II. CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN
BÌNH ĐỊNH CUỐI THẾ KỶ XIX
1. Việc chiếm giữ tỉnh thành và xây dựng các căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Bình Định
Ngày 14.7.1885, lực lượng văn thân huyện Phù Mỹ do Bùi Điền chỉ huy bắt đầu tiến thẳng về thành Bình Định. Do quan niệm những người theo đạo là theo giặc, nên trước khi tấn công tỉnh thành, họ đem 2.000 binh sĩ kéo đến bao vây những tín đồ Thiên chúa giáo ở các làng thuộc xứ đạo Nước Nhĩ (nay thuộc thơn Chnh Khoan, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ). Những người sống sót vội vã rời khỏi giáo xứ, theo các linh mục chạy về tỉnh thành Bình Định cầu xin tổng đốc Lê Thận giúp đỡ. Vào nửa đêm hôm đó, Lê Thận ra lệnh mở cửa thành cho đoàn giáo dân ra đi. “Họ tiến thẳng về phía nơi ở của các giám mục ở Quy Nhơn nhờ sự che chở và giúp đỡ”2 .
Trên đường ko vo thnh Bình Định, lực lượng văn thân Phù Mỹ đã được sự hưởng ứng và gia nhập của nhiều toán nghĩa quân ở các huyện, xã lân cận, đặc biệt có sự tham gia của 600 nghĩa binh làng Tùng Giảng (Phước Hòa) do Đào Doãn Địch cầm đầu.
Cũng trong ngày 14.7.1885, lực lượng văn thân bắt đầu bao vây thành Bình Định và yêu cầu quan quân trong thành cùng nhau hợp tác chống Pháp. Tổng đốc Bình Định Lê Thận ra lệnh đóng cửa thành ngăn cản không cho lực lượng văn thân vào. Hành động của Lê Thận khiến án sát Bình Định là Nguyễn Duy Cung rất bất bình. Ông nói: “Người Pháp vừa chiếm kinh đô. Các văn thân tập trung đông đảo, sắp tới, họ sẽ trách chúng ta, biết nói thế nào với họ về việc ông đã ra lệnh mở cửa cho các tín đồ Cơ đốc giáo, tai họa sẽ đến với họ. Trong tỉnh Bình Định này còn một thành, nếu vì đó mà người Pháp trừng phạt, chúng ta sẽ mất thành. Hiện nay, vua Hàm Nghi ra căn cứ kháng chiến, chúng ta cần phải bảo vệ di sản của người”1. Do tư tưởng thân Pháp và thái độ đối lập với văn thân của Lê Thận, sáng ngày 16.7.1885, án sát Nguyễn Duy Cung quyết định đem đội thân binh hòa vào lực lượng văn thân chống Pháp đang phong tỏa ngoài thành.
Nghĩa quân tiếp tục bao vây tỉnh thành Bình Định, kêu gọi Lê Thận mở cửa thành, nhưng đến ngày 21.7.1885, Lê Thận vẫn ngoan cố cố thủ trong thành, một mặt “bí mật gửi thư cho người Pháp ở Quy Nhơn yêu cầu cứu ông ta trước 8 giờ”, một mặt, truyền lệnh cho binh lính trong thành nổ súng bắn vào nghĩa quân Cần Vương ngoài thành. Trước tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Duy Cung kêu gọi lính canh mở cửa thành. Nghe lệnh truyền, lính canh mở cửa, lực lượng Cần Vương xông thẳng vào thành, bắt giam tổng đốc Lê Thận vào khách xá, thu lấy ấn triện và bắt tay vào củng cố tỉnh thành, chấn chỉnh lực lượng phòng thủ, bảo vệ thành.
Sau khi bao vây tỉnh thành Bình Định, ngày 15.8.1885, văn thân truyền hịch kêu gọi dân chúng trong tỉnh và dân chúng các tỉnh nam Trung Kỳ (Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận) liên kết với nhau chống Pháp. Bản hịch nêu rõ: “Dân chúng trong các tỉnh nên biết rằng Hoàng đế của chúng ta đã bị đuổi ra khỏi cung điện, bọn giáo dân rất vui mừng, chúng đã tàn sát những người “dân tà giáo” (ý nói những người không theo đạo Thiên chúa) ngày càng thậm tệ, dân chúng thì khổ cực và lầm than. Chúng tôi có sứ mạng là tập hợp những người có thiện chí ở 5 phủ và huyện để thành lập một đạo quân nhằm sát hại những giáo dân và chiến đấu chống lại bọn Pháp. Chúng tôi sẽ chiếm lại kinh đô và đặt Hoàng đế của chúng ta trở lại ngai vàng. Lúc đó đất nước sẽ được thanh bình. Dân chúng chỉ chờ mong nền hòa bình này”1.
Cũng vào thời điểm đó, những người lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Bình Định khẩn trương điều động 3 đạo quân trấn giữ các nơi trọng yếu. Một đạo quân gồm 3.000 người trấn giữ An Khê, một đạo quân khác cũng gồm 3.000 người trấn giữ An Dũ. Lực lượng Cần Vương Bình Định còn điều cử nhân Nguyễn Trọng Trì đem 2.000 quân vào phối hợp với văn thân và nhân dân Phú Yên chiến đấu.
Đến cuối tháng 8.1885, phần lớn các vùng đất ở Bình Định đều nằm trong vòng kiểm soát của lực lượng Cần Vương Bình Định. Trước sự truy kích của quân Cần Vương, hàng nghìn giáo dân cùng cha đạo chạy về Quy Nhơn (lúc đó Quy Nhơn là nhượng địa của Pháp, mở ra từ sau hiệp ước Giáp Tuất 15.3.1874). Số giáo dân tập trung về Quy Nhơn ngày càng tăng. Theo thống kê của Charles Fourniau,vào cuối tháng 7, số người này là 3.000 và đã lên đến 11.000 vào mùa Xuân năm 1886. Nghĩa quân tiếp tục bao vây, phong tỏa chặt chẽ Quy Nhơn. Qua sự mô tả của công sứ Pháp Navelle, chúng ta có thể hiểu rõ tình hình nguy cấp lúc đó: “Chúng tôi vẫn luôn luôn bị bó hẹp trong bán đảo và không có liên lạc với bên ngoài. Vào cuối tháng 8 được tiếp viện một trung đội 87 người, nhưng có rất ít đạn. Do đó không thể tiếp xúc với quân thù. Các đường sá được canh phòng cẩn mật, những người qua lại bị khám xét chặt chẽ và bị nhận diện dễ dàng, do đó những tên gián điệp hiếm có thể vượt qua những phòng tuyến địch, và họ đã không dám xuất đầu lộ diện trở lại.”...
Để cứu nguy cho các cha cố và giáo dân tị nạn ở cảng Quy Nhơn, ngày 28.8, tướng Prud’homme tức tốc cùng với khâm sứ Ranchot De Champeaux và 3 vị thượng thư của triều đình vào Quy Nhơn. Hộ tống họ là một đại đội lính thủy đánh bộ và một cơ đội pháo binh. Ở Hải Phòng khi nghe tin cấp báo, De Courcy cũng rời Hải Phòng vào ngày 27 cùng với một đại đội pháo thủ Bắc Kỳ. Ngày 30.8, có 636 lính đã được tập hợp ở Quy Nhơn2.
Vừa mới đặt chân đến Quy Nhơn, ngày 1.9.1885, De Courcy đã vội vàng huy động lực lượng giáo dân tập trung thành một đội dân phu vận chuyển vũ khí, quân trang, quân dụng theo đội quân chính quy Pháp từ Quy Nhơn tấn công lên tỉnh thành Bình Định. Nhưng, ngay từ đầu quân Pháp đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân dân Bình Định dưới sự chỉ đạo của Đào Doãn Địch và Nguyễn Duy Cung. Ngày 1.9.1885, cuộc chiến xảy ra tại Cầu Đôi1 trên đường từ Quy Nhơn đến Bình Định. “Đánh nhau một lúc nghĩa quân đã có hai người bị thương và được chở ra xa về phía viên chỉ huy của họ. Người ta cấp báo với vị chỉ huy là đại bác bắn dữ dội vào đội hình của nghĩa quân ở Cầu Đôi và có hiện tượng không đủ sức chống chọi vì có các binh sĩ bị thương”...2 Trận chiến ở Cầu Đôi ngày 1.9.1885 chính là cuộc đụng độ đầu tiên giữa nhân dân Bình Định với thực dân Pháp xâm lược. Cuối cùng, do tương quan lực lượng quá chênh lệch, hơn nữa quân Pháp lại được sự yểm trợ của đại bác và những vũ khí tối tân, nghĩa quân phải rút khỏi Cầu Đôi.
Ngày 2.9.1885, trên đoạn đường dài từ cầu Trường Úc đến Văn chỉ Tuy Phước, thôn Trung Ái (nay thuộc thị trấn Tuy phước), quân Pháp đã bị lực lượng Cần Vương Bình Định tấn công. Nhưng với vài nghìn lính tập được vũ trang bằng bạch khí 3... nên không thể chống chọi cả một pháo đội của Pháp. Chiều hôm đó tất cả nghĩa quân rút lui khỏi làng Phong Niên theo hướng tây bắc, lùi dần về phía tỉnh thành. Lực lượng Cần Vương với vũ khí thô sơ đã chặn đánh quyết liệt một toán lính viễn chinh Pháp, gồm một đại đội lính thủy đánh bộ và một cơ đội pháo binh do các tướng Pháp (Roussel De Courcy, Prud’homme và khâm sứ Trung Kỳ De Champeaux) chỉ huy, từ cầu Trường Úc đến làng Phong Niên4.
Ngày 3.9.1885, dưới sự chỉ huy của tướng Prud’homme, quân Pháp nhanh chóng chiếm được thành Bình Định. Nhưng chúng không dám truy kích nghĩa quân, mở rộng cuộc chiếm đóng mà chỉ co cụm ở trong thành. Tướng Prud’homme lưu trú tại đây 4 ngày, đến ngày 9.9.1885, ông ta rút quân trở về Quy Nhơn, chỉ bố trí nơi đây một đại đội lính Pháp và lính khố đỏ từ Bắc Kỳ do Pyot chỉ huy. Hai ngày sau, Prud’homme có mặt ở Huế, gấp rút bắt tay vào đối phó với phong trào Cần Vương đang ngày càng lan rộng ở bắc Trung Kỳ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết.
Việc tướng Prud’homme rút quân về Huế ngày 11.9.1885 đã tạo điều kiện cho nghĩa quân Cần Vương tiếp tục làm chủ địa bàn Bình Định, và như vậy cuộc hành quân của tướng Prud’homme vào Bình Định không có hiệu quả. Trên thực tế, những đồn binh Pháp ở Bình Định đều bị nghĩa quân bao vây chặt. Không những thế, “Ngay cả con đường lên tỉnh thành Bình Định cũng không được đảm bảo, mọi sự liên lạc giữa khu nhượng địa ở cảng Quy Nhơn và đồn binh Pháp tại tỉnh thành Bình Định thường xuyên bị nghĩa quân tấn công1...
Sau những cố gắng quyết chiến tiêu diệt địch ở Cầu Đôi và cầu Trường Úc không thành, ngày 3.9.1885, Đào Doãn Địch rút lên vùng rừng núi hiểm trở Phú Phong (nay thuộc huyện Tây Sơn) để trù tính kế hoạch tiếp tục đánh Pháp. Lúc này, hay tin Đào Doãn Địch thất bại, Mai Xuân Thưởng cùng anh em ruột là Mai Xuân Khánh, Mai Xuân Quang và các tú tài Mai Xuân Văn, Mai Xuân Hòa đem lực lượng nghĩa dũng của mình gia nhập vào lực lượng của Đào Doãn Địch. Ông được Đào Doãn Địch tin cậy phong chức Tán tương quân vụ phụ trách khâu hậu cần. Ngày 20.9.1885, Đào Doãn Địch qua đời. Trước khi mất, ông giao toàn bộ binh quyền cho Mai Xuân Thưởng tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến năm 1887.
Nắm quyền chỉ huy, Mai Xuân Thưởng chọn vùng núi Lộc Đỗng (phía tây Phú Phong, nay thuộc thôn Phú Hiệp, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn) làm căn cứ kháng chiến. Ông cho truyền hịch khắp nơi, vận động các tầng lớp nhân dân tập hợp về Lộc Đỗng cùng lo việc đại nghĩa “Cần Vương”. Hưởng ứng lời kêu gọi, các nhà hào phú tình nguyện đóng góp lương thực để chi dùng trong quân, trai tráng rủ nhau kéo về Lộc Đỗng đầu quân ngày một thêm đông. Võ tướng, văn thân như các ông Bùi Điền (người Phù Mỹ), Nguyễn Hóa, Trần Trung và Trần Nhã (người Bình Khê), Nguyễn Can, Nguyễn Trọng Trì và Đặng Thành Tích (người An Nhơn) đều ra giúp. Lực lượng kháng chiến suy tôn Mai Xuân Thưởng làm Bình Tây Đại Nguyên Soái. Từ đây, lực lượng kháng chiến ở Bình Định đã thống nhất thành một mối, phong trào vững mạnh bước vào giai đoạn mới lập nên nhiều chiến công rực rỡ.
Để dễ dàng thống nhất các phương án tác chiến, Mai Xuân Thưởng quyết định bầu ra một bộ chỉ huy. Ngoài Mai Xuân Thưởng được suy tôn thành Nguyên soái, lực lượng kháng chiến đã bầu Lê Tuyên làm phó tướng, Nguyễn Hóa làm thống binh, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Đức Nhuận làm hiệp trấn, Trần Hanh, Bùi Điền làm thống trấn, Tăng Doãn Văn làm tổng trấn, Huỳnh Ngạc làm tán tương quân vụ, Mai Xuân Vân làm lãnh binh, Nguyễn Can, Phùng Thế Mỹ làm đốc binh, Nguyễn Quý Luân giữ chức kiểm lương, Võ Đạt giữ chức đốc tướng, Vũ Xuân Tiềm giữ chức chánh lãnh binh, tú tài Tạo giữ chức phó lãnh binh, tú tài Lý làm tán lý, cử nhân Tuấn làm đổng lý... Họ được điều động về các địa phương trong tỉnh xây dựng căn cứ, huấn luyện quân sĩ và quyên góp, tích trữ lương thực, thuốc men...
Với mục đích mở rộng phạm vi hoạt động, duy trì cuộc kháng chiến lâu dài, cuối năm 1885 đầu năm 1886, các căn cứ quân sự ở nhiều nơi trong tỉnh được triển khai xây dựng.
Xung quanh Đại bản doanh Lộc Đỗng, trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, Bộ chỉ huy nghĩa quân thiết lập nhiều mật khu, căn cứ địa chiến lược như mật khu Hầm Hô, Linh Đỗng, Tổng Dinh, căn cứ Nam Trại, Bắc Trại, quân thứ Hương Sơn, quân thứ Xuân Vinh, căn cứ núi Kỳ Đồng (nay thuộc Nhơn Mỹ), căn cứ kho lương Hòn Kho. Ngoài ra, lực lượng Cần Vương còn xây dựng một số phòng tuyến hiểm yếu ở Quang Quang (nay thuộc xã Nhơn Khánh), gò Súng Bắn (nay thuộc xã Nhơn phúc, huyện An Nhơn), đồn Bình Đê và Phủ Cũ.
Nhờ có một hệ thống lãnh đạo cốt cán cộng với một hệ thống căn cứ kháng chiến vững chắc nên “trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1887, phong trào phát triển một cách nhanh chóng suốt một thời gian dài (từ năm 1885 đến năm 1887), kiểm soát được toàn bộ tỉnh Bình Định và phát huy ảnh hưởng của nó ở các tỉnh trung và nam Trung Kỳ”1
2. Sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng Cần Vương Bình Định với các địa phương khác
Mặc dù, phong trào Cần Vương ở Bình Định đã có một bộ chỉ huy có năng lực cùng với một đạo quân hùng hậu, có tinh thần chiến đấu cao, nhưng để có thể đối phó với thực dân Pháp và triều đình Đồng Khánh bù nhìn, lực lượng Cần Vương Bình Định nhận thấy sự cần thiết phải liên kết, phối hợp với lực lượng Cần Vương ở các tỉnh trung và nam Trung Kỳ.
Sau khi làm chủ được Bình Định, vào tháng 8.1885, văn thân Bình Định điều động những đạo quân có vũ trang tiến vào Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phối hợp chiến đấu với lực lượng Cần Vương ở đây.
Ngày 30.8.1885, từ Phú Yên, một đội quân tiên phong của đạo quân văn thân từ trên núi tràn về Bình Thuận1 và tiến đến vịnh Phan Rang, đốt cháy những làng giáo dân Dao Long, Dao Nhin, Dao Sơn và sát hại một số giáo dân. Đạo quân này do Bùi Giản chỉ huy, ông được quân Cần Vương giao nhiệm vụ chiếm Khánh Hòa và Bình Thuận.
Đầu tháng 9.1885, 2.000 nghĩa quân Cần Vương Bình Định do Nguyễn Trọng Trì chỉ huy tiến vào Bình Thuận phối hợp với lực lượng Cần Vương do Bùi Giản dẫn đầu. Ngày 4.9.1885, 2 cánh quân này đánh vào Bình Thuận chiếm được phủ thành. Tại đây “quyền lực của tổng đốc Lê Liêm đã bị phong trào văn thân và binh sĩ trong thành tước bỏ”2. Sau đó, trước khi điều lực lượng quay trở ra hợp lực với lực lượng Cần Vương ở Khánh Hòa, Phú Yên chiến đấu, Nguyễn Trọng Trì và Bùi Giản giao lại phủ thành Bình Thuận cho dinh điền sứ Trà Quý Bình.
Nhìn chung, phong trào Cần Vương ở Bình Thuận không phát triển mạnh mẽ, rầm rộ như phong trào Cần Vương ở Nam - Ngãi - Bình - Phú, bởi vì, “Ở đó không có cuộc nổi dậy tự phát của văn thân địa phương và lá cờ Cần Vương lại do những đoàn quân từ Phú Yên - Bình Định mang đến, và những đoàn quân này đã được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh”3. Đoạn mô tả của Charles Fourniau đã chứng minh lực lượng Cần Vương Bình Định giữ vững vị trí quan trọng như thế nào đối với tình hình chiến sự ở Bình Thuận.
Tháng 9.1885, được sự trợ giúp của đội quân Nguyễn Trọng Trì, thân hào tỉnh Phú Yên nổi dậy chiếm giữ tỉnh thành, bắt giam bố chánh Phạm Như Xương. Các quan tỉnh như án sát Hoàng Cân, lãnh binh Nguyễn Văn Hanh đều bỏ thành chạy trốn. Tiếp sau đó, nghĩa quân tiến đánh chiếm huyện thành Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Tri huyện Tuy Hòa là Đinh Duy Tân phải chạy trốn sang Khánh Hòa4.
Chỉ trong vòng 2 tháng (tháng 8 và tháng 9.1885), nhờ có sự liên kết nhịp nhàng với lực lượng Cần Vương Bình Định, lực lượng Cần Vương ở Phú Yên, Bình Thuận đã nhanh chóng chiếm được tỉnh thành và một số đồn lũy kiên cố khác của quân Pháp và triều đình phong kiến, qua đó góp phần khuấy động phong trào đấu tranh chống bè lũ bán nước và cướp nước đang dâng cao ở các tỉnh nam Trung Kỳ.
Sau những thắng lợi giòn giã ở các tỉnh nam Trung Kỳ, lực lượng kháng chiến Bình Định tiếp tục mở rộng mối liên kết chiến đấu với lực lượng chống Pháp ở các tỉnh Nam Kỳ.
Đầu năm 1886, Mai Xuân Thưởng cử tổng trấn Lê Công Chánh (quê ở tổng Phú Vĩnh, tỉnh Phú Yên, trước đây giữ chức lãnh binh tại Hà Nội) cùng Nguyễn Bá Trọng, Lê Bá Đạt và 2 thành viên khác vào Nam Kỳ “liên lạc với văn thân trong này tập hợp dân chúng”1. Tại Nam kỳ, các ông đã gặp 2 lãnh tụ chống Pháp ở đây là Năm Thiếp và Nguyễn Xuân Phong. Họ đã bí mật tổ chức cuộc họp ở núi Dùm (còn gọi là núi Thất Sơn) để bàn tính kế hoạch hành động.
Công việc tiến triển thuận lợi, những người lãnh đạo ở Nam kỳ thống nhất khởi sự vào tháng 1.1887. Lê Công Chánh cử ông Nguyễn Bá Trọng và Lê Bá Đạt trở về Bình Định báo tin, qua đó lãnh bằng cấp, ấn triện để mang vào phong cho những người làm việc nghĩa...
Lực lượng Cần Vương Bình Định không chỉ phối hợp với lực lượng kháng chiến ở các tỉnh nam Trung Kỳ và Nam Kỳ, mà còn phối hợp chiến đấu với lực lượng Cần Vương Quảng Ngãi và Quảng Nam. Sự phối hợp này không phải được tiến hành sau khi phong trào Cần Vương bùng nổ ở các tỉnh mà đã xuất hiện ngay sau khi vua Tự Đức băng hà (7.1883). Để hình thành nên một thế trận liên hoàn giữa các sơn phòng tả trực kỳ, Tôn Thất Thuyết cho củng cố và xây dựng mới các sơn phòng ở vùng rừng núi từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Tháng 5.1885 (tháng 4 Ất Dậu), Đào Tấn cùng Tăng Doãn Văn theo lệnh của Tôn Thất Thuyết đi kinh lý các tỉnh tả trực kỳ, nhằm kiểm tra, củng cố các nghĩa hội 2.
Trong những ngày đầu, lực lượng kháng chiến 3 tỉnh Nam - Ngãi - Định đã có mối quan hệ rất chặt chẽ. Mối liên kết đó ngày càng khăng khít, lực lượng của Trần Văn Dư và Hường Hiệu ở Quảng Nam, Nguyễn Bá Loan và Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định cùng với lực lượng kháng chiến của Trương Chính Đường ở Phú Yên, Trịnh Phong và Trần Đường ở Khánh Hòa, Ung Chiếm ở Bình Thuận... đứng chung dưới bóng cờ Cần Vương đã trở thành một chướng ngại nguy hiểm đối với triều đình bù nhìn ở Huế và bọn quân phiệt thực dân.
Được tin Kinh thành Huế thất thủ (sau đó lại nhận được dụ Cần Vương từ Quảng Trị gửi về), ngày 12.7.1885 Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Văn Hoành đưa đội quân Đoàn Kiệt và Hương binh về tỉnh thành Quảng Ngãi yêu cầu quan tỉnh cung cấp lương thực, vũ khí chiến đấu nhưng đ bị từ chối. Trước thái độ yếu hèn của quan quân triều đình ở tỉnh thành, ngày 13.7.1885, Nguyễn Tự Tân đem 3.000 nghĩa binh chia làm 3 đạo đánh chiếm tỉnh thành Quảng Ngãi và làm chủ được tỉnh thành trong 4 ngày.
Hay tin tỉnh Quảng Ngãi thất thủ, triều đình bù nhìn ở Huế điều Nguyễn Thân và đề đốc sơn phòng Đinh Văn Hội đem hơn 900 quân ra đánh chiếm lại. Với một đội quân tinh nhuệ có kinh nghiệm quân sự, am hiểu địa hình và một khối lượng vũ khí tân tiến do quân Pháp ở Quy Nhơn cung cấp, Nguyễn Thân dễ dàng hạ thành Quảng Ngãi ngay trong ngày 17.7.1885 (tức ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu).
Ở Bình Định, được tin cấp báo, Nguyễn Duy Cung tức tốc đem một cánh quân ra tiếp ứng nhưng không kịp. Nguyễn Tự Tân hy sinh, Lê Trung Đình cùng một số thủ lĩnh nghĩa quân sa vào lưới giặc. Ngày 23.7.1885 (tức ngày 12 tháng 6 năm Ất Dậu), Lê Trung Đình bị xử chém ở phía bắc tỉnh thành.
Kế tục sự nghiệp của Lê trung Đình, Nguyễn Tự Tân, những thủ lĩnh Nguyễn Bá Loan, Tôn Tường, Nguyễn Tấn Kỳ tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.
Tháng 10.1885, Nguyễn Thân đem quân tấn công vào các căn cứ của Nghĩa hội Quảng Nam, sau đó tiếp tục kéo quân vào Quảng Ngãi đánh dẹp nghĩa quân của Nguyễn Bá Loan, và chuẩn bị tiến quân vào Bình Định tiêu diệt lực lượng của Mai Xuân Thưởng.
Tháng 12.1885, lực lượng Cần Vương Quảng Ngãi - Bình Định do Nguyễn Bá Loan, Đặng Đề, Bùi Điền, Tăng Doãn Văn chỉ huy đem 8.000 quân bao vây đồn Lão Thuộc (nay thuộc An Đỗ, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn) - một đồn chứa nhiều lương thực và vũ khí của địch nằm trên tuyến sơn phòng Nghĩa Định. Quan trấn giữ thành là đề đốc Đinh Hội, các lãnh binh Vũ Lân, Phạm Sĩ... hay tin mở cửa đồn, kéo quân xin gia nhập, Mai Xuân Thưởng đã phong cho Đinh Hội chức tổng thống, Vũ Lân chức đề đốc , Phạm Sĩ chức lãnh binh giao cho 3 người này tiếp tục giữ đồn Lão Thuộc1. Từ đây, đồn Lão Thuộc trở thành một trong những đồn tiền tiêu xuất phát của lực lượng Cần Vương Bình Định - Quảng Ngãi. Từ đồn này, nghĩa quân hai tỉnh bắt đầu triển khai đánh chiếm nhiều đồn lũy quan trọng khác như đồn Thường Xuyên, Mậu Lâm, Thạch Bi... khiến quân triều đình phải đối phó một cách bị động, lúng túng.
Tháng 2.1886, theo yêu cầu của Nghĩa hội Quảng Ngãi, Mai Xuân Thưởng phái Bùi Điền và Đặng Đề ra giúp sức. Đạo quân Quảng Ngãi - Bình Định chia làm 3 cánh theo 3 hướng khác nhau tiến về Quảng Ngãi. Cánh quân thứ nhất do Bùi Điền, Võ Đạt, Đặng Đề chỉ huy từ núi Thạch Tân đến chiếm huyện Mộ Đức, một cánh quân khác do Tăng Doãn Văn chỉ huy theo đường từ đồn Lão Thuộc tiến đánh đồn Thanh Thủy (phía tây nam Quảng Ngãi, thuộc sơn phòng Nghĩa Định) và đạo quân thứ ba từ núi Thạch Tân kéo về đánh chiếm huyện Đức Phổ.
Chiếm xong Đức Phổ, nghĩa quân kéo ra định phối hợp với Bùi Điền, Võ Đạt, Đặng Đề đang ở Mộ Đức tấn công thành Quảng Ngãi. Nhưng vừa đến chợ Trà Câu (Nay thuộc xã Phổ Văn, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi) thì đụng đầu với quân của Nguyễn Thân. Do bị mai phục, nghĩa quân thiệt hại nặng phải rút về Bình Định. Đạo quân ở Mộ Đức và Thanh Thủy được tin nghĩa quân thất trận ở Trà Câu nên lần lượt rút về Bình Định.
Mặc dù phải rút về cố thủ ở Bình Định, nhưng lực lượng Cần Vương Bình Định vẫn thường xuyên ra Quảng Ngãi cùng lực lượng Cần Vương ở đây đánh Nguyễn Thân. Vào tháng 7.1886, trên đường vào Bình Định, đạo quân của Nguyễn Thân bị nghĩa quân Bình Định - Quảng Ngãi tập kích ở Sa Huỳnh (Bình Định), buộc chúng phải rút về sơn phòng. Nghĩa quân liên tục tấn công các điểm đóng quân của địch ở Sơn phòng, làm cho lực lượng của Nguyễn Thân ngày càng suy giảm. Nguyễn Thân phải tấu trình về Huế rằng, quân “giặc” ở Bình Định mạnh lắm, đến Quảng Ngãi đánh phá liên tục, quan quân tổ chức nhiều cuộc chiến đấu, họ mới lui về. Gần đây lại tập hợp lực lượng cùng với 1.000 người Man, đến đốt phá và “cướp của” nhiều nơi... Hiện nay, quân lính sơn phòng hao hụt, lực lượng ít không thể nào chống lại quân địch ở Bình Định được. Vì vậy, phải rút quân ở đồn điền về (khoảng 4000 người), lấy thêm lính ở Quảng Ngãi, mộ thêm cả số lính ở Kinh tản về Quảng Ngãi, mộ thêm hương binh, dân dũng... với số lượng ấy mới mong giữ được tỉnh Quảng Ngãi1.
Thấy thực lực của lực lượng Cần Vương ở các tỉnh tả trực kỳ ngày càng mạnh nn triều đình đã tăng cường thêm viện binh về hỗ trợ cho lực lượng của Nguyễn Thân, nhưng cho đến cuối năm 1886, cục diện chiến trường vẫn không hề thay đổi. Trái lại, từ tháng 8.1886 đến tháng 12.1886, quân đội của Nguyễn Thân liên tiếp bị nghĩa quân 3 tỉnh Nam - Ngãi - Định uy hiếp.
Tháng 8.1886, quân Cần Vương Quảng Nam - Quảng Ngãi và Bình Định lại phối hợp nhau tấn công vào sở chỉ huy của quân triều đình ở Cơ Nhứt, đánh chiếm phủ lỵ Bình Sơn (Quảng Ngãi). Theo kế hoạch đã thống nhất từ trước, quân Cần Vương Quảng Nam do Trần Hoàn và Tôn Cường chỉ huy, chia quân thành 5 cánh theo 5 đường kéo vào Quảng Ngãi. Lực lượng ở Bình Định tiến ra Quảng Ngãi bằng 3 đường: một cánh quân theo đường biển An Dũ, một cánh từ đồn Lão Thuộc và một cánh từ núi Thạch Tân theo chính lộ đánh vào huyện lỵ Bình Sơn. Nghĩa quân cần Vương 3 tỉnh nhanh chóng chiếm được Bình Sơn, chấn chỉnh đội ngũ chuẩn bị chống trả lại những cuộc phản công của địch.
Được tin huyện lỵ Bình Sơn thất thủ, từ Quảng Ngãi quyền tán tương Lê Uyển cùng phó lãnh binh Nguyễn Tiến Quý, tham tán Phạm Trọng Di đưa quân ra Bình Sơn. Nguyễn Tiến Quý và Phạm Trọng Di tử trận, Lê Uyển không chống cự nổi phải rút quân tháo chạy, Nguyễn Thân vội vàng đem quân tiếp ứng. Quân đội hai bên giao chiến quyết liệt, Nguyễn Thân buộc phải đốt cầu tháo chạy về sơn phòng, nhưng lại bị lực lượng Cần Vương Bình Định đón đánh. Trong trận này, về phía nghĩa quân, đề đốc Búa, lãnh binh Lự, lãnh binh Tích và hơn 200 nghĩa quân hy sinh. Quân triều đình cũng bị thiệt hại nặng nề, vì thế tuy thắng trận, Nguyễn Thân vẫn phải dâng sớ lên triều đình xin tăng cường súng đạn1. Theo báo cáo của Nguyễn Thân về triều đình Đồng Khánh thì lực lượng Cần Vương hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đã chiến đấu với Nguyễn Thân 12 trận và cho việc chống đỡ với lực lượng Cần Vương hai tỉnh này là hết sức khó nhọc2.
Sự phối hợp chiến đấu của lực lượng kháng chiến ở các tỉnh tả trực kỳ từ cuối năm 1885 đến cuối năm 1886 đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào Cần Vương ở Bình Định phát triển (xây dựng các căn cứ địa kháng chiến, phân tán lực lượng của kẻ thù để dễ dàng tiêu diệt, rảnh tay đào tạo, huấn luyện nghĩa quân) đồng thời khẳng định vai trò quyết định của lực lượng Cần Vương Bình Định đối với cục diện chiến sự ở khu vực này.
3. Phong trào chống Pháp của các dân tộc thiểu số ở Bình Định
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, ngay từ đầu, người Bana, H’rê tập hợp trai tráng trong các buôn làng tổ chức thành những đội quân thiện chiến mang tên “Sơn Hùng”, “Sơn Dũng”. Sau khi tỉnh thành Bình Định bị quân Pháp đánh chiếm (3.9.1885), Đào Doãn Địch rút quân lên phía tây Bình Định cố thủ, đồng bào dân tộc thiểu số đã tập trung sức người sức của vào công cuộc xây dựng các căn cứ kháng chiến. Nhiều mật khu quan trọng, kiên cố được xây dựng xung quanh các buôn làng của dân tộc Bana, H’rê như mật khu Lộc Đỗng, Hầm Hô, Tổng Dinh và một số căn cứ khác. Ngoài ra, các kho lương thực của nghĩa quân cũng được cất giữ bí mật tại thượng nguồn sông Côn, gần các bản làng của các dân tộc thiểu số ở phía tây Bình Định1.
Trong các cuộc tấn công vào đồn lũy giặc, đội quân Sơn Hùng, Sơn Dũng luôn là lực lượng tiên phong dẫn đường cho lực lượng Cần Vương xuất phát từ căn cứ tiến về đánh chiếm tỉnh thành Bình Định và huyện lỵ Bồng Sơn.
Tháng 8-1886, nghĩa quân Bình Định - Quảng Ngãi - Quảng Nam phối hợp với nhau tấn công quân đội triều đình ở huyện lỵ Bình Sơn (nằm ở phía bắc tỉnh thành Quảng Ngãi). Nhờ có đội quân của dân tộc H’rê dẫn đường, cuộc hành quân của lực lượng Cần Vương Bình Định từ đồn Lão Thuộc theo đường rừng kéo ra huyện Bình Sơn mà không gặp một trở ngại nào. Sự kiện này đã được ghi chép cụ thể trong sử sách của triều Nguyễn như sau: Tháng chạp năm ngoái, bọn “giặc” từ Bình Định đến quấy nhiễu... toán quân này đã tuyển dẫn hơn 1.000 người Man, đến đánh phá sơn phòng. Quân sơn phòng thế cô, binh ít sợ lực lượng không chống được, đã rút lui về... Ở một đoạn khác lại chép:.. Cơ Tam không ra đầu hàng (số đinh ước tính hơn 4.000 người) tháng chạp năm ngoái, theo bọn “giặc” ở Bình Định đến đánh phá các đồn Thường Xuyên, Mậu Lâm, Thạch Bi...(thuộc tỉnh Quảng Ngãi)2.
Từ tháng 9.1885 đến cuối năm 1886, phong trào chống Pháp của lực lượng Cần Vương Bình Định phát triển mạnh, gây nhiều tổn thất cho quân đội triều đình. Trước sự lớn mạnh của phong trào yêu nước ở đây, đầu năm 1887, triều đình Đồng Khánh cùng quân Pháp đưa Trần Bá Lộc ra Bình Định phối hợp với Nguyễn Thân đàn áp cuộc khởi nghĩa. Sau hơn 2 tháng chiến đấu, nghĩa quân Bình Định đã bị bao vây, cô lập. Mai Xuân Thưởng buộc phải rút về mật khu Linh Đỗng. Ở đây ông được nhân dân thiểu số Bana, Chăm... nuôi dưỡng, che chở. Ngày 21.4.1887, gia quyến của Mai Xuân Thưởng bị quân Trần Bá Lộc bắt giam ở tổng Phú Phong, nhưng ngay ngày hôm sau (22.4.1887), những toán nghĩa quân của dân tộc thiểu số đã đột nhập vào doanh trại giặc giải thoát và đưa họ trở về căn cứ an toàn.
Do sự chỉ điểm của một thủ hạ trong hàng ngũ nghĩa quân Mai Xuân Thưởng, Trần Bá Lộc kéo đến bao vây mật khu Linh Đỗng. Một lần nữa, nhân dân các dân tộc miền núi Bình Định lại làm nhiệm vụ đưa Mai Xuân Thưởng và gia đình ông cùng các thủ lĩnh và nghĩa quân còn lại vượt núi sang Phú Yên tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.Ngày 4.5.1887, Mai Xuân Thưởng cùng một số nghĩa quân bị giặc phục kích bắt được. Ngày 7.6, Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền cùng 10 người khác bị hành quyết. Phong trào Cần Vương ở Bình Định bắt đầu suy yếu. Tuy vậy, đồng bào dân tộc H’rê, Bana vẫn tiếp tục bảo vệ các thủ lĩnh Cần vương như Nguyễn Trọng Trì, Tăng Doãn Văn... giúp họ tránh khỏi sự truy nã, tàn sát của kẻ thù.
Kiên trì tiến hành cuộc chiến đấu đến cùng, các thủ lĩnh còn lại tiếp tục chấn chỉnh, tập hợp thêm lực lượng xây dựng căn cứ ở vùng rừng núi phía tây Bình Định. Theo báo cáo của Brière gửi cho Toàn quyền Đông Dương thì ở phía tây nam Bình Định, người duy trì cuộc kháng chiến là Nguyễn Ho Sự tức B Sự (qu ở lng Ph Xun, x Xun Phước, huyện Đồng Xun, tỉnh Ph Yn, Php gọi l Ba Su). Dựa vào vùng rừng núi ở Canh Liên (nay thuộc huyện Vân Canh), B Sự đã xây dựng một căn cứ kháng chiến vững chắc và ở đó ông đã được cơ sở quần chúng giúp đỡ và che chở, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Chăm và Bana. Họ cung cấp lương thực, thuốc men cho nghĩa quân. Theo đánh giá của Brière, B Sự “không phải là một kẻ khích động tầm thường. Với trí thông minh, tư chất có học vấn, vẻ bên ngoài cao nhã đã làm cho ông ta đứng trên những thủ lãnh nghĩa quân thông thường. Đây là một viên quan có “nòi” mà do tham vọng hoặc có thể do một thứ chủ nghĩa yêu nước không thể hiểu được đã làm cho ông trở thành một kẻ phiến loạn không thể hòa giải được. Ông có một ảnh hưởng quan trọng đối với một phần lớn dân chúng. Ông không ngừng kích động đồng bào của ông nổi dậy, tìm cách tập hợp họ lại thành những đơn vị quân sự, ban cấp cho họ ngạch bậc, vũ khí. Ông chỉ thích bảo lưu lịch Hàm Nghi. Viên thủ lĩnh này có thể thành công trong việc gây ra một phong trào quần chúng ở những tỉnh nam Trung Kỳ”1.
Do có nội phản nên đến đầu năm 1892, thực dân Pháp bắt được B Sự. Công cuộc nổi dậy chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương của đồng bào thiểu số tây nam Bình Định thật sự kết thúc.
4. Những cuộc đàn áp của thực dân Pháp và chính quyền tay sai Nam triều đối với phong trào Cần Vương ở Bình Định
Trước sự lớn mạnh của phong trào Cần Vương Bình Định (làm chủ hầu hết địa bàn Bình Định đồng thời mở rộng ảnh hưởng đến các tỉnh trung và nam Trung Kỳ), triều đình Huế chỉ còn cách xin thực dân Pháp đưa viện binh từ Sài Gòn ra Bình Định xúc tiến đàn áp phong trào.
Tháng 9.1886, trung tướng Warnet, tư lệnh quân đội Pháp ở Việt Nam cử thiếu tá De Lorme cùng Công sứ Aymonier đem pháo thuyền Vipère ra án ngữ cửa biển Quy Nhơn, đồng thời sai Trần Bá Lộc từ Khánh Hòa đánh ra, Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh vào, hình thành hai gọng kìm siết chặt lực lượng Cần Vương Bình Định1.
Tháng 2.1887, Sơn phòng sứ ở Quảng Ngãi, Bình Định là Nguyễn Thân đem quân phá đồn Lão Thuộc. Đinh Hội, Vũ Lân, Phạm Sĩ ra đầu hàng giặc. Được tin mật báo, Bùi Điền, Đặng Đề tức tốc đem quân theo hai đường kéo ra Quảng Ngãi. Cánh quân chính do Bùi Điền chỉ huy kéo thẳng ra Quảng Ngãi, còn cánh quân của Đặng Đề đóng tại đèo Bình Đê (ranh giới giữa Quảng Ngãi và Bình Định) với nhiệm vụ đánh tập hậu.
Ra đến Thanh Hiếu (nay thuộc huyện Đức Phổ), quân Bùi Điền đụng đầu với quân Nguyễn Thân. Nghĩa quân chiến đấu kiên cường nên đến tối quân của Nguyễn Thân phải rút khỏi Thanh Hiếu về Lâm Đăng (thuộc địa phận huyện Đức Phổ). Do không nắm rõ địa hình và tình hình địch nên Bùi Điền cho quân án binh bất động chờ cánh quân của Đặng Đề đến phối hợp truy kích.
Tại đèo Bình Đê, Đặng Đề lầm tưởng quân Bùi Điền đã bị quân Nguyễn Thân đánh bại nên không kéo quân ra tiếp ứng mà vẫn cố thủ ở đây. Chính vì không có sự tiếp ứng cho nhau nên lợi dụng đêm tối, Nguyễn Thân đem quân quay lại bất ngờ đánh úp cánh quân của Bùi Điền. Nghĩa quân nhanh chóng bị tiêu diệt.
Sáng sớm hôm sau, quân của Nguyễn Thân bao vây phủ Hoài Nhơn. Trấn thủ phủ Hoài Nhơn và đồn Lại Giang là Đội Dung cho người liên lạc với quân Trần Vận (ở đồn Phủ Cũ) và quân Đặng Đề (đồn Bình Đê) cùng nhau tiếp ứng... Suốt ngày hôm ấy ở phủ Hoài Nhơn và đồn Lại Giang, nghĩa quân bắc Bình Định chiến đấu quyết liệt. Nghĩa quân lớp bị tử thương, lớp bị bắt, sức kháng cự bắt đầu sa sút, cuối cùng phải mở đường máu rút lui về căn cứ Tổng Dinh. Nguyễn Thân sau khi chiếm được phủ Hoài Nhơn, chiếm luôn cả đồn Phủ Cũ và đồn Bình Đê,... đàn áp dã man dân chúng. Thân cho lính chặt đầu nghĩa quân, cắm cọc bêu đầu phơi xác khắp nơi ở cầu Bồng Sơn và bãi cát sông Lại Giang1.
Hay tin đồn Phủ Cũ bị giặc chiếm đóng, Tăng Doãn Văn và Đội Dung mở cuộc tập kích vào đồn Lại Giang. Đang ở Phủ Cũ tuyển chọn thêm lính đánh đồn Chóp Chài, Nguyễn Thân được tin đồn Lại Giang bị nghĩa quân đánh chiếm, tức tốc kéo quân về. Hai bên kịch chiến dữ dội, quân địch quá đông lại có trong tay nhiều súng đạn, trong lúc đó Tăng Doãn Văn đang bị thương nên nghĩa quân đuối sức, phải bỏ đồn chạy về căn cứ Tổng Dinh.
Để làm suy giảm lực lượng nghĩa quân, Nguyễn Thân đem quân đánh vào căn cứ Chóp Chài của Nguyễn Sách. Đánh nhau đến nửa ngày, nghĩa quân không chịu nổi hỏa lực của địch, nhưng tướng cũng như binh thà chết chứ không hàng, họ lại lăn xả vào cuộc chiến. Sau khi toàn bộ lực lượng Cần Vương ở Chóp Chài bị tiêu diệt, Nguyễn Thân sai phá hủy toàn bộ đồn lũy, kho trại. Những lý hương, phú hào, thân sĩ ở các làng gần chiến khu đều bị giết, nhà cửa của lương dân đều bị đốt vì tội đồng tình với giặc2.
Được tin Trần Bá Lộc từ Sài Gòn kéo quân ra Bình Định, tháng 12.1886, Nguyễn Thân vào Quy Nhơn gặp Trần Bá Lộc và thống nhất nhiệm vụ: Nguyễn Thân bình định mặt bắc, Trần Bá Lộc bình định mặt nam, khi cần sẽ đem quân tương trợ.
Đầu xuân năm Đinh Hợi (1887), Nguyễn Thân đem đại binh đánh Kim Sơn. Tuy nhiên, Nguyễn Thân cũng không đủ sức tiến vào mật khu Kim Sơn mà chỉ chiếm được các ngọn đồi thấp chung quanh hòn Độc Dã và hòn Trà Vinh. Tại đây, dưới sự chỉ đạo của Đội Dung và Lê Thức, nghĩa quân nhiều lần phản công bất ngờ khiến cho giặc phải vất vả đối phó, Nguyễn Thân quay sang dùng cách đánh hỏa công. Y cho lính rải thuốc súng và đồ dẫn hỏa xung quanh tổng hành dinh của nghĩa quân rồi nổi lửa đốt. Nghĩa quân phải bỏ căn cứ rút về khu rừng già phía nam Kim Sơn tiếp tục chiến đấu. Cuối tháng 3.1887, nghĩa quân phần mệt phần đói nên cuối cùng đuối sức, bị Nguyễn Thân phản công bao vây đánh giết, chỉ một số ít thoát ra khỏi vòng vây. Đội Dung bị tử thương, Lê Thức cũng bị thương nhưng chạy thoát3. Với thắng lợi này, Nguyễn Thân hoàn thành mục tiêu của giặc là bình định lực lượng Cần Vương ở mặt trận phía bắc Bình Định.
Ở mặt nam Bình Định, ngay từ giữa tháng 2.1887, trung tá Dumas chỉ huy một binh đoàn Pháp đổ bộ lên cảng Quy Nhơn để đn p nghĩa qun. Từ Quy Nhơn, binh đoàn này mở cuộc hành quân lên An Khê, nhưng vừa đến Lai Nghi đã bị lực lượng nghĩa quân của Võ Can chặn đánh. Trong lúc giao tranh, Võ Can bị trúng đạn, ông lệnh cho binh sĩ rút lui về quân thứ Hương Sơn (phía bắc sông Côn) nhằm bảo toàn lực lượng (về đến căn cứ thì Võ Can hy sinh). Binh đoàn Dumas tiếp tục cuộc hành quân lên vùng An Khê, nhưng không thu được kết quả. Cuối tháng 2.1887, Dumas rút khỏi Bình Định1.
Cuối tháng 3.1887, từ Phú Yên, Trần Bá Lộc và công sứ Tirant theo đường biển đổ bộ lên cảng Quy Nhơn, chuẩn bị tấn công vào các căn cứ của nghĩa quân phía nam Bình Định. Sau khi đẩy lùi được các trận phục kích của lực lượng Cần Vương Bình Định ở các phòng tuyến Quang Quang - An Thuận và gò Súng Bắn (An Nhơn), Trần Bá Lộc cho quân bao vây các căn cứ này. Vòng vây ngày càng siết chặt, đường tiếp tế bị cắt, viện binh bị chặn đánh tan, trong hàng ngũ đã có kẻ lén trốn ra ngoài... Mai Xuân Thưởng buộc phải rút về căn cứ thứ Hương Sơn.
Ngày 4.5.1887, Mai Xuân Thưởng cùng 50 nghĩa binh bị phục binh của Trần Bá Lộc bắt giữ khi đang ẩn náu trong hang núi Hòn Nhên gần làng Thang Ót, chỗ giáp giới Phú Yên và ngọn nguồn sông Côn2. Triều đình Huế quyết định xử trảm 27 người, trong đó có vài người là thủ lĩnh trọng yếu của phong trào Bình Định - Phú Yên, chia làm 4 đợt hành quyết: ngày 1.6 có 5 người, trong đó có Lê Khanh, ngày 7.6 có 12 người, trong đó có Mai Xuân Thưởng và Bùi Điền, ngày 12.6 có 9 người và ngày 13.6 có 1 người3.
5. Cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Bình Định trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX
Đàn áp xong phong trào Cần Vương ở Bình Định, thực dân Pháp cùng quân đội triều đình tay sai củng cố lại chính quyền ở các tỉnh tả trực kỳ, bố phòng cẩn mật đề phòng những cuộc khởi nghĩa mới có thể xảy ra. Tiếp đó, thực dân Pháp bắt buộc nhân dân các tỉnh này phải bồi thường chiến phí cho Pháp. Cụ thể, dân tỉnh Khánh Hòa nộp 15.000 đồng, tỉnh Bình Định 75.690 đồng, Phú Yên 60.520 đồng, tỉnh Bình Thuận cũng nộp một số lớn để bù đắp quân phí. Trần Bá Lộc chia thân hào đã khởi sự ở hai tỉnh Phú Yên, Bình Định làm năm hạng, tùy theo giàu nghèo mà phạt1. Nhiều thứ thuế vô lý đè nặng lên vai người lao động làm cho đời sống của nhân dân ngày càng khốn khổ.
Trước tình cảnh đó, Võ Trứ (người làng Nhơn Ân, tổng Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước), một trong những thủ lĩnh phong trào Cần Vương Bình Định trước đây, quyết định vận động nhân dân hai tỉnh Bình Định - Phú Yên nổi dậy. Để thực hiện mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi Việt Nam, Võ Trứ núp dưới hình thức tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo, để vận động quần chúng. Ở Bình Định, Võ Trứ chọn làng Chánh Danh (Phù Cát) làm cơ sở hoạt động2. Ông bắt liên lạc với nhà yêu nước Trần Cao Vân (người làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) lúc này đang ở Bình Định, và mời Trần Cao Vân làm quân sư cho cuộc khởi nghĩa. Theo kế hoạch, Trần Cao Vân ở lại Bình Định, dưới danh nghĩa thầy địa lý đi khắp các làng bản tuyên truyền và vận động nhân dân chống Pháp, còn Võ Trứ vào vận động nhân dân ở địa bàn Phú Yên nổi dậy. Sau khi tập hợp dân chúng thành một tổ chức có quy củ, hai ông sẽ lo tổ chức tài chính, mua sắm khí giới, tích trữ lương thực rồi dựa vào địa bàn chiến lược Bình - Phú lập căn cứ kháng chiến.
Chỉ trong một thời gian ngắn, Võ Trứ và Trần Cao Vân đã tập hợp được một đạo quân ứng nghĩa hùng hậu. Hầu hết các chùa chiền ở Bình Định - Phú Yên trở thành những căn cứ bí mật hoặc cơ quan tuyên truyền chống Pháp. Sư tăng là những lãnh đạo cốt cán, còn tín đồ là lực lượng khởi sự. Ở Bình Định, Trần Cao Vân đã vận động nhân dân một số vùng tổ chức các đội nghĩa quân địa phương tăng cường luyện tập chờ ngày bạo động, điển hình là đội nghĩa quân do Võ Duy Tân3 lãnh đạo. Còn ở Phú Yên, Võ Trứ tập hợp được đông đảo nhân dân miền núi ở các huyện Sơn Hòa, Đồng Xuân tham gia.
Rằm tháng 7 năm Đinh Dậu (1897), Võ Trứ và Trần Cao Vân triệu tập một cuộc họp bí mật ở chùa Đá Trắng thuộc Tuy An nhằm kiểm tra lại mọi mặt chuẩn bị chờ cơ hội hành động khởi nghĩa. Sau cuộc họp này, những người lãnh đạo tức tốc mua sắm vũ khí, lương thực và chỉ thị cho đồng bào Thượng tăng cường chế tạo vũ khí (cung, nỏ...).
Cuối tháng 4 năm Mậu Tuất (1898), Võ Trứ cùng 10 sư tăng dẫn đạo quân người Thượng và đạo dân binh 2 tỉnh Phú Yên - Bình Định trang bị cung tên, giáo mác và rựa tra cán dài1 từ trong một khu rừng thuộc huyện Đồng Xuân kéo về bao vây huyện lỵ Sông Cầu (Phú Yên), và dự định chiếm được Sông Cầu sẽ tước khí giới của trại lính khố xanh trang bị cho chủ lực chiến đấu, rồi sẽ dùng thượng đạo ra tập kích Quy Nhơn2.
Được tri huyện Đồng Xuân là Lưu Tuấn cấp báo, công sứ Phú Yên tập trung binh lực bảo vệ Sông Cầu, đồng thời truyền lệnh cho một đội lính khố xanh (lính tập) đón đánh nghĩa quân ở vùng Dốc Găng, Dốc Quýt. Một trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra tại Dốc Quýt (một địa điểm cách Sông Cầu 5 km). Nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm nhưng do tương quan lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ nên chỉ một giờ sau Võ Trứ phải rút quân vào vùng rừng núi Đồng Xuân cố thủ. Thừa thắng công sứ Pháp cho quân đến phong tỏa, đốt rừng. Ngoài ra, chúng còn bắt nhân dân trong vùng đến khám đường tra khảo. Để cứu nguy cho nghĩa quân và những lương dân vô tội, Võ Trứ phải xuống núi nộp mình.
Mùa hè năm 1898, Võ Trứ bị hành quyết tại huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Phong trào kháng chiến của nhân dân Bình Định, Phú Yên năm 1898 hoàn toàn bị dập tắt. Cuộc khởi nghĩa này kết thúc đã khép lại trang sử đấu tranh oanh liệt, hào hùng của nhân dân Bình Định trong thế kỷ XIX.
2 Dẫn theo Phan Văn Cảnh, Phong tro Cần Vương ở Bình Định …, tlđd, tr. 56
1 G. Boudarel, La Prise de la Citadelle de Binh Dinh, Bản dịch của Nguyễn Ngọc Mô, lưu trữ tại Thư viện Bình Định, tr. 3.
1 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bình Định - Phú Yên (1885-1887), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 (207), 1982, tr. 34.
2 Charles Fourniau, cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 36-37.
1 Cầu Đôi còn có tên là cầu Hưng Thạnh, nằm trên đường từ cảng Quy Nhơn (cách cảng này khoảng 3km) đến tỉnh thành Bình Định,nay thuộc thnh phố Quy Nhơn.
2 G.Boudarel, La Prise de la Citadelle de Binh Dinh, tlđd, tr. 9.
3 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 37.
4 Làng Phong Niên nay thuộc xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước.
1 Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 63-64.
1 Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 79.
1 Lúc này Ninh Thuận chưa tách ra khỏi Bình Thuận
2 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 38.
3 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 38.
4 Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945, tập I, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, tr. 267-268.
1 Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại những sử liệu mới, tập I, NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr. 177.
2 Các tham luận khoa học..., tlđd, tr. 137.
1 Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 93.
1 Đại Nam Thực lục, tập 37, sđd, tr. 120
1 Đại Nam Thực lực, tập 37, sđd, tr 185.
2 Các tham luận khoa học..., tlđd, tr 201.
1 Phan Văn Cảnh, Các dân tộc thiểu số với phong trào Cần Vương ở Bình Định (1885-1887), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (275), 1994, tr. 62.
2 Dẫn theo Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 124.
1 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 50.
1 Lộc Xuyên Đặng Quý Địch, Nhân vật Bình Định, sđd, tr. 119.
1 Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 100.
2 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Tăng Bạt Hổ, Quy Nhơn, 1996, tr. 234.
3 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Tăng Bạt Hổ, sđd, tr. 236.
1 Dẫn theo Phan Văn Cảnh, Phong trào Cần Vương..., tlđd, tr. 103.
2 Đặng Quý Địch trong Nhân vật Bình Định cho rằng để gia đình và nghĩa quân khỏi bị liên lụy, Mai Xuân Thưởng đã ra đầu thú.
3 Charles Fourniau, Cuộc kháng chiến chống Pháp..., tlđd, tr. 43.
1 Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử 1862 - 1945, in lần thứ hai, Tủ sách Sử học, Sài Gòn, 1971, tr. 375.
2 UBND huyện Tuy Phước, Tuy Phước - Đặc san kỷ niệm 10 năm giải phóng, 1985, tr. 96.
3 Võ Duy Tân là anh ruột của Võ Duy Dương (lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống pháp tại vùng Đồng Tháp Mười) quê ở thôn Cù Lâm Nam, xã Nhơn Tân, An Nhơn.
1 Thực dân Pháp gọi cuộc khởi nghĩa này là “Giặc Rựa” hay “Giặc thầy chùa”.
2 Lam Giang, Hùng khí Tây Sơn, NXB. Sơn Quang, 1968, tr. 79.