thức đấu tranh chống biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, quan liêu xa rời quần chúng đang gây trở ngại cho sự lănh đạo của Đảng trong công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Nhờ chăm lo công tác xây dựng Đảng, vai tṛ lănh đạo của Đảng bộ cũng như tổ chức Đảng và cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở được phát huy, các phong trào thi đua yêu nước được đẩy mạnh, công tác xây dựng hậu phương kháng chiến phát triển mạnh mẽ. Trong 2 năm 1947-1948 đă phát triển thêm 1.938 đảng viên, riêng năm 1948 kết nạp được 726 người. Số lượng Đảng viên toàn tỉnh đến cuối năm 1948 là 2.979 đồng chí với 112 tổ chức cơ sở Đảng gồm 80 chi bộ xă, thị xă Quy Nhơn, 29 chi bộ cơ quan và hai chi bộ xí nghiệp1.
Trong khí thế của toàn Đảng toàn dân hăng hái chuẩn bị chuyển mạnh sang giai đoạn tổng phản công, Tỉnh ủy triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ hai vào tháng 2 năm 1949 tại thôn Dương Liễu, xă Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ. Đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ, Phó bí thư Liên khu ủy đă về dự đại hội. Đại hội đă kiểm điểm, đánh giá toàn diện t́nh h́nh 2 năm 1947-1948, bàn những nhiệm vụ trong t́nh h́nh mới và bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ mới gồm 19 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn làm Bí thư. Đại hội nhấn mạnh củng cố hơn nữa tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảm bảo sự lănh đạo của Đảng. Đại hội đ phê phán một số cán bộ đảng viên có tư tưởng ngại hy sinh, lơi lỏng nhiệm vụ, cần phải được giải quyết tốt.
Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh B́nh Định lần thứ II, Đại hội Đại biểu các huyện thị được tổ chức, công tác xây dựng Đảng ngày càng đi vào nề nếp. Ở Quy Nhơn, tính đến giữa năm 1949 đă tiến hành hai đợt kết nạp đảng viên với số lượng 30 đảng viên, đến năm 1950, đưa số đảng viên lên 2502. Huyện phát triển Đảng mạnh nhất là huyện Hoài Ân.
Ở B́nh Định, năm 1949 có 4.000 đảng viên, đến tháng 2.1950 tăng lên 25.000 đảng viên. B́nh Định được xem là tỉnh dẫn đầu về phát triển Đảng trong liên khu. Việc nhanh chóng tăng số lượng đảng viên đă tăng cường thêm sự lănh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ.
Tuy nhiên, việc xây dựng chi bộ tự động công tác c̣n tiến chậm. Toàn tỉnh có 115 chi bộ được phân loại th́ có 43 chi bộ tự động công tác, 30 chi bộ khá, 25 yếu, 17 kém.1
Để thực hiện các nghị quyết Hội nghị toàn quốc, hội nghị cán bộ Đảng toàn liên khu (1.1950) và tăng cường lănh đạo cuộc kháng chiến chuyển sang bước phát triển mới, Tỉnh ủy quyết định triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn tỉnh lần thứ III (3.1950) tại trại thiếu nhi Bác Hồ ở Cát Hanh - Phù Cát.
Đại hội nhận thấy sau ba năm (1947-1949), trong đó năm 1949 là năm chuẩn bị tổng phản công, t́nh h́nh các mặt trong tỉnh phát triển tương đối tốt. Quân và dân B́nh Định đ đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm, giữ vững B́nh Định là tỉnh tự do, tỉnh hậu phương. Đại hội xác định nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong năm 1950 là gấp rút hoàn thành việc chuyển mạnh sang tổng phản công với các nhiệm vụ cụ thể. Về Đảng, tiếp tục xây dựng Đảng thành một tổ chức vững mạnh. Một mặt củng cố nội bộ thật vững chắc, mặt khác, tiếp tục phát triển Đảng đúng hướng.
Đại hội đă bầu ra ban chấp hành mới gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn tiếp tục được bầu làm Bí thư. Cuối năm 1950, tổng số Đảng viên tăng lên 39.869 người, gấp 10 lần so với đầu năm 1949 và tăng 60% so với đầu năm 19502
Lực lượng Đảng viên có tăng lên, tuy nhiên việc kết nạp đảng viên đôi khi lại ồ ạt, không đảm bảo chất lượng. Do vậy, Tỉnh ủy hết sức chú trọng công tác phát triển Đảng đi đôi với việc giáo dục chính trị, đẩy mạnh cuộc vận động phê b́nh và tự phê b́nh, chỉnh đốn Đảng. Nhờ vậy, vai tṛ lănh đạo của Đảng bộ ngày càng được khẳng định, gây niềm tin trong nhân dân.
Về chính quyền, đầu năm 1948 theo chủ trương của trên, Tỉnh ủy đă tiến hành sáp nhập hai ủy ban (Ủy ban Hành chính và Ủy ban Kháng chiến) thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính do ông Đinh Thành Chương, một nhân sĩ được cử làm chủ tịch. Việc h́nh thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính đă tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo các mặt kháng chiến một cách nhạy bén, kịp thời, gọn nhẹ, tránh trùng lặp trong công tác.
Các ngành, các bộ phận chuyên môn giúp việc cho ủy ban kháng chiến hành chính cũng được thành lập. Toàn tỉnh có 32 ty và các đơn vị trực thuộc. Chính quyền cấp huyện cũng được củng cố.
Về cấp xă, đầu năm 1948, tiến hành hiệp xă lần thứ hai, từ 212 xă nhập thành 84 xă. Ở miền núi do đất rộng, dân thưa, đồng thời để lập thành pḥng tuyến chống giặc ở phía tây tỉnh, giáp giới với Gia Lai, từ năm 1947, Tỉnh ủy đă tách một số xă để lập thành các huyện miền núi: Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lăo, Kim Sơn. Đầu năm 1949, Tỉnh ủy giải thể huyện Kim Sơn, đưa một số xă phía bắc huyện nhập vào huyện An Lăo, một số xă phía nam huyện nhập vào Vĩnh Thạnh. Miền núi tỉnh chỉ c̣n ba huyện:1
Huyện An Lăo có 11 xă, 4.059 dân.
Huyện Vĩnh Thạnh có 11 xă, 4.616 dân.
Huyện Vân Canh có 13 xă, 4.056 dân.
Như thế, chính quyền các cấp được củng cố, nâng cao trách nhiệm cấp xă, giảm bớt ngân sách hành chính, giảm đầu mối cho huyện.
Trong quá tŕnh kiện toàn bộ máy chính quyền, Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà nước, các ngành và các đoàn thể. Tỉnh chú trọng mở các lớp huấn luyện cho cán bộ huyện, xă nhằm bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ và năng lực công tác để đáp ứng nhiệm vụ trước mắt.
Cùng với chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể như: Thanh niên cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lăo cứu quốc... tiếp tục phát triển và củng cố. Các hội viên tích cực hoạt động, cải tiến sinh hoạt, lập quỹ tự túc, động viên hội viên, đoàn viên gương mẫu, tham gia kháng chiến.
Đứng trước nhiệm vụ mới của Đảng bộ, Mặt trận và các đoàn thể đă kịp thời chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với t́nh h́nh của địa phương vừa có chiến tranh vừa có ḥa b́nh. Là một lực lượng ṇng cốt trong các cuộc vận động, tập hợp chị em tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đă tập hợp các nữ trí thức, tiểu tư sản, công chức, tiểu thương, phụ nữ Hoa kiều, phụ nữ các tôn giáo đều tham gia kháng chiến. Liên hiệp Công đoàn tỉnh đă lập kế hoạch cung cấp sách báo bằng việc xuất bản tờ "Chung sức" nhằm cổ vũ tinh thần thi đua yêu nước trong đoàn viên công đoàn tỉnh, đặc biệt đă kịp thời đưa tin chiến thắng trên các mặt trận để củng cố ḷng tin vào sự lănh đạo của Đảng.2
Đến cuối năm 1948, Mặt trận có 236.000 thành viên, Thanh niên cứu quốc 29.700, Phụ nữ cứu quốc 100.000, Công đoàn 12.647. Trừ công đoàn, các đoàn thể khác đều có tiểu tổ, chi hội, phân hội ở tận thôn xóm, hoạt động ngày càng tiến bộ, làm chỗ dựa cho Đảng và chính quyền1
Bước vào năm 1949-1950, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể được củng cố và phát triển thêm một bước, mời thêm một số nhân sĩ, trí thức quan lại cũ tham gia. Tỉnh hội Phật giáo cứu quốc cũng được thành lập. Tỉnh Đảng bộ Đảng dân chủ ra đời với năm chi bộ và 80 đảng viên nhằm tập hợp số viên chức và trí thức trong tỉnh. Chính quyền cũng đă đồng ư cho mở các lớp tiểu học ở Quy Nhơn, Bồng Sơn... để dạy tiếng Hoa.
Các đoàn thể công - nông - thanh - phụ trước t́nh h́nh, nhiệm vụ mới đều được đặt nhiệm vụ củng cố là chính, tập trung sức giải quyết những vấn đề trong nội bộ để phát huy tốt hơn nữa vai tṛ của ḿnh. Nông hội tiếp tục phát triển với số lượng: 40.350 hội viên. Công đoàn có số lượng đoàn viên 13.546 với 23 công đoàn cơ sở (gồm hỏa xa, giáo giới, các xưởng thủ công...) phụ nữ có hội viên đông nhất 114. 0002.
Cố gắng nổi bật của các đoàn thể trong năm 1949 là đă mở được 314 lớp huấn luyện, đào tạo bồi dưỡng 15.391 cán bộ huyện xă, phân hội, chi hội. Tuy nhiên ở các đoàn thể gặp phải những vướng mắc do tŕnh độ những cán bộ giữa các hội đoàn khác nhau. Để giải quyết những khó khăn về tổ chức, Tỉnh ủy chủ trương tách các Đảng, đoàn với ban vận giới (Ban thanh vận, Ban phụ vận...) và quy định nhiệm vụ ranh giới công tác của các ban chấp hành các đoàn thể.
Việc xây dựng và phát triển Mặt trận và các đoàn thể ngày càng mạnh mẽ, phát huy vai tṛ ṇng cốt, hướng dẫn lôi cuốn quần chúng tham gia vào các phong trào, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện.
b. Trên mặt trận kinh tế.
Theo tinh thần của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất (1.1947) là xây dựng B́nh Định thành hậu phương vững mạnh của chiến trường Liên khu V. V́ vậy, việc phát triển kinh tế văn hóa, xă hội trở thành một mặt trận quan trọng.
"Kháng chiến kiến quốc" của B́nh Định là phát huy tinh thần yêu nước, tổ chức động viên quần chúng, huy động nhân tài vật lực để xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng kinh tế kháng chiến để đảm bảo tự cung tự cấp, phục vụ công cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh và chi viện cho tiền tuyến ngày một lớn.
Về nông nghiệp, ngay sau khi giành được chính quyền, B́nh Định đă giải quyết thành công nhiệm vụ cấp bách là "chống giặc đói". Nhưng nay, bước vào cuộc kháng chiến, B́nh Định phải đề ra phương hướng, mục tiêu phấn đấu tương đối toàn diện, nhằm thực hiện vai tṛ hậu phương vững chắc, cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến.
B́nh Định là một trong những tỉnh có đồng bằng lớn ở Trung Trung Bộ diện tích đất canh tác hơn 75.000 ha, được phân bố dọc theo các lưu vực sông, nên thích hợp cho việc phát triển cây lúa và hoa màu. Với ưu thế đó, B́nh Định có điều kiện để phát triển nông nghiệp vững chắc, đáp ứng nhu cầu cho cuộc kháng chiến.
Đầu năm 1948, Hội nghị Dân Chính Đảng Liên khu V họp dưới sự chủ tŕ của đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, chủ trương: "Toàn dân tham gia công tác đề pḥng nạn đói, mọi người sản xuất tự cung tự cấp, chủ yếu trồng lúa hoa màu". Như vậy, nông nghiệp được coi là ngành sản xuất chính nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho nông dân. Giữa năm 1948, toàn tỉnh B́nh Định đă dấy lên phong trào thi đua sản xuất:
"Ngành ngành thi đua
Người người thi đua
Nhà nhà thi đua"1.
Với tinh thần đó, cùng với phong trào toàn dân đánh giặc, phong trào đẩy mạnh sản xuất tự túc, xây dựng vùng tự do phát triển mạnh. Sản xuất nông nghiệp bao gồm: Khai hoang phục hóa, thủy lợi thâm canh, tăng năng suất, không chỉ phát triển sâu rộng trong nông thôn mà đă thu hút công nhân, viên chức, bộ đội, thợ thủ công... tham gia sôi nổi. Với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng", phong trào khai hoang phục hóa mở rộng diện tích canh tác phát triển đều khắp kể cả đồng bằng lẫn miền núi. Cùng với phong trào khai hoang, Tỉnh ủy kịp thời chủ trương phát triển cây lúa và đẩy mạnh phát triển cây bông, hoa màu, nâng diện tích trồng bông toàn tỉnh từ 2.000 mẫu đến 4.000 mẫu vào năm 1949-1951, sản lượng bông thô từ 200 đến 410 tấn, sản lượng sợi hàng tháng từ 20-25 tấn (gấp 1,5 lần sợi của tỉnh Quảng Ngăi) đáp ứng nhu cầu vải mặc cho nhân dân.
Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất hai vụ chính theo tập quán, B́nh Định cũng là tỉnh đi đầu thử nghiệm có kết quả gieo cấy đại trà giống lúa tứ quư ngắn ngày. Cuối năm 1949, diện tích lúa tứ quư toàn tỉnh 6.000 mẫu, năm 1951 đưa lên 24.500 mẫu, năm 1953 đạt 34.000 mẫu1.
Hệ thống thủy nông rất quan trọng cho thâm canh tăng năng suất, đảm bảo nhu cầu lương thực cho tiền tuyến. Nhiều công tŕnh thủy lợi ra đời. Hệ thống thủy nông sông Lại Giang, sông Phù Ly, sông Côn được củng cố và xây dựng. Nhân dân đă đóng góp hàng triệu ngày công để tu bổ, làm mới thêm nhiều mương máng, đắp bờ ngăn mặn, đặt máy bơm nước để tăng diện tích tưới. Hàng chục vạn lượt phụ nữ và nông nhân khắp các địa phương đă đắp 1.070 đập bồi, 128 đập chứa, 3.580 bờ xe, 323 xe nước đạp chân, 305 guồng nước, 780 gầu ṣng, 6.270 ao giếng, đào vét hàng trăm km mương nội đồng, đă tăng lượng nước tưới cho 7.000 mẫu. Mương dẫn nước Phú Triêm và An Dưỡng (Hoài Nhơn) đảm bảo tưới tiêu cho 2.500 mẫu lúa vụ tháng 10. Nhờ chú trọng công tác thủy lợi, nên năm 1953 đủ nước tưới cho hơn 146.000 mẫu ruộng và ngăn mặn 5.500 mẫu khác, chiếm 46,8% tổng diện tích tưới tiêu toàn Liên khu V.
Nhờ giải quyết tốt nguồn nước và các nguồn phân bón như phân chuồng, phân xanh... ruộng đất không những tăng vụ mà năng suất lúa cũng ngày càng cao. Riêng diện tích cây lúa từ 3.400 mẫu năm 1949 đă tăng lên 24.500 mẫu năm 1951. Sản lượng đạt từ 400 tấn năm 1949 tăng lên 15.000 tấn năm 1951, năng suất b́nh quân từ 4,2-5,2 tạ/mẫu/năm2, góp phần ổn định đời sống vùng tự do. Bên cạnh cây lúa là lương thực chính, nhân dân trong tỉnh c̣n khai hoang và mở rộng diện tích trồng màu. Năm 1947, toàn tỉnh trồng được 18.000 mẫu ḿ g̣n 6 tháng trên các vùng đất băi, sỏi, đồi, rẫy và 6 triệu gốc trồng quanh vườn nhà, đ́nh chùa. Học tập kinh nghiệm Quảng Nam, Quảng Ngăi, nhiều huyện đă đắp ụ trồng khoai ngay trên băi cát với kỹ thuật công phu, nên đă thu hoạch được hàng chục kg mỗi ụ.
Trong sản xuất nông nghiệp, nhiều h́nh thức làm ăn tập thể ra đời như: Hội đoàn, Hội vần công, tổ sản xuất... Các tổ chức này đóng vai tṛ tổ chức, điều ḥa nhân công, giống má, phân bón, giúp đỡ nhau sản xuất kịp thời vụ. Nông dân B́nh Định đă tổ chức vần công cho nhau trên 88 vạn ngày công, gặt 2.700 mẫu lúa dưới mưa bom băo đạn của thực dân Pháp1.
Ở Quy Nhơn, địch khống chế mặt biển và ven bờ, ráo riết bắn phá ghe mành ḥng phá hoại sản xuất. Trước t́nh h́nh đó, tổ chức Đảng Quy Nhơn đă lănh đạo nhân dân tích cực đánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thị xă. Chính quyền đă hướng dẫn ngư dân tổ chức làm ghe có lù thoát nước, vận động các gia đ́nh làm nghề biển thực hiện hai chân (chân biển, chân đồng). Để bám biển, ngư dân sáng tạo: khi địch tấn công th́ cho ghe và ngư cụ ch́m xuống nước, khi địch đi khỏi, lại vớt lên và tiếp tục đánh bắt. Đồng thời, chính quyền thị xă thành lập hợp tác xă thủy nghiệp Quy Nhơn, hướng dẫn, giúp bà con ngư dân chuyển đánh khơi thành đánh lộng. Cuối 1950, dân quân Quy Nhơn đă có hai giàn mành đánh cá.
Nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn của B́nh Định. Với phương châm "tự lực cánh sinh, dựa vào sức ḿnh là chính", quân dân B́nh Định vượt qua mọi khó khăn để phát triển sản xuất, bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến. Thành quả lớn nhất trong nông nghiệp là giải quyết cái ăn cái mặc cho nhân dân thông qua việc giải quyết chính sách ruộng đất, hướng dẫn toàn dân vào mục đích chung là kháng chiến kiến quốc.
Đi đôi với sản xuất nông nghiệp, các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng phát triển.
Cuối năm 1947 đầu năm 1948, các ngành sản xuất vải, giấy, xà pḥng bắt đầu h́nh thành. Thực hiện ư kiến chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng: "Mỗi người trồng một cây bông vải, mỗi nhà trồng 10 cây", phong trào trồng bông phát triển mạnh, nên nghề kéo sợi, dệt vải thủ công truyền thống được khôi phục và mở rộng. Từ năm 1951, nghề kéo sợi đă phát triển ở 23 xă với 35.000 lao động, năm 1953 thu hút 45.000 lao động đại bộ phận lao động là cụ già, em gái 12-13 tuổi. Nghề dệt vải năm 1953 có 870 khung dệt khổ đôi, 4.500 khung dệt khổ chiếc, sản xuất gần 230 tấn vải. Thị trấn B́nh Định, Đập Đá, Bồng Sơn, An Thường là những nơi dệt tập trung và làm những mặt hàng nổi tiếng như; đũi, lụa, nhiễu. Ở Bồng Sơn, An Thường sản xuất, lănh, tút-xo. Ở Đập Đá có vải xita. Vải xita B́nh Định trở thành thứ vải nổi tiếng ở khu V.
Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa là nghề truyên thống đă phát triển đạt tŕnh độ cao với các mặt hàng lụa trơn, lụa hoa, lụa đậu sáu, lụa đậu tư không kém lụa Hà Đông, nên được lưu truyền qua ca dao:
"Ai về công tác Hoài Ân
Mua lụa đậu sáu, mua hàng đậu tư.
Tơ hồng đều chỉ đều canh
Như ai xe dệt duyên anh với nàng".
Xí nghiệp dệt quốc doanh Việt Thắng - xí nghiệp của quân đội có hàng trăm khung dệt với hàng ngh́n công nhân sản xuất, đảm bảo cho lực lượng vũ trang Liên khu V 2m vải/ năm/ người1. Có thể nói, ngành dệt B́nh Định trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đă bảo đảm đủ mặc cho nhân dân, cán bộ, bộ đội. Không những thế, B́nh Định c̣n cung cấp vải xita cho khu V và Tây Nguyên.
Nghề giấy, từ năm 1948-1949 đă xây dựng được 22 xưởng sản xuất giấy trong tổng số 34 xưởng của toàn liên khu, sản xuất 20 -30 tấn giấy/tháng, đủ cung cấp giấy viết, giấy đánh máy, giấy in sách báo, đáp ứng cho ngành giáo dục - văn hóa và cho mọi công tác khác. Ở Quy Nhơn, 1948, có một cơ sở sản xuất giấy, nhưng đến năm 1949 tăng lên 7 cơ sở, cung cấp 7-10 tấn giấy/năm2. Nguồn vật liệu sản xuất giấy từ rơm rạ, bă mía, cây g̣n, nứa gió. Ở Vân Canh đă sản xuất được giấy đánh máy, đặc biệt xưởng Việt Thắng đă sản xuất được các loại giấy đảm bảo tiêu chuẩn in bạc tín phiếu.
Công nghiệp quốc pḥng là ngành kinh tế không thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế thời chiến với nhiệm vụ cung cấp máy móc, vũ khí, trang bị cho kháng chiến. B́nh định đă xây dựng xưởng sản xuất lựu đạn, ḿn và sửa chữa súng. Xưởng Phạm Hồng Thái (Hoài Nhơn) được giao nhiệm vụ sản xuất lựu đạn kiểu Nhật, rất cơ động và tiện lợi cho bộ đội và du kích sử dụng.
Từ năm 1951 cùng với việc chế tạo loại súng phóng bom, ngành quân giới B́nh Định đă chế tạo thành công súng bắn pháo hiệu, pháo sáng, các loại ḿn FT (ḿn phá thành) có sức công phá lớn, đặc biệt, thí nghiệm thành công "xe công đồn". Ngành công nghiệp quốc pḥng đă đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn cho cuộc kháng chiến, đánh dấu sự trưởng thành của ngành quân giới B́nh Định trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Cùng với ngành công nghiệp quốc pḥng, ngành hóa chất và thuốc chữa bệnh cũng được phát triển, thử nghiệm thành công xút, clo, diêm sinh, dầu bôi trơn máy, chế thuốc "Filatov", thuốc sốt rét "Zexakin", vắc xin pḥng dịch đậu mùa, thu góp hàng trăm tấn phân dơi, mỗi gia đ́nh có chậu đựng nước tiểu phơi khô lấy diêm tiêu làm thuốc nổ.
Bên cạnh các ngành nghề mũi nhọn nói trên, các ngành nghề thủ công truyền thống như rèn, mộc, nề tiếp tục duy tŕ. Ḷ thủy tinh ở thành B́nh Định hàng năm sản xuất hàng vạn sản phẩm: ly nước, bóng đèn dầu hỏa, thẩu chai. Cơ sở sản xuất sành sứ ở Phù Mỹ hàng năm đă làm hàng chục ngàn chén bát, đĩa ăn. B́nh Định có công ty Hưng Nam, cơ sở tài chính của Liên Việt tỉnh chuyên sản xuất đồ dùng gia đ́nh bằng nhôm.
Các nghề như nấu xà pḥng, mộc, khảm xà cừ, ép dầu, đan bao, dệt chiếu, xe dây dừa... được phục hồi, phát triển nhanh. Nhờ vậy đă tự túc được khá nhiều hàng tiêu dùng cần thiết cho đời sống, tạo việc làm, tăng thu nhập, trao đổi hàng hóa với các tỉnh bạn. Điều đĩ góp phần to lớn vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc.
Giao thông vận tải bước đầu được khôi phục để phục vụ kinh tế và quốc pḥng.
Cuối năm 1947, ngành giao thông vận tải tỉnh B́nh Định đă bắt tay vào việc xây dựng, sửa chữa, củng cố lại các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển với tinh thần "chiến trường, chiến dịch ở đâu th́ đường vận tải vươn ra đến đó".
Về đường bộ, do mạng lưới đường sá lâu không được tu sửa, bảo dưỡng nên việc phục hồi rất khó khăn. Đoạn đường sắt từ Quảng Ngăi đến La Hai (Phú Yên) có 130 cầu th́ có 40 cầu bị phá. Công nhân cầu đường B́nh Định đă tu sửa đoạn đường Bồng Sơn - B́nh Định cùng với đoạn đường Cầu Gành - La Hai (Phú Yên) cho cam-nhông-ray và xe gọng chạy, mở thêm các tuyến đường phụ để thay thế cho những đoạn Quốc lộ 1A bị địch đánh hỏng. Ngoài ra, công nhân giao thông đă phát huy tinh thần kháng chiến nhằm khắc phục khó khăn về thiết bị như sáng kiến của đồng chí Trần Tṛn, bắc cầu phao bằng h́nh thức "chồng cũi lợn". Từ những năm 1947-1948, B́nh Định mỗi năm huy động chừng 30 vạn dân công, 1.500 ngựa thồ tham gia vận chuyển gạo, thực phẩm, dược phẩm... tiếp tế cho các mặt trận. Đến tháng 7.1950, Tỉnh uỷ đă huy động 1.500 dân công, trên 600 ngựa thồ vận chuyển 200 tấn lương thực và hàng trăm tấn vũ khí phục vụ Trung đoàn 803, các đại đội độc lập.1
Phương tiện vận chuyển khác như ôtô, xe ngựa, thuyền bè cũng được phát triển. Năm 1947 ngành vận tải xe hơi đă có 300 người tham gia hoạt động (gồm chủ xe, thợ máy, tài xế và phụ xe). Tính đến 1952, phương tiện đường bộ gồm 621 xe cộ, 154 xe ngựa.
Về đường sắt, do đầu máy và toa xe hỏa bị hư hại nặng, ngành đường sắt đă chế tạo cam - nhông - ray, xe gọng để vận chuyển người và hàng hóa. Mỗi cam - nhông - ray có 40 chỗ ngồi kéo theo một rơ moóc chở 5 tấn hàng, chạy bằng động cơ ôtô và xe gọng đẩy bằng sức người.
Hoạt động của ngành đường sắt của tỉnh B́nh Định đă góp phần chuyên chở hàng hóa, đi lại của quân và dân trên tuyến đường Bắc Nam tỉnh. Năm 1952-1953, công nhân hỏa xa đă vận chuyển hơn 5.000 tấn lúa, muối, vũ khí, quân nhu cho bộ đội, góp phần chi viện sức người sức của cho tiền tuyến.
Cùng với giao thông đường bộ và đường sắt, giao thông đường thủy là một trong những loại h́nh giao thông có thế mạnh ở B́nh Định. Là địa phương có nhiều kênh rạch, có cảng biển, nên B́nh Định đă tận dụng khai thác tiềm năng của vận tải đường thủy để phục vụ kháng chiến. Các đơn vị vận tải bằng thuyền buồm trên đầm Thị Nại, trên sông Lại Giang, sông Côn... khá tấp nập. Mặc dù, máy bay địch bắn phá ác liệt, nhưng hoạt động vận tải đường thủy vẫn đảm bảo thông suốt. Tính đến 1952, lực lượng vận chuyển đường thủy của B́nh Định đă có 520 thuyền tải. Riêng trên sông Côn có 172 chiếc trọng tải từ 1-2 tấn, trên sông Lại Giang có 95 chiếc trọng tải cũng từ 1-2 tấn. Công đoàn vận tải B́nh Định đă động viên công nhân lao động, các chủ phương tiện góp vốn, góp phương tiện và công sức nhằm thực hiện tốt vận tải phục vụ kháng chiến. Năm 1953, chỉ tính riêng Công đoàn thuyền tải nam B́nh Định chuyên chở được 800 tấn vũ khí và lương thực ra chiến trường. Công đoàn thuyền tải Hoài Đức (Hoài Nhơn) với hơn 40 đội viên đă vận chuyển 58 tấn vũ khí, máy móc, lương thực phục vụ quân đội trên tuyến dài 25 km.
Cùng với giao thông vận tải, thông tin liên lạc kháng chiến cũng được quan tâm phát triển. Thông tin liên lạc có nhiệm vụ đảm bảo vận chuyển công văn tài liệu an toàn và kịp thời phục vụ cho các cấp ủy Đảng và chính quyền, bộ đội. Đề pḥng địch lấn chiếm vùng tự do B́nh Định, thông tin liên lạc phải phối hợp chặt chẽ với công an để t́m địa điểm dự pḥng, dời cơ quan khi bị địch lấn chiếm. Theo sự chỉ đạo của tỉnh ủy, các cơ quan cấp tỉnh có 1-3 địa điểm dự pḥng, tổ chức trạm và đường dây liên lạc bí mật, đảm bảo giao thông liên lạc không bị gián đoạn.
Ngành thương nghiệp kháng chiến B́nh Định cũng được tổ chức và xây dựng.
Tổ chức và hoạt động thương nghiệp quốc doanh, tập thể bắt đầu h́nh thành. Bên trên có Liên đoàn hợp tác xă tỉnh, mạng lưới bên dưới gồm 45 hợp tác xă làm nhiệm vụ tiếp tế, tiêu thụ, thu mua, và bán hàng, chủ yếu phục vụ cho nhân dân, bộ đội, cơ quan. Bồng Sơn, Đập Đá, là hai trung tâm thương nghiệp của tỉnh và khu V trong kháng chiến chống Pháp. Thương nghiệp kháng chiến có vai tṛ rất lớn trong việc phục vụ sản xuất, điều ḥa thị trường, b́nh ổn giá cả, cung cấp những nhu cầu sinh hoạt cho cán bộ, bộ đội và nhân dân, nguyên vật liệu và trang thiết bị cho các xí nghiệp, công xưởng.
Để giữ vững giá cả, làm chủ thị trường, năm 1947, được Chính phủ cho phép, Uỷ ban Kháng chiến Hành chính khu V cho phát hành bạc tín phiếu với mệnh giá 5,50, 500 và 1.000 đồng. Tỉnh đă tiến hành cuộc vận động nhân dân hưởng ứng việc phát hành và tiêu dùng tín phiếu. Tín phiếu trở thành đồng tiền chính trên thị trường của tỉnh và khu V.
Hệ thống mậu dịch quốc doanh được phát triển. Gạo, muối, vải là những mặt hàng chiến lược đảm bảo nhu cầu nhân sinh, sau đó mở rộng kinh doanh các mặt hàng giấy viết, xà pḥng, dầu hỏa... Ngành thương nghiệp c̣n tổ chức kinh doanh một số tư liệu sản xuất như: trâu ḅ, nông cụ và thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp. Việc giao lưu hàng hóa đă thúc đẩy sản xuất phát triển, khắc phục dần t́nh trạng biến động thị trường, ổn định giá cả giữa các vùng.
Trong hoạt động thương nghiệp, chợ kháng chiến đóng vai tṛ quan trọng trong việc mở rộng buôn bán. Chợ mọc khắp nơi từ miền xuôi đến miền ngược. Chợ thường họp vào ban đêm, nhân dân các nơi qua lại trao đổi, buôn bán đông đúc như thị xă Quy Nhơn, Bồng Sơn, Đập Đá. Việc giao lưu buôn bán giữa các vùng làm cho giá cả ngày càng ổn định. Ngành thương nghiệp tỉnh đ tăng cường cung cấp cho miền núi các mặt hàng nhu yếu phẩm như: muối, vải, cá, đường.
Về hoạt động xuất nhập khẩu, tỉnh đă dùng những mặt hàng nông lâm thủy hải sản như: tơ tằm, xà cừ, bào ngư, vây cá để trao đổi với Hồng Kông, Ma Cao (Trung Quốc) đổi lấy những mặt hàng mà B́nh Định chưa có. Công ty Việt Thắng, Việt Toàn, Liên Minh được quyền thu mua hàng ngoại, thông qua cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), kiểm soát chặt chẽ xuất khẩu, tăng cường thu thuế, động viên nhân dân dùng hàng nội hóa, chống dùng hàng xa xỉ phẩm của địch.
Nhờ xây dựng mạng lưới thương nghiệp quốc doanh, hợp tác xă mua bán, thương nghiệp kháng chiến phát triển khá phong phú, đa dạng. Nó đă đấu tranh chống bao vây kinh tế của Pháp, làm thất bại âm mưu bóp chết hậu phương kháng chiến.
Để tạo thêm ngân sách đóng góp vào quỹ kháng chiến và trang trải các khoản chi tiêu của tỉnh, ngoài việc tăng cường thu thuế điền thổ, thuế phụ thu kháng chiến, trong năm 1947, tỉnh đă ban hành và thu thêm một số thuế mới như thuế quan 7.889.011 đồng, thuế môn bài 491.200 đồng, thuế sát sinh 919.184 đồng, thuế trước bạ 59.057 đồng, thuế điền thổ 4.745.863 đồng. Tổng cộng 15.044.1637 đồng và 2.144 tấn lúa phụ thu kháng chiến1.
Thực hiện nhiệm vụ và phương hướng của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III (2.1950): "Tăng thu giảm chi, thống nhất quản lư tài chính nhà nước", B́nh Định đă triển khai thu thuế nông nghiệp mới theo phương thức lũy tiến đối với những người ít ruộng, không thu thuế với đất mới khai hoang, khuyến khích nhân dân vay vốn tín dụng để sản xuất, đồng thời kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính, tiến hành giảm biên chế các ngành cho hợp lư để giảm nhẹ sự đóng góp của dân. Tín dụng đă phát huy vai tṛ đẩy nhanh sản xuất, b́nh ổn vật giá, cân đối thu chi ngân sách, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, cán bộ, bộ đội, và xây dựng hậu phương vững mạnh.
Như vậy, từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức ḿnh là chính, nhân dân B́nh Định đă xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cung, tự cấp với cơ cấu kinh tế: công nông - thương nghiệp - ngân hàng tín dụng và giao thông vận tải hoàn chỉnh, góp phần chi viện cho tiền tuyến. Những kết quả kinh tế mà nhân dân B́nh Định đạt được đă góp phần củng cố hậu phương kháng chiến, tạo điều kiện huy động nhân tài, vật lực ngày một lớn mạnh, xứng đáng là hậu phương trực tiếp của chiến trường Nam Trung Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.
c. Trên mặt trận giáo dục.
Trn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp với chính sách ngu dân của chúng đ để lại cho nhn dn ta nạn m chữ nghim trọng. Để giải quyết hậu quả ny, Hồ Chủ tịch đ ra lời ku gọi: "Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi bổn phận của ḿnh, phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nhà nước trước hết là biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ..."
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và với truyền thống hiếu học của dân tộc, khi bước vào kháng chiến, nhân dân B́nh Định đă phát huy thành quả của phong trào "chống giặc dốt" sau Cách mạng Tháng Tám để đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá và phát triển ngành giáo dục.
Trong hoàn cảnh kháng chiến ngày càng khẩn trương, điều kiện vật chất cho nhu cầu giáo dục có nhiều khó khăn, nhưng nhờ Đảng và chính quyền quan tâm đến tổ chức giáo dục, nên hoạt động giáo dục vẫn tiếp tục phát triển. Ở bậc tiểu học, số trường lớp, học sinh tăng lên từng năm một, xă có thêm trường hoàn chỉnh đến lớp nhất. Đáng chú ư là ở các huyện miền núi như: An Lăo, Vĩnh Thạnh... đă mở được một số trường lớp cho con em các dân tộc thiểu số, mỗi lớp có từ 10 đến 15 học sinh. Năm học 1946-1947, toàn tỉnh có 780 lớp học với 24. 642 học sinh bậc tiểu học, đến năm học 1948-1949 đă lên tới 371 trường với 826 lớp học và 29.588 học sinh, b́nh quân cứ 1.000 dân có 90 học sinh cấp một. Năm học 1952-1953, trường cấp một đă phát triển hoàn chỉnh với quy mô từ 7-10 lớp, xă nhỏ 2-3 lớp.
Bậc trung học cũng được phát triển mạnh. Năm học 1946-1947, chỉ có 200 học sinh của trường Trung học Nguyễn Huệ; đến năm học 1948-1949, trường đă lên đến 46 lớp và 4.946 học sinh, b́nh quân cứ 10.000 dân có 40 học sinh cấp II, III, gấp 40 lần so với thời Pháp thuộc1. Số học sinh nữ chiếm trên 40% tổng số học sinh phổ thông các cấp. Bậc trung học B́nh Định, ngoài trường Trung học Nguyễn Huệ, có thêm 3 trường tư thục: Minh Viên( Mai Xuân Thưởng), Đặng Đức Tuấn, Quang Thuỳ (Thị Nại) và đến tháng 9.1948 tỉnh thành lập thêm trường Trung học b́nh dân. Tổng số học sinh năm trường này là 1.065 người.
Phong trào b́nh dân học vụ, xóa nạn mù chữ cũng được phát triển mạnh mẽ. Nhiều lớp b́nh dân với sự tham gia của hàng ngàn người, với đủ các độ tuổi. Nhân dân không quản ngại khó khăn để đến lớp cả ngày lẫn đêm. B́nh Định đă có trường tiểu học b́nh dân tập trung. Ở huyện th́ có trường b́nh dân học vụ định kỳ. Với sự nỗ lực của ngành giáo dục, quư I năm 1949 toàn tỉnh đă thanh toán được nạn mù chữ cho 100% số xă đồng bằng và 3 xă miền núi. Giáo dục miền núi có 4 trường cấp I với 300 học sinh, 47 lớp b́nh dân học vụ với 796 học viên nam người dân tộc miền núi. Đến năm 1951, tổng số học viên xóa nạn mù chữ 326.000 người (nữ gần 22.500 người, trong đó, gần 14.000 người biết đọc, biết viết chuyển qua học các lớp dự bị2.
Nhằm tiếp tục nâng cao tŕnh độ văn hóa cho nhân dân, ngành giáo dục mở thêm 1.494 lớp dự bị bổ túc cho 41.387 học viên. Để giải quyết nạn thiếu giáo viên, đặc biệt là ở bậc tiểu học, tỉnh đă mở thêm trường Sư phạm để đào tạo giáo viên tiểu học, và mở 5 lớp tu nghiệp cho giáo viên tiểu học. Bên cạnh hệ thống trường phổ thông quốc lập, hệ thống trường tư thục và bán công tiểu học cũng được chú ư phát triển. B́nh Định có 16 trường tư thục tiểu học với 2.132 học sinh, hai trường bán công, bán tư tiểu học với 498 học sinh. Huyện miền núi An Lăo, Vân Canh có trường tiểu học với 60 học sinh. Đi đôi với hệ thống tổ chức trường lớp, ngành giáo dục kháng chiến B́nh Định rất chú ư đến chất lượng giảng dạy. Ngành đă thường xuyên tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao tŕnh độ cho giáo viên. Đa số giáo viên nhiệt t́nh với nghề nghiệp, toàn tâm toàn ư phục vụ kháng chiến. Do vậy, mặc dù có nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng thầy và tṛ B́nh Định đă đưa nền giáo dục phát triển về cả mặt số lượng lẫn chất lượng. Năm học 1953-1954 cả trường tư lẫn trường công toàn tỉnh có gần 42.500 học sinh cấp I, 3.139 học sinh cấp II, 86 học sinh cấp III và 27.800 học sinh vỡ ḷng, nâng tổng số học sinh phổ thông lên 73.436 em1.
Giáo dục để phục vụ kháng chiến, nhà trường luôn giáo dục các em hướng về kháng chiến. Các phong trào thi đua kháng chiến được phát động trong nhà trường như phong trào thi đua: "Con gà kháng chiến", "Buồng chuối kháng chiến", tổ chức lập quỹ ủng hộ kháng chiến ở thôn, xă, tham gia công tác xây dựng làng chiến đấu.
Tại đại hội mừng công do sở B́nh dân học vụ Liên khu V phối hợp với ty B́nh dân học vụ tỉnh B́nh Định tổ chức (8.1949), B́nh Định có chiến sĩ diệt giặc dốt được Trung ương thừa nhận là chiến sĩ diệt dốt toàn quốc đó là anh Giă Như Lang quê ở Tam Quan vừa là giao thông viên, vừa là dân quân, vừa là giáo viên hai lớp b́nh dân học vụ, được Bộ Giáo dục tặng bức chân dung Bác Hồ với ḍng chữ "Tặng chiến sĩ diệt dốt".
Cho đến năm 1949, B́nh Đinh là tỉnh duy nhất trong 4 tỉnh Nam, Ngăi, B́nh, Phú đă thanh toán nạn mù chữ trong 84 xă đồng bằng. Các trường ở B́nh Định tiếp tục dạy đến ngày 15.4.1955 mới đóng cửa.
Ngành giáo dục B́nh Định đ góp phần nâng cao dân trí, cùng quân và dân phục vụ cho công cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Học sinh lớn nhỏ sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khi cách mạng cần, ở hậu phương cũng như tiền tuyến.
d. Trên mặt trận văn hóa.
Văn hóa kháng chiến cũng là một mặt trận quan trọng. Dưới ánh sáng đường lối văn hóa của Đảng và nhờ những nỗ lực lớn lao của cán bộ hoạt động văn hóa và đông đảo quần chúng nhân dân, nền văn hóa kháng chiến B́nh Định đă vươn lên mạnh mẽ. Các ngành văn hóa đều thu được những thành tựu đáng tự hào.
Phong trào văn hóa văn nghệ, xây dựng nếp sống mới phát triển sôi nổi cả ở đồng bằng cũng như miền núi. Ở miền núi đă xóa được các phong tục tập quán lạc hậu như: cúng Giàng (Trời), cúng ma, nghi ma lai, cầm đồ, thuốc độc... Các tệ nạn xă hội như đĩ điếm, rượu che, cờ bạc, trộm cắp đă được hạn chế nhiều. Hội Phụ nữ cứu quốc đă phát động phong trào: "Phụ nữ chức nghiệp" và phong trào năm tốt1, đảm đương công việc hậu phương cho chồng con ra mặt trận. Hội mẹ chiến sĩ có phong trào may áo phục vụ bộ đội.
Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển. Hầu hết các xă đều có đội văn nghệ nghiệp dư, ṇng cốt là thanh thiếu niên. Các loại h́nh văn hóa dân gian truyền thống như hát bội, bài cḥi, hát đối, điệu ḥ thể hiện nội dung mới, đề cao tinh thần yêu nước, căm thù giặc được khai thác. Vở tuồng "Hai Bà Trưng" của các gánh hát bội Cửu Vị (B́nh Nghi), Bát Phàn (B́nh Tường) đă được biểu diễn khắp nơi.
Ngành thông tin tuyên truyền hoạt động tích cực. Khắp các thôn làng đều có cḥi phát thanh, có đội tuyên truyền, loa các tin tức, thời sự, phổ biến chính sách của Đảng và Chính phủ đến tận người dân. Ở nơi công cộng có các áp phích, khẩu hiệu động viên mọi người tham gia các mặt công tác kháng chiến. Cơ quan thông tin đă xuất bản tờ báo "Dân chúng" với 300 số mỗi kỳ nhằm tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và xuất bản tơ "Tin tức" để đưa những tin tức chiến thắng.
Hoạt động thể thao bóng đá, bóng chuyền được duy tŕ mạnh mẽ trong thanh niên.
Tháng 4.1948, đoàn văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập, đă tập hợp một số văn nghệ sĩ, tổ chức những đêm văn nghệ, động viên nhân dân thực hiện đời sống mới, đă xuất bản một số tập thơ, ca dao, bài cḥi, truyện ngắn. Đông đảo văn nghệ sĩ đă ḥa nhập vào cuộc sống sôi động của dân tộc, thực sự trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Hoạt động và thưởng thức văn nghệ trở thành nhu cầu trong đời sống kháng chiến của công - nông - binh. Các tệ nạn xă hội cũ được nhân dân truy quét, sáng kiến lập "xă ước" nhằm sửa đổi các phong tục lạc hậu, phát huy truyền thống "lá lành đùm lá rách", lập các hội tương tế, cứu tế, phát triển trong nhân dân.
e. Trên mặt trận y tế.
Ngành y tế B́nh Định đă được tổ chức thành hệ thống từ tỉnh đến xă và xây dựng nề nếp chỉ đạo toàn diện (cả hành chính và chuyên môn) thông suốt trong toàn ngành. Chính quyền các cấp và ngành chuyên môn có nhiều cố gắng trong công tác phát triển y tế, thực hiện phương châm "pḥng bệnh là chính" vận động nếp sống vệ sinh, ăn sạch, uống sạch, ở sạch.
Hoạt động vệ sinh pḥng bệnh ở B́nh Định khá sôi nổi. Toàn dân thực hiện phong trào "uống nước đun sôi, ăn đũa hai đầu", làm nhà tắm, hố xí, đưa chuồng trâu ḅ, heo xa nhà, làm tổng vệ sinh hàng tuần, thực hiện "sạch làng tốt ruộng", nên trong dân gian có câu:
"Thi đua ăn đũa hai đầu.
Lấy chồng bộ đội, làm dâu cụ Hồ".
Phong trào "Tam tinh tứ diệt" được nhân dân hưởng rầm rộ. Thống kê năm 1952, hưởng ứng phong trào "Tam tinh tứ diệt" toàn tỉnh đă diệt 27 triệu con sâu các loại, 300 ngàn ổ sâu cân nặng 900 kg, diệt 14 triệu con chuột, số đuôi chuột lên đến 5 giạ1.
Để giải quyết phần nào khó khăn, thiếu thốn về thuốc men, nhân dân tích cực phát huy truyền thống chữa bệnh theo y học dân tộc cổ truyền. Nhiều đoàn cán bộ y tế về các xă vận động phong trào trồng và sử dụng thuốc Nam. Các loại cây cao vỏ dền, cao thường sơn, dây kí ninh được dùng làm thuốc viên Pentaquin để chống sốt rét. Củ gừng, lá ổi, đọt sim và cao thuốc phiện làm viên Ginpopaver chữa bệnh về đường ruột. Cây nghệ, dây cam thảo, mật ong dùng để chống ho, thuốc lợi tiểu bằng râu ngô, rễ tranh,...
Ngoài việc dùng thuốc nam chữa bệnh, mỗi cán bộ y tế, nữ hộ sinh c̣n có một túi thuốc gồm một phần thuốc tân dược như thuốc đỏ, Stovarsol và các thứ thuốc dùng cầm máu. Bông băng rất cần thiết cho y tế, v́ vậy, anh chị em đă mua vải màn dệt ở Đập Đá (An Nhơn) về cuộn lại và cắt, sáng kiến dùng bẹ cây chuối hột, rọc bỏ lớp vỏ xanh cứng giữ lại sợi dọc và lớp lụa mỏng bên trong phơi khô cuộn thành băng.
Toàn tỉnh có 2 bệnh viện, các huyện và các xă đều có bệnh xá, trạm y tế, nhà hộ sinh, tổ cứu thương, các lương y tận t́nh với nghề nghiệp. B́nh Định được công nhận là tỉnh có phong trào vệ sinh pḥng bệnh khá nhất trong toàn Liên khu V.
Để góp phần xây dựng "đời sống mới", ngành y tế B́nh Định đă có các đội tuyên truyền xung phong tỉnh, huyện. Các đoàn thanh niên xă thôn đă tổ chức sáng tác thơ ca ḥ vè về vệ sinh pḥng bệnh để tuyên truyền, cho ra tờ báo "Dân chúng"để giáo dục vệ sinh pḥng bệnh. Trong phong trào đó, nhiều thôn, xă đă đạt kết quả tốt như xă Hoài Mỹ trong 10 ngày đă diệt 204.236 con ruồi, 180.576 con rệp, 27.956 con chuột, 55 kg 824 sâu bọ. Nói tóm lại, từ chỗ thiếu ăn, thiếu mặc, lại nằm trong thế bị địch bao vây, quân và dân B́nh Định đă tự lực cánh sinh, xây dựng vùng tự do thành căn cứ địa và hậu phương vững mạnh, phục vụ cho các mặt trận trong liên khu. Ngành y tế đă thực sự đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần đẩy mạnh cuộc kháng chiến mau thắng lợi.
3. Nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ vùng tự do
a. Xây dựng lực lượng vũ trang.
Để bảo vệ vùng tự do, đối phó với các hành động tập kích bằng phi pháo, biệt kích, t́nh báo gián điệp và các cuộc hành quân càn quét của địch vào vùng tự do và căn cứ kháng chiến, công tác xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, bố pḥng, sẵn sàng chiến đấu của quân và dân B́nh Định không ngừng được củng cố và hoàn thiện.
Đảng đă sớm xác định: "Muốn kháng chiến thành công phải có lực lượng vũ trang hùng mạnh"1. Thực hiện chủ trương đó, từ tháng 4.1948, trung đoàn 94 và 95 sáp nhập thành trung đoàn 120, đứng chân ở B́nh Định do đồng chí Vơ Văn Dật làm trung đoàn trưởng, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vng tự do B́nh Định và hoạt động tác chiến, gây cơ sở, phát triển trên chiến trường Gia Lai.
Các đơn vị dân quân du kích được kiện toàn, làm nhiệm vụ bố pḥng, xây dựng các băi chông, cạm bẫy, tuyến chiến đấu. Các đơn vị bộ đội tập trung của tỉnh, huyện, khẩn trương luyện quân, sẵn sàng đánh bại những cuộc càn quét của địch để bảo vệ vùng tự do.
Tháng 9.1949, Tỉnh cho thành lập bộ đội địa phương huyện. Mỗi huyện đồng bằng có một đại đội, thị xă Quy Nhơn có hai trung đội, mỗi huyện miền núi có một trung đội.
Ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xă đội, thôn đội được kiện toàn và đặt dưới sự lănh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng.2 Đây là đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên với quân số 1.316 người, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh; kể cả dân quân du kích và quân dân tự vệ, tổng số lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên 132.644 người (trong đó 2.200 người dân tộc miền núi).
Bộ máy quân sự từ thôn đến tỉnh cũng được củng cố. Cơ quan tỉnh đội có 325 người, cơ quan huyện đội từ 30 đến 45 người, xă có ban chỉ huy 3 người.
Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh có 73.818 dân quân nam, 2.089 dân quân nữ, 1.777 bạch đầu quân, 1.199 dân quân người dân tộc ở các huyện miền núi.1
Từ cuối năm 1949, phong trào thi đua xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích càng được đẩy mạnh.
Hội phụ nữ B́nh Định với khẩu hiệu: "Mỗi nữ thanh niên là một dân quân du kích" đă tham gia bố pḥng canh gác. Năm 1948, nữ dân quân du kích có 6.800 chiến sĩ th́ đến năm 1949 tăng gần gấp đôi - 13.000 chiến sĩ và năm 1950 đạt tổng số trên 22.200 chị, đóng một vai tṛ quan trọng trong lực lượng dân quân du kích địa phương.
Có thể nói, các đoàn thể và nhân dân trong tỉnh đă tổ chức đỡ đầu cho bộ đội, dân quân du kích, nuôi dưỡng thương binh. Đây là dịp nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng lực lượng vũ trang. Tỉnh đă phát động phong trào "rèn cán chỉnh quân" nhằm nâng cao chất lượng chính trị và năng lực chỉ huy của cán bộ chiến sĩ.
Công tác huấn luyện quân sự ngày càng được đẩy mạnh, đă chú ư các bài tập như vơ dân tộc, ném lựu đạn, tập bắn súng trường, kỹ thuật tấn công và rút lui. Phục kích tác chiến trên mọi địa h́nh đều được thao tác kỹ lưỡng. Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đều có lập tiểu đội "nông binh" chuyên lo sản xuất lúa phục vụ bộ đội.
Ngành công an tỉnh đă có vai tṛ hết sức quan trọng trong việc đánh bại chiến tranh gián điệp của địch, bảo vệ hậu phương kháng chiến an toàn. Công tác xây dựng làng chiến đấu đă được thực hiện ở hầu hết các vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng, ven biển và đă thu hút toàn dân tham gia, lấy lực lượng vũ trang làm nịng cốt .
Đầu năm 1950, lực lượng vũ trang tỉnh đă xây dựng 1 tiểu đoàn tập trung, 2 đại đội độc lập, mỗi huyện, thị một đại đội độc lập. Cuối năm 1950, đă xây dựng hoàn chỉnh tiểu đoàn 50 (gồm đại đội 101, 102, 103, 104), lực lượng dân quân du kích có 203.180 người (tăng 70% so với năm 1949), có 2.795 công nhân viên các cơ quan tham gia tự vệ.2
Tóm lại, các lực lượng vũ trang, bán vũ trang và công an nhân dân địa phương có 220.000 cán bộ, chiến sĩ, trong đó 1.700 cán bộ lực lượng tập trung, 1.800 bạch đầu quân, 2.000 nữ dân quân, 1.200 dân quân người dân tộc1.
Chính nhờ làm tốt công tác xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, quân và dân B́nh Định đă đánh bại các cuộc càn quét của địch, bảo vệ được vùng tự do.
b. Phong trào bảo mật pḥng gian.
Để pḥng chống chiến tranh gián điệp, B́nh Định đă phát động phong trào "Bảo mật pḥng gian". Tỉnh thường xuyên giáo dục nhân dân về ư thức bảo mật pḥng gian, bảo vệ bí mật nơi bộ đội đóng quân, nơi làm việc của các cơ quan, kho tàng, thực hiện khẩu hiệu ba không ( không nghe, không biết, không thấy), bộ đội, dân quân du kích, vũ khí không được ĺa thân. Ban công an giáo dục mọi người đề cao cảnh giác, thấy người lạ mặt phải báo cáo, chống phát ngôn bừa băi, phao tin đồn nhảm.
Từ cuối năm 1948, mạng lưới pḥng thủ ven biển được củng cố và xây dựng tương đối hoàn chỉnh, bố trí các lực lượng thường trực và hệ thống trạm quan sát. Tổ chức pḥng tránh, bảo vệ tính mạng tài sản cho nhân dân.
Nhờ công tác bảo mật pḥng gian được làm tốt và sự giác ngộ của nhân dân, nên an ninh trật tự được giữ vững, trộm cắp ít xảy ra, các tệ nạn xă hội bị dập tắt. Đặc biệt, Vĩnh Thạnh đă phá được âm mưu của địch định mua chuộc một số thanh niên dân tộc để tổ chức vũ trang ở Kon-plo (Vĩnh Thạnh). Đồng bào dân tộc yên tâm sản xuất.
c. Xây dựng hệ thống chiến đấu, sẵn sàng chống trả thực dân Pháp khi đổ bộ lên đất B́nh Định.
B́nh Định là nơi địch tập trung đánh phá ác liệt nhất trong số tỉnh tự do Liên khu V. Ở An Khê, địch tổ chức bắn phá, càn quét xuống tây Vĩnh Thạnh, B́nh Khê. Chúng đổ bộ nhiều lần lên Quy Nhơn, Đề Gi, G̣ Bồi, Tân Phụng, An Dũ, Tam Quan để cướp phá, lập tề ở Cù Lao Xanh. Hầu hết các thị trấn, huyện lị đều bị ném bom.
Để đối phó với âm mưu phá hoại của địch, Ủy ban kháng chiến hành chính đă lănh đạo nhân dân xây dựng hệ thống chiến đấu, đào giao thông hào, xây dựng công sự ở những vị trí trọng yếu, đào hàng ngàn hầm núp máy bay, đạn pháo. Từng cá nhân từng gia đ́nh đều có hầm trú ẩn. Trên các băi đất rộng, sân vận động được cắm cọc tre nhọn đề pḥng địch nhảy dù. Đồng thời bộ đội, dân quân du kích xây dựng nhiều trận địa chiến đấu ở những nơi hiểm yếu như: chợ Gồm (Cát Hanh), Phủ Cũ, Đèo Nhông (Phù Mỹ), B́nh Đê (Hoài Châu), Núi Một - Núi Ngang (B́nh Tường).
Các vùng ven biển đều có phương án đánh địch đổ bộ đường biển bằng việc xây dựng các công sự chiến đấu.
Ở Quy Nhơn, phương án tác chiến là xây dựng hệ thống công sự ven biển, ven đầm Thị Nại, trên các đường phố như đường Gia Long, các tường nhà được đục thông, tạo thành hành lang cơ động chiến đấu khi có địch đến1.
Ở miền núi, nhân dân cùng với du kích các làng So-do, Kon-hai, Kon-dơn (Vĩnh Thạnh) bố pḥng lập trận địa chông trên đường 19 để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ xuống vùng tự do.
Hệ thống làng chiến đấu được xây dựng khắp nơi. Các huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh, An Lăo, làng chiến đấu được bố trí bằng hệ thống chông tḥ, cạm bẫy. Ở các làng chiến đấu vùng đồng bằng được xây dựng liên hoàn thôn này nối liên với thôn khác rất hoàn thiện cho chiến đấu. Tuyến bố pḥng ven biển dài hàng trăm km được nối liền với nhau. Trên các mỏm núi, các trạm gác có cột bồ báo hiệu để thông báo cho nhân dân biết khi có giặc đến.
Cùng với biện pháp xây dựng hệ thống chiến đấu, Tỉnh ủy đă tiến hành giáo dục nhân dân đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.
d. Những trận đánh tiêu biểu.
Đến đầu năm 1947, từ An Khê, thực dân Pháp âm mưu đánh xuống B́nh Định để chiếm lấy vùng tự do của ta. Đồng chí Vi Dân -Trung đoàn trưởng trung đoàn 95 quyết định đưa lực lượng lên phối hợp với quân và dân Gia Lai để đẩy mạnh hoạt động vào An Khê. Ngày 29.12.1946, quân ta bao vây, quấy rối các cứ điểm Gia Hội, Thượng An, đánh sập cầu, đắp ụ chướng ngại vật, cắm chông, cài ḿn trên đường 19. Ngày 14.3.1947, quân ta tấn công cứ điểm Tú Thủy, nhưng bị bại lộ, đồng chí Vi Dân hy sinh. Ngày 2.7.1947, gần 2.000 quân Pháp có đại bác, xe bọc thép yểm trợ đă đánh chiếm Phú Phong. Chúng chia thành ba cánh quân: cánh thứ nhất, từ Cửu An đánh xuống Định Nh́, Định Quang. Bị trung đoàn 94, chặn đánh, quân địch bị thiệt hại nặng. Cánh thứ hai từ Cửu An qua Eo Gió, Đồng Hào, Tiên Thuận xuống đèo Bồ Bồ th́ bị đại đội 10 thuộc trung đoàn 95 giật ḿn, nổ súng tiêu diệt 150 tên. Cánh thứ ba, từ đèo An Khê theo đường 19 xuống vườn Xoài - Đồng Phó - Phú Phong th́ bị sập hầm, hàng chục tên chết. Trong khi đó, hậu cứ An Khê bị đại đội Tây Sơn liên tục đánh phá. Sau 4 ngày hành quân không thực hiện được ư định chiếm đóng vùng tự do, quân số lại thương vong ngày càng lớn buộc chúng phải rút toàn bộ về An Khê. Chiến thắng Bồ Bồ đă góp phần đánh bại cuộc càn quét của hơn 1.500 quân Pháp vào vùng tự do của ta.
Cuối năm 1947, quân Pháp ở An Khê quay về càn quét để ổn định vùng chiếm đóng. Bộ đội ta quyết tâm bẻ găy các cuộc càn quét của địch. Đại đội 51A được giao nhiệm vụ tổ chức phục kích địch ở khu vực cầu Suối Vối - Rọc Dừa.
Lực lượng đánh địch gồm 3 tổ: tổ hỏa lực có 2 trung liên 3 tiểu liên; tổ đánh bom gồm 3 đồng chí ( Mây, Vi, Tường) và tổ vận tải gồm chín người.
Ngày 12.11.1947, quân Pháp từ An Khê mở rộng phạm vi càn quét. Khi quân địch lọt vào trận địa được bố trí tại Suối Vối th́ quân ta nổ súng. Trận đánh càng trở nên khó khăn khi quân Pháp lợi dụng hỏa lực mạnh, ào ạt tấn công ta. Chính lúc đó, anh Ngô Mây, cổ quàng chiếc khăn đỏ bật dậy, ôm bom lao thẳng vào đội h́nh địch. Bom nổ, hơn 40 lính Âu Phi và 2 xe địch bị tan xác. Hành động anh hùng của anh Ngô Mây làm cho địch khiếp sợ và cản được bước tiến của chúng1.
Tiếng bom Ngô Mây măi măi đi vào lịch sử kháng chiến của quân và dân B́nh Định, là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Anh xứng đáng với danh hiệu Anh hùng quân đội, người anh hùng đầu tiên của B́nh Định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Bước sang năm 1948, thực dân Pháp chủ trương "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" dùng người Việt trị người Việt", thực hiện âm mưu phá hoại hậu phương kháng chiến của ta, vơ vét của cải và bắt lính . Giữa năm 1948, chúng mở rộng cuộc tấn công càn quét với quy mô lớn vào khu vực Phù Ly - Phù Cát; thực dân Pháp đă huy động 10 chiếc máy bay Đacôta, thả hơn 200 tên lính nhảy dù xuống cánh đồng Khánh Lộc (Cát Hanh), An Lạc (Mỹ Ḥa). Tại cửa biển Đề Gi, tàu chiến Pháp đổ thêm 2 đại đội, chia 2 cánh. Theo trục Đề Gi - Chợ Gồm và trục Đề Gi - An Lương để hợp điểm tại Phù Ly. Ngay từ những phút đầu tiên, khi quân địch đặt chân lên B́nh Định đă bị các lực lượng vũ trang của ta đánh tơi tả. Kế hoạch càn quét của chúng bị thất bại. Ngày 1.8.1948, thực dân Pháp buộc phải tháo chạy về cửa biển Đề Gi để rút theo đường biển.
Dân quân du kích huyện Phù Cát - Phù Mỹ và đại đội Tây Sơn của tỉnh đă phối hợp với tiểu đoàn 50 của quân khu đánh tan 800 quân Pháp đổ bộ bằng đường không, đường biển. Trong trận đánh Phù Ly, tiểu đội trưởng Thăng đă dùng lê đâm chết tên chỉ huy cuộc hành quân. Xă đội trưởng Trần Thanh Độ dùng đ̣n khiêng đánh chết tên quan ba rồi chạy thoát1.
Chiến thắng Phù Ly đă bẻ găy cuộc hành quân quy mô, gồm cả hải lục, không quân của địch vào hậu phương kháng chiến của ta.
Năm 1949, thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng trên các chiến trường. Ḥng phân tán lực lượng của quân ta trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên, quân Pháp liều lĩnh mở cuộc hành binh đánh vào Tam Quan, một vùng trù phú, dân đông lại là nơi có ga xe lửa và hệ thống kho tàng của ta.
Khoảng 1 giờ sáng ngày 20.7.1949, quân Pháp cho tàu chiến bất ngờ đổ quân lên biển Tam Quan. Chúng chia làm 3 cánh lấy ga Tam Quan làm hợp điểm. Cánh quân thứ nhất, dùng tàu chiến đổ bộ một tiểu đoàn lên Băi Ngang (Hoài Thanh) để đánh vào các thôn Lâm Trúc, G̣ Tháp, Tăng Long, Đại Hóa, rồi vượt qua đường số 1 để lên chợ Cát... Cánh quân thứ 2 đổ bộ lên Vĩnh Tuy, chiếm đèo B́nh Đê để đánh xuống Chương Ḥa, Tân Định, Tân Thành. Cánh thứ 3 đổ lên Thiện Chánh, Trường Xuân.
Theo kế hoạch, nhân dân trong vùng được lệnh lánh cư. Lực lượng vũ trang tại chỗ của ta có đại đội 8 độc lập thuộc trung đoàn 120, một đại đội bộ đội địa phương huyện Hoài Nhơn và dân quân du kích xă Tam Quan, Hoài Hảo, Hoài Thanh. Quân ta đă linh hoạt phân tán thành các đơn vị nhỏ, phục kích chặn đánh địch khắp nơi. Tân Thành, Phước Lộc, đặc biệt là thị trấn Tam Quan là nơi diễn ra các trận chiến đấu ác liệt. Ở cánh quân chợ Cát, du kích Tam Quan, Hoài Hảo phối hợp với tiêu đoàn 50 diệt 180 tên… Ở khu vực Trường Xuân, Tân Thành, Chương Ḥa... du kích và bộ đội địa phương Hoài Nhơn đă bám sát địch, chia cắt, đánh cho chung tơi tả. Ngày 21.7.1949, ta dùng hỏa lực gồm pháo 75 ly, cối 81 tập kích vào sở chỉ huy địch tại ga Tam Quan, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên. Bị đánh liên tục, quân Pháp đành mở đường rút quân xuống tàu biển để kết thúc cuộc hành quân. Khi Pháp rút quân, ta tiếp tục truy quét, đánh mạnh ở Gác Nhíp, Tân Thành, tiêu diệt hàng chục tên. Chiến thắng Tam Quan, ta đă tiêu diệt 200 tên địch, trong đó có một trung úy và 2 thiếu úy.
Chiến thắng Bồ Bồ, Suối Vối - Rộc Dừa, Phù Ly, Chợ Cát - Tam Quan đă nói lên sự trưởng thành của lực lượng vũ trang B́nh Định. Bộ đội và nhân dân B́nh Định sáng tạo ra nhiều cách đánh hay và có hiệu quả. Những chiến thắng nói trên đă bảo vệ được vùng tự do, hậu phương của chiến trường khu V, tạo niềm tin vào đường lối kháng chiến của Đảng, động viên mọi người thi đua giết giặc lập công.
4. Thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các chiến trường
a. Chi viện cho chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ.
Chiến thắng của quân và dân B́nh Định đă góp phần giữ vững vùng tự do của khu V, phá tan âm mưu chia cắt chiến trường Trung Đông Dương mà địch cố thực hiện trong năm 1947 bằng chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh". Có thể nói, năm 1948 là năm có những triển vọng mới, nhưng cũng là năm chiến đấu gian khổ...
Trước t́nh h́nh đó, Hội nghị Dân Chính Đảng miền Nam Trung Bộ do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ tŕ đă đề ra cho các tỉnh Liên khu V ba nhiệm vụ chính, trong đó có nhiệm vụ: Xây dựng, củng cố vùng tự do thành căn cứ địa kháng chiến vững chắc, thành hậu phương trực tiếp của chiến trường Liên khu V và của Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.
Để thực hiện nhiệm vụ chi viện cho chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, Tỉnh ủy B́nh Định đă chủ trương phát động thanh niên ṭng quân, xây dựng lực lượng vũ trang. Hàng ngàn thanh niên đă t́nh nguyện gia nhập các đơn vị của quân khu. Trong một thời gian ngắn, đă có 12.893 thanh niên ghi tên ṭng quân, tuyển được 932 người1. Tỉnh cũng đă huy động hàng ngàn người tải gạo, vũ khí phục vụ chiến trường Bắc Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Trong 1949, B́nh Định đă đưa 1.481 bộ đội địa phương và du kích tham dự ở mặt trận Quảng Nam-Đà Nẵng và An Khê để rèn luyện chiến đấu.
Nhân dân B́nh Định đă hưởng ứng tích cực chủ trương: "Lập quỹ kháng chiến" và xung phong đi dân công phục vụ chiến trường nhằm chi viện cho các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trong 2 chiến dịch, Bắc Tây Nguyên (6.1949) và chiến dịch Nam Khánh Ḥa (11.1949), B́nh Định huy động hàng ngàn lượt dân công phục vụ cho chiến trường từ 15 ngày đến 1 tháng, chuyển tải gạo, súng đạn ra mặt trận. Nhà nào cũng có quỹ nuôi quân, nuôi thương binh. Có gia đ́nh nhận nuôi cả một trung đội luyện tập quân sự từ một tuần đến một tháng. Với tinh thần "điều dưỡng nhân dân" của tỉnh, Hội phụ nữ đă đón nhận cán bộ dân chính Đảng của các tỉnh cực Nam, Tây Nguyên lần lượt về địa phương nuôi dưỡng, tận t́nh chăm sóc để các anh mau chóng phục hồi, sớm trở về công tác.
Năm 1949, B́nh Định gánh vác nghĩa vụ đỡ đầu cho một số tỉnh thuộc vùng bị tạm chiếm như tỉnh Ninh Thuận, Lâm Viên, Gia Lai, thành phố Nha Trang. Ở tỉnh và huyện, thành lập ban đỡ đầu vùng bị chiếm như tổ chức "Tuần lễ ủng hộ Gia Lai". Mặt trận và các đoàn thể hô hào nhân dân đóng góp tích cực. Kết quả, nhân dân B́nh Định đă nhận giúp đỡ 6.000 đồng bào Khánh Ḥa, Phú Yên tản cư, gửi lên giúp đồng bào Lâm Viên 100 bộ áo quần, Ninh Thuận 500 bộ và 200 mền đắp, giúp bộ đội Gia Lai 11.790 mét vải xita, nhận nuôi 77 cán bộ, 118 con em cán bộ các tỉnh hi sinh và thoát ly, tiếp tế cho bộ đội Quảng Nam 3.352 tấn gạo, điều động cán bộ chi viện cho Ninh Thuận và Gia Lai1.
Cùng với phong trào ủng hộ về vật chất cho chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, Tỉnh ủy B́nh Định c̣n cử cán bộ, Đảng viên tăng cường cho các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. B́nh Định cũng c̣n là địa bàn tập kết, đứng chân, rèn luyện, củng cố... của các đơn vị quân đội, các cơ quan tỉnh bạn và quân khu như Trung đoàn 803 bộ đội chủ lực khu, cơ quan khu 15 Tây Nguyên...
Đến năm 1950, nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường vẫn tiếp tục phát triển. B́nh Định đă tiếp tế 1.895 tấn gạo và 42.500 mét vải cho Hạ Lào, Cực Nam, Tây Nguyên và Quảng Nam, nhận thêm 82 cán bộ đến học, 176 cán bộ đến chữa bệnh, 306 học sinh con cán bộ, điều 184 cán bộ và một trung đội dân quân chi viện cho Cực Nam, Tây Nguyên. Đặc biệt xă Cát Trinh (Phù Cát) có 58 cán bộ xă đi Cực Nam, huy động 110.000 người phục vụ cho chiến trường.
B́nh Định xứng đáng là hậu phương của chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
b. Thực hiện nhiệm vụ quốc tế.
Ở Hạ Lào, tháng 12.1945, quân Pháp nhảy dù xuống Pắc-Xế, lần lượt kiểm soát cao nguyên Bô-lô-ven.
Nhằm đoàn kết chống kẻ thù chung, quân t́nh nguyện Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang và nhân dân Lào, Campuchia anh em sát cánh bên nhau để chiến đấu.
Để giành lại địa bàn chiến lược trọng yếu của Hạ Lào, đầu năm 1948, tại Liên khu V đă diễn ra cuộc hội đàm giữa ông Thao Xổm - phái viên Chính phủ Lào kháng chiến Ít-xa-la và đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Hai bên đă nhất trí chủ trương: phối hợp với nhau để xây dựng một khu căn cứ địa ở cao nguyên Bô-lô-ven. V́ vậy, tháng 3.1948, Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị về phương châm và phương hướng hoạt động của các cấp chỉ huy và bộ đội t́nh nguyện Việt Nam trên mặt trận Hạ Lào. Đó là gây cơ sở chính trị, đưa cán bộ chính trị hoặc những ban xung phong bí mật đi sâu vào vùng địch tạm chiếm, sử dụng lực lượng tiểu đội, trung đội hoạt động vũ trang tuyên truyền, phát động chiến tranh du kích, thành lập khu căn cứ địa. B́nh Định đă phái một đại đội và 20 cán bộ dân vận phối hợp với trung đội vũ trang tuyên truyền Lào hoạt động tại tỉnh A-tô-pơ và Sa-ra-van.
Bước sang năm 1949, thực dân Pháp phải tăng cường ở chiến trường Bắc Bộ, nên lực lượng địch ở Hạ Lào bị phân tán. Cùng lúc đó, tỉnh đội B́nh Định đưa sang thêm đại đội 200, đại đội 40 và 30, cán bộ dân vận để giúp bạn.1 Ngày 20.5.1949, Liên khu ủy Nguyễn Côn và ban cán sự đă nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị và tổ chức vận động quần chúng.
Sự phối hợp giữ quân t́nh nguyện B́nh Định với lực lượng vũ trang Lào anh em đă mở cuộc tấn công uy hiếp các hướng, buộc địch rút bỏ một loạt đồn bốt dọc sông Mê Công, lùi về bảo vệ thị xă A-tô-pơ và tuyến đường 16 nối A-tô-pơ vơi đường 23.
Chiến thắng trên đă khai thông hành lang từ vùng tự do Nam Trung Bộ đến căn cứ Tây Nam A-tô-pơ.
Phía đông bắc Campuchia, cuối năm 1949, những cán bộ và chiến sĩ quân t́nh nguyện B́nh Định từ căn cứ bàn đạp A-tô-pơ bắt đầu gấp rút mở đường bắt liên lạc với lực lượng Ít-xa-rắc của Campuchia. Song song với đợt tiến quân lần thứ hai ở Hạ Lào, ta đă đưa một lực lượng do hai đồng chí cấp trung đoàn phụ trách, chuẩn bị chuyển sang Đông Bắc Campuchia qua hành lang Hạ Lào. Ở phía đông, một đoàn 40 cán bộ và chiến sĩ quân t́nh nguyện Việt Nam khác do đoàn phó Phan Phong dẫn đầu từ căn cứ bàn đạp Tây Nguyên theo đường 19 tiến vào đất bạn.
Sau một thời gian gây cơ sở ở khu vực Siam Pang đông bắc tỉnh Stung treng, hai đơn vị này hợp nhất lại và chia thành ba bộ phận tỏa ra hoạt động ở ba khu vực: Siam Pang, Vôn Xay, Lâm Phát và phái một tổ công tác liên lạc với Trung ương Campuchia. Cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng cách mạng bạn và ta, đến cuối năm 1950, mặt trận Khơ me Ít-xa-rắc đă xây dựng được 36 thôn ở Bô Keo, 15 xă ở Lâm Phát, dân ở Stung treng đă được quyền làm chủ.
Để nhanh chóng giành thắng lợi ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, theo sự nhất trí giữa bạn và ta, tháng 12.1950, Tiểu đoàn 49 của Trung đoàn 803 được cử sang Hạ Lào và hai tiểu đoàn khác cũng được cử sang Đông Bắc Campuchia.
Trong thời gian cuộc chiến xảy ra, có một đơn vị quân đội Lào về Cát Tài (Phù Cát) để nghỉ dưỡng và tập luyện. Từ năm 1947-1954, nhân dân thôn An Xuyên (Mỹ Chánh, Phù Mỹ) và Năng An (Ân Tín, Hoài Ân) đă nuôi dưỡng gia đ́nh của lănh tụ Pathét Lào là Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (cha, mẹ, vợ và 2 con).
Nhiệm vụ phối hợp giúp đỡ cho chiến trường Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia của Liên khu V trong đó có quân đội và nhân dân B́nh Định đạt kết quả toàn diện cả về quân sự và chính trị, vun đắp t́nh anh em trên bán đảo Đông Dương. Với tinh thần "giúp bạn là tự giúp ḿnh" quân và dân B́nh Định đă góp phần xứng đáng phối hợp với hai chiến trường cùng nhau giành thắng lợi trên địa bàn chiến lược quan trọng này.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (8.1945-5.1955), tr. 78.
2 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy B́nh Định, Đảng Cộng sản Việt Nam người tổ chức lănh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, tỉnh B́nh Định, 2000, tr. 119.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 101-102.
2 Ban Tuyên giáo tỉnh B́nh Định, Đảng Cộng sản Việt Nam, Người tổ chức, lănh đạo mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, năm 2000, tr. 42.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 47-48.
2 Lịch sử Công đoàn và phong trào công nhân lao động tỉnh B́nh Định. Liên hiệp Công đoàn tỉnh B́nh Định, 1992, tr. 57.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 50.
2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, sđd, tr. 93.
1 Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr. 288.
1 Lịch sử phong trào phụ nữ B́nh Định, tập I, B́nh Định, 1995, tr. 99.
2 Nguyễn Chí Kiếm, Kinh tế vng tự do Lin khu V trong cuộc khng chiến chống thực dn Php (1945-1954), Luận văn thạc sĩ, Huế 1999, tr. 47
1 Nguyễn Chí Kiếm, Kinh tế vùng tự do Liên khu V trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Luận văn Thạc sĩ, Huế 1999. tr. 47.
1 Nguyễn Chí Kiếm, Kinh tế vùng tự do Liên khu V trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Luận văn Thạc sĩ, Huế 1999, tr. 53.
2 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1940-1975), Ban Chấp hành Đảng bộ Quy Nhơn, 1998, tr. 124.
1 Lịch sử truyền thống giao thông vận tải B́nh Định, NXB. Giao thông Vận tải, Hà Nội, 1999, tr. 52.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II, sđd, tr. 74
1 Vân Anh, Ngành giáo dục B́nh Định trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyệt san B́nh Định ngày 8.12.1997.
2 Lịch sử phong trào phụ nữ B́nh Định, tập I- B́nh Định, 1990, tr. 104
1 Ban Tuyn gio Tỉnh ủy B́nh Định, 50 năm trn qu hương B́nh Định, tr. 17
1 Năm tốt: Đoàn kết tốt, nuôi dạy con tốt, sản xuất tốt, học tập tốt và tham gia công tác kháng chiến tốt.
1 Sở Y tế B́nh Định, Y tế B́nh Định 30 năm kháng chiến, Quy Nhơn, 1999, tr. 65.
1 Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi, NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr. 103
2 Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B́nh Định, Chiến tranh du kích trên chiến trường B́nh Định, B́nh Định, 1991, tr. 57.
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II. sđd , tr. 62
2 Bộ Chỉ huy quân sự Tỉnh, Chiến tranh du kích trên chiến trường B́nh Định (1945-1975), B́nh Định, 1991, tr. 58
1 Bộ chỉ huy quan sự huyện Phù Cát, Lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng, B́nh Định, 1997, tr. 20.
1 BCH Đảng bộ Quy Nhơn, Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), Quy Nhơn, 1998, tr. 138.
1 Bộ Tư lệnh Quân khu V, Chiến sĩ khu V đánh giặc, NXB. Quân đội, Hà Nội, 1986, tr. 23.
1 Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B́nh Định, Những chặng đường chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang B́nh Định, Quy Nhơn, 1998, tr. 28
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II. sđd, tr. 88
1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định, tập II. sđd, tr. 98.
1 Dự thảo Nam Trung bộ kháng chiến, tập I, Đà Nẵng 1991, tr. 87.