I. NHÂN DÂN B̀NH ĐỊNH CHUẨN BỊ

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1883-1885)

 

Việc kư kết các hiệp ước Harmand (25.8.1883) và Patenôtre (6.6.1884) đánh dấu sự đầu hàng của giai cấp phong kiến Việt Nam trước chủ nghĩa tư bản Pháp. Thế nhưng, trong nội bộ triều đ́nh Huế vẫn c̣n nhiều quan lại có tấm ḷng yêu nước thương dân và cùng chung chí hướng chống thực dân Pháp xâm lược đến cùng. Sau khi vua Tự Đức mất (19.7.1883), phe chủ chiến đứng đầu là Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết một mặt loại trừ những thành viên theo phái chủ ḥa, phế bỏ các vị vua bạc nhược đầu hàng Pháp, pḥ nhà vua trẻ Hàm Nghi lên ngôi (2.8.1884); mặt khác, thành lập thêm hai tổ chức vũ trang là Phấn Nghĩa và Đoàn Kiệt. Bên cạnh đó, triều đ́nh chủ chiến c̣n đẩy mạnh xây dựng và củng cố các sơn pḥng dọc theo miền núi từ Ninh B́nh đến B́nh Thuận.

Để đối phó với những t́nh huống xấu có thể xảy ra, Tôn Thất Thuyết điều động một lực lượng binh lính hùng hậu đóng giữ các cửa biển, hương thôn. Vào tháng 12 năm Quư Mùi (1883), triều đ́nh Huế lại ra lệnh cho tổ chức hương binh ở các hạt thuộc miền Nam và miền Bắc.

Dưới sự chỉ đạo của phái chủ chiến, quan lại, sĩ phu và nhân dân các tỉnh từ Ninh B́nh đến B́nh Thuận bắt đầu đẩy mạnh xây dựng và củng cố các sơn pḥng, chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu  không thể tránh khỏi.

Ḥa chung vào công cuộc chuẩn bị chống ngoại xâm của cả nước, nhân dân B́nh Định hăng hái theo lệnh triều đ́nh Huế để tăng cường và chấn chỉnh lực lượng quân sự địa phương. Những thanh niên, trai tráng khỏe mạnh, kể cả những người theo đạo Gia tô cũng được thu nhận, c̣n những người già yếu bị thải hồi khỏi quân ngũ. Các trạm, sở, phủ, huyện được triều đ́nh tiếp tế, cung ứng thêm vũ khí và lương thực. Các đồn, bảo, tỉnh thành được điều động thêm lực lượng và tăng cường luyện tập quân sự. Sơn pḥng Nghĩa Định được khẩn trương củng cố và trở thành địa điểm tập trung binh lực, lương thảo và đạn dược từ địa phương. Triều đ́nh c̣n điều động về B́nh Định những quan lại có năng lực để lănh đạo cuộc chiến đấu ở đây. Như vào tháng 4 năm Ất Dậu (1885), Tham biện sơn pḥng Nghĩa Định, Nguyễn Duy Cung được Tôn Thất Thuyết cử về B́nh Định giữ chức án sát để chuẩn bị công cuộc chống Pháp. Tháng 5 năm Ất Dậu (trước khi Kinh thành Huế thất thủ), Tôn Thất Thuyết lại cử Nguyễn Tạo, người Quảng Ngăi đang làm tri phủ Đoan Hùng thuộc tỉnh Sơn Tây về giữ chức Tiểu phủ sứ sơn pḥng Nghĩa Định thay cho Nguyễn Thân1. Giúp việc đắc lực cho Nguyễn Tạo và Nguyễn Duy Cung c̣n có các quan sơn pḥng Đinh Hội, Vũ Lân,...

Ngoài ra, ở vùng ven biển B́nh Định, quân triều đ́nh cũng chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu. Các cửa biển Tam Quan, An Dũ (thuộc huyện Hoài Nhơn), Hà Ra (Phù Mỹ), Đề Gi (Phù Cát)... được tăng cường quân lính đồn trú và các đội thủy binh... nhằm ngăn chặn quân Pháp từ biển đánh vào. Ở B́nh Định, có quân của cai cơ Tăng Doăn Văn, người làng An Thường, xă Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, vốn tham gia trong lực lượng của Trần Xuân Soạn đóng ở Bắc Kỳ, được Tôn Thất Thuyết cử về giữ chức cai cơ chỉ huy đội binh đóng ở đồn An Dũ. Trong đội quân của Tăng Doăn Văn c̣n rất nhiều văn nhân và vơ sư yêu nước như Đội Dung (người Phù Mỹ), Lê Thức (người Hoài Ân), Lê Đạt (người Hoài Nhơn)...

Bên cạnh công việc xây dựng và củng cố sơn pḥng ở các tỉnh Trung Kỳ như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Nghĩa Định nhằm mục đích thâu tóm lực lượng sơn pḥng và dựa vào vành đai núi non trùng điệp để chiến đấu lâu dài, phái chủ chiến c̣n khích lệ hoạt động của Nghĩa hội các tỉnh. Cũng giống như Nghĩa hội ở các tỉnh lân cận, Nghĩa hội B́nh Định là tổ chức hỗ trợ cho chính quyền phong kiến và quân đội triều đ́nh đóng ở địa phương, song đây cũng vừa là “một tổ chức độc lập như một chính quyền thứ hai chi phối mọi hoạt động trong địa phương, tập trung vào việc huy động mọi nhân tài vật lực vào cuộc kháng chiến cứu nước”. Nghĩa hội chia làm hai ban: Văn hội (tập hợp các nho sĩ, quan lại) và Vơ hội (thu nạp chủ yếu các vơ quan). Dựa vào Vơ hội, Nghĩa hội lập ra đội quân Đoàn Kiệt (c̣n gọi là đội quân Nghĩa Dũng) và lực lượng hương binh. Đoàn Kiệt là một đội quân bao gồm những trai tráng khỏe mạnh, có vơ nghệ, sống tập trung, phiên chế theo đội ngũ và sẵn sàng đánh địch ở bất cứ đâu và có căn cứ riêng để dễ bề tiến thoái”1. Trái lại, lực lượng hương binh được tổ chức theo từng thôn xă, có nhiệm vụ canh pḥng cẩn mật, đảm bảo trật tự trị an thôn xóm, diệt trừ bọn Việt gian làm tay sai cho Pháp và chiến đấu bảo vệ xóm làng.

Trong ṿng 3 năm (1883-1885), ở B́nh Định đă huy động được một đạo quân ứng nghĩa hùng hậu. Ngoài quân sơn pḥng, quân đồn trú trấn giữ các cửa biển, lực lượng thân binh bảo vệ tỉnh thành, c̣n có lực lượng kháng chiến của nhân dân, đó là đội quân hương binh, dân dũng. Cho đến khi phong trào Cần Vương bùng nổ, lực lượng tham gia kháng chiến chống Pháp ở B́nh Định đă khá đông đảo, có tới hàng chục ngàn người cầm vũ khí hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của vua Hàm Nghi2.

Ở Huế, trước thái độ chống đối quyết liệt hành động xâm lược của thực dân Pháp cùng với sự gấp rút chuẩn bị kháng chiến của phe chủ chiến, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Freycinet giao nhiệm vụ cho tổng trú sứ Pháp ở Huế  t́m mọi cách loại trừ Tôn Thất Thuyết.

Âm mưu bắt cóc Tôn Thất Thuyết, loại phe chủ chiến ra khỏi triều đ́nh và thái độ hống hách của De Courcy đă thúc bách Tôn Thất Thuyết phải hành động cấp thời, không để cho địch ra tay trước.

1 giờ sáng ngày 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh cho Phấn Nghĩa- quân của triều đ́nh tấn công vào ṭa trú sứ Pháp và đồn Mang Cá. Sau một thời gian ngắn bị động đối phó, đến 4 giờ sáng cùng ngày, quân Pháp bắt đầu phản công đánh thẳng vào Kinh thành Huế. 8 giờ sáng ngày 5.7.1885, Kinh thành Huế thất thủ. Trước t́nh h́nh đó, Tôn Thất Thuyết bí mật pḥ vua Hàm Nghi ra sơn pḥng Tân Sở (nay thuộc xă Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) tiếp tục công cuộc chống Pháp. Tại đây, ngày 13.7.1885, vua Hàm Nghi ra dụ Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu, cùng nhân dân cả nước ra sức pḥ vua cứu nước.

Trong thời gian ngắn, dụ “Cần Vương” đă được truyền về nhiều địa phương thuộc các tỉnh Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Ở các tỉnh Tả trực kỳ (miền Nam Trung Bộ), Tôn Thất Thuyết giao nhiệm vụ cho Phụng nghi đại phu Đào Doăn Địch (người làng Tùng Giảng, xă Phước Ḥa, huyện Tuy Phước, tỉnh B́nh Định) vào thông báo tin tức, kế hoạch hành động và truyền lệnh khởi nghĩa đến lực lượng kháng chiến ở các tỉnh Nam - Ngăi - B́nh - Phú. Kế hoạch hành động của phe chủ chiến đă được ghi lại rơ ràng trong tác phẩm “Đại loạn năm Ất Dậu” như sau:

“... Dụ Hàm Nghi mới tống đạt các nơi,

Mưu Tôn Thất Thuyết đă vẽ bày đủ lối.

Hiến mưu lược thừa cơ gặp hội,

Dụng quyền nghi trước mối lo toan.

Hễ ai là có dạ sắt gang,

Th́ phải dùng mưu nước lửa.

Dẫu sĩ thứ làm điều chi nữa,

Th́ phương quan giả lặng mà thôi.

Văn thân đặng tờ mật đây rồi,

Dân sự cứ theo mưu đó hết...” 1

Cùng với nhân dân các tỉnh Trung Kỳ, nhân dân B́nh Định bước vào trận chiến với một khí thế hừng hực căm thù và một niềm tin chiến thắng.

 



1 Các tham luận khoa học về Lê Trung Đ́nh và phong trào Cần Vương ở Quảng Ngăi, Sở VHTT Quảng  Ngăi - xuất bản, 1996, tr. 137.

1 Các tham luận khoa học về Lê Trung Đ́nh và phong trào Cần Vương ở Quảng Ngăi, Sở VHTT Quảng Ngăi - xuất bản, 1996, tr. 123.

2 Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần vương ở B́nh Định (1885-1887), Luận án PTS Khoa học lịch sử, Hà Nội, 1997, tr. 48.

1 Phan Ngọc Lin- Trương Cơng Huỳnh Kỳ, Người truyền dụ Cần vương đến cc tỉnh Nam trung bộ, Tạp chí Xưa và Nay, số 65, thng 7.1999, tr.18.