III. CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG Ở B̀NH ĐỊNH TỪ 

ĐẦU THẾ KỶ XX  ĐẾN NĂM 1929

 

1. Tổ chức Duy Tân Hội với phong trào Đông Du ở B́nh Định (1904 - 1908)

       Thất bại của những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX đă giúp cho các sĩ phu Việt Nam nhận thức được rằng muốn xây dựng một phong trào lớn mạnh trong toàn quốc phải có tổ chức mới với những phương pháp đấu tranh mới. Giữa lúc tầng lớp sĩ phu đang có những chuyển biến tư tưởng như vậy, th́ trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản từ bên ngoài lần lượt dội vào đă tạo niềm tin thúc đẩy các sĩ phu yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng tiến bộ này.

Tháng 5.1904, tại Quảng Nam, một tổ chức cách mạng mới do Phan Bội Châu đề xướng là Duy Tân Hội được thành lập. Tham gia sáng lập Duy Tân Hội là những sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân... Các thành viên Duy Tân Hội thống nhất bầu Kỳ Ngoại hầu Cường Để (cháu đích tôn của vua Gia Long) làm Hội chủ. Mục đích của Hội là khôi phục nước Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập. Hội cũng đă nhất trí thông qua 3 nhiệm vụ: Phát triển thế lực Hội về người và tài chính, xúc tiến việc chuẩn bị cho cuộc bạo động và xuất dương cầu viện1.

Ở B́nh Định, sau những nỗ lực chiến đấu chống Pháp đến cùng của các thủ lĩnh B S, Vơ Trứ, đa số nhân dân - những người ủng hộ và tham gia tích cực vào hai cuộc khởi nghĩa trên - đă bị thực dân Pháp và vua quan nhà Nguyễn đàn áp, khủng bố rất tàn khốc. Thế nhưng, người dân B́nh Định vẫn không nản ḷng, thối chí, trái lại khi tổ chức Duy Tân Hội được sáng lập và phát huy ảnh hưởng của Hội trên khắp ba miền đất nước, nhân dân B́nh Định vẫn nhiệt t́nh hăng hái tham gia, và họ tự hào được đóng góp cho phong trào một người con ưu tú của quê hương, người anh hùng Tăng Bạt Hổ (Tăng Doăn Văn).

 Sau khi phong trào Cần Vương B́nh Định do Mai Xuân Thưởng lănh đạo thất bại (6.1887), để tránh sự truy lùng của giặc, Tăng Bạt Hổ đă vượt biên giới Lào sang Xiêm. Ở Băng Cốc ông đă vận động đồng bào Việt kiều vào các tổ chức yêu nước để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của các sĩ phu trong nước. Nhờ có các tổ chức của Tăng Bạt Hổ mà sau này các nhà cách mạng Việt Nam sang Thái Lan đều được kiều bào của ta nhiệt thành giúp đỡ hợp tác rất chân thành, và góp công sức của ḿnh vào sự nghiệp giải phóng dân tộc trong những thập niên tiếp theo2. Cuối năm 1887, ông sang Trung Quốc hoạt động và dự định tiếp cận Lương Khải Siêu, Lưu Vĩnh Phúc, mong t́m ra phương cách cứu dân cứu nước; nhưng lúc này t́nh cảnh của Trung Quốc c̣n bi đát hơn Việt Nam, cùng một lúc bị nhiều đế quốc xâu xé.

Ở Nhật, Tăng Bạt Hổ được các chính khách như Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi), Đại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigenobu) khuyên ông nên nghĩ đến việc tự cường, trước hết phải lo đào tạo nhân tài, phát động một phong trào Đông Du, đưa thanh niên sang Nhật cầu học. Nhận thấy những lời khuyên đó phù hợp với lư tưởng, cuối năm 1904, Tăng Bạt Hổ về nước hoạt động quyết tâm giải phóng dân tộc. Trong thời gian này, được sự giới thiệu của Nguyễn Hàm, Tăng Bạt Hổ quyết định gia nhập tổ chức Duy Tân Hội và trở thành một trong những người hoạt động tích cực nhất. Phong trào Đông Du cũng bắt đầu được phát động từ đây, và trở thành một hoạt động trọng tâm của Duy Tân Hội bấy giờ1.

Tháng 2 năm 1905, Tăng Bạt Hổ dẫn đường đưa Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính sang Nhật.

Cuối tháng 5.1905, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ mới đến được Yokohama. Đến cuối tháng 7.1905, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính trở về nước tuyên truyền, đồng thời đưa Cường Để và một số thanh niên ưu tú Việt Nam sang Nhật du học. Tăng Bạt Hổ được giao nhiệm vụ ở lại Yokohama chuẩn bị cơ sở vật chất cho du học sinh sang Nhật sau này.

Cuối tháng 8.1905, Phan Bội Châu đem 3 du học sinh đầu tiên sang Nhật. Tháng 12.1905, Tăng Bạt Hổ và Đặng Tử Kính rời Yokohama về nước, một mặt tiếp tục vận động thanh niên sang Nhật du học, mặt khác vận động những người có tâm huyết với phong trào ủng hộ tài chính gửi sang tiếp viện cho du học sinh.

Về nước lần này, Tăng Bạt Hổ trở về quê hương thăm lại làng An Thường sau gần 20 năm xa cách. Tại đây, mật thám Pháp kiểm soát rất chặt chẽ nên việc liên lạc với các sĩ phu trong tỉnh rất khó khăn, do đó, phong trào Đông Du ở B́nh Định không được phát động rầm rộ như ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Đến giữa năm 1907, Tăng Bạt Hổ đă huy động được 190 du học sinh, trong đó miền Bắc có 50 thành viên, miền Trung có 40 và miền Nam có 100 du học sinh. Sau khi gây dựng được phong trào vững mạnh trong cả nước, ông trở về miền Trung cùng Tiểu La Nguyễn Thành chuyên tâm phát triển quân lực. Những hoạt động hiệu quả của ông đă được Phan Bội Châu trân trọng ghi nhận trong cuốn "Niên Biểu" như sau: "Ông về nước mới hơn một năm, vận động thiệt rất công hiệu. Khoảng năm Ngọ, năm Vị (1906-1907), chúng tôi ở ngoài, tất cả lữ phí, học phí và các chi phí hoạt động khác thảy đều duy tŕ được, thực nhờ công đức nghĩa nhân, chí sĩ Trung, Bắc hai kỳ, mà người kéo múi dây ở trung gian thiệt nhờ ông lắm2.

Trong lúc phong trào Đông Du mà Tăng Bạt Hổ góp phần sáng lập đang khởi động mạnh, th́ ngày 27.8.1907, Tăng Bạt Hổ đột ngột qua đời. Sự nghiệp cứu nước cứu dân đang c̣n dở dang lại được những đồng chí của ông tiếp nối. Phong trào ngày càng phát triển và có ảnh hưởng rộng lớn trong dư luận xă hội. Thực dân Pháp và triều đ́nh Huế hốt hoảng đối phó. Một mặt chúng khủng bố, ngăn cấm phong trào Đông Du hoạt động, một mặt thỏa hiệp, nhường cho Nhật một số quyền lợi buôn bán ở Đông Dương, với điều kiện chính phủ Nhật phải trục xuất những người Việt Nam yêu nước ra khỏi đất Nhật. V́ vậy, cuối năm 1908, phong trào Đông Du tan ră.

          2. Phong trào Duy Tân  ở B́nh Định (1905-1908)

Phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân tuy khác nhau về phương thức hành động, nhưng cũng cùng một con đường cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản. V́ thế, mục tiêu công kích của phong trào Duy Tân cũng lại là vua quan phong kiến thối nát, những phong tục tập quán và những tư tưởng đạo đức phong kiến lạc hậu, lỗi thời. Bên cạnh đó, nhằm vận động cải cách văn hóa, xă hội gắn liền với việc vận động ḷng yêu nước, căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang, phong trào đă tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với các yêu cầu: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", hô hào chú trọng thực nghiệp, lập hội kinh doanh, mở trường dạy học và tuyên truyền đời sống mới".

Sau hàng loạt những cuộc bạo động vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX không thành, khi ngọn gió dân chủ tư sản qua các tân thư, tân văn từ bên ngoài dồn dập tràn vào đầu thế kỷ XX, nhân dân B́nh Định háo hức tiếp nhận một phương thức hoạt động cứu nước mới. Người châm ng̣i cho phong trào yêu nước theo phương thức mới bùng nổ ở B́nh Định chính là Phan Châu Trinh và những sáng lập viên của phong trào Duy Tân, như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quư Cáp...

Năm 1906, trong khi các chí sĩ cách mạng đang xả thân v́ sự nghiệp canh tân nước nhà, th́ tại B́nh Định v một số địa phương, Nam triều vẫn tổ chức kỳ thi Hương nhằm tuyển chọn quan lại phục vụ chế độ. Tại đây, trong chuyến Nam du để tuyên truyền chủ thuyết của ḿnh, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quư Cáp đă ghé vào trường thi, tung ra những tác phẩm đả kích quyết liệt vào quan trường c̣n hôn mê trong ṿng luẩn quẩn, không thấy được cái nhục mất nước. Với bút danh Đào Mộng Giác, họ làm bài thi “Chí thành thông thánh” và bài phú “Danh sơn lương ngọc” (xem thêm các tài liệu khác); trong bài phú đó có những câu:

“Sách văn hay dở, cúi đầu theo miệng quan trường

Lời lẽ nên chăng, nhắm mắt học thừa Trung Quốc.

Ào ào tranh miếng lợi danh, toàn đồ kẻ cắp,

Bô bô lên giọng hào kiệt, cả lũ lưng khom.

Rơ ràng giá áo túi cơm, lặn ḿnh vào đợi lũ tay sai,

Thật đúng phường mặt ngựa đầu trâu, đành dạ để xô hầm con đỏ”1.

Bọn quan lại hốt hoảng “một mặt đệ quyển ấy ra triều đ́nh Huế, một mặt cho nă tên Đào Mộng Giác và bắt một số học tṛ trong tộc Đào thuộc tỉnh B́nh Định là tộc của cụ Đào Phan Duân và Đào Tấn để tra hỏi... Bọn quan lại tỉnh ấy lấy làm hỗ thẹn nên không tư sứ và bỏ qua việc ấy”2. Trong khi lùng bắt, bài phú được lan truyền rộng răi trong tỉnh gây tác động rất mạnh đến các nhân sĩ B́nh Định.

Trong chuyến đi này, Phan Châu Trinh cùng các đồng chí của cụ trực tiếp gặp gỡ các nhân sĩ 2 tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định để tiến hành cuộc vận động truyền bá ư thức tư sản và thực hiện phương thức cứu nước theo xu hướng cải cách của họ. Trong dịp tao ngộ này, nhiều cử nhân, tú tài, sĩ tử bắt đầu biết đến một tư tưởng hoàn toàn mới lạ, khác hẳn những tư tưởng truyền thống. Cụ Phan Châu Trinh đă tận tay trao cho cử nhân Lê Đ́nh Cẩn một số sách như: “Lư Thoa tiểu sử”, “Trung Quốc hồn”, “Mậu Tuất chính biến”, “Ẩm băng thất”... và giao nhiệm vụ cho cử Cẩn ra Quảng Ngăi khởi xướng cuộc vận động cải cách3. Kể từ đây, tư tưởng Duy Tân đă được nhen nhóm trong các nhân sĩ hai tỉnh Quảng Ngăi - B́nh Định.

Ảnh hưởng tư tưởng này, nhiều nhân sĩ, trí thức B́nh Định đă tích cực tham gia phong trào như các vị cử nhân Nguyễn Trọng Tŕ, Lê Chuân, Nguyễn Hn..., các tú tài Hoàng Tăng Huy, Đỗ Phát, Bùi Trọng Hướng, Lê Cương, Nguyễn Phát, Nguyễn Đại Hưng, Vơ Văn Du, Bùi Phiên Dư, Đặng Thành Tích v nhn sĩ Nguyễn Duy Vin. Ngoài ra, tham gia lănh đạo phong trào c̣n có các quan lại triều đ́nh như quan Ngự sử hồi hưu Đinh Văn Hoàng, Chưởng ấn Lê Phổ, các Hậu bổ Trần Tiên, Nguyễn Du, Chánh tổng Nguyễn Hàm, Dương Tuấn, Huấn đạo Lê Tư Văn, Đốc Tiềm, Ấm Sinh... và các bá hộ Huỳnh Lư, Phan Trường Vinh... Họ hăng hái đi khắp các địa phương, tới tận thôn xă, bí mật vận động nhân dân tham gia phong trào, bài trừ tệ đoan xă hội, tiến hành cải lương hương thôn, giành chủ quyền dân tộc... Những người nào tham gia th́ được phong trào cho hớt tóc ngắn để phân biệt với những người chưa theo, cho nên ở mỗi gia đ́nh (đă theo) phải sắm sẵn một cái kéo để cắt tóc người trong gia đ́nh4.

Năm 1906, Phan Châu Trinh từ Nam Kỳ ghé ra B́nh Định tiếp tục vận động các nhân sĩ, kể cả một số quan lại theo đuổi cách học mới và tuyên truyền ”khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Tư tưởng Duy Tân lại được nhiều tầng lớp đồng t́nh hưởng ứng, và đó là nguyên do khi phong trào chống sưu thuế ở B́nh Định nổ ra (1908) th́ chính quan lại cũng có cảm t́nh với dân gây biến động... dù họ đă trở thành “giặc Đồng bào”. Trong số những quan lại có cảm t́nh với cuộc biến động đó, có cả tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo và tri huyện Phù Cát Nguyễn Quư Long. Kể cả sau này, khi kết án những người tham gia vụ bạo động, công sứ B́nh Định quyết định xử chém nhiều người, nhưng tổng đốc B́nh Định vẫn bảo vệ cho dân chúng. Ông nói: “Dân nghèo không hiểu làm bậy, phạm pháp, nhưng xét ra cũng không hại ǵ lắm, nên lựa vài ba người đầu nậu xử quyết, thừa ra th́ phân biệt định tội”1. V́ hành động nghĩa hiệp đó mà viên tổng đốc B́nh Định bị cách chức. Cũng trong năm 1906, sau khi từ Nhật trở về nước, Phan Châu Trinh ghé vào Quảng Ngăi gặp cử Cẩn trao đổi chủ trương cứu nước của cụ .

Trong quá tŕnh triển khai, vận động phong trào cải cách ở Quảng Ngăi, Lê Đ́nh Cẩn, Trần Kỳ Phong, Nguyễn Thụy... c̣n cử Phan Long Bằng vào B́nh Định hỗ trợ với các thành viên ở đây khuấy động phong trào. Chính nhờ sự năng nổ hoạt động của Phan Long Bằng và giới sĩ phu, quan lại, nhân sĩ yêu nước B́nh Định, nên chỉ trong 2 năm 1906-1908, phong trào Duy Tân cải cách ở B́nh Định ngày càng lan rộng ra các vùng, bắt đầu từ Hoài Nhơn - Hoài Ân, rồi Phù Mỹ - Phù Cát, B́nh Khê - Tuy Phước, đến đỉnh cao ở An Nhơn. Những tác động tích cực của phong trào đă góp phần thúc đẩy nhân dân B́nh Định làm nên cuộc biểu t́nh chấn động vào mùa xuân năm 1908.

Trong cuộc vận động Duy Tân ở B́nh Định, Phan Long Bằng, Nguyễn Khiêm thông qua thơ văn đưa tư tưởng dân quyền đi khắp các thôn xóm tuyên truyền và hô hào quần chúng tham gia:

        “Rủ nhau cắt tóc đi tu,

Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân”.

Những người hưởng ứng thi nhau hát vang bài ca cúp tóc:

“Tay trái cầm lược.

Tay phải cầm kéo.

Húi hề! Húi hề!”

Hoặc: “Thủng thẳng cho khéo.

Bỏ cái ngu này,

Bỏ cái dại này,

Học mới từ đây”1.

Có thể nói, chính phong trào Duy Tân với những tư tưởng mới mẻ, tiến bộ, những tư tưởng khích lệ con người rũ bỏ những lề thói cũ kỹ, lạc hậu, ḱm hăm con người trong cảnh nô lệ, lầm than, ngu muội, quyết vươn tới một chân trời mới có tự do, hạnh phúc và văn minh... đă đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân B́nh Định nói riêng, vốn bế tắc vào cuối thế kỷ XIX, sang một bước phát triển về chất đầu thế kỷ XX.

          3. Phong trào chống thuế ở B́nh Định (1908)

Kể từ khi thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897), gánh nặng sưu thuế ngày càng chồng chất lên đôi vai c̣m cơi của người nông dân Việt Nam. Riêng ở Trung Kỳ, nhân dân phải nộp thuế nặng hơn ở các khu vực khác. Từ năm 1907, thực dân Pháp tăng thuế thân từ 0đ20 lên 2đ50 một người, đặt thêm các thứ thuế mới như thuế chợ, thuế đ̣, thuế muối. Đầu năm 1908, chính quyền thực dân ra nghị định tăng 5% thuế điền. Đến tháng 4.1908, chúng lại tăng thêm 30%. Không những thế, cách thu thuế ở đây rất phiền phức.

Ngoài nhiệm vụ nộp thuế, hàng năm, nhân dân Trung Kỳ c̣n phải khốn khổ v́ nạn phu phen, tạp dịch. Một người dân ở Trung Kỳ bấy giờ, trung b́nh mỗi năm phải đi tới 15, 16 lần phục dịch cho việc khai thác nguyên liệu và kiến thiết thành thị của bọn thống trị. Nông dân ngoài những người đă phải bỏ nhà đi làm thuê ở các hầm mỏ, các đồn điền cao su hay ra tỉnh kiếm ăn, những người c̣n lại phải đi đào sông, đắp đường để chuyên chở nguyên liệu, hàng hóa và vật dụng quân sự.

Nỗi cơ cực v́ sưu cao thuế nặng đă làm cho ḷng hận thù của người dân Việt Nam vốn chất chứa trong ḷng từ lâu có dịp bùng nổ. Tuy nhiên, nếu chỉ do nguyên nhân sưu, thuế mới dẫn đến vụ dân biến ở Trung Kỳ th́ chưa đủ; v́ cuộc bạo động kháng thuế của nhân dân Trung Kỳ c̣n chịu tác động bởi vai tṛ của những hoạt động Duy Tân.

Ngày 11.3.1908, phong trào kháng thuế bùng nổ đầu tiên ở Quảng Nam. Từ Quảng Nam phong trào lan nhanh sang Quảng Ngăi (28.3). Trong khi phong trào ở Quảng Ngăi đang ở giai đoạn quyết liệt, theo sự phân công của Duy Tân Hội, Phan Long Bằng và Lê Cơ nhận nhiệm vụ vào vận động, tổ chức phong trào chống thuế ở B́nh Định. Tại Bồng Sơn, Phan Long Bằng đă liên lạc với các nhân sĩ như Nguyễn Khiêm, Trần Vỹ (Hồi Sơn - Hoài Nhơn), Đặng Tiên (Ân Tường - Hoài Ân)... chia nhau hoạt động. Họ chú ư vận động trong giới hào lư ở các làng xă, và qua giới này mà tác động đến quần chúng nông dân B́nh Định. V́ vậy, khi được tuyên truyền, nông dân B́nh Định nhanh chóng giác ngộ và hưởng ứng đông đảo1.

Nếu trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, do thành kiến không đúng đắn mà lực lượng giáo dân B́nh Định bị gạt ra khỏi phong trào và trở thành đối tượng sát tả của nghĩa quân, th́ trong phong trào chống thuế đầu thế kỷ XX, không có một cuộc xung đột nào giữa lương và giáo xảy ra. Trái lại, lực lượng giáo dân B́nh Định c̣n trở thành một bộ phận thiết yếu của phong trào. Trong công văn số 781, ngày 10.5.1908 gửi Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Trung Kỳ cho biết : “Nhiều giáo dân ở tất cả các tỉnh đă tham gia vào cuộc biểu t́nh. Tôi không cố ư nói là bọn họ đă làm theo sự xúi giục của giáo sĩ, tôi tin rằng các giáo sĩ đă không hay biết ǵ về sự chuẩn bị phong trào này trong khá nhiều giáo phận của họ. Nhưng con chiên của họ đă tham gia tích cực vào các cuộc biểu t́nh và tiếp tục tham gia tại B́nh Định”2.

Ngày 6.4.1908, nhân dân B́nh Định nổi dậy biểu t́nh chống thuế ở Bồng Sơn. Ngay sau đó, một đoàn biểu t́nh khoảng 500 người từ Quảng Ngăi sang phối hợp với nhân dân B́nh Định kéo vào phủ Bồng Sơn nói rơ mục đích của đoàn biểu t́nh là xin giảm thuế, giảm xâu. Họ cắt tóc và dẫn quan tri phủ cùng đi với đoàn biểu t́nh đến tỉnh thành xin giảm sưu thuế. Ngày 13.4.1908, dân chúng phủ Hoài Nhơn biểu t́nh, bắt viên tri phủ rồi dẫn đi. Ngày 14.4.1908, dân huyện Phù Mỹ nổi dậy, vây lấy huyện lỵ, bắt bọn nha lại, tổng lư cắt tóc, rồi cùng dân đi biểu t́nh3. Hưởng ứng phong trào, nhiều lư trưởng đă đem nộp ấn triện cho dân, như lư trưởng Phan Vinh (người thôn An Hậu, phủ Hoài Nhơn). Họ c̣n tích cực cung cấp lương thực, huy động sức người sức của trong làng tham gia vào đoàn biểu t́nh lên tỉnh đấu tranh đ̣i giảm sưu, giảm thuế. Các tri huyện, tri phủ hoảng sợ kéo nhau về lánh nạn ở tỉnh. Dân chúng đến các phủ huyện, không thấy tri huyện; c̣n tên đề lại v thơng lại nào đều bắt cắt tóc ngắn hết. Những người đi biểu t́nh đều gọi nhau là đồng bào, phát giấy có đóng dấu “ Đồng bào kư” cho mọi người1.

Lúc này, tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo (người làng Ḥa Cư, huyện An Nhơn) đang giữ chức tri huyện Tân Định ở Khánh Ḥa về B́nh Định cư tang mẹ, những người vận động mời Hồ Sĩ Tạo tham gia để gây thêm thanh thế cho phong trào. Sự tham gia của Hồ Sĩ Tạo đă lôi cuốn nhiều nhân sĩ B́nh Định hưởng ứng và tham gia đông đảo, uy tín của phong trào ngày càng tăng. Nông dân các phủ, huyện lớp do tổng, lư sở tại chỉ dẫn, lớp tự động rầm rộ kéo về tỉnh thành ngày một thêm đông.

Ngày 16.4.1908, nhân dân các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, B́nh Khê, Tuy Phước tay không chân đất, cơm đùm cơm gói kéo về bao vây tỉnh đường ở thành B́nh Định. Số người tham gia lúc đầu khoảng 1.000 người, đến ngày 18.4 tăng lên 10.000 người. Những người lănh đạo phong trào thường gọi nhau là anh Hai, anh Ba, anh Tư, c̣n chức anh Cả họ ưu ái dùng để xưng hô với những người lănh đạo phong trào ở Quảng Ngăi.

Theo sự phân công của Hồ Sĩ Tạo, khoảng 4.000 người trong đó các vơ sĩ làng An Thái, An Vinh là lực lượng chủ lực, có nhiệm vụ bao vây cửa Đông thành B́nh Định. C̣n lại chia nhiều đoàn tỏa về các làng, các huyện tuần hành, trừng trị bọn tổng lư cường hào, bọn nha lại, và cả ṭa sứ của Pháp ở Quy Nhơn2.

Ở An Nhơn, dân chúng kéo đến vây phủ đường, định bắt viên tri phủ khét tiếng gian ác, đục khoét tiền bạc của dân, để trừng trị, nhưng do có lực lượng lính tỉnh thành về giải vây nên viên tri phủ ấy thoát được. Ở An Lăo có Đốc Tiềm (người Xuân Phong) là một cừ mục dũng cảm đem theo hơn 100 tráng đinh vơ trang bằng giáo mác ập vào đồn An Lăo định bắt sống tên đồn trưởng người Pháp, nhưng tên này đă nhanh chân trốn thoát3.

Rút kinh nghiệm ở Quảng Ngăi, nhân dân B́nh Định chia thành 3 lớp bao vây thành. Lớp trong gọi là dân cảm tử, lớp giữa là dân tự cường, lớp ngoài cùng là dân vận động, có nhiệm vụ tỏa đi các làng vận động nhân dân trong vùng tham gia và đóng góp lương thực ủng hộ phong trào. Ở tỉnh thành, nhân dân xếp hàng ngay ngắn ngồi quanh, cử đại biểu vào gặp quan tỉnh và quan bảo hộ đệ đơn bày tỏ t́nh cảnh dân chúng khốn khổ v́ sưu cao thuế nặng, xin được miễn giảm cho dân nhờ. Nh́n chung, họ tiến hành cuộc đấu tranh bằng một thái độ rất trật tự, nghiêm túc v́ người cầm đầu phong trào ở B́nh Định là cụ tiến sĩ Ḥa Cư, vốn là người học cao hiểu rộng1. Trong công điện ngày 30.4.1908 từ Quy Nhơn gửi đi cho Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Trung Kỳ cho biết: “Bọn chúng đă lôi cuốn nông dân với thuế đinh, thuế điền, phu dịch; đàn bà được lôi cuốn với việc đ̣i bỏ thuế chợ; những người làm muối và làm nước mắm rất đông ở tỉnh này được thu hút với vấn đề muối. Trong một lá đơn gửi cho chúng tôi, chúng đ̣i giảm thuế thân xuống c̣n 20 xu, về thuế ruộng đất, chúng đ̣i trở lại theo thời Minh Mạng; bỏ thuế chợ, cho diêm dân được khai thác tự do ruộng muối”...2

Trước sự lớn mạnh của phong trào, chính quyền thực dân phong kiến hết sức hốt hoảng, chúng bắt đầu mở chiến dịch khủng bố. Toàn quyền Bonhoure và tổng chỉ huy quân đội chiếm đóng Pháp ở Đông Dương là Piel đă ra lệnh điều động lực lượng quân chính quy gồm 2 đại đôi do thiếu tá Grimaud và đại uư Diodo chỉ huy từ Bắc Kỳ vào Trung Kỳ cứu viện. Chúng tăng cường quân lính đến đàn áp, bắt bớ những người cầm đầu phong trào ở B́nh Định. Phan Long Bằng và Nguyễn Khiêm đều bị bắt giam, sau đó bị chém đầu bêu trước cửa Đông thành B́nh Định. Hồ Sĩ Tạo cũng bị bắt giam, mấy ngày sau mới được trả tự do. Ông quyết định giao ấn tín cho Huỳnh Vân (người Phù Mỹ) rồi lui vào hoạt động bí mật, giữ vai tṛ cố vấn cho phong trào. Những hành động đàn áp, khủng bố của kẻ thù chỉ càng làm tăng thêm làn sóng phẫn nộ trong mỗi người dân B́nh Định. Họ tiếp tục bao vây tỉnh thành, yêu cầu chính quyền giảm sưu thuế và trả tự do cho những người đang bị bắt giam.

Ngày 18.4, thực dân Pháp cử án sát B́nh Định, Bùi Giản ra hiểu dụ dân chúng, nhưng không có kết quả. Trước t́nh h́nh đó,  Pháp điều động 50 lính khố xanh và 4 lính Âu do giám binh Sauvaille và chỉ huy ra giải tán cuộc biểu t́nh, song vẫn không dập tắt được làn sóng chống đối đang mỗi lúc một dng cao.

Khi một toán lính Pháp phi ngựa tiến vào cửa Đông thành B́nh Định, dẫm chết ông Bùi Bàn, lư trưởng làng Mỹ Trung (Tuy Phước) và làm nhiều người dân bị thương, quần chúng hết sức căm phẫn. Họ khiêng xác ông Bùi Bàn trực diện đấu tranh với kẻ thù. Sau đó, tại g̣ Cẩm Vân (Đập Đá), dân chúng làm lễ truy điệu để tỏ ḷng thương tiếc những người quá cố và nguyện đấu tranh đến cùng1.

Ngày 26.4, Pháp lại tiếp tục khủng bố. Chúng phái Grimaud và Coutelle đem theo một đại đội khố đỏ tấn công đoàn biểu t́nh, giải vây cho thành B́nh Định như một cuộc hành quân chiến đấu đại quy mô2.

Tính đến ngày 30.4.1908, số người chết đă lên đến 30 người. Trước sự đàn áp của bọn thực dân và tay sai, đoàn biểu t́nh phải giải tán khỏi tỉnh thành, nhưng lại tỏa về thôn quê tiếp tục hoạt động. Ngày 9.5.1908, đại úy Diodo chỉ huy một đội quân Pháp xông vào đàn áp một đoàn biểu t́nh ở Bồng Sơn làm nhiều người chết và bị thương. Sang ngày 19.5, một số dân chúng lại bị sát hại.

Đến ngày 26.7.1908, phong trào chống thuế ở B́nh Định hoàn toàn bị dập tắt. Thực dân Pháp bắt giam hơn 1.000 người, trong đó Nguyễn Phan Bảng, Phan Long Bằng (người Quảng Ngăi), Huỳnh Vn, Nguyễn Khim (B́nh Định) đều bị tử h́nh; nhiều người bị đày ra Côn Đảo, trong đó có các ông Hồ Như Ư, Trần Đôn, Hoàng Văn Chùy, Nguyễn Văn Tính (An Lăo), Nguyễn Cà và Lê Viết Tuấn (Phù Mỹ), Nguyễn Duy Viên ( Tuy Phước), Nguyễn Hàm và Lê Thức (B́nh Khê), Trần Khả, Đoàn Hữu, Trần Lập và Đinh Văn Cường (An Nhơn), cùng nhà cách mạng Trần Cao Vân...3, Lê Chuân, Đặng Tiên, Trần Vỹ và Trần Ly4. Trong 101 người đă phạt thành án có tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo bị tử h́nh, sau nhờ sự can thiệp của Tổng đốc B́nh Định, Bùi Xuân Quyến tại phủ Toàn quyền Pháp nên giảm c̣n chung thân, nhốt vào “nhà giam tiến sĩ” trong thành B́nh Định, đến năm 1920 mới được ân xá.

Mặc dù thất bại, nhưng phong trào đă ít nhiều buộc thực dân Pháp phải nới tay trong chính sách bóc lột của chúng. Năm 1909, thực dân Pháp ra quyết định giảm thuế từ 2đ50 xuống 2đ20, bỏ nghị định tăng 5% thuế điền (ban hành đầu năm 1908), giảm lệ đi phu, giảm 4 ngày xâu công ích xuống 3 ngày và cho phép đem tiền để chuộc, thay đổi cách thu thuế chợ, và cho mở một vài trường học, bệnh viện phục vụ nhân dân lao động.

4. Việt Nam Quang Phục Hội và cuộc khởi nghĩa ở B́nh Định năm 1916

Cuộc biểu t́nh chống thuế của nhân dân B́nh Định năm 1908 đă bị thực dân Pháp d́m trong biển máu. Nhiều người con yêu nước của quê hương hoặc bị giết, hoặc bị đày ra Côn Đảo. Thế nhưng, người dân B́nh Định chưa bao giờ chịu khuất phục. Trái lại, ngọn lửa căm thù vẫn c̣n âm ỉ cháy trong ḷng mỗi người dân B́nh Định, và chỉ 8 năm sau, ngọn lửa đấu tranh ấy lại có dịp bùng lên mạnh mẽ.

Ngày 1.8.1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất nhằm phân chia lại thị trường thế giới, bùng nổ. Toàn quyền Đông Dương lập tức tuyên bố: “nhiệm vụ chủ yếu của Đông Dương là phải cung cấp cho chính quốc đến mức tối đa nhân lực, vật lực và tài lực đồng thời vẫn phải duy tŕ trật tự, an ninh ở thuộc địa”...T́nh h́nh đó đă gây nên sự phẫn nộ trong dân chúng Việt Nam. Họ muốn vùng lên đánh đổ ách đô hộ của thực dân phong kiến ngay lập tức. Nhận thấy thời cơ đă đến, những thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội ở các tỉnh Trung Kỳ đă quyết định xúc tiến khởi nghĩa để cứu nước cứu dân đang bị dồn vào cảnh nước sôi lửa bỏng.

Đầu năm 1914, Thái Phiên mời Lê Ngung, một nhà yêu nước nhiệt thành của Quảng Ngăi ra Đà Nẵng họp. Hội nghị chủ trương một mặt vẫn giữ liên hệ với Tổng bộ Việt Nam Quang Phục Hội ở nước ngoài, nhưng mặt khác phải tăng cường chỉnh đốn hàng ngũ, củng cố lực lượng, mở rộng thế lực trong nước, chuẩn bị mọi phương diện chờ cơ hội tốt sẽ tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị đă phân công Thái Phiên, Hoàng Công Mậu lo củng cố và phát triển lực lượng ở Quảng Nam; giao nhiệm vụ cho Thái Phiên liên lạc với Trần Cao Vân mới từ nhà tù Côn Đảo về, mời tham gia phong trào; Lê Ngung phụ trách phong trào ở Quảng Ngăi và B́nh Định, có nhiệm vụ xây dựng một căn cứ địa có đường sang Lào để đề pḥng trường hợp khởi nghĩa không thành1. Phương hướng hành động trước mắt là phải vận động binh lính người Việt chuẩn bị sang Pháp tham chiến và dân binh các tỉnh tham gia.

Tháng 9.1915, đại biểu các tỉnh từ Quảng B́nh đến Phú Yên về họp Đại hội Phú Xuân tại nhà ông Đoàn Bổng ở đường Đông Ba (Huế) đang làm Thư lại ở bộ Hộ. Thái Phiên được cử làm chủ tịch Đại hội.

Sau Đại hội Phú Xuân lần thứ nhất, không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra sôi nổi, rầm rộ ở B́nh Định cũng như các tỉnh khác. Hịch của Quang Phục Hội kêu gọi nhân dân các tỉnh đóng góp sức người sức của được bí mật phân phát khắp nơi. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh và được chú ư nhiều nhất trong lính Tập.

Cuối tháng 2 năm 1916, Thái Phiên mời các nhà yêu nước ở các tỉnh Trung Kỳ từ Quảng B́nh, Quảng Nam, Quảng Ngăi đến B́nh Định, Phú Yên... về Huế dự Đại hội Quang Phục Hội Trung Kỳ lần thứ hai ở Phú Xuân, nhằm họp bàn chuẩn bị khởi nghĩa. Sau khi kiểm tra t́nh h́nh chuẩn bị ở các tỉnh, Hội nghị nhận định lực lượng cách mạng tuy có lớn mạnh hơn trước, nhưng cũng chỉ trong phạm vi Quảng Nam, Quảng Ngăi; c̣n các tỉnh khác như Quảng Trị, Thừa Thiên, B́nh Định, Phú Yên... cơ sở vẫn chưa đủ mạnh để có thể đối phó với kẻ thù. Thế nhưng, trước sự nôn nóng của binh lính tại ngũ, hội nghị đă đi đến quyết định khởi sự.

Kế hoạch khởi sự được quyết định nổ ra vào trung tuần tháng 5, lúc lính tập có vũ khí trong tay, v́ cuối tháng này sẽ có một chuyến tàu chở lính mộ sang Pháp. Thống nhất xong kế hoạch, các nhà lănh đạo bắt đầu trở về địa phương chuẩn bị khởi nghĩa.

Công việc đang tiến triển thuận lợi th́ ngày 30.4.1916, kế hoạch bị bại lộ.

Công sứ Quảng Ngăi đă khẩn cấp thông báo cho quan cai trị B́nh Định cũng như ở các tỉnh khác chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Ngày 1.5, binh lính ở B́nh Định cũng như các tỉnh Trung Kỳ đều bị tước vũ khí và bị tống giam, các đường giao thông bị kiểm soát và phong tỏa nghiêm ngặt, chúng c̣n tỏa đi lùng bắt những người lănh đạo phong trào.

Do sự việc xảy ra quá bất ngờ, Ủy ban khởi nghĩa không thể thông báo cho các địa phương kịp thời, nên cứ theo như dự tính, một số nơi trong các tỉnh vẫn nổi dậy.

Ở B́nh Định, lính mới và nhân dân các vùng đă sẵn sàng nổi dậy, nhưng v́ bị thiết quân luật nên đến giờ khởi sự không dám hành động, mà ra lệnh giải tán để tránh những cuộc đổ máu vô ích. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội ở B́nh Định bị thực dân Pháp đập tan ngay trong trứng nước.

5. Cuộc đấu tranh của các dân tộc thiểu số ở B́nh Định đầu thế kỷ XX

Tiếp nối truyền thống đấu tranh anh dũng, hào hùng của cha anh cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XX, đồng bào các dân tộc thiểu số B́nh Định lại tiếp tục vùng lên chống ách áp bức, bóc lột v nạn cướp đoạt đất đai của thực dân phong kiến, lập nên những chiến công mới, đóng góp xứng đáng vào phong trào chung của dân tộc chống áp bức, chống xâm lược.

Đầu năm 1902, đồng bào Thượng vùng Thăng Mo thuộc đại lư Củng Sơn tỉnh Phú Yên đă đồng loạt nổi dậy phản đối chính sách nô dịch của bè lũ thực dân. Dân làng thẳng tay trừng trị bọn tay sai gian ác theo lệnh Pháp về các địa phương đốc thúc thu thuế, bắt lính. Chỉ trong 2 năm (1902-1903), phong trào ngày càng lên cao và mở rộng ảnh hưởng ra các vùng lân cận như Pleiku, các vùng tây nam Kon Tum (lúc bấy giờ c̣n nằm trong tỉnh B́nh Định) và bắc Đắc Lắc.

Trước t́nh h́nh căng thẳng đó, tháng 1.1904, quân Pháp phái giám binh Vincilioni cùng một đội lính khố xanh kéo lên càn quét vùng An Khê, đồng thời đặt một bốt canh ở chợ Đồn để phong tỏa hoạt động của nghĩa quân. Thế nhưng, những cuộc càn quét của quân Pháp hoàn toàn không có hiệu quả. Nghĩa quân đă kịp thời phối hợp với bà con trong bản rào buôn, cắm chông chiến đấu. Kẻ thù đi đến đâu là trống báo động vang lên từ buôn này sang buôn khác như kêu gọi, thôi thúc mọi người sẵn sàng chiến đấu; đứng sau các hàng rào kín mít bảo vệ các buôn làng chiến đấu là những nghĩa quân cầm nỏ với tên độc sẵn sàng bắn thẳng vào tim kẻ thù. Sự chống trả quyết liệt của đồng bào buộc giám binh Vincilioni phải nhượng bộ và hứa hẹn sẽ dùng những biện pháp mạnh đối với những tên tay sai đă áp bức, nhũng nhiễu đồng bào. Nhưng bà con dân tộc thiểu số vẫn không chịu lùi bước, họ tiếp tục chuẩn bị lực lượng, lương thực quyết tâm chống Pháp đến cùng.

Tháng 4.1904, Oden d’Hall lấy danh nghĩa đi khảo sát các di tích văn hóa Chămpa đột nhập vào căn cứ nghĩa quân để nắm rơ địa h́nh, cách bố pḥng của nghĩa quân thiểu số, sau đó, y gặp tù trưởng Patau Pui (tức vua Lửa, c̣n gọi là Sadet) dụ dỗ, mua chuộc ông đem quân ra hàng. Patau Pui giả vờ đầu hàng rồi mời Oden d’ Hall về bản đăi rượu. Tên này chủ quan, tưởng rằng nghĩa quân đă chịu ra hàng, nên dẫn xác đến đúng ngày giờ đă định mà không một chút đề pḥng. Ngày 7.4.1904, nghĩa quân giết chết Oden d’ Hall cùng một số thủ hạ của hắn ở vùng núi Patau Pui. Để tránh sự truy st của kẻ thù, tù trưởng Sadet đưa nghĩa quân rút vào rừng cố thủ. Nhân dân quanh vùng cũng khẩn trương thực hiện chiến thuật “vườn không nhà trống” rút vào rừng lánh nạn.

Nhận được tin Oden d’ Hall bị hạ sát, ngày 10.5.1904, công sứ Bardin tức tốc đưa 34 lính khố xanh và 225 lính dơng đi về buôn Patau Pui đàn áp. Ở An Khê, giám binh Vincilioni cũng cấp tốc đưa một đại đội lính khố xanh tiến về Patau Pui, nhưng buôn Patau Pui hoàn toàn không có một bóng người. Chúng liều lĩnh chia thành nhiều mũi thọc sâu vào rừng núi để lùng bắt nghĩa quân và đồng bào. Tận dụng địa thế hiểm yếu, nghĩa quân phục kích đánh địch nhiều trận trên đường hành quân của chúng, gây cho chúng khá nhiều thiệt hại về người và của1. Không tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa, công sứ Bardin và giám binh Vincilioni xin tăng cường thêm viện binh càn quét các buôn lân cận, mặt khác cho xây dựng thêm nhiều đồn bốt trong vùng, phong tỏa nghĩa quân, đẩy nghĩa quân vào thế dần dần bị cô lập. Như vậy, sau 3 năm trời chật vật đối phó với cuộc khởi nghĩa, đến cuối năm 1904, thực dân Pháp về cơ bản mới dẹp yên được phong trào.

Sau cuộc khởi nghĩa Thăng Mo, từ năm 1904 đến năm 1907, hàng loạt cuộc nổi dậy của nhân dân miền núi B́nh Định vẫn liên tục nổ ra. Cụ thể, năm1904, tư bản đất đai Delignon và Paris chiếm đoạt 14.000 mẫu ruộng ở vùng cao nguyên An Khê, sau đó bắt người Thượng trong vùng và người Kinh lên khai thác. Tháng 1.1905, đồng bào Thượng ở Patau Pui đă quyết liệt chống trả cuộc càn quét của giám binh Renard và 150 lính khố xanh ở vùng Thượng du B́nh Định. Tiếp đó, ngày 23.1.1907, thiếu úy Fort cai quản bốt Chợ Đồn (B́nh Định) dẫn chủ đồn điền Paris và thư kư Barreaud vào Konklot t́m cây cao su và bắt phu. Dân làng ngăn cản không cho vào. Ngày 26.1, trên đường đến Konklot, quân Pháp bị nghĩa quân phục kích làm 6 lính và 8 dân phu bị thương. Quân Pháp hoảng loạn rút lui nhưng lại bị dân làng đuổi theo truy kích, Paris bị một mũi tên xuyên vào ngực, hắn phải rút súng tự tử, toán c̣n lại vứt vội hành lư và cả xác tên Paris chạy về Chợ Đồn2.

 Cũng trong năm 1907, dưới sự lănh đạo của thủ lĩnh Đương, đồng bào Thượng ở các tỉnh Kon Tum, Quảng Ngăi và B́nh Định liên kết với nhau chống Pháp. Phong trào phát triển rầm rộ và thu hút được những thanh niên trai tráng khỏe mạnh tham gia, nhân dân những bản quanh vùng đều hưởng ứng và tích cực đóng thuế cho nghĩa quân, tạo điều kiện cho nghĩa quân kéo dài cuộc chiến đấu.

Nh́n chung, những cuộc nổi dậy của đồng bào miền núi B́nh Định trong thời kỳ này tuy diễn ra liên tục nhưng chưa bao giờ liên kết với nhau để tạo thành một phong trào mạnh. Hơn nữa, vũ khí của nghĩa quân quá thô sơ, chủ yếu là những vũ khí tự chế như cung, nỏ, kiếm; do đó, những cuộc chiến đấu của họ chỉ làm cho kẻ thù phải vất vả đàn áp chứ trên thực tế vẫn chưa gây cho chúng những tổn thất nặng nề nào.

Từ sau năm 1907, những cuộc đấu tranh của đồng bào thiểu số tạm lắng xuống, măi đến những năm 1925-1929, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền núi mới bắt đầu tái diễn, như cuộc nổi dậy chống Pháp, giết tên thiếu tá Barist đồn trưởng đồn Định Quang của nhân dân vùng Konklot và Konbar. Thực dân Pháp ra sức khủng bố. Ngày 20.3.1929, thực dân Pháp điều động máy bay thả bom tàn phá các làng Konklot, Kong Jơng, Kơ Diek, Chơ O (nay thuộc các xă Vĩnh Ḥa, Vĩnh Kim, Vĩnh Hảo, Vĩnh An nằm trong huyện Vĩnh Thạnh v huyện Ty Sơn) buộc dân Thượng phải rút vào rừng sâu hoạt động bí mật1.

Nói tóm lại, những cuộc đấu tranh chống Pháp của các dân tộc ít người B́nh Định đă góp phần chứng minh cho nhận định: “đồng bào các dân tộc nước ta rất giàu ḷng yêu nước, có tinh thần cách mạng cao và có những khả năng rất dồi dào, đă đóng góp tích cực và hứa hẹn một sự đóng góp rất to lớn vào sự nghiệp giải phóng của cả dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc”.

          6. Phong trào đ̣i dân sinh dân chủ ở B́nh Định (1919-1929)

Ngày 7.11.1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đă giành được thắng lợi, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xă hội.

Năm 1920, sau nhiều năm bôn ba hoạt động t́m đường cứu nước ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc cuối cùng đă t́m thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga con đường giải phóng dân tộc Việt Nam ra khỏi cảnh nô lệ lầm than. Tháng 12.1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xă hội Pháp họp ở thành phố Tua (Tours), Nguyễn i Quốc là đại biểu duy nhất xuất thân từ nước thuộc địa đă tán thành gia nhập Quốc tế thứ III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Từ đó, Người hoạt động không biết mệt mỏi trong phong trào Cộng sản quốc tế. Tháng 6.1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội; ra báo Thanh niên, mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện, tiền đề cần thiết cho Đảng Cộng sản Việt Nam h́nh thành. Những sự kiện lịch sử trọng đại đó đă có ảnh hưởng rất mạnh và quyết định đối với phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Hưởng ứng phong trào cải cách dân chủ trong những năm 1921-1924, một số nhân sĩ yêu nước và một số nhà buôn lớn ở B́nh Định đă đứng ra hô hào dân chúng hưởng ứng phong trào cải cách dân chủ trong cả nước, đồng thời họ vận động nhau góp vốn thành lập các hội buôn như hội Phước An ở Quy Nhơn, Hoài Châu thương quán ở Hoài Nhơn.

Phước An thương hội được Đào Phan Duân khởi xướng vào năm 1924, Đào Phan Duân tập hợp một số nhân sĩ trong vùng. Mục đích thành lập Phước An thương hội nhằm “gióng lên một tiếng chuông để người sau đừng dẫm lên dấu xe trước, ḥng nhen nhúm chút ư thức tự cường, c̣n hiệu quả kinh tế của thương hội nếu thành lập th́ được bao nhiêu quư bấy nhiêu chứ chưa mong ǵ tranh lại mối lợi từ tay người nước ngoài”1.

Các nhân sĩ tích cực chuẩn bị mọi việc chọn ngày khai trương, nhiều nhân sĩ trong vùng như Hồ Sĩ Tạo, Đào Phan Duân, Lâm Thúc Mậu... đều là hội viên cổ đông. Điều hành công việc của Hội là Ban Quản trị do các cổ đông đề cử, gồm có: Cử nhân Lê Doăn Sằn làm hội trưởng, tú tài Trần Trọng Giải làm hội phó, hương sư Mạc Như Ṭng làm thư kư kiêm kế toán, cụ Biểu Xuyên2 làm cố vấn tối cao và tú tài Lâm Thúc Mậu làm kiểm soát viên.

Cũng như Hoài Châu thương quán, Phước An thương hội là hội đoàn cổ động nhân dân sản xuất và tiêu dùng hàng nội hóa trong nước. Hoài băo của hội là xây dựng cơ sở tài chính vững mạnh để hỗ trợ cho phong trào và các tổ chức yêu nước ở địa phương. Hội c̣n dự định chọn những học sinh hiếu học ở B́nh Định cấp học bổng và tạo điều kiện cho con em địa phương đi du học nước ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật phương Tây sau này về phục vụ quê hương. Để mở rộng ảnh hưởng của Hội, ngoài Quy Nhơn, Hội c̣n đặt thêm các chi nhánh ở G̣ Bồi (Phước Ḥa, Tuy Phước), Kon Tum... Chỉ sau một năm  hoạt động, kết quả kinh doanh của hội đă có những bước khởi sắc.

Bên cạnh hoạt động của các hội buôn, nhân dân lao động B́nh Định cũng phát động nhiều cuộc đấu tranh đ̣i thực hiện dân sinh dân chủ. Điển h́nh là cuộc nổi dậy của đồng bào làm muối làng Hưng Thạnh, Quảng Vân (lúc đó thuộc phủ Tuy Phước)... chống bọn thương chính mượn cớ “bắt muối, bắt rượu” và thu thuế môn bài... để ức hiếp dân nghèo1. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của học sinh và tầng lớp lao động Quy Nhơn tẩy chay hiệu buôn Diêu Kư, một hiệu buôn người Hoa có những hành vi xúc phạm dân nghèo.

Công nhân ở một số xí nghiệp như Fiard, Sadca cũng tổ chức những cuộc đấu tranh chống bọn cai kư cúp phạt và cắt xén đồng lương vốn rất ít ỏi của anh em thợ thuyền. Một số trí thức và viên chức tiến bộ, tiêu biểu là Đồng Sĩ B́nh, thông phán của ṭa sứ Quy Nhơn đă viết những bài viết đanh thép trên các báo “Tân thế kỷ”, “Tiếng chuông rè” (La Cloche Fêlée) bênh vực dân nghèo, công kích chính sách đàn áp và bóc lột của bọn quan lại Nam triều. Những phong trào trên tuy c̣n mang tính chất cải lương song ít nhiều đă có tác dụng khơi dậy tinh thần yêu nước, ư thức tự  cường trong quần chúng nhân dân lao động B́nh Định.

Trong những năm 1925-1927, hàng loạt cuộc đấu tranh của nhân dân B́nh Định càng diễn ra sôi nổi. Cuối năm 1925, học sinh trường Collège Quy Nhơn gửi yêu sách cho ṭa Khâm sứ Trung Kỳ đ̣i trả lại tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Đầu tháng 4.1926, tại chùa Ba, đường Rue de Lagune (nay là đường Bạch Đằng), gần 1.000 viên chức nhà nước, thương gia và quần chúng lao động Quy Nhơn tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Tại chân núi Xuân Quang (nay thuộc phường Quang Trung), cùng thời gian này, hàng trăm học sinh trường Collège Quy Nhơn cũng tổ chức truy điệu nhà yu nước Phan Châu Trinh. Hưởng ứng phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố, giáo viên, học sinh và nhân dân lao động các huyện Phù Mỹ, Bồng Sơn, thị trấn B́nh Định cũng tham gia sôi nổi đ̣i đế quốc Pháp trả tự do cho Phan Bội Châu và truy điệu Phan Châu Trinh vào cuối tháng 3.1927. Cũng trong tháng 3, ở B́nh Khê, giáo viên, học sinh trường sơ học Phú Phong (Tây Sơn) đă tổ chức băi khóa phản đối tri huyện B́nh Khê, Nguyễn Thúc  miệt thị giáo viên, học sinh. Để trả thù và đàn áp phong trào, Nguyễn Thúc gây áp lực với cơ quan Học chính tỉnh đuổi thầy Nguyễn Quỳ, Hiệu trưởng trường Sơ học Phú Phong và những học sinh tích cực như Vơ Xán, Nguyễn Tỷ. Tiếp đó, thầy giáo Nguyễn Đ́nh Khánh trường Thuận Nghĩa đă lồng các nội dung yêu nước tuyên truyền trong học sinh, bị thực dân Pháp trục xuất, không cho dạy học.

Thực dân Pháp huy động quân đội đến đàn áp các phong trào, bắt giam một số quần chúng, sa thải các thầy giáo và học sinh các trường trong tỉnh. Những hành động đó của nhà cầm quyền không hề làm cho nhân dân nao núng, nản ḷng. Trái lại, đầu tháng 4.1927, học sinh trường Tiểu học Bồng Sơn và trường Sơ học Phú Phong tiếp tục băi khóa phản đối nhà cầm quyền và quan lại Nam triều bắt giam và sa thải các giáo chức, học sinh yêu nước. Sôi động hơn cả là cuộc đấu tranh của hơn 500 học sinh trường Collège Quy Nhơn hưởng ứng phong trào băi khóa của học sinh các trường trung học ở thành phố Huế ngày 11.4.1927. Ngoài ra, học sinh c̣n đưa ra yêu sách yêu cầu sở Học chính Trung Kỳ đổi một số giáo viên người Pháp có những hành vi xúc phạm đến dân tộc Việt Nam, và đ̣i tăng thêm giờ dạy các môn lịch sử Việt Nam, quốc văn... Học sinh c̣n tỏa đi các phố và về nông thôn quyên tiền ủng hộ cụ Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế. Đầu tháng 5.1927, thanh niên, học sinh, trí thức Quy Nhơn cùng các huyện An Nhơn, Tuy Phước dấy lên phong trào về B́nh Khê thăm quê hương của phong trào Tây Sơn và viếng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng1.

Giữa lúc phong trào đấu tranh của nhân dân B́nh Định đang sôi nổi, rầm rộ như vậy th́ hàng loạt sách báo cách mạng và tiến bộ xuất bản ở Pháp và Trung Quốc như “Việt Nam Vong Quốc Sử” của Phan Bội Châu, “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc, các báo “Người cùng khổ” (Le Paria), “Nhân đạo” (L’Humanité), “Thanh niên”... được thủy thủ hăng Vận tải đường thủy (Messageries Maritimes ) bí mật truyền vào Quy Nhơn, đă tác động mạnh đến tư tưởng của những viên chức, trí thức, học sinh yêu nước ở đây. Đó như một luồng gió mới chẳng những có tác dụng giải độc bầu không khí chính trị ngột ngạt và bế tắc, kịp thời vạch trần chính sách ngu dân và lừa bịp của đế quốc Pháp, mà c̣n cổ vũ và động viên mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của quần chúng, nhất là lớp thanh niên B́nh Định đang sục sôi tinh thần yêu nước2.

Những cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân B́nh Định khiến nhà cầm quyền Pháp và tay sai hốt hoảng. Trong báo cáo gửi lên ṭa Khâm sứ Trung Kỳ tháng 2.1927, Công sứ Pháp tại Quy Nhơn đă phải thú nhận: “Tại đây một số người có học thức và tiến bộ hướng về Mạc Tư Khoa, Quảng Châu,... tin rằng giờ đứng lên đă đến”3. Để đối phó với những phong trào này, năm 1928 chúng lập ra hội CEFA (Cercle d’ Étude Franco - Annamite) tại Quy Nhơn, rêu rao chiêu bài “Pháp Việt đề huề” của toàn quyền Alexandre Varenne ḥng lung lạc tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức B́nh Định. Bên cạnh đó, chúng c̣n tăng cường đàn áp, khủng bố những người tham gia phong trào chống chính quyền. Một số giáo viên, viên chức và học sinh hoặc bị tống giam, hoặc bị sa thải, đuổi học. Phan Đăng Lưu, một nhn viên của trại giống tơ tằm B́nh Định đă tuyên truyền những tư tưởng tiến bộ cách mạng cho một số viên chức và thanh niên yêu nước của thị trấn, bị chính quyền B́nh Định đẩy lên Đồng Nai Thượng (Lm Đồng).

Song song với các hoạt động chống đối nhà cầm quyền Pháp, nông dân các huyện trong tỉnh cũng tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chỉa mũi nhọn vào bọn địa chủ cường hào chuyên hà hiếp dân nghèo, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Điển h́nh là cuộc đấu tranh của nông dân các làng thuộc tổng Trung Chánh, Thạch Bàn, Xuân An (Phù Cát) đ̣i bọn địa chủ phải chia lại công điền công thổ, và cuộc nổi dậy của  dân An Quang, Đức Phổ (Phù Cát) chống bọn thương nhân câu kết với lư hương chèn ép giá thu mua muối...

Trải qua những tháng ngày gian khổ đấu tranh với kẻ thù, đến năm 1929, nhân dân B́nh Định đă trưởng thành về nhiều mặt và có những bước chuyển ḿnh đáng kể. Sự chuyển ḿnh kịp thời đó chính là bước chuẩn bị rất cần thiết cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân yêu nước địa phương một cách thuận lợi.

          7. Cuộc tuyên truyền vận động cách mạng theo tư tưởng Mác - Lênin và sự h́nh thành các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ở tỉnh B́nh Định

Tháng 2.1928, được sự giúp đỡ của Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Nam Kỳ tại Sài G̣n mà đại diện là Phan Trọng Quảng, Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đầu tiên ở B́nh Định được thành lập tại nhà ông Tôn Chất ở thôn Cửu Lợi (Tam Quan Nam, Hoài Nhơn). Lúc đầu, chi hội Thanh niên Cửu Lợi chỉ gồm 3 người : Nguyễn Trân, Tôn Chất và  Huỳnh Triếp, do Nguyễn Trân làm bí thư; sau đó chi bộ kết nạp thêm một số thành viên như Đoàn Tính, Nguyễn Phán, Nguyễn Cúc, Nguyễn Nghĩa...

Sự ra đời của chi bộ Cửu Lợi đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong phong trào cách mạng B́nh Định, đưa phong trào đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin. Để có thể liên lạc thuận lợi với tổ chức Thanh Niên Quảng Ngăi, chi bộ Cửu Lợi chọn công ty Kim Thạch ở Sa Huỳnh (Đức Phổ, Quảng Ngăi), một hăng buôn do một số chí sĩ, thương nhân Hoài Nhơn và Sa Huỳnh lập ra từ năm 1927, làm cơ sở liên lạc ở hai vùng.

Từ chi bộ đầu tiên ở Cửu Lợi, đến cuối năm 1928, đă có thêm các chi bộ mới như chi bộ Thanh niên An Đỗ (Hoài Sơn), Tài Lương (Hoài Thanh), Dĩnh Thạnh (Tam Quan). Từ các chi bộ này, cơ sở Thanh niên nhanh chóng phát triển ra các làng Đại Hóa, An Thái (Tam Quan), Thành Sơn, An Sơn (Hoài Châu), Châu Đê, Chương Ḥa (Hoài Châu Bắc), Tường Sơn (Hoài Sơn), Thanh Xuân (Hoài Hương), Bồng Sơn và Thiết  Đính... Đến cuối năm 1928, số hội viên Thanh niên Hoài Nhơn lên đến gần 40 người, và hàng trăm hội viên quần chúng tích cực được tập hợp vào các hội: Nông dân, Phụ nữ, Thiếu niên, Cứu tế đỏ... Giữa năm 1928, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Hoài Nhơn đặt được mối liên lạc chính thức với Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Trung Kỳ và Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Quảng Ngăi1. Những biến chuyển đó đă tạo điều kiện chín muồi tiến tới thành lập Huyện bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội để lănh đạo chung phong trào. Tháng 12.1928, Huyện bộ Hoài Nhơn được thành lập và Nguyễn Trân được bầu làm bí thư.

Tuy mới ra đời, nhưng hoạt động của các chi bộ rất tích cực. Cuối năm 1928, tổ chức Thanh niên Hoài Nhơn đă tổ chức tuyên truyền, rải truyền đơn tại Tam Quan, Bồng Sơn, Quy Nhơn... phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc khủng bố những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Quảng Châu. Ngoài ra, các chi bộ c̣n tổ chức tuyên truyền, rải truyền đơn nhân dịp các ngày lễ lớn như Quốc tế Lao động (1.5), Cách mạng Tháng Mười Nga (7.11) và cách mạng tư  sản Pháp (14.7)...

Tháng 3.1929, Nguyễn Trân thay mặt cho Huyện bộ Thanh niên Hoài Nhơn tham dự Hội nghị của Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Trung Kỳ tại Huế, để thảo luận các vấn đề sẽ giải quyết trong Đại hội Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội.

Cuối tháng 4.1929, thi hành chủ trương của Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ, Huyện bộ Thanh niên Hoài Nhơn cử Huỳnh Triếp đi dự lớp huấn luyện do Tổng bộ Thanh niên mở tại Trung Quốc. Trên đường sang Trung Quốc, đồng chí đă tham gia rải truyền đơn hô hào quần chúng ở Sài G̣n đứng lên chống Pháp nhân ngày Quốc tế Lao động2. Để giác ngộ chính trị cho hội viên cũng như quần chúng, một số tài liệu của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội như báo Thanh Niên, tác phẩm “Đường Cách Mệnh” (1927) được đưa vào chương tŕnh giảng dạy ở các lớp học chính trị ở Cửu Lợi, An Đỗ... nhằm truyền thụ kiến thức về chủ nghĩa Mác-Lênin cho hội viên. Chính các lớp học này đă trang bị cho lớp chiến sĩ cách mạng đầu tiên thuộc thế hệ mới của B́nh Định những kiến thức chính trị hoàn toàn mới mẻ và hấp dẫn. Đó là những nét rất sơ lược về chủ nghĩa Mác - Lênin, vũ khí lư luận cách mạng của thời đại, về Cách mạng Tháng Mười Nga, vạch ra con đường giải phóng cho giai cấp vô sản và nhân dân bị áp bức, bóc lột toàn thế giới. Sự tuyên truyền, giáo dục này đă bước đầu làm thay đổi nhận thức của hội viên và quần chúng nhân dân Hoài Nhơn. Những ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương với nhiều màu sắc khác nhau đă một thời chi phối phong trào địa phương nay bị gạt bỏ hoàn toàn.

Ngoài nhiệm vụ đưa các tác phẩm lư luận tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin từ Quảng Châu về giác ngộ cho quần chúng trong huyện, Huyện bộ Thanh niên Hoài Nhơn c̣n cho phát hành bí mật các bản tin in đông sương như “Lao động”“Lời bày vẽ”, nhằm tuyên truyền và giới thiệu đường lối cách mạng của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, đồng thời thông báo những tin tức hoạt động, những phong trào đấu tranh ở các tỉnh cho hội viên và quần chúng.

Sau khi tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đẩy mạnh hoạt động ở Hoài Nhơn được một thời gian ngắn, th́ tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng cũng bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của ḿnh vào B́nh Định. Giữa năm 1928, Ngô Đức Đệ, nguyên Ủy viên Tỉnh bộ Tân Việt Hà Tĩnh được Tổng bộ Tân Việt cách mạng Đảng cử vào B́nh Định xây dựng cơ sở Đảng. Tại đây, tính đến cuối năm 1928, Ngô Đức Đệ đă xây dựng được những cơ sở Tân Việt đầu tiên ở nhà máy Đèn, hăng Vận tải đường thủy, ga ra Trần Sanh Thại, trường Quốc học (Quy Nhơn) và một số cơ sở được xây dựng tại trường tiểu học và công sở ở các huyện An Nhơn, Phù Mỹ, Bồng Sơn... Nếu Huyện bộ Thanh niên phát triển cơ sở cách mạng chủ yếu trong nông dân, thợ thủ công, thanh niên nông thôn địa phương th́ trái lại Tân Việt cách mạng Đảng lại được sự ủng hộ, tham gia của công nhân, học sinh, viên chức B́nh Định.

Cuối năm 1928, để tạo điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng và chỉ đạo phong trào toàn khu vực Trung Trung Bộ, Ban liên tỉnh Tứ Định của Tân Việt cách mạng Đảng được thành lập (gồm Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên và Kon Tum) do Ngô Đức Đệ làm bí thư. Đến cuối năm 1929, công tác phát triển lực lượng của Đảng Tân Việt ở B́nh Định đă đạt được một số kết quả khả quan. Nếu tính cả số đảng viên và hội viên quần chúng từ các tỉnh khác đến hoạt động, đă có tới 20 đảng viên trong công nhân, viên chức, giáo chức của một số xí nghiệp, công tư sở và trường học ở Quy Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Bồng Sơn... và hàng chục hội viên phản đế trong quần chúng.

Trong 2 năm 1928-1929, hai tổ chức Thanh niên và Tân Việt đă tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân yêu nước vào mặt trận cách mạng và phát động được quần chúng ở một số vùng như Trà Quang (Mỹ Quang, Phù Mỹ), Hảo Thiện, Cửu Lợi, An Đỗ (Hoài Nhơn)1... tổ chức những cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Ở Hảo Thiện, tổ chức Thanh niên Hoài Nhơn huy động hàng trăm nông dân kéo đến đ́nh làng đấu tranh đ̣i bọn lư hương sở tại phải chạy chữa cho những người dân bị họ đánh đập trong dịp tế Xuân. Tại trường Sơ học Phù Mỹ, học sinh rải truyền đơn tố cáo viên hiệu trưởng bán sách vở cho học sinh với giá cắt cổ, bắt học sinh nghèo phải mua quần áo đồng phục, Thanh niên Hoài Nhơn c̣n tổ chức t́m hiểu về nạn tô cao tức nặng của giai cấp địa chủ phong kiến.

Như vậy, cho đến cuối năm 1928, ở B́nh Định đă xuất hiện hai tổ chức tiền thân của Đảng: Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội ở Cửu Lợi, Hoài Nhơn (ra đời đầu năm 1928) và Tân Việt ở Quy Nhơn (năm 1928). Hai tổ chức này đă giữ vai tṛ quan trọng trong việc dẫn dắt phong trào yêu nước cách mạng ở B́nh Định nhanh chóng chuyển từ  khuynh hướng tư sản sang một khuynh hướng mới tiến bộ - khuynh hướng vô sản, và định hướng dần vào quỹ đạo lư tưởng cộng sản chủ nghĩa, tạo tiền đề cần thiết cho phong trào đấu tranh của nhân dân B́nh Định tiếp tục phát triển như vũ băo dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.

 



1 Chương Thâu, Tăng Bạt Hổ với phong trào Đông Du, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (282), 1995, tr. 18.

2 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Tăng Bạt Hổ, tldd, tr. 254.

1 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Tăng Bạt Hổ, tldd, tr. 282.

2 Chương Thâu, Tăng Bạt Hổ với phong trào Đông Du, tlđd, tr. 21.

1 Kiều Văn, Huỳnh Thúc Kháng với những bài thơ đầy tráng khi, Tạp chí Xưa và Nay, số 49B, 3.1998, tr. 19.

2 Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, NXB. Lá Bối, Sài G̣n, 1970, tr. 130.

3 Kỷ yếu hội thảo khoa học về Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, NXB. Đà Nẵng, 1993, tr. 136-137.

4 Khiêm Đức Lê Bính, Sử lược quận B́nh Khê, Địa phương chí ấp Háo Lễ, Phước Hưng, B́nh Định,   1974, tr. 50 (lưu tại thư viện B́nh Định).

1 Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, sđd, tr. 351.

1 Lộc Xuyên Đặng Quư Địch, Nhân vật B́nh Định, sđd, tr. 222.

1 Lê Đ́nh Liễn, Phong trào kháng thuế của nhân dân miền Trung năm 1908, Đề tài NCKH cấp Bộ, ĐHKH.  Huế, 1995, tr. 74.

2 Hồ Song, Vụ dân biến ở miền Trung Việt Nam đầu năm 1908, Tạp chí NCLS, số 2 (303), 1999, tr. 14.

3 Lê Đ́nh Liễn, Phong trào kháng thuế..., tlđd, tr. 75.

1 Trần Huy Liệu (nhiều tác giả), Cách mạng cận đại Việt Nam, tập 3, Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, XB, Hà Nội, 1955, tr. 61.

2 Hà Giao, Ghi nhận về một phong trào và trách nhiệm của chúng ta, Báo B́nh Định 18.4.1998, tr. 5.

3 Lộc Xuyên Đặng Quư Địch, Nhân vật B́nh Định, sđd, tr. 224.

1 Vũ Ngọc Liễn, Kẻ sĩ đất Thang Mộc, tập 1, NXB.  Đà Nẵng, 1997, tr. 115.

2 Hồ Song, Vụ dân biến ở miền Trung ..., tlđd, tr. 12.

1 Lê Đ́nh Liễn, Phong trào kháng thuế..., tlđd, tr. 76.

2 Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Lịch sử Việt Nam 1897-1914, Xây Dựng phát hành, Hà Nội, 1957, tr. 246.

3 Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân, Tủ sách Sử học,  Sài G̣n, 1973, tr. 87.

4 Lộc Xuyên Đặng Quư Địch, Nhân vật B́nh Định, sđd, tr. 228.

1 Lê Trọng Khánh, Đặng Huy Vận, Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội ở miền Nam Trung bộ  năm 1916, Tạp chí NCLS, số 22, 1.1961, tr 35.

1 Đinh Xuân Lâm, Trần Quốc Vượng, Những trang sử vẻ vang của các dân tộc ít người miền Nam, NXB.  Giáo Dục, Hà Nội, 1968, tr. 38.

2 Trần Huy Liệu (nhiều tác giả), Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, tập 2, NXB. Văn  Sử Địa, Hà Nội, 1958, tr. 141.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945-1975), BCH Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh, 5.1998, tr. 33.

1 Vũ Ngọc Liễn, Kẻ sĩ đất Thang Mộc, sđd, tr. 103-104.

2 Cụ Đào Phan Duân trước làm Tuần phủ Khánh Ḥa, sau được vua Khải Định thăng hàm Tổng đốc. Khi về hưu, cụ được thăng hàm Thượng thư trí sự, rồi Hiệp biện đại học sĩ tùng nhất phẩm. Biểu Xuyên là biệt hiệu  của cụ Đào Phan Duân.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Phước, sđd, tr. 29.

1 Nhiều tác giả, Lịch sử  thành phố Quy Nhơn, NXB. Thuận Hóa, Huế, 1998, tr. 300, và các nguồn khác

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định (1930-1945), tập I, B́nh Định, 1990, tr. 30-31.

3 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), B́nh Định, 1998, tr. 33.

1 Sự kiện lịch sử Đảng bộ B́nh Định 1928-1945, B́nh Định, 1985, tr. 11-12.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định 1930-1945, tập I, sđd, tr. 34.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh B́nh Định 1930-1945, tập I, sđd, tr. 35-37.