IV. CAO TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH (1930-1945)

 

          1. Sự ra đời các tổ chức Đảng Cộng sản ở Bình Định

Ngay từ giữa năm 1929, trong nội bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã có sự chuyển hóa mạnh mẽ dẫn đến sự ra đời liên tiếp của Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ (17.6.1929) và An Nam Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ (tháng 8.1929). Những sự kiện quan trọng đó đã tác động mạnh đến tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng, và vào tháng 9.1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã ra đời ở Trung Kỳ.

Sự tồn tại riêng rẽ 3 tổ chức cộng sản đã gây ra những bất lợi cho phong  trào cách mạng ở trong nước. Vì vậy, ngày 3.2.1930, với tư cách là một chiến sĩ của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn i Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất (tổ chức tại bán đảo Cửu Long, Trung Quốc). Sau 5 ngày nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá vấn đề, hội nghị đi đến quyết định hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng vào thời điểm này, những chiến sĩ ưu tú của hai tổ chức Thanh niên và Tân Việt Bình Định một mặt tìm cch liên lạc với Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác, nhanh chóng có những hành động quyết định đáp ứng kịp thời đòi hỏi của phong trào cách mạng đang ngày một dâng cao ở địa phương.

Tháng 2.1930, tại nhà đồng chí Nguyễn Trân (gần ga Tam Quan), Huyện bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội Hoài Nhơn họp bàn về chủ trương giải thể tổ chức Thanh niên của Tổng bộ, quyết định thành lập nhóm "ủng hộ cộng sản", phân công  một số Đảng viên nòng cốt đi "vô sản hóa" tại các công trường làm đường sắt, đồn điền, xí nghiệp ở Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cầu Đất (Lâm Đồng), Phú Riềng (Đồng Nai) nhằm mục đích rèn luyện, bồi dưỡng những cán bộ cốt cán, và tìm mối liên lạc với tổ chức cộng sản thống nhất. Hội nghị còn quy định: một khi bắt mối được với Đảng Cộng sản Việt Nam thì xin về địa phương thành lập Đảng bộ.

Tháng 3.1930, Phân cục Trung Kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cử Phan Thái Ất vào Quy Nhơn bắt liên lạc với tiểu tổ Tân Việt Quy Nhơn, gây dựng tổ chức cộng sản. Nhờ đó, vào thượng tuần tháng 3.1930, Chi bộ Cộng sản tại nhà máy Đèn Quy Nhơn, là tổ chức Đảng đầu tiên ở Bình Định, được thành lập gồm 5 Đảng viên: Lê Xuân Trữ, Nguyễn Hoàng, Lê Nguyên Khắc, Nguyễn Bá Hòe (đều là công nhân kỹ thuật nhà máy Đèn) và Nguyễn Hữu Tuân (trợ giáo trường Sơ đẳng Phù Mỹ) do Lê Xuân Trữ làm bí thư. Đến cuối tháng 4.1930, khi Lê Xuân Trữ được Phân cục Trung Kỳ điều động về Đà Nẵng, Nguyễn Hoàng được chỉ định làm bí thư. Bây giờ, do việc liên lạc giữa Xứ ủy và Phân ban Xứ ủy1 với Đảng bộ các tỉnh phía nam Trung kỳ có nhiều khó khăn, nên Xứ ủy và Phân ban chọn chi bộ nhà máy Đèn làm nơi đặt cơ quan liên lạc và ấn loát.

Đảng bộ Quy Nhơn rất chú ý phát triển đảng viên và hội viên quần chúng trong công nhân các xí nghiệp, nhà máy, như nhà máy Đèn, hãng Xta-ca (Staca), hãng Messageries Maritimes, các ga ra Trần Sanh Thại, Nguyễn Thọ Thuật... Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức trong viên chức ở một số công tư sở (tòa sứ, ngân hàng, bệnh viện, khách sạn...) và học sinh những trường có phong trào bãi khóa: Trường Trung học Quy Nhơn, các trường tiểu học Bình Định và Phù Mỹ. Nhằm mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng, chi bộ còn tích cực xây dựng các tổ chức Sinh hội đỏ, Công hội đỏ, Cứu tế đỏ... trong học sinh, viên chức và tiểu thương v sự ra đời của chi bộ trường Quốc học đánh dấu bước pht triển về chính trị của phong tro cch mạng tại Quy Nhơn. Tháng 10 năm 1930, chi bộ trường Quốc học Quy Nhơn được thành lập. Vậy, cho đến tháng 11.1930, thành phố Quy Nhơn có 2 chi bộ (nhà máy Đèn và trường Quốc học) với 15 đảng viên, thành phần hầu hết là công nhân, trí thức và học sinh. Về các tổ chức quần chúng, chỉ tính số hội viên trong Công hội đỏ và Sinh hội đỏ đã có ngót 40 người1.

Cũng vào đầu năm 1930, một số đảng viên trung kiên của Thanh niên Hoài Nhơn trong nhóm "ủng hộ cộng sản" đi "vô sản hóa" ở Sài Gòn đã bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Sài Gòn. Tại đây, hai đồng chí Nguyễn Trân và Đoàn Tính được kết nạp tại chi bộ Đảng hãng Charner, vùng Đakao (nay thuộc quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Đầu tháng 8.1930, theo yêu cầu của các đồng chí Nguyễn Trân và Đoàn Tính, Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Sài Gòn cử đồng chí Nguyễn Du về Cửu Lợi thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Hoài Nhơn. Chi bộ gồm 5 đồng chí, do Nguyễn Trân làm bí thư. Nhiệm vụ của chi bộ là đẩy mạnh phát triển cơ sở cách mạng các huyện ở phía bắc Bình Định.

Chỉ trong một thời gian ngắn, dựa vào phong trào Thanh niên trước kia, cơ sở của chi bộ Hoài Nhơn đã lan nhanh từ Cửu Lợi ra Đại Hóa, An Thái, Trường Xuân, Hảo Thiện, Dĩnh Thạnh, Châu Đê, Chương Hòa, Tài Lương, Cự Lễ, Tấn Thạnh... Đến tháng 11.1930, số đảng viên toàn huyện Hoài Nhơn lên gần 40 người. Về tổ chức, lập thêm các chi bộ Tài Lương, Dĩnh Thạnh, An Thái, Cự Lễ,... và hàng trăm hội viên trong các tổ chức quần chúng. Vào khoảng cuối tháng 10.1930, để đáp ứng với tình hình mới, thi hành chủ trương của phân ban Xứ ủy, Đảng bộ huyện Hoài Nhơn được thành lập, do đồng chí Nguyễn Trân làm bí thư huyện ủy. Đảng bộ đã góp phần xây dựng những cơ sở Đảng ở các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ.

Tháng 10.1930, hai tổ chức Đảng của huyện Hoài Nhơn và thành phố Quy Nhơn chính thức nối liên lạc với nhau, thống nhất các kế hoạch hành động. Sự ra đời của các tổ chức Đảng thành phố Quy Nhơn và huyện Hoài Nhơn không chỉ đánh dấu bước ngoặt lịch sử quyết định của phong trào yêu nước của nhân dân Bình Định, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh của nhân các huyện tiến lên.

2. Phong trào cách mạng ở Bình Định thời kỳ 1930 - 1935

          Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm 1929-1933 đã làm cho đời sống của nhân dân cả nước và Bình Định vốn đã khốn khổ, nay lại thêm cùng cực, trong đó công nhân và nông dân là hai giai cấp chịu nhiều đau khổ nhất.

Trong 4 năm (1929-1932), nhân dân Bình Định sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Những trận lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra. Đặc biệt trận bão ngày 26.10.1932 có 370 người chết, gần 50.000 ngôi nhà, đình, chùa, trường học... bị sập hoặc hỏng. Năng suất lúa giảm, giá lúa trên thị trường hạ, dân không có tiền mua. Theo thống kê của tòa khâm sứ Trung Kỳ, giá một tạ gạo ở Quy Nhơn từ 7,2đ (1932) xuống còn 4,27đ (1933), tức tụt giá tới 36%, là tỉ lệ tụt cao nhất so với toàn Trung bộ lúc ấy1. Trong khi đó, chính quyền thực dân phong kiến lại trút cả gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế lên đầu nhân dân Việt Nam nói chung, Bình Định nói riêng, bằng cách tăng thuế từ 15-20%. Tất cả những biến cố đó đã đẩy người nông dân Bình Định phải bỏ làng đi nơi khác kiếm sống, công nhân sống chạy bữa, thợ thủ công mất việc làm, viên chức và trí thức nhỏ bị sa thải, những người buôn bán nhỏ phải phá sản...

Thấu hiểu được nguyện vọng bức thiết của nhân dân nên lúc vừa mới thành lập, tuy lực lượng còn non yếu, song từ cuối tháng 4.1930, Đảng bộ Quy Nhơn đã tổ chức rải truyền đơn và treo cờ Đảng ở nhiều nơi trong tỉnh, như Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn... để hô hào, vận động các tầng lớp nhân dân lao động đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm cho công nhân, đòi miễn giảm sưu, hoãn thuế, xóa nợ lãi cho nông dân và dân nghèo...

Ở Quy Nhơn, truyền đơn được rải dày đặc trên các đường phố. Nhóm Công hội Đỏ nhà máy Đèn Quy Nhơn treo cờ Búa Liềm trên cột đèn ngã ba Công quán - trường Quốc học - ga Quy Nhơn. Cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Bình Định đã đẩy bộ máy chính quyền địch vào một tình thế bị động, lúng túng đối phó. Đêm 28 rạng  ngày 29.7.1930, thực hiện chủ trương của Phân ban Xứ ủy Trung Kỳ, Đảng bộ Quy Nhơn mở đợt đấu tranh nhân ngày Quốc tế chống chiến tranh đế quốc (1.8).

Ngày 14.9.1930, Đảng bộ Quy Nhơn tiếp tục rải truyền đơn ở thành phố Quy Nhơn và các huyện trong tỉnh, kêu gọi các giới công - nông Bình Định nổi dậy phản đối cuộc khủng bố trắng của đế quốc Pháp và tay sai, ủng hộ Nghệ Tĩnh Đỏ... Ngày 26 và 28.9.1930, truyền đơn lại xuất hiện ở Bồng Sơn và trường Sơ đẳng Tam Quan. Tháng 10.1930 là thời điểm dồn dập diễn ra các cuộc đấu tranh dưới hình thức rải truyền đơn, mít tinh ủng hộ công - nông Nghệ Tĩnh (trong các ngày 7, 14, 19, 25, 31). Ở Quy Nhơn, truyền đơn xuất hiện khắp nơi, nhất là đoạn từ xóm Tấn đến tòa giám mục ở đường Gia Long, nơi tập trung các công sở của Pháp như đồn lính khố xanh, trụ sở công ty Hàng hải, sở Thương chính, hãng buôn Descours et Cabaud, hãng Denis Frères. Một số công tư sở khác cũng có truyền đơn như Hội quán Thể thao (Sân vận động Quy Nhơn hiện nay), Toà Sứ (nay là khách sạn Du lịch Quy Nhơn, trên đường Nguyễn Huệ), trường Quốc học, ga ra Trần Sanh Thại, hội Xe vàng...1 Ở Phù Cát, ngoài những làng dọc theo đường số 1A từ Phù Ly (giáp Mỹ Hiệp - Phù Mỹ) vào cầu Nha Đái (giáp An Nhơn), truyền đơn còn xuất hiện đến tận những làng quê hẻo lánh như làng Trung Chánh, Gia Lạc (Cát Minh - Cát Tài), Phú Đa (Cát Tài)...

Đi đôi với  việc phân phát truyền đơn và mít tinh, Đảng bộ thành phố Quy Nhơn còn mở các cuộc vận động quyên góp tiền trong giới học sinh, viên chức, nhà kinh doanh để ủng hộ "Nghệ Tĩnh Đỏ".

Đêm 5 rạng ngày 6.11.1930, để chào mừng ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng bộ Quy Nhơn rải truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh đòi đế quốc Pháp và Nam triều thực thi một số quyền lợi chính đáng cho mọi tầng lớp nhân dân, như giảm sưu thuế cho nông dân, tăng lương giảm giờ làm cho công nhân, tăng lương cho binh lính và hạ sĩ quan người Việt trong  quân đội Pháp. Cũng trong thời gian đó, tại Hoài Nhơn, cờ đỏ Búa Liềm bay phất phới trên đèo Phủ Cũ (giáp giới giữa Phù Mỹ - Hoài Nhơn), và ở trường Sơ đẳng Tam Quan. Tại Cửu Lợi, Đảng bộ Hoài Nhơn tổ chức một cuộc mít tinh bí mật lôi cuốn được  hàng trăm đảng viên và quần chúng tham gia lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga.

Trước          làn sóng đấu tranh cuồn cuộn như vũ bão của nhân dân Bình Định, thực dân Pháp hốt hoảng tìm mọi cách đối phó, khủng bố phong trào. Thực dân Pháp còn phối hợp với các thế lực phản động trong Thiên chúa giáo phát hành nhiều tập sách xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản, cho in tại Quy Nhơn tờ "Bình Phú Tân Văn" bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán mỗi tháng 2 kỳ (từ 01.8.1930), ra sức vu cáo trắng trợn Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam1. Trong đợt khủng bố cuối tháng 10.1930 đến đầu tháng 4.1931, gần 30 cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng trung kiên trong tỉnh bị bắt.

Đợt khủng bố tháng 11.1930, đặc biệt là việc phá vỡ cơ quan điều hành của Xứ ủy đóng tại thành phố Đà Nẵng, đã gây nhiều thiệt hại cho tổ chức Đảng và phong trào các tỉnh Nam Trung bộ. Đảng bộ Quy Nhơn hoàn toàn mất liên lạc với Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ. Trong quá trình bị mất liên lạc, Đảng bộ Quy Nhơn đã nối được đường dây hoạt động với Chi bộ Đảng tại thị xã Kon Tum và tổ chức Đảng của Phú Yên tại Sông Cầu, 10 đảng viên mới được kết nạp, các tổ chức đoàn thể được thành lập thêm, những cuộc tuyên truyền nhân các ngày lễ Quốc tế Phụ nữ (8.3), Công xã Paris (18.3) được phát động.

Đầu trung tuần tháng 4.1931, đường dây liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ được nối lại. Ngày 26.4.1931, nhân ngày Quốc tế Lao động, Đảng bộ Quy Nhơn phối hợp với Đảng bộ Hoài Nhơn tổ chức hai đợt đấu tranh lớn vào tháng 5 và tháng 6.1931. Những hoạt động này có tác dụng góp phần giữ vững tổ chức Đảng và phong trào quần chúng trước sự khủng bố của địch, và thiết thực chuẩn bị cho các đợt đấu tranh lớn về sau2.

Thực hiện chủ trương mở rộng cuộc đấu tranh trong phạm vi hai tỉnh Bình Định - Phú Yên của Hội nghị khu vực tổ chức tại Quy Nhơn do Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ chủ trì vào trung tuần tháng 7.1931, đêm 14.7.1931 nhân dịp nhà cầm quyền Pháp mở Hội tết Tây (Quốc khánh Pháp) ở Quy Nhơn, Đảng bộ thành phố Quy Nhơn đã huy động các cơ sở cách mạng trong học sinh và các xí nghiệp tổ chức một vụ gây rối để phá cuộc rước đèn khắp các đường phố, các khu lao động. Nhưng ngay từ đầu cuộc đấu tranh này đã bị bọn thực dân đàn áp khốc liệt, chi bộ nhà máy Đèn bị vỡ, phần lớn các đảng viên đều bị bắt. Trưa ngày 19.7, mật thám Pháp bao vây nhà máy Đèn Quy Nhơn, cảng biển Quy Nhơn, xưởng mộc Tạ Xuân Lang, ga ra Nguyễn Thọ Thuật. Đến ngày 21.7.1931, phần lớn cán bộ đảng viên và các hội viên quần chúng của Quy Nhơn và Xứ ủy lâm thời phụ trách khu vực này lần lượt bị bắt. Cuộc khủng bố của Pháp lan nhanh ra các vùng lân cận như An Nhơn, Hoài Ân... Trước tình hình đó, ngày 23.7.1931, Huyện ủy Hoài Nhơn phát động 3.000 nông dân trong huyện vũ trang bằng dao, rựa, gậy gộc theo 4 đoàn tiến về phủ lỵ Bồng Sơn. Nhưng cuộc biểu tình vũ trang nhanh chóng bị dập tắt. Theo thú nhận của Pestel đến 1.8.1931, tức trong vòng 8 hôm, chúng đã bắt ở Hoài Nhơn hơn 290 người1. Các nhà lao Bồng Sơn, thành Bình Định và Quy Nhơn chật ních những chiến sĩ cách mạng.

Cuối năm 1931, cách mạng Bình Định bước vào một giai đoạn đầy khó khăn và thử thách. Các tổ chức Đảng (Chi bộ nhà máy Đèn, Chi bộ Đảng ở Hoài Nhơn) và cơ sở quần chúng trong toàn tỉnh hầu như bị phá vỡ hoàn toàn, phong trào cách mạng trong toàn tỉnh tạm thời lắng xuống. Tuy nhiên, ở nhà lao Quy Nhơn, phong trào đấu tranh của tù chính trị lại diễn ra khá mạnh mẽ và liên tục. Đặt biệt là cuộc tuyệt thực ngày 4.11.1931, nhằm kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga và tố cáo trước dư luận những hình thức tra tấn cực kỳ dã man, giam giữ tàn bạo tại nhà lao Quy Nhơn. Đầu năm 1932, hơn 100 tù chính trị ở lao Quy Nhơn đi lao dịch đắp đường gần trại lính khố đỏ (Caserne Galliénie) (nay là con đường Phạm Ngọc Thạch). Anh em tù nhân đã đấu tranh chống lại sự đánh đập của bọn cai tù, và được đông đảo nhân dân thành phố Quy Nhơn đồng tình ủng hộ, gọi nơi xảy ra cuộc đấu tranh là "Con đường Cộng sản"2.

Cuối năm 1932, một số Đảng viên Hoài Nhơn vừa mãn hạn tù về, bí mật móc nối với một số Đảng viên và cơ sở quần chúng còn lại ở Hoài Nhơn nhằm khôi phục và nhen nhóm lại phong trào. Sau khi nối được liên lạc với tổ chức Đảng của Quảng Ngãi, chi bộ Cộng sản Cửu Lợi (Tam Quan Nam) được lập lại, gồm 3 đảng viên. Với sự nỗ lực vượt bậc của Chi bộ Cửu Lợi, một số cơ sở cách mạng được khôi phục ở An Thái, Tài Lương, An Đỗ, Vĩnh Thạnh, Tấn Thạnh... Nhiệm vụ gài cán bộ cách mạng vào hoạt động trong lực lượng lao động các công trường đường sắt cũng tiến triển thuận lợi. Tuy nhiên, phong trào vẫn bị địch khủng bố.

Trong những năm 1932-1934, nhân dân Bình Định không ngừng đứng lên đấu tranh đòi các quyền dân sinh thiết thực. Nông dân các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, chống nạn chiếm đoạt ruộng đất công của bọn cường hào các huyện. Công nhân trong một xí nghiệp, lao động trên các công trường làm đường sắt ở địa phương, đã bãi công đề nghị tăng lương, giảm giờ làm.

Đầu năm 1934, một số Đảng viên của Hoài Nhơn bị bắt trong cuộc biểu tình ngày 23.7.1931 được thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương. Các đảng viên cộng sản đã tổ chức cuộc hội họp tại làng Châu Đê (Hoài Châu), bàn kế hoạch khôi phục lại tổ chức Đảng và phong trào cách mạng.

Những nỗ lực của một số đảng viên Hoài Nhơn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Phong trào cách mạng Hoài Nhơn từng bước được phục hồi và có hướng phát triển. Từ Cửu Lợi, Tài Lương, An Đỗ..., cơ sở Đảng và quần chúng lan nhanh ra nhiều nơi như Hy Văn, Hy Tường (Hoài Sơn), Hy Thế, Thành Sơn, Chương Hòa, Châu Đê (Hoài Châu), An Thái (Tam Quan Bắc), Đại Hóa, Tăng Long (Tam Quan Nam), Phú Mỹ, Tường An, Thế Lộc (Hoài Thanh), Trung Lương (thị trấn Bồng Sơn)... Ba chi bộ An Đỗ, Cửu Lợi, Tài Lương được thành lập. Đến đầu tháng 4.1935, theo tài liệu của Phòng nhì, Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp tại bắc Bình Định có 18 đảng viên, 6 đoàn viên Thanh niên Cộng sản, 20 hội viên Công hội đỏ, 28 hội viên Nông hội đỏ và 2 Cứu tế đỏ... Cũng theo tài liệu trên, Bình Định là địa phương có thực lực cách mạng được tổ chức khá mạnh trong các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hòa, chỉ sau Quảng Ngãi1.

Ngày 23.4.1935, các tổ chức Đảng Hoài Nhơn đã cử đồng chí Nguyễn Lục dự hội nghị Mỹ Á (Đức Phổ, Quảng Ngãi) do đồng chí Tống Văn Trân, phái viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trì. Hội nghị thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng về củng cố và  phát triển các tổ chức cơ sở Đảng và quần chúng, đặt biệt chú trọng lực lượng công nhân các công trường làm đường sắt, các xí nghiệp ở thành phố, đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng cho quần chúng, phát động quần chúng tiến hành những cuộc đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, chuẩn bị gấp đợt đấu tranh nhân ngày Quốc tế Lao động (1.5).

Phong trào của Bình Định cũng như toàn khu vực vừa mới bắt được liên lạc với Trung ương, chưa kịp triển khai hành động, thì từ ngày 27.4.1935 đến 14.5.1935 đã vấp phải cuộc khủng bố mới của kẻ thù. Hàng chục cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng Hoài Nhơn bị bắt. Trong các ngày 12.7.1935 và 17.8.1935, tại Quy Nhơn, đế quốc Pháp mở phiên tòa xử "Vụ án tái tổ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bình Định". Hơn 20 đồng chí bị kết án từ 3 đến 5 năm tù giam, một số bị đày lên nhà lao Buôn Mê Thuột2.

Những hoạt động chống đối của Đảng bộ và nhân dân Bình Định trong những năm 1932 - 1935 đã khiến cho bộ máy chính quyền Pháp và tay sai phải lo ngại. Trong báo cáo tổng kết tình hình Trung Kỳ từ tháng 6.1933 đến tháng 3.1934 gửi cho Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Trung Kỳ cũng phải thừa nhận: "Ở Trung Kỳ việc tuyên truyền cộng sản bắt đầu ngay từ cuối năm 1932 đầu năm 1933, với muôn màu muôn vẻ, ít lộ liễu hơn trước... Tại bắc Bình Định, việc xây dựng lại Đảng Cộng sản do các chính trị phạm xúc tiến một cách ráo riết"1.

Nhìn chung, trong những năm 1932-1935, phong trào cách mạng ở Bình Định gặp nhiều khó khăn và tổn thất, nhưng với một sự cố gắng vượt bậc, những tổ chức cơ sở Đảng và phong trào đấu tranh của quần chúng từng bước được phục hồi và có những bước tiến triển đáng kể, bắt đầu bước vào thời kỳ đấu tranh mới: đòi dân sinh, dân chủ.

          3. Cuộc vận động dân chủ ở Bình Định 1936-1939

Từ cuối năm 1935, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi mặt đời sống xã hội của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Để thoát khỏi những bế tắc này, nhiều nước đế quốc ngày càng lao sâu vào con đường phát xít hóa. Chủ nghĩa phát xít Đức - Ý - Nhật ráo riết chuẩn bị một cuộc chiến tranh mới nhằm chia lại thị trường thế giới, và tiêu diệt Liên Xô, thành trì của cách mạng và hòa bình thế giới. Đứng trước mối đe dọa đó, tháng 7.1935, Quốc tế Cộng sản tiến hành họp Đại hội lần thứ VII tại Matxcơva. Đại hội xác định kẻ thù trực tiếp và trước mắt của nhân loại là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ cụ thể trước mắt của các Đảng Cộng sản và công nhân là thống nhất hàng ngũ giai cấp vô sản, lập mặt trận nhân dân rộng rãi với các cấp, các tầng lớp dân chủ và tiến bộ để tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh phát xít, giành dân chủ, bảo vệ hòa bình thế giới2.

Ở Pháp, vào tháng 4.1936, Mặt trận Nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản làm nòng cốt đã giành được thắng lợi lớn trong cuộc tổng tuyển cử. Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp (bấy giờ gọi là Chính phủ Bình dân) lên cầm quyền vào tháng 6.1936 đã ban hành một số chính sách tiến bộ đối với nhân dân lao động Pháp và nhân dân lao động thuộc địa. Đây là cơ hội thuận lợi cho phong trào cách mạng thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng được khôi phục và phát triển.

Ở Việt Nam, do sự thay đổi tình hình chính trị ở Pháp, chính quyền thống trị không thể thực hiện một số chính sách áp bức, đàn áp, khủng bố nhân dân ta công khai, trắng trợn như trước. Nhưng chúng tìm mọi cách trì hoãn hoặc không thi hành những chính sách của chính phủ phái tả, kìm hãm sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam và chuẩn bị sẵn sàng áp đặt trở lại những chính sách đàn áp, khủng bố như trước một khi tình hình chính trị có những chuyển biến có lợi cho các thế lực phản cách mạng.

Được ánh sáng của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản soi đường, tháng 7.1936, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh trong tình hình mới. Hội nghị xác định kẻ thù chủ yếu trước mắt của cách mạng Đông Dương là chống chế độ phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi quyền dân sinh dân chủ và đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Để đạt được mục tiêu đó, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương (tháng 3.1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương), đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng.

Lúc này tại Bình Định, do chính sách vơ vét, bóc lột của đế quốc Pháp và tay sai, cộng với thiên tai dồn dập nên đời sống của nhân dân vốn đã đói khổ nay lại càng thêm điêu đứng. Cũng vào thời điểm này, do đoạn đường sắt Đà Nẵng - Nha Trang được đưa vào kinh doanh, cảng Quy Nhơn được đầu tư mở rộng, các ngành kinh tế khác tiếp tục phát triển, nên số lượng tầng lớp tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc được tăng lên. Tuy nhiên, họ đều bị sự khinh miệt, chèn ép của chính quyền thuộc địa, cuộc sống luôn bấp bênh. Trong bối cảnh đó, các giai tầng ở Bình Định nhận thấy rằng cần phải đứng lên đấu tranh mới mong cải thiện được cuộc sống, mới mong giành lại được quyền tự do, dân chủ.

Nhân cơ hội phái đoàn nghị viện của Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp sang nghiên cứu tình tình Đông Dương, Đảng ta chủ trương mở một đợt đấu tranh yêu cầu triệu tập Đông Dương Đại hội để thu thập nguyện vọng của quần chúng gửi lên phái đoàn. Tuy lúc này chưa nối được liên lạc với Xứ ủy Trung Kỳ, nhưng thông qua báo chí công khai của Đảng, các chiến sĩ cộng sản Bình Định vừa mãn hạn tù về, nhất là các đồng chí ở Hoài Nhơn, đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh này. Mở đầu phong trào, trong các ngày 17 và 21.8.1936, truyền đơn và áp phích kêu gọi quần chúng đấu tranh đòi triệu tập Đông Dương Đại hội được rải trên nhiều đường phố Quy Nhơn và một số vùng của Hoài Nhơn. Các cựu chính trị phạm Quy Nhơn đã lợi dụng những nơi tụ tập đông người, như hiệu cắt tóc Hồng Châu, Nhật Tân, cửa hàng tạp hóa Tân Long, Vạn Sanh... để cổ động ủng hộ phong trào Đông Dương Đại hội và Mặt trận Bình dân Pháp.

Từ giữa tháng 8.1936, tại Hoài Nhơn, các đồng chí Huỳnh Triếp, Trần Quang Khanh mở nhiều cuộc họp ở Tân Mỹ, An Thái, Phước Lộc (Tam Quan Bắc), Chương Hòa (Hoài Châu), Cửu Lợi (Tam Quan Nam)... thảo luận kế hoạch chuẩn bị tham dự Đông Dương Đại hội toàn Trung Kỳ ở Huế. Các đảng viên còn mở rộng địa bàn ra nhiều địa phương mới, như các làng thuộc tổng An Sơn, Lại Khánh (Hoài Nhơn), Kim Sơn (Hoài Ân), đồng thời cử người đi gặp các cựu chính trị phạm ở các huyện Phù Mỹ, Phù Cát. Ngày 20.9.1936, đồng chí Lê Bửu cùng đoàn đại biểu nhân dân Bình Định tham gia cuộc họp tại trụ sở Viện Dân biểu Trung Kỳ ở Huế để lập Ủy ban lâm thời chi nhánh Trung Kỳ Đông Dương Đại hội. Nhà cầm quyền Pháp và bọn tay sai Bình Định vội vàng mở đợt khủng bố, đàn áp khốc liệt để ngăn chặn phong trào quần chúng bùng nổ. Trong tháng 9.1936, Pháp xúc tiến 24 vụ bắt bớ các chính trị phạm trong tỉnh, và trong tháng 10, chúng bắt 10 đồng chí tích cực nhất trong phong trào đòi triệu tập Đông Dương Đại hội của nhân dân Hoài Nhơn1.

Tháng 10.1936, tại Hòn Chùa (Đại An, Nhơn Mỹ, An Nhơn), đồng chí Huỳnh Đăng Thơ thành lập Chi bộ Hồng Lĩnh2 nhằm đáp ứng những đòi hỏi của phong trào cách mạng trong vùng. Ban đầu, Chi bộ Hồng Lĩnh có 7 đảng viên do Nguyễn Mân là bí thư, Nguyễn Thành Mẫn là phó bí thư. Đến cuối năm 1937, Nguyễn Văn thay Nguyễn Mân làm bí thư. Để thu hút mọi tầng lớp nhân dân đứng vào trận tuyến đấu tranh cách mạng, Đảng bộ đã lập các hội "Tương tế", "Tương ái", hội đá bóng, hội đi săn, nhóm đọc sách, báo. Riêng hội viên "Tương tế", trong nông dân đã có gần 200 người. Trong những năm 1937-1939, Đảng bộ đã phát động nhiều cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, như mít tinh, cổ động nhân dân chống thuế ở Đập Đá, bãi công tăng lương ở An Thái, đòi quân cấp công điền ở Bình Khê...

Đầu năm 1937, Chi bộ Hồng Lĩnh nối được liên lạc với Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ. Xứ ủy giới thiệu đồng chí Võ Xán về Bình Định tham gia phong trào địa phương.

Mặc dù cuộc đấu tranh đòi triệu tập Đông Dương Đại hội của nhân dân Hoài Nhơn... bị cấm đoán, khủng bố, nhưng nó chính là động lực thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ của nhân dân Bình Định. Ngày 1.3.1937, hơn 60 công nhân nhà máy In tòa giám mục giáo phận Quy Nhơn nhất loạt đình công và đưa yêu sách được nghỉ ngày chủ nhật, đòi tăng lương, hưởng chế độ thuốc men khi đau ốm mà vẫn có lương... Cuộc đấu tranh được đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố đồng tình và ủng hộ. Trước áp lực của quần chúng, ngày 3.3.1937, linh mục quản lý nhà in phải chấp nhận tăng 20% lương cho công nhân.

Đi đôi với phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, nhân dân Bình Định còn tích cực tham gia cuộc vận động lấy chữ ký cho các bản "thỉnh nguyện" để gửi lên Justain Godart, phái viên điều tra tình hình thuộc địa của Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp. Ngày 2.3.1937, gần 500 công nhân, thợ thủ công và viên chức công tư sở, học sinh, thanh niên... tập trung trước Tòa Sứ và cử đại diện đưa các bản "thỉnh nguyện"  cho Godart. Trước áp lực của quần chúng, Godart phải xuống xe, tiếp xúc và trực tiếp trả lời một số câu hỏi của nhân dân.

Cũng tại Quy Nhơn, ngày 19.4.1937, toàn thể tù chính trị và tù nhân các loại ở nhà lao Quy Nhơn do đồng chí Huỳnh Triếp, Trần Quang Khanh khởi xướng tổ chức cuộc tuyệt thực kéo dài 10 ngày đòi thực dân phải cải thiện một số điều kiện sinh hoạt và lao dịch cho tù nhân. Phối hợp chặt chẽ với cuộc tuyệt thực trong nhà lao, các đảng viên Hoài Nhơn, Quy Nhơn kịp thời vận động các tờ báo công khai ở Huế, Sài Gòn như "Kinh tế Tân văn", "Sài Gòn báo", "Tiếng Dân"... đăng tin tạo dư luận rộng rãi gây sức ép. Trước sự đấu tranh kiên quyết của tù nhân và áp lực mạnh mẽ của dư luận báo chí, thực dân Pháp buộc phải chấp nhận giải quyết một số yêu sách cho tù chính trị nhà lao Quy Nhơn.

Đầu tháng 7.1937, hưởng ứng cuộc tổng bãi công của công nhân ngành đường sắt Nam Đông Dương, công nhân ga Quy Nhơn và Dépôt Diêu Trì tổ chức bãi công đòi tăng lương công nhật lên 20%, đau ốm được cấp thuốc và hưởng lương, bảo đảm ngày làm 8 giờ, cai ký không được đánh đập công nhân, và giải quyết các yêu sách của công nhân Trường Thi ở Nghệ An. Công nhân đã thành lập Ban chỉ đạo để tích cực vận động công nhân một số xí nghiệp khác như nhà mày Đèn, các hãng Staca, Sadca, Fiard ủng hộ công nhân Vinh về tinh thần lẫn vật chất1.

Sự phát triển của phong trào cách mạng toàn tỉnh, nhất là phong trào các huyện phía nam, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải có sự chỉ đạo thống nhất và kịp thời hơn nữa. Đáp ứng tình hình đó, cuối năm 1937, Tỉnh ủy lâm thời Bình Định được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn làm Bí thư, Ban Cán sự liên tỉnh Trung Trung Kỳ (Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên) cũng ra đời, đặt trụ sở tại ngõ vào thành phố Quy Nhơn (nay thuộc phường Đống Đa). Đầu năm 1938, Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương thành phố Quy Nhơn được khôi phục trở lại, Ban cán sự liên tỉnh Trung Trung Kỳ cũng dời cơ quan vào nội thị dưới hình thức hợp pháp là hiệu may Tiến Hóa ở đường Khải Định, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh công khai, nửa hợp pháp của thành phố phát triển mạnh1.

Tháng 2.1938, Ủy ban lâm thời i hữu học sinh cũ của trường Kỹ nghệ Thực hành Huế và i hữu công nhân viên chức sở Địa chính ra đời. Tiếp đó, công nhân viên chức một số ngành như đường sắt, các gara sửa chữa ô tô, nhà máy đèn, thợ may, thợ giày, thợ cắt tóc ở thành phố Quy Nhơn lập ban vận động và đưa đến Tòa Sứ xin cấp giấy phép.

Hội i hữu thợ may, thợ giày và thợ cắt tóc ở Quy Nhơn thu hút hơn 100 hội viên ở các hiệu Hồng Châu, Nhật Tân, Tân Lập, Tân Long, Trương Quý Thích. Các Hội i hữu công nhân hỏa xa Quy Nhơn - Diêu Trì thì dựa vào Hội Đồng hương Bắc Kỳ để tập hợp lực lượng. Hội thành lập những đội bóng đá công nhân của ngành hỏa xa, như đội Sport Dépôt Diêu Trì, đội Autorail Quy Nhơn, tổ chức các trận đấu giao hữu với những đội bóng đá của thanh niên Quy Nhơn, Bình Định, Bồng Sơn, Phù Mỹ. Tại Quy Nhơn, hội còn lập đội bóng đá Microbsport để tập hợp và giáo dục một số thiếu nhi, học sinh con em công nhân trong ngành.

Các chính trị phạm hoạt động công khai ở Quy Nhơn có sáng kiến lợi dụng Câu lạc bộ Pháp - Việt (CEFA: Cercle d' étude Franco - Annamite) để tập hợp lực lượng. Câu lạc bộ đã tổ chức nhiều buổi diễn thuyết và hội thảo bàn về một số vấn đề chính trị - xã hội đang được nhiều người quan tâm, như cuộc hội thảo về đạo Phật cải cách giữa trí thức tiến bộ Quy Nhơn với một số nhà sư của Hội Phật học Trung Kỳ, như nhà sư Thích Đôn Hậu...

Bên cạnh việc sử dụng CEFA để quy tụ lực lượng, tổ chức Đảng Quy Nhơn còn vận động các chủ hiệu sách báo như Tương Lai, Mỹ Liên, Hồ Văn Bá làm đại lý phát hành và tuyên truyền một số báo chí công khai của Đảng và Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Ngoài ra, Đảng bộ còn lập nhóm Thái Dương văn đoàn để hướng hoạt động sáng tác của một số văn nghệ sĩ tài năng, có xu  hướng tiến bộ như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan vào con đường nghệ thuật vị nhân sinh. Đầu năm 1939, Đảng bộ Quy Nhơn cho phát hành tập "Nắng xuân" và đăng trên các báo nhiều phóng sự, tiểu phẩm tố cáo các tệ nạn của xã hội thuộc địa nửa phong kiến.

Đầu năm 1938, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương của thành phố Quy Nhơn được thành lập do đồng chí Trần Lung làm bí thư đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp thiết của phong trào cách mạng thành phố. Phối hợp với những hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp của Quy Nhơn, các huyện An Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát... cũng phát động những cuộc đấu tranh mới đòi tự do, dân chủ. Nhân dân các làng Đại An (An Nhơn), Thủ Thiện, Kiên Mỹ (Tây Sơn), Đại Hữu (Phù Cát), Tân Ốc, Vạn Phú (Phù Mỹ), Cửu Lợi, Chương Hòa (Hoài Nhơn) đã thành công trong việc đưa những người tiến bộ vào bộ máy hành chính làng xã để làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng huyện nhà. Dân làm muối An Mỹ (Mỹ Cát), An Xuyên (Mỹ Chánh, Phù Mỹ), Quảng Vân (Phước Thuận, Tuy Phước)... Liên tiếp chống bọn thương chính chèn ép giá mua muối. Tháng 5.1938, nông dân một số làng ở Bình Khê, Phù Cát, Phù Mỹ chống tăng thuế thuốc lá. Tiểu thương các chợ Đập Đá, An Thái, Gò Chàm (An Nhơn), Gò Bồi (Tuy Phước), An Hành (Phù Cát), An Lương, Cây Thị (Phù Mỹ), Tam Quan, Bồng Sơn (Hoài Nhơn) đấu tranh đòi bỏ thuế chỗ ngồi... Quyết liệt nhất là cuộc đấu tranh của nhân dân các làng An Thái, Phước Lộc (Tam Quan), Tấn Thạnh, Cự Lễ (Hoài Nhơn), Chợ Cát (Hoài Hảo) bao vây đánh bọn thuế đoan, do tên Rossignol, chủ sự trạm thương chính Tam Quan cầm đầu ngày 8.4.1938. Về quy mô và mức độ quyết liệt của cuộc đấu tranh này, sở Mật thám Quy Nhơn cho đó là "Cuộc bạo loạn"1.

Khoảng giữa năm 1938, tại gò Hương Sơn (Bình An, Tây Sơn), Tỉnh ủy lâm thời Bình Định thành lập Đoàn Thanh niên Dân chủ An Bình (An Nhơn - Bình Khê) để thu hút lực lượng thanh niên vào trận tuyến đấu tranh cách mạng, lấy tên là Hội bóng đá An Bình.

Đoàn thanh niên Dân chủ An Bình đã tổ chức các trận bóng đá giao hữu giữa đội bóng đá các huyện An Nhơn, Bình Khê, Phù Cát, Tây Sơn... để tạo điều kiện cho thanh niên các huyện có dịp tiếp xúc, liên lạc với nhau. Đoàn đưa thanh niên đi thăm một số di tích lịch sử và thắng cảnh địa phương như Hầm Hô, Hương Sơn, đèo An Khê... để khơi dậy lòng tự hào dân tộc trong thanh niên. Đoàn còn chú trọng vận động thanh niên đọc sách báo tiến bộ để tìm hiểu chính sách, chủ trương của Đảng và phổ biến các bài ca cách mạng, khơi dậy tinh thần sục sôi chống Pháp trong lực lượng thanh niên.

Tháng 7.1938, nhà cầm quyền Pháp ở Bình Định tổ chức cuộc bầu cử bổ sung một dân biểu vào Viện Dân biểu Trung Kỳ khu vực Quy Nhơn - Tuy Phước khóa 1937 - 1941. Đảng bộ Quy Nhơn đã vận động các tầng lớp nhân dân ủng hộ ông Phan Quỳnh, một nhân vật tán thành chương trình hành động của Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Để giành được thắng lợi, Xứ ủy lâm thời Trung Kỳ còn đưa đồng chí Phan Thanh, một dân biểu Trung Kỳ về Tuy Phước và Quy Nhơn cổ động cho ứng cử viên của Mặt trận. Thành công này lại một lần nữa chứng minh sự trưởng thành của Đảng bộ và trình độ giác ngộ chính trị của nhân dân địa phương. Từ tháng 8 đến tháng 12.1938, nhân dân các huyện liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống dự án cải cách thuế do tòa khâm sứ Trung Kỳ đưa ra. Thông qua cuộc đấu tranh này, các Đảng bộ trong tỉnh đảm trách một cuộc vận động lấy chữ ký gửi cho nhà cầm quyền Pháp và Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Tháng 8.1938, thợ dệt Thái Phát tại An Thái (Nhơn Phúc, An Nhơn) đã tổ chức cuộc đình công kéo dài một tuần lễ phản đối hành vi đánh đập tàn nhẫn và sa thải công nhân nữ của người Hoa ở đây. Cuộc bãi công này đã vận động được thợ dệt của hai xưởng Tân Hưng và Chấn Ích tham gia.

Trước sự nổi dậy liên tục của quần chúng nhân dân, từ giữa năm 1938, nhà cầm quyền Pháp ở Bình Định xúc tiến trấn áp phong trào lập Hội i hữu trong công nhân, đàn áp các cuộc đấu tranh chống tăng thuế, đòi hỏi cải cách  dân chủ của nông dân, bóp nghẹt những đòi hỏi về dân sinh, dân chủ của các tầng lớp xã hội khác. Tờ báo Dân chúng, Tin tức,... bị cấm lưu hành tại địa phương. Tháng 01.1938, mật thám Quy Nhơn tổ chức nhiều đợt khám xét và tịch thu sách báo tiến bộ của các hiệu sách Mỹ Liên, Tương Lai và Hồ Văn Bá. Hiệu may Tiến Hóa, cơ quan liên lạc của Đảng cũng bị theo dõi. Cc đại lý sách báo tại Đại An, Tam Quan, Dương Liễu... đều đóng cửa1. Phong trào cách mạng của nhân dân Bình Định đứng trước những khó khăn và thử thách mới.

Nhằm tăng cường sự chỉ đạo thống nhất phong trào đấu tranh của quần chúng ở cả thành thị lẫn nông thôn, đầu năm 1939, Tỉnh ủy lâm thời mở một cuộc họp quan trọng tại bãi cát gần xóm Lò Bò, đường Maréchal Foch (nay là đường Nguyễn Huệ) ở Quy Nhơn.

Sau hội nghị, phong trào cách mạng trong tỉnh bắt đầu  có những tiến triển đáng kể. Trong thời điểm này, hàng loạt cuộc đấu tranh của nông dân đã diễn ra một cách quyết liệt dưới mọi hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp khá linh hoạt.

Cuối tháng 2.1939, nông dân Mỹ Yên, Trường Định (Tây Sơn) tố cáo trên báo chí công khai về việc bọn lý hương mạo khế (tức giấy tờ mua bán ruộng đất) bán ruộng công để lấy tiền bỏ túi. Đầu tháng 3, nông dân làng Vĩnh Nhơn (Hoài Nhơn) tố cáo tri phủ Hoài Nhơn, Lương Trọng Hối ăn hối lộ của bọn địa chủ để bắt chẹt dân nghèo1.

Ngày 26.4.1939, nhân có đám hát bộ ở làng Háo Nghĩa (Bình An, Tây Sơn) thu hút 2.000 quần chúng đến dự, Đảng bộ Bình Khê và An Nhơn đã tổ chức một cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Ngoài ra, các đảng viên còn rải truyền đơn ở một số làng ở Bình Khê khiến cho địch bị động đối phó. Ở Quy Nhơn, do địch tăng cường phong tỏa nghiêm ngặt mọi ngả đường nên Tỉnh ủy lâm thời Bình Định chỉ tổ chức rải truyền đơn, cử đại biểu đưa yêu sách cho các dân biểu  yêu cầu Pháp bỏ thuế, giảm thuế môn bài và ân xá cho các chính trị phạm.

Từ tháng 6 đến tháng 9.1939, nông dân các huyện dấy lên những cuộc đấu tranh mới chống bọn cường hào địa chủ. Ở Lai Nghi, Thủ Thiện, Dõng Hòa, Vĩnh Lộc, Mỹ Thuận (Tây Sơn), nông dân đòi bỏ hẵn lối chia "tọa thử"2, thay bằng lối chia bắt thăm kín. Nông dân các làng Cửu Lợi, An Đỗ, Dĩnh Thạnh, Tài Lương (Hoài Nhơn), Tân Lộc, Dương Liễu (Phù Mỹ), Tân Giảng và Ngọc Thạnh (Tuy Phước) bên cạnh yêu sách đòi bắt thăm kín, họ còn vận động một số thân sĩ bỏ tiền đấu thầu tranh với bọn địa chủ, cường hào, rồi cho nông dân thuê với giá hạ hơn. Quyết liệt nhất là cuộc đấu tranh của nông dân làng Tường Sơn (Hoài Nhơn). Tại Thủ Thiện đến ngày chia ruộng, họ kéo đến đình làng đoạt lấy thùng thăm, yêu cầu nhà cầm quyền phải giải quyết ngay để nông dân có ruộng làm kịp thời vụ.

Giữa năm 1939, i hữu hỏa xa Quy Nhơn sau một thời gian khôi phục đã dần dần lớn mạnh, ngay lập tức Hội phát động phong trào học chữ quốc ngữ. Tại Quy Nhơn, Hội mở một lớp ở xóm Lò Bò cho hàng chục ngư dân, một lớp ở xóm Lò Vôi cho công nhân ga Quy Nhơn và thợ thủ công. Lớp đông nhất là ở Diêu Trì, gồm hơn 100 học sinh, thu hút cả thanh niên nông thôn tham gia.

Ngày 15.7.1939, lại một cuộc tuyệt thực nữa của 150 tù nhân nhà lao Quy Nhơn diễn ra và kéo dài trong mấy ngày. Tờ báo tiếng Pháp Notre Voix (Tiếng nói của chúng tôi) phát hành công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Hà Nội đã gửi điện chất vấn khâm sứ Trung Kỳ về những thủ đoạn đàn áp cuộc đấu tranh này1.

Những hoạt động công khai, nửa hợp pháp của công nhân xe lửa ở Dépôt và ga Diêu Trì trong những năm 1936-1938 thực sự đánh dấu một bước phát triển mới của phong trào cách mạng địa phương. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng để đưa phong trào đấu tranh của công nhân Diêu Trì cũng như các ga trong tỉnh có những bước phát triển vững chắc, tiến kịp với phong trào toàn tỉnh.

Trước sự đòi hỏi mới của phong trào, đầu tháng 9.1939, Xứ ủy lâm thời lập chi bộ Đảng tại Dépôt Diêu Trì (Phước Long, Tuy Phước). Buổi đầu, chi bộ Diêu Trì ngoài số đảng viên được kết nạp từ trước của Đảng bộ thành phố Huế, còn có các đồng chí trưởng thành trong phong trào đấu tranh của công nhân Diêu Trì những năm 1937-1938, do đồng chí Nguyễn Đình Thụ làm bí thư. Chi bộ Dépôt Diêu Trì vừa là tổ chức Đảng cơ sở đầu tiên của công nhân đường sắt trong tỉnh, vừa là cơ sở đầu tiên của Đảng bộ huyện Tuy Phước sau này.

Phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ trong thời kỳ 1936-1939 ở Bình Định tuy bị thực dân Pháp tìm mọi cách cản trở, khủng bố, nhưng chưa bao giờ nhân dân Bình Định nản lòng, lùi bước, ngược lại phong trào ngày càng sôi động và gặt hái được nhiều kết quả có ý nghĩa. Sự lớn mạnh, trưởng hành của phong trào là những chuẩn bị thiết thực cho nhân dân Bình Định  cùng nhân dân cả nước bước vào một thời kỳ mới với những thắng lợi mới: Thời kỳ trực tiếp đấu tranh cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân.

          4. Cao trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc ở Bình Định (1939-1945)

Ngày 1.9.1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Đến tháng 6.1940, chính phủ Pétain dâng nước Pháp cho Hitler. Lợi dụng tình hình nước Pháp bị Đức chiếm đóng, tháng 9.1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Sự câu kết giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật để vơ vét, bóc lột, đàn áp nhân dân Việt Nam khiến cuộc sống của nhân dân ta vốn đã điêu đứng nay càng thêm khốn quẫn; đặc biệt, các thành quả đấu tranh đòi dân sinh dân chủ thời kỳ 1936-1939 của nhân dân ta bị xóa bỏ, phong trào cách mạng và các chiến sĩ cộng sản trung kiên bị khủng bố tàn khốc.

Trước tình hình đó, các Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11.1939), lần thứ 7 (11.1940) và lần thứ 8 (5.1941) đã xác định rõ: việc giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, đặt công tác chuẩn bị khởi nghĩa làm nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân, dự kiến những điều kiện khởi nghĩa và thời cơ khởi nghĩa. Để tập hợp lực lượng chống đế quốc và tay sai, Đảng còn thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương (Hội nghị 6), sau đổi thành Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh (Hội nghị 8). Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của phong trào cách mạng trong cả nước1.

Ở Bình Định, từ đầu tháng 10.1939 đến cuối năm 1940, thực dân Pháp đẩy mạnh tiêu diệt các cơ sở cách mạng đầu não của Đảng. Trong tháng 10 và tháng 12.1939, 37 đảng viên và quần chúng cách mạng, trong đó có 15 cán bộ chủ chốt của Đảng bộ tỉnh và các huyện An Nhơn, Bình Khê, Quy Nhơn, Hoài Nhơn... bị bắt. Nhà lao Quy Nhơn chật ních tù chính trị đến mức công sứ Bình Định kiêm đốc lý thành phố là Henry De Taste phải trưng dụng 6 căn hộ trên đường Jules Ferry (nay là đường Phan Bội Châu) làm nơi giam cầm2. Cuối tháng 10.1939, Đảng bộ hầu như bị tan vỡ (chỉ còn lại chi bộ công nhân Dépôt Diêu Trì), đường dây liên lạc với cấp trên cũng bị cắt đứt.

Bất chấp sự khủng bố của kẻ thù, bất chấp những khó khăn của đời sống thường nhật, nhân dân Bình Định vẫn kiên cường đến cùng chống kẻ thù chung là phát xít Pháp - Nhật. Tháng 10 và 11.1939, Xứ ủy Trung Kỳ phái đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ về chi bộ Dépôt Diêu Trì liên lạc để truyền đạt chủ trương mới và nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, giúp địa phương chuyển tổ chức và phong trào theo hướng mới.

Tháng 1.1940, chi bộ Dépôt Diêu Trì phát động 200 công nhân nhất loạt bãi công. Lần này công nhân đòi chủ tăng lương từ 10-20%, phải phát lương đúng kỳ, bỏ các lệ cúp phạt và đánh đập công nhân, cấp đầy đủ phiếu mua gạo và một số mặt hàng thiết yếu. Họ còn đưa yêu sách lên thanh tra sở Hỏa xa Đông Dương phản đối Clément trở lại làm quản đốc, kêu gọi công nhân toàn ngành Hỏa xa hưởng ứng.

Ngày 22.3.1940, công nhân ga Diêu Trì tổ chức cuộc đấu tranh ngăn chặn một đoàn tàu đặc biệt chở lính sang Pháp. Đồng chí Nguyễn Đình Thụ và Cao Văn Đào đã làm đầu tàu trật đường ray. Nhân cơ hội đó, những gia đình có người thân bị bắt lính đấu tranh đòi thả người thân của họ.

Ngay sau khi xảy ra cuộc đấu tranh, ngày 22.3 và ngày 24.3.1940, chủ sự mật thám và an ninh Trung Kỳ Sogny cùng hàng chục thanh tra mật thám kéo về Quy Nhơn. Chúng ra lệnh giới nghiêm và lùng sục toàn khu vực Quy Nhơn - Diêu Trì. Cuối tháng 4.1940, Pháp dựng lên vụ "Cộng sản gài mìn lầu nghỉ mát của Bảo Đại" tại  Gành Ráng để lấy cớ bắt giam 20 công nhân và viên chức ga Quy Nhơn.

Từ tháng 2 đến tháng 4.1940, phong trào chống chính sách "kinh tế chiến tranh" của Pháp, đặc biệt là phong trào thanh niên chống bắt lính dấy lên khá mạnh ở các huyện. Nổi bật là cuộc nổi dậy của thanh niên một số làng thuộc các tổng Thuận Truyền (Tây Sơn), Vĩnh Thạnh (Vĩnh Thịnh, Vĩnh Thạnh), Vạn Định (Phù Mỹ)... đánh bọn nha lại và lính tuần sát về làng bắt lính. Tại Hoài Nhơn, thanh niên các làng An Đỗ, Tường Sơn, An Sơn, Cự Lễ kéo nhau lên núi trốn bắt lính1.

Tháng 6.1940, Xứ ủy Trung Kỳ cử đồng chí Trần Văn Ngoạn về Quy Nhơn giúp địa phương khôi phục cơ sở và phong trào. Cuối năm 1940, chi bộ Đảng được thành lập trong công nhân xưởng mộc Hiệp Thành (phường Đống Đa, Quy Nhơn) do đồng chí Ngoạn làm bí thư. Chi bộ Hiệp Thành đã xây dựng được các tiểu tổ phản đế trong một vài xí nghiệp và xóm lao động ở Quy Nhơn, cũng như tại một số làng xã của Tuy Phước. Chi bộ hoạt động được một thời gian thì bị mất liên lạc              

Từ năm 1940 trở đi, thực dân Pháp tăng cường bóp nặn, vơ vét mồ hôi nước mắt của nhân dân. Chúng lập "Liên Nông thương đoàn" độc quyền vơ vét thóc gạo, dầu thực vật, bông vải. Chúng tăng thuế, lập quỹ "Pháp-Việt bác ái", cho lý trưởng được quyền trích công điền bán đấu giá lấy tiền mua quốc trái. Lúc này, những hoạt động của phát xít Nhật ở Bình Định cũng không thua kém gì thực dân Pháp. Từ cuối năm 1941, chúng đã chiếm đóng những vị trí quan trọng về chiến lược ở Bình Định như Tam Quan, Diêu Trì, Quy Nhơn... Chúng tăng cường cổ động thuyết " Đại Đông Á" và nêu chiêu bài " đồng văn, đồng chủng" để lừa gạt nhân dân. Nhật thông qua Pháp và tay sai để thu vét nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm cung cấp cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương chống liên quân Anh-Mỹ.

Từ giữa năm 1941 đến đầu năm 1942, nhân dân Bình Định, đặc biệt là công nhân lao động liên tục nổi dậy đấu tranh. Công nhân trong các xí nghiệp như STACA, FIARD thường xuyên gây ra những vụ lãn công, bỏ việc hoặc phá hủy máy móc. Nổi bật là cuộc đấu tranh của 500 nữ công nhân phân xưởng dệt Delignon đầu năm 1942. Bất chấp bọn chủ hãng và công sứ Quy Nhơn, tri huyện Bình Khê điều động lực lượng đến đàn áp, công nhân vẫn kiên quyết kéo dài cuộc bãi công, buộc bọn chủ phải chấp nhận một số nguyện vọng của họ.

Ở nhiều huyện, phong trào chống chính sách "kinh tế thời chiến" mà trực tiếp là chống bọn "Liên Nông thương đoàn" và thương chính cũng diễn ra sôi động, liên tục và quyết liệt. Dân làm muối ở các làng An Xuyên, An Mỹ, Hưng Lạc (Phù Mỹ), Đức Phổ (Phù Cát), Hưng Thạnh (Quy Nhơn) nổi dậy tố cáo bọn thương chính câu kết với lý hương ăn chặn tiền bán muối của dân. Nông dân các làng chuyên chế biến dầu dừa, dầu phụng ở An Thái, Cửu Lợi, Tường Sơn (Hồi Nhơn), Phú Lạc, An Vinh (Tây Sơn) chặn đánh bọn thương chính và lính tuần sát trắng trợn cướp không các sản phẩm dầu của họ. Thợ dệt thủ công Phú Mỹ (Tây Sơn), An Ngãi (An Nhơn), An Thường (Hoài n) phản đối tăng thuế môn bài, chống lệnh bán tơ lụa cho "Liên Nông thương đoàn"...

Đi đôi với phong trào chống chính sách "kinh tế thời chiến", nông dân các     huyện cũng nổi dậy đấu tranh chống bọn địa chủ cường hào địa phương chiếm đoạt ruộng đất công và tài sản của làng. Năm 1942, nông dân Cửu Lợi (Tam Quan Nam), An Thường (Ân Thạnh, Hoài Ân), Đại Hữu (Cát Nhơn, Phù Cát), Trà Quang (thị trấn Phù Mỹ)... vùng dậy chống bọn cường hào xâm chiếm trắng trợn ruộng đất công. Quyết liệt nhất là cuộc đấu tranh của nông dân làng Đại Hữu. Nông dân làng Vĩnh Nhơn (Hoài Xuân, Hoài Nhơn), Mỹ Thành, Vĩnh Đức (Ân Tín, Hoài Ân) tố cáo lên báo chí công khai bọn quan lại phủ huyện ăn hối lộ bênh vực các chủ bờ xe nước. Họ còn đánh nhau với bọn lý hương để giành nước tưới ruộng1.

Trong thời điểm 1941-1943, các chiến sĩ cách mạng ở các Đảng bộ An Nhơn, Hoài Nhơn, Bình Khê, Quy Nhơn... bị giam tại nhà lao Quy Nhơn tổ chức một số cuộc đấu tranh tuyệt thực phản đối chế độ lao dịch nặng nề, đòi cải thiện sinh hoạt cho tù nhân. Tháng 5.1941, đồng chí Tố Hữu được đưa từ nhà lao Buôn Mê Thuột xuống lao Quy Nhơn. Nhiều bài thơ của Ông được bí mật tuyên truyền phổ biến ra ngoài và gây được ảnh hưởng sâu sắc trong học sinh, trí thức, và viên chức yêu nước Quy Nhơn, như "Người lính đêm" (6.1941), "Tiếng chuông nhà thờ" (9.1941), "Đời thợ" (10.1941), "Một tiếng rao đêm" (11.1941)...

Đầu năm 1943, Chi bộ Đảng nhà lao Quy Nhơn do đồng chí Võ Xán làm bí thư được thành lập. Chi bộ một mặt vận động tù nhân, một mặt đẩy mạnh xây dựng cơ sở ngay trong binh lính, hạ sĩ quan và nhân viên trong các công sở, đồn trại của Pháp ở Quy Nhơn. Thông qua những cơ sở này, chi bộ tìm cách bắt liên lạc với bên ngoài. Đầu tháng 2.1945, nhân dịp Pháp cho tù nhân đón xuân Ất Dậu, chi bộ chủ trương tổ chức mít tinh kỷ niệm cuộc bạo động Yên Bái (9.2.1930) và phổ biến, giới thiệu đường lối cứu nước của Mặt trận Việt Minh và thắng lợi của Hồng quân Liên Xô cùng quân đội đồng minh. Bọn giám ngục và nhà cầm quyền Pháp ở Quy Nhơn phản ứng rất mạnh. Chúng bắt một số tù chính trị, trong đó có đồng chí Võ Xán, tra tấn và giam vào xà lim tối.

Đêm 9.3.1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ngay đêm hôm đó, thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) đã ra chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị sáng suốt và kịp thời này đã giúp cho các địa phương trong cả nước chủ động, sáng tạo, gấp rút chuẩn bị tổng khởi nghĩa.

Sự kiện Nhật đảo chính Pháp là thời cơ thuận lợi cho phong trào cách mạng của nhân dân Bình Định có những biến chuyển thuận lợi. Từ cuối tháng 3.1945, phong trào cách mạng Bình Định được bổ sung một lực lượng cách mạng quan trọng, đó là tù chính trị của các nhà lao Quy Nhơn, Buôn Mê Thuột và Đắc Tô được tự do. Đồng chí Võ Xán vừa thoát khỏi nhà lao Quy Nhơn lập tức liên lạc với một số cơ sở của chi bộ nhà lao tại thành phố, đồng thời mở rộng phong trào ra một số huyện lân cận1.                  

Thực hiện chủ trương của Đảng, giữa tháng 4.1945, Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh Bình Định được thành lập. Đến cuối tháng 5.1945, Ủy ban Vận động Việt Minh cũng được thành lập ở hãng dệt Delignon (Phú Phong, Tây Sơn) do đồng chí Võ Xán làm bí thư. Sự ra đời của hai tổ chức Việt Minh này đã tạo điều kiện cho phong trào cách mạng Bình Định phát triển theo chiều hướng có lợi. Tuy nhiên, sự thiếu thống nhất về mặt tổ chức này về sau cũng gây ra những hạn chế đáng tiếc cho quá trình phát triển của cách mạng. Từ tháng 5.1945, Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh đã lập được một số tổ cứu quốc trong các cơ sở nhà ga Quy Nhơn, hãng STACA, Nhà máy Đèn, các hiệu tạp hóa. Còn Ủy ban vận động Việt Minh thì gây dựng các tiểu tổ Việt Minh trong các cơ sở gara Trần Hưng Tiếu, sở Canh nông, nhà Dây thép, đồn Bảo An. Một số nhóm Việt Minh khác lại hoạt động trong học sinh, viên chức và công thương gia2. Cơ sở cách mạng được mở rộng đã góp phần thúc đẩy cao trào chống Nhật, cứu nước được phổ biến mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân.

Ngày 26.5.1945, tại Phú Phong, bọn tay sai Nhật tổ chức cuộc mít tinh "tưởng niệm" anh hùng Mai Xuân Thưởng để giới thiệu nội các bù nhìn Trần Trọng Kim và những người cầm đầu tổ chức Ủy ban Quốc dân và Thanh niên thân Nhật ở địa phương. Tận dụng thời cơ đó, Ủy ban Vận động Việt Minh đã kịp thời phát động quần chúng đấu tranh vạch trần những trò lừa bịp, mị dân của Nhật.

Ngày 28.5.1945, tại chợ Tân Đức (An Nhơn), Ủy ban Vận động Việt Minh phối hợp với Việt Minh An Nhơn (Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh) lãnh đạo thanh niên các làng ở vùng đông bắc Bình Khê và tây An Nhơn, tẩy chay cuộc mít tinh bầu thủ lĩnh thanh niên thân Nhật tổng Mỹ Đức. Đầu tháng 6.1945, đội tuyên truyền xung phong của Ủy ban Vận động Việt Minh đột nhập vào chợ Đồn (An Nhơn) nơi cắm trại của thanh niên thân Nhật các làng phía nam An Nhơn, công khai giới thiệu Chương trình cứu quốc của Việt Minh, qua đó, cổ động thanh niên đứng lên chống Nhật cứu nước. Đầu tháng 6.1945, Ủy ban Vận động Việt Minh còn tổ chức cuộc mít tinh để hô hào quần chúng nổi dậy chống lại lệnh vơ vét thóc gạo và thu thuế của Nhật ở Trường Định (Bình An, Tây Sơn)1.

Ngày 15.6.1945, nhân ở An Thường (Hoài Ân) có kỳ thi tiểu học tập trung gần 1.000 học sinh và phụ huynh các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh tổ chức cuộc diễn thuyết để giới thiệu 10 chính sách lớn của Việt Minh và những hoạt động của du kích Ba Tơ. Cuối tháng 6.1945, tại trụ sở Nha Bang  tá Tam Quan, Ủy ban Vận động Cứu quốc Phủ Ái (tức Ủy ban Vận động Cứu quốc Hoài Nhơn) lợi dụng diễn đàn cuộc "hiểu dụ" của tỉnh trưởng Bình Định với tổng lý, để giới thiệu chương trình 10 điểm của Mặt trận Việt Minh. Tháng 7.1945, Việt Minh các tổng Vân Sơn, Tài Lương, Trung Yên,... của Hoài Nhơn biến những cuộc họp của Ủy ban Quốc dân, Thanh niên thân Nhật thành những buổi giới thiệu về Việt Minh. Tại Phù Mỹ, Việt Minh phủ Tú (tức Ủy ban Vận động Cứu quốc Phù Mỹ) phát động quần chúng tẩy chay những hoạt động của bọn thân Nhật trong đạo Cao đài ở Vạn Phú. Việt Minh phủ Thái (tức Ủy ban Vận động Cứu quốc An Nhơn) phát triển lực lượng mạnh ở tổng Minh (Mỹ Đức), Nghi Thượng (Nhơn Nghĩa Thượng), tây nam Phù Cát và đông bắc Bình Khê. Ngoài ra, họ còn vận động được sự ủng hộ của lực lượng Phật giáo yêu nước ở chùa Thập Tháp2.

Từ tháng 7 đến giữa tháng 8.1945, các tổ chức Việt Minh ở Quy Nhơn đẩy mạnh tuyên truyền chương trình 10 điểm của Mặt trận Việt Minh cho quần chúng Quy Nhơn. Bên cạnh việc rải truyền đơn, Ủy ban Vận động Việt Minh đã tổ chức hai cuộc diễn thuyết xung phong giữa ban ngày tại bến ô tô và nhà ga Quy Nhơn. Ngoài ra, ta còn tổ chức một số cuộc mít tinh phát động quần chúng lao động, học sinh và viên chức yêu nước trong các xóm lao động Lò Vôi, Lò Bò, Bầu Sen, ga ra Bourbon, nhà Xẹc Tây, hội quán Thể thao. Trong khi đó, nhóm Việt Minh trong Collège Võ Tánh (Collège Quy Nhơn) tổ chức cắm trại tại chùa Eo Mén (chân đèo Cù Mông) và thông qua buổi sinh hoạt này để phổ biến thơ, nhạc cách mạng, nhất là thơ Tố Hữu và nhạc của Lưu Hữu Phước1. Ủy ban Vận động Việt Minh còn thiết lập thêm được nhiều tiểu tổ Việt Minh ở ga và Dépôt Quy Nhơn, hãng Fiard, hãng Staca, công ty Hàng hải, ga ra Bourbon, ga ra Trần Hưng Tiếu, sở Bưu điện, sở Lục lộ, sở Canh nông, sở Thương chính, tòa Đốc lý, Đốc bộ đường, nhà lao, đồn bảo an,  Collège Võ Tánh2.

Cuối tháng 7.1945, nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Ban cán sự Đảng tỉnh Bình Định được thành lập tại  Trường An (Hoài Nhơn), do đồng chí Trần Lương làm bí thư. Ban cán sự Đảng đã quyết định mấy vấn đề cần giải quyết trước mắt: Thống nhất các lực lượng Việt Minh trong tỉnh, tăng cường cán bộ cho các  huyện có phong trào còn yếu, đồng thời xúc tiến các mặt chuẩn bị để ra tờ báo cho phong trào Việt Minh Bình Định3.

Nhờ có sự năng động, nhạy bén của các tổ chức Việt Minh, chỉ trong ba tháng (từ tháng 6 đến tháng 8.1945), số hội viên cứu quốc toàn tỉnh tăng nhanh. Ở thành phố Quy Nhơn có 1.500 hội viên cứu quốc (cả Ủy ban Vận động Việt Minh và Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh). Ở Hoài Nhơn có 4000 hội viên. Ở nhiều huyện, đại bộ phận nhân dân đều tham gia tổ chức Việt Minh, mạnh nhất là ở An Sơn, An Đỗ, Cửu Lợi,Tài Lương, Trường An, Tấn Thạnh (Hoài Nhơn); Kim Sơn, Lộc Giang, Gia Chiểu (Hoài Ân); Vạn Định, An Bình, An Lương (Phù Mỹ); Mỹ Đức, Đại An, Đại Bình, Cảnh Hàng (An Nhơn)...Lực lượng cách mạng lúc này ngoài công nhân và nông dân còn có nhiều tầng lớp yêu nước khác, kể cả một số địa chủ, công thương gia, tín đồ và chức sắc, giáo phẩm Phật giáo và đạo Thiên chúa, binh sĩ, hạ sĩ quan, lính bảo an...có tinh thần yêu nước. Giữa tháng 7.1945, Việt Minh các huyện xúc tiến công tác xây dựng lực lượng nửa vũ trang ở cơ sở. Các làng An Đỗ, An Sơn, Cự Lễ, Tài Lương, Cửu Lợi (Hoài Nhơn), Dương An, Vạn Hội (Tuy Phước), Tân Ốc, Vạn Đức, Vĩnh Thuận (Phù Mỹ), Đại An, Đại Bình, Mỹ Đức (An Nhơn)... có từ hai tiểu đội đến một trung đội tự vệ cứu quốc hoặc tự vệ sắt. Hãng dệt Delignon, Dépôt Diêu Trì, ga Quy Nhơn... có từ 50 đến 100 tự vệ công nhân. Đầu  tháng 8.1945, thành phố Quy Nhơn có gần 200 hội viên tự vệ trong công nhân, học sinh và thanh niên1. Nhìn chung, từ ngày 9.3.1945 đến đầu tháng 8.1945, không khí chuẩn bị khởi nghĩa đã sôi sục trong quần chúng nhân dân.

Trong thời gian này, cơ sở Việt Minh đã mở rộng trong toàn tỉnh, những cuộc nổi dậy của các tầng lớp lao động chống những âm mưu, thủ đoạn lừa bịp của Nhật và tay sai ngày càng mãnh liệt, như cơn gió lốc quật vào thành trì của thực dân, phát xít, làm cho bộ máy cai trị của chúng hoàn toàn bị tê liệt. Đây chính là bước tập dợt cuối cùng của nhân dân Bình Định trước khi bước vào trận quyết chiến.

          5. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bình Định

Mùa Thu năm  1945, thực hiện lời cam kết với lực lượng Đồng minh ở Hội nghị Y-an-ta, ngày 8.8.1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, và chỉ trong một thời gian ngắn đã đánh tan đạo quân Quan Đông tinh nhuệ, buộc phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện các nước đồng minh ngày 14.8.1945. Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc. Ngay đêm 13.8.1945, Trung ương Đảng đã họp tại Tân Trào, thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và phát lệnh Tổng khởi nghĩa.

Ngày 13.8.1945, được tin phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, tại ga Quy Nhơn, Ủy ban Vận động Việt Minh họp và quyết định:

- Lập Ủy ban Khởi nghĩa gồm các đồng chí Võ Xán, Lê Văn Nhiễu, Nguyễn Chơn, Giáp Văn Cương... do Võ Xán làm trưởng ban.

- Tình thế cách mạng đã xuất hiện, song chưa thật chín muồi. Cần phải xúc tiến khẩn trương hơn nữa công cuộc chuẩn bị, nhất là công tác động viên chính trị các tầng lớp quần chúng cơ bản; đồng thời ra sức tranh thủ các tầng lớp trung gian. Tập trung các tổ tự vệ cứu quốc để thành lập đội tự vệ cứu quốc tập trung của thành phố, sẵn sàng chờ lệnh hành động.

- Theo dõi chặt chẽ tình hình của Nhật và tay sai, cũng như các loại phản động khác ở địa phương, đặc biệt thăm dò sự phản ứng của bọn sĩ quan Nhật và tỉnh trưởng bù nhìn. Song bất kỳ tình huống phức tạp và khó khăn nào, cũng phải kịp thời phát động quần chúng đứng lên giành lấy chính quyền ở thành phố tỉnh lỵ, trước khi quân đồng minh đến địa phương giải giáp quân Nhật.

- Cử người đi gặp Ủy ban Vận động Cứu quốc (tức Việt Minh tỉnh), bàn kế hoạch phối hợp lực lượng để khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh lỵ và các huyện.

Hội nghị còn quyết định thông báo kịp thời tin Nhật đầu hàng Đồng minh cho các nhóm thanh niên yêu nước ở An Khê, Pleiku và Kon Tum để bàn kế hoạch hành động1.

Ngày 18.8.1945, tại An Sơn (Hoài Nhơn), đồng chí  Trần Lương chủ trì cuộc họp bất thường của Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh. Hội nghị quyết định lập Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh, do đồng chí Trần Quang Khanh làm Trưởng ban, cử đồng chí Trần Lương, Đinh Trung ra Quảng Ngãi tham khảo tình hình để xây dựng kế hoạch khởi nghĩa ở Bình Định. Hội nghị chỉ thị cho các huyện công khai tổ chức mít tinh, biểu tình, treo cờ, băng khẩu hiệu để biểu dương lực lượng. Mặt khác cử cán bộ vào Quy Nhơn nắm tình hình Nhật và chính quyền bù nhìn phản động.

Ngày 20.8.1945, hai ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa của Ủy ban Vận động Việt Minh là đồng chí Lê Văn Nhiễu và Giáp Văn Cương đi Tài Lương (Hoài Thanh, Hoài Nhơn) gặp đồng chí Trần Lung, ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa của Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh để bàn kế hoạch thống nhất hành động. Do đôi bên có những nhận định và chủ trương khác nhau về khởi nghĩa tại địa phương nên kế hoạch thống nhất không thành.

Sau khi cuộc thảo luận với Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh không đạt được kết quả, Ủy ban Vận động Việt Minh quyết định tổ chức cuộc mít tinh tại bến ô tô thành phố vào chiều ngày 21.8.1945, vừa để thăm dò phản ứng của Nhật và chính quyền tay sai địa phương, vừa để phát động, tập dượt quần chúng và rút kinh nghiệm cho cuộc khởi nghĩa sắp tới. Cuộc mít tinh đã huy động được 1.000 quần chúng tham gia. Bọn Nhật và chính quyền bù nhìn hoàn toàn không có một phản ứng nào đối với cuộc biểu dương lực lượng này.

Tối ngày 21.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa khẩn trương họp tại ga Quy Nhơn. Hội nghị quyết định: Thời điểm khởi nghĩa vào ngày 23.8.1945, lực lượng khởi nghĩa là các tầng lớp nhân dân yêu nước thành phố Quy Nhơn cũng như lực lượng công nhân xưởng Delignon, ga Diêu Trì, Bình Định và nông dân các huyện. Mục tiêu tấn công của cuộc khởi nghĩa là các cơ quan đầu não của ngụy quyền tỉnh như Đốc bộ đường, tòa Đốc lý, đồn bảo an, đồn cảnh sát, nhà lao... Hội nghị còn phân công người chỉ huy từng mũi, bàn nhân sự và chương trình hành động của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời, những biện pháp đối phó các tình huống phức tạp...; đồng thời điện cho các nhóm thanh niên yêu nước hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum để cùng phối hợp hành động1.

Sáng ngày 23.8.1945, hàng ngàn công nhân, nhân dân lao động thành phố giương cao cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ rầm rộ tiến về sân ga Quy Nhơn. Công nhân Delignon và các ga Bình Định, Diêu Trì, Mục Thịnh (Vân Canh) cùng thanh niên học sinh, nhân dân thị trấn Bình Định và nông dân các làng xã mang theo giáo mác, gậy gộc, cờ đỏ sao vàng phấn khởi kéo về Quy Nhơn. Trước hơn 10.000 quần chúng, đại diện của Ủy ban Khởi nghĩa đứng lên hiệu triệu quần chúng vùng lên khởi nghĩa lật đổ chính quyền tay sai của Nhật tại thành phố Quy Nhơn, thiết lập chính quyền nhân dân. Sau lời hiệu triệu, quần chúng cách mạng có gần 200 tự vệ vũ trang thành phố làm nòng cốt, chia làm 2 đoàn tiến đến chiếm 2 mục tiêu quan trọng là Đốc bộ đường (dinh tỉnh trưởng, tức dinh công sứ cũ) và tòa Đốc lý (tòa Sứ cũ), sau đó tập hợp lại tiến về tấn công trại bảo an binh.

Tại Đốc bộ đường, tỉnh trưởng Phạm Phú Tiết giao ấn kiếm và toàn bộ hồ sơ, ngân quỹ, các công sở của tỉnh lỵ cho Ủy ban Khởi nghĩa, và xuống đường tham gia cuộc tiến công chiếm đồn bảo an. Trong khi đó, đoàn biểu tình thứ hai theo đường Oden d' Hall tiến về phía tòa Đốc lý, vấp phải một đoàn xe quân sự của Nhật có thiết giáp đi đầu ngay tại ngã ba Oden d' Hall-Maréchal Foch (nay là ngã ba Nguyễn Huệ - Lê Hồng Phong). Khi biết rõ chủ trương của Ủy ban Khởi nghĩa là không đụng đến Nhật nếu người Nhật không can thiệp vào cuộc khởi nghĩa, toàn bộ quân Nhật rút về đồn lính khố đỏ (nay là Bệnh viện Đa khoa tỉnh)2.

Chiếm được Đốc bộ đường và tòa Đốc lý, hai đoàn biểu tình đến bao vây đồn lính khố xanh. Trước khí thế áp đảo của quần chúng, lại có cơ sở nội ứng hỗ trợ, viên giám binh không dám chống lại, y buộc phải giao đồn và nộp vũ khí, kho tàng cho Việt Minh. Quần chúng phấn khởi tỏa ra các ngã đường chiếm toàn bộ các công sở của chính quyền bù nhìn như sở Mật thám, đồn cảnh sát, nhà lao, sở Bưu điện, sở Canh nông, sở Thương chính, trừ  Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương do quân Nhật canh giữ thì chúng không chịu giao nộp.

Trước sự hân hoan, phấn khởi của quần chúng, tại vùng đất cạnh Đốc bộ đường, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời lấy tên là tỉnh Nguyễn Huệ do đồng chí Võ Xán làm Chủ tịch, Lê Văn Nhiễu là phó chủ tịch làm lễ tuyên thệ trước đồng bào. Sau đó, từ ngày 24.8 đến 26.8.1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ thành lập phân đội đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng tỉnh. Ngoài ra, Ủy ban còn phát động quần chúng lập chính quyền nhân dân các khu phố và Ủy ban công nhân cách mạng tại một số xí nghiệp trọng yếu ở thành phố như Nhà Đèn, Hãng Staca, Ga Quy Nhơn...

Nhân danh chính quyền cách mạng tỉnh, Uỷ ban Khởi nghĩa của Uỷ ban vận động Việt Minh điện ra lệnh cho toàn bộ tri huyện, tri phủ và chỉ huy các đồn bảo an trong tỉnh phải giao chính quyền cho Việt Minh1

Tin khởi nghĩa thắng lợi ở Quy Nhơn lan nhanh ra các huyện làm nức lòng quần chúng nhân dân. Dân chúng trên địa bàn các huyện nô nức vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Sáng ngày 22.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa Bình Khê huy động tự vệ Delignon tước vũ khí đơn vị lính Bảo an do Nhật đưa lên bảo vệ xí nghiệp. Ngày 23.8.1945, 200 công nhân và tự vệ cứu quốc Bình Khê xuống Quy Nhơn tham gia giành chính quyền. Ngay chiều hôm đó, lực lượng khởi nghĩa Bình Khê từ Quy Nhơn nhanh chóng rút về Phú Phong xúc tiến mọi mặt chuẩn bị lãnh đạo quần chúng đứng lên giành chính quyền huyện.

Sáng ngày 24.8.1945, hơn 3.000 công nhân hãng Delignon, nhân dân thị trấn Phú Phong và nông dân các làng Kiên Mỹ, Phú Phong, Phú Mỹ, Trinh Tường, Thủ Thiện... tổ chức cuộc biểu tình thị uy rầm rộ đổ về huyện lỵ. Quần chúng chiếm được huyện đường, buộc tri huyện Bình Khê là Tôn Thất Diên giao lại chính quyền cho cách mạng. Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ bộ máy chính quyền thực dân phong kiến tại địa phương, thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Bình Khê, do đồng chí Phạm  Lương làm Chủ tịch.

Ở Phù Mỹ được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Việt Minh bắc Phù Mỹ điều động tự vệ sắt phong tỏa đường số 1, đoạn Vạn Phú đi Văn Trường ( Mỹ Phong). Ngày 18.8.1945, nhân dân 2 tổng Vạn Định và An Bình phá cầu Vạn Phú, bao vây một đoàn xe Nhật, yêu cầu trả lại số tài sản của nhân dân Hà Ra, Phú Thứ (Mỹ Đức) đã bị chúng cướp đoạt. Ngày 22.8.1945, nhân dân 3 tổng An Bình, Vạn Định và Hòa Lạc tham gia cuộc biểu tình liên tổng. Ngày 23.8.1945, đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh phủ Tú tổ chức hai cuộc diễn thuyết tại thị trấn phủ lỵ.

Cũng trong ngày 22.8.1945, Việt Minh nam Phù Mỹ quyết định lập Ủy ban Khởi nghĩa. Sáng 23.8.1945, Việt Minh nam Phù Mỹ gặp Việt Minh bắc Phù Mỹ bàn kế hoạch phối hợp lực lượng giành chính quyền nhưng không thành. Chiều ngày 24.8.1945, 3.000 quần chúng nhân dân các làng thuộc tổng Trung Bình, Trung Thành tổ chức cuộc mít tính tại sân vận động phủ. Sau đó, quần chúng mang theo vũ khí kéo về phủ đường giành chính quyền. Tại cuộc mít tinh trước cổng phủ, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Phù Mỹ do đồng chí Nguyễn Đăng Đệ làm chủ tịch ra mắt đồng bào và tuyên bố chính quyền hoàn toàn thuộc về nhân dân.

Tại Hoài Ân, đầu tháng 8.1945, Việt Minh Hoài Ân gần như làm chủ tình hình các vùng nông thôn trong huyện. Ngày 19.8.1945, Ủy ban Vận động Cứu quốc Hoài Ân họp và quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa tại Lộc Giang (Ân Tường đông). Hội nghị chủ trương tổ chức một cuộc biểu tình vũ trang thị uy toàn huyện vào ngày 22.8.1945. Hội nghị còn chủ trương tổ chức một cuộc biểu tình cho nhân dân tổng Lại Khánh để liên kết với cuộc biểu tình của Hoài Ân, mặt khác cử người đưa thư để tranh thủ tri huyện Phạm Ngọc Lâm1.

Sáng ngày 22.8.1945, 4.000 quần chúng từ nhiều nơi trong huyện như Thế Thạnh, An Thường (Ân Thạnh); Khoa Trường, Gia Chiểu (Ân Đức); Lộc Giang, Tân Thạnh (Ân Tường đông), Phú Hữu, (Ân Tường tây); Nhơn Sơn, Bình Sơn (Ân Nghĩa) đem theo giáo, mác, gậy gộc lẫn súng săn, cờ đỏ sao vàng và khẩu hiệu biểu tình thị uy từ Kim Sơn (Ân Nghĩa) đến Tân Thạnh (Ân Tường đông).

Đêm 22.8.1945, được sự giúp đỡ của cơ sở binh sĩ cứu quốc là đội trưởng tuần sai Ngô Đình Châu, các đồng chí Tăng Xuân Nghi, Nguyễn Duân, Tăng Thành cùng một số tự vệ sắt của làng An Thường (Ân Thạnh) đột nhập huyện đường, bắt tri huyện Phạm Ngọc Lâm, chuyển giao cho cách mạng 5 khẩu súng trường và 40 viên đạn. Từ 23 đến 25.8.1945, Ủy ban Vận động Cứu quốc các làng, tổng trong huyện tổ chức nhiều cuộc biểu tình vũ trang thị uy. Tiêu biểu là cuộc biểu tình vũ trang của nhân dân tổng Phú Hữu và Hoài Đức buộc chánh tổng Phú Hữu Nguyễn Bồng và chánh tổng Hoài Đức, Lê Quán giao nộp toàn bộ giấy tờ, sổ bộ và con triện cho Việt Minh. Có thể nói, tổng Phú Hữu và tổng Hoài Đức là nơi mở đầu quá trình khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Hoài Ân2.

Những cuộc biểu tình liên tiếp của nhân dân huyện Hoài Ân đã khiến cho chính quyền bù nhìn huyện lỵ hoàn toàn tê liệt. Ở nhiều tổng, bọn tổng lý run sợ xin giao chính quyền cho Việt Minh. Trước tình hình thuận lợi đó, sáng ngày 24.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa huyện Hoài Ân do đồng chí Trần Hoài Ân dẫn đầu đột nhập vào huyện đường buộc tri huyện giao chính quyền cho cách mạng. Như vậy, ngày 24.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân huyện Hoài Ân.

Ngày 28.8.1945, tại sân vận động An Thường (Ân Thạnh), trước 500 dân chúng các tổng Kim Sơn, Phú Hữu, Quy Hóa của Hoài Ân và Lại Khánh (Hoài Nhơn), Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Hoài Ân do đồng chí Huỳnh Đăng Thơ làm Chủ tịch ra mắt đồng bào.

Ở Tuy Phước, đêm 21.8.1945, tại nhà đồng chí Nguyễn Luân, Ủy ban Vận động Cứu quốc Diêu Trì - Tuy Phước họp bàn kế hoạch thực hiện "chỉ thị sắt" của Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh. Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa phủ Tuy Phước, chuẩn bị lãnh đạo nhân dân tiến hành giành chính quyền.

Để đảm bảo thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa ở Quy Nhơn và qua đó cổ vũ phong trào cách mạng địa phương, chiều 22.8.1945, Ủy ban Vận động Việt Minh huy động lực lượng tự vệ cứu quốc Quy Nhơn, thị trấn Bình Định, tự vệ cứu quốc các làng Vân Hội, Diêu Trì (Phước Long), cùng lực lượng Việt Minh và quần chúng yêu nước xung quanh phủ lỵ tiến hành cuộc biểu tình thị uy tại phủ lỵ Tuy Phước (thị trấn Tuy Phước hiện nay). Ngay trong ngày 22.8, quần chúng nhanh chóng tước vũ khí bọn lính lệ, chiếm các công sở, tri phủ Trần Ngọc Liễn bị bắt đưa về Quy Nhơn. Toàn bộ giấy tờ, sổ sách được giao cho chính quyền cách mạng Tuy Phước. Trước đông đảo quần chúng, đồng chí đại diện Ủy ban Vận động Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai thân Nhật ở Tuy Phước.

Tối ngày 26.8.1945, Ủy ban Vận động Cứu quốc phủ Tuy Phước quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, phát động quần chúng giành chính quyền ở các làng xã, mặc dù lúc này Tuy Phước vẫn chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh.

Khi lệnh khởi nghĩa của Ủy ban Vận động Cứu quốc phủ Tuy Phước vừa ban bố, ngay lập tức, nhân dân hai làng Vân Hội và Diêu Trì (Phước Long) mở đầu cho quá trình khởi nghĩa giành chính quyền ở cơ sở - đó là vào ngày 27.8.1945. Chiều hôm đó, trung đội tự vệ sắt và công nhân Dépôt chiếm giữ nhà máy xe lửa, nhà ga và toàn bộ hệ thống các công trình của khu vực ga xe lửa Diêu Trì. Ủy ban Công nhân Cách mạng Hỏa xa được thành lập do đồng chí Nguyễn Xuân Như phụ trách. Trong 3 ngày 27 đến 29.8.1945, ở các làng Ngọc Thạnh, Dương An, Đại Hội (Phước An), Công Chánh, Trung Tín... (Phước Nghĩa), Bình Thạnh, Phú Vinh, Phú Hòa, Vinh Thạnh và Vĩnh Thế (Phước Lộc) lần lượt diễn ra các cuộc nổi dậy giành chính quyền.

Ngày 29 và 30.8.1945, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Khởi nghĩa Tuy Phước, đông đảo quần chúng hai tổng Dương An và An Định có lực lượng tự vệ cứu quốc đi đầu đã tham gia cuộc mít tinh nhằm  xóa bỏ chính quyền tay sai ở các làng, các tổng. Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời hai tổng được thành lập. Tổng Dương An vẫn giữ tên cũ, tổng An Định lấy tên là tổng Nguyễn Nhạc. Ngày 31.8.1945, hàng ngàn quần chúng các làng Tùng Giản, Tân Giản và Kim Giản (Phước Hòa), Tư Cung (Phước Thắng) kéo đến nha bang tá Gò Bồi (Phước Hòa) tịch thu ấn tín, tài liệu, súng ống của bang tá Ôn Đức Thảo. Đại biểu Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tổng Thiều Quang và lấy tên mới là tổng Đào Doãn Địch1.

Riêng trên địa bàn vùng Hà Thanh (nay là huyện Vân Canh) đến cuối tháng 6.1945, phong trào Việt Minh có hướng phát triển mạnh, nhất là trong ngành đường sắt. Các đồng chí Trần Đức Cang, Lê Đại đứng ra tập hợp một số thanh niên yêu nước Hà Thanh thành lập đội tự vệ cứu quốc, tuyên truyền về Mặt trận Việt Minh. Tổ chức này được xem là một cơ sở của tổ chức Việt Minh ở Dépôt Diêu Trì.

Được sự giúp đỡ và lãnh đạo trực tiếp của Việt Minh Diêu Trì - Tuy Phước, từ ngày 27 đến 30.8.1945, lực lượng cứu quốc do đồng chí Lê Văn Nhiễu đại diện cho Ủy ban Vận động Việt Minh tỉnh trực tiếp chỉ đạo cướp đồn lính bảo an tại Vân Canh và ở các làng. Nhờ có sự vận động trước, vào lúc 11giờ, hơn 40 binh lính đã chuẩn bị sẵn sàng xếp thành hai hàng đón lực lượng Việt Minh vào đồn, nghiêm chỉnh chấp hành giao đồn, vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cho lực lượng cách mạng.

Ngày 2.9.1945, Mặt trận Việt Minh tổ chức mít tinh mừng chiến thắng. Nhân dân các làng đem theo băng cờ, biểu ngữ, ăn mặc chỉnh tề kéo về ga Vân Canh dự mít tinh. Việt Minh đã ra lời kêu gọi các chánh tổng, lý trưởng nộp ấn triện, tài liệu cho chính quyền cách mạng, đồng thời, kêu gọi thanh niên tự nguyện tham gia đội tự vệ võ trang tuyên truyền Việt Minh.

Tại An Nhơn, được tin Quy Nhơn khởi nghĩa thắng lợi, ngày 22.8.1945, Ủy ban khởi nghĩa của Uỷ ban Vận động Việt Minh chỉ thị cho Việt Minh thị trấn Bình Định, trại Túc Mễ và Canh Nông đưa lực lượng tham gia cuộc biểu tình chiếm phủ lỵ Tuy Phước, bắt tên tri phủ gian ác Trần Ngọc Liễn. Ngày 23.8.1945, đoàn biểu tình kéo về thành phố Quy Nhơn tham gia cuộc khởi nghĩa. Ngày 25.8, thi hành chủ trương tiếp nhận chính quyền địch của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Nguyễn Huệ, tổ chức Việt Minh trại Túc Mễ và Canh Nông điều động lực lượng thanh niên yêu nước các làng Cẩm Văn, Chánh Thạnh (Nhơn Hưng), Phương Danh (Đập Đá)... kéo vào thành Bình Định buộc tri phủ An Nhơn giao ấn tín, vũ khí cho chính quyền cách mạng. Ngày 25.8.1945 được ghi nhận là ngày nhân dân An Nhơn xóa bỏ chính quyền bù nhìn tại phủ lỵ. Ngày 26.8.1945, Việt Minh thị trấn Bình Định huy động quần chúng tiến về ga Bình Định tịch thu vũ khí, đạn dược và lương thực của một đơn vị lính Nhật giữ ga1.

Từ 26 đến 29.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa các tổng Mỹ Đức, An Ngãi, Nhơn Nghĩa Thượng, Nhơn Nghĩa Hạ... nổi dậy giành chính quyền, hoàn thành công cuộc giành chính quyền làng xã trong toàn huyện. 

Ngày 3.9.1945, hơn 6000 đồng bào tập trung tại Sân Vận động thị trấn Bình Định tham dự cuộc mít tinh thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời phủ An Nhơn do đồng chí Nguyễn Thành Mẫn làm Chủ tịch. Thành phần của Ủy ban Nhân dân gồm đại biểu các tổ chức Việt Minh của địa phương như Việt Minh phủ Thái, Việt Minh Thống Can, Việt Minh hãng dệt SITA...

Ở Hoài Nhơn, ngày 19.8.1945, tại cấm An Sơn, Ủy ban Vận động Cứu quốc Hoài Nhơn (tức Việt Minh phủ i) thành lập Ủy ban Khởi nghĩa với các tiểu ban chính trị, quân sự, tuyên truyền, quân nhu, quân khí, tài chính... Hội nghị thống nhất lập đội tự vệ sắt tập trung.

Ngày 21.8.1945, trước tình thế sôi sục cách mạng của nhân dân trong huyện, chính quyền bù nhìn nhanh chóng tan rã. Trên đường Quốc lộ số 1 đoạn từ đèo Bình Đê đến Tài Lương và một số làng ven biển như Thiện Xuân, Tứ Chánh, An Dũ..., các đội tự vệ vũ trang tăng cường canh gác đề phòng những hoạt động phá hoại của bọn phản động chống phá cách mạng.

Ngày 22.8, khắp các tổng của Hoài Nhơn diễn ra hàng loạt cuộc vũ trang biểu tình. Ngày 26.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa Hoài Nhơn huy động trên 15.000 quần chúng biểu tình vũ trang toàn phủ. Sau khi tuần hành qua các địa phương, đoàn biểu tình tập trung tại bãi cát An Sơn. Đến tối, tại cầu Nước Mặn (Hoài Hảo), tự vệ sắt Tài Lương, Trường An chặn tịch thu 20 khẩu súng và một số quân dụng của bọn lính bảo an đồn Tam Quan đang trên đường rút chạy về Bồng Sơn.

Ngày 27.8, Ủy ban Khởi nghĩa Hoài Nhơn huy động 3.000 quần chúng tiến công giành chính quyền nha bang tá Tam Quan, tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thị trấn Tam Quan do đồng chí Lê Lăng làm Chủ tịch. Ngày 29.8, Ủy ban Khởi nghĩa lại huy động 8.000 quần chúng ở các tổng phía nam là Tài Lương, Trung An, Phú Nhuận do đồng chí Trịnh Hồng Kỳ chỉ huy rầm rộ kéo về phủ đường và đồn Bồng Sơn. Quần chúng tràn vào chiếm các công sở của phủ lỵ, nhà Bưu điện, trạm xá, sở Liên nông thương đoàn. Tri phủ Nguyễn Trà xin đầu hàng và bàn giao chính quyền. Cùng lúc đó, đại đội tự vệ bao vây đồn bảo an  Bồng Sơn, xông vào tước vũ khí thu hơn 100 khẩu súng1.

Ngày 3.9.1945, hơn 6.000 người từ các tổng kéo về sân vận động Tam Quan chứng kiến lễ thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời phủ Hoài Nhơn (mang tên là phủ Huỳnh Lịch) do đồng chí Trịnh Hồng Kỳ làm Chủ tịch. Cùng ngày, Hoài Nhơn điều một đơn vị tự vệ và hơn 1.000 quần chúng vào Quy Nhơn tham gia biểu dương lực lượng thành lập Ủy ban Nhân dân tỉnh.

So với các huyện trong tỉnh, Phù Cát là nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền muộn nhất. Nhận được lệnh khởi nghĩa của Ủy ban Khởi nghĩa (thuộc Ủy ban Vận động Việt Minh), ngày 22.8.1945, đội tuyên truyền xung phong của Ủy ban Vận động Cứu quốc Phù Cát chiếm diễn đàn mít tinh của thanh niên P.A huyện2, công khai giới thiệu chương trình cứu nước và 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi nhân dân toàn huyện khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa.

Ngày 24.8, theo lệnh của Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ, Việt Minh bắc Phù Cát huy động hơn 500 quần chúng, gồm công nhân viên chức ga Khánh Phước, đồng bào các làng An Tân, Xuân Hội, Vĩnh Lạc, Khánh Lộc, Khánh Phước, Vĩnh Trường...(Cát Hanh) tham gia cuộc mít tinh tại sân vận động Phước Lộc. Cuộc mít tinh chuyển thành cuộc biểu tình thị uy từ sân vận động Phước Lộc tiến về Quốc lộ 1A, đến Quán Thường rẽ vào thôn Khánh Lộc, rồi rầm rập tiến về chợ Phù Ly. Ngày 25.8, Việt Minh Phù Cát họp quyết định thống nhất lực lượng Việt Minh toàn huyện (Ủy ban Vận động Cứu quốc, Việt Minh bắc Phù Cát, Việt Minh đông nam Phù Cát) và chuyển Ủy ban Vận động các cấp thành Ủy ban Khởi nghĩa, khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang1.

Tối ngày 26.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa huyện ra lệnh cho đội tự vệ sắt đột nhập huyện đường tước vũ khí đội lính lệ. Từ ngày 27.8 đến 30.8, các đội tuyên truyền xung phong tỏa đi 6 tổng, tổ chức các cuộc mít tinh, hô hào quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa. Hưởng ứng lời kêu gọi, nhân dân các làng Đại Hữu, Tân Lệ, Phong An, An Nông, Tùng Chánh đã nổi dậy làm chủ xã, thôn.

Tối ngày 30.8.1945, tại An Hành (nay là thị trấn Ngô Mây), gần 1.500 quần chúng do đội tự vệ sắt dẫn đầu chuẩn bị kéo về huyện đường buộc tri huyện Phù Cát là Tôn Thất Quỳ giao chính quyền cho Việt Minh. Sáng ngày 31.8.1945 cuộc  khởi nghĩa của nhân dân đã giành chính quyền ở huyện Phù Cát.

Ngày 3.9.1945, trước 5.000 đồng bào của 6 tổng (Trung Chánh, Trung Nghĩa, Thạch Bàn, Xuân An, Xuân Lộc, Chánh Lộc), Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Phù Cát tuyên bố thành lập, do đồng chí Trương Chánh Hân làm Chủ tịch.

Sau vụ xử trí sai trái đồng chí Võ Xán vì giữa các lực lượng Việt Minh trong tỉnh có sự hiểu nhầm nhau, lại có truyền đơn "Việt Minh giả" rải ở Bình Khê, An Nhơn, Quy Nhơn gây xôn xao dư luận quần chúng, có hại cho phong trào cách mạng chung; Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh nhận thấy cần phải có những biện pháp đúng đắn, khách quan để khắc phục những mắc mứu trong nội bộ, thống nhất lực lượng Việt Minh toàn tỉnh trên nguyên tắc đoàn kết, đặt lợi ích cách mạng lên trên hết. Ngày 31.8.1945, tại Diêu Trì (Phước Long, Tuy Phước), các lực lượng Việt Minh trong tỉnh tổ chức cuộc họp liên tỉnh giữa đại biểu Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ với đại biểu Ủy ban Vận động Cứu quốc, do đồng chí Trần Lương chủ trì. Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng Việt Minh trong toàn tỉnh, tổ chức cuộc mít tinh tuyên bố thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời mới ngày 3.9.1945 ở Quy Nhơn, và đưa Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ làm nhiệm vụ Ủy ban Nhân dân thành phố Quy Nhơn, do đồng chí Lê Văn Nhiễu làm Chủ tịch2.

Ngày 3.9.1945, 30.000 đại biểu Việt Minh toàn tỉnh và đồng bào các giới, dân tộc, các tôn giáo cùng nhân dân thành phố Quy Nhơn, với hơn 1.000 tự vệ cứu quốc và tự vệ sắt tham gia cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh tại sân vận động Quy Nhơn. Tại đây, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời mới của tỉnh Bình Định, lấy tên là tỉnh Tăng Bạt Hổ, được thành lập, do đồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch.

Như vậy, sau 15 năm hoạt động kiên cường, không mệt mỏi, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã làm nên một cơn bão táp cách mạng vĩ đại, cuốn trôi bộ máy chính quyền thống trị của đế quốc, phát xít và phong kiến. Thắng lợi này đã kết thúc chặng đường đấu tranh đầy gian khổ nhưng quang vinh của nhân dân Bình Định, đồng thời mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Suốt chặng đường lịch sử 60 năm (1885-1945), phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Bình Định trải qua ba giai đoạn với màu sắc, quan điểm, tư tưởng, đường lối, chủ trương chính trị khác nhau: ngọn cờ Cần Vương chống Pháp của giai cấp phong kiến cuối thế kỷ XIX, phong trào yêu nước mang màu sắc dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX, cao trào giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản và chủ nghĩa Mác-Lênin do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo từ 1930 đến 1945. Đây là những làn sóng nối tiếp nhau dồn dập đánh vào thành trì của chế độ thực dân-phong kiến, mà lớp sóng sau mạnh mẽ hơn lớp sóng trước gấp bội lần.

Tuy các phong trào đấu tranh yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX đều bị thực dân Pháp đàn áp và dìm trong bể máu, nhưng nhân dân Bình Định vẫn không hề chịu khuất phục. Từ khi có ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga soi đường, đặc biệt là từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Bình Định đã cùng nhân dân toàn tỉnh liên tục vùng dậy đấu tranh kiên cường trong suốt 15 năm trời. Trải qua những thử thách từ cao trào 1930-1931, giai đoạn hồi phục lực lượng 1932-1935, đến cuộc vận động dân chủ 1936-1939, rồi cao trào cứu nước giải phóng dân tộc 1939-1945, cuối cùng Đảng bộ và nhân dân Bình Định cũng hoàn thành mục tiêu độc lập - tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội bằng thắng lợi vẻ vang trong cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.

 



1 Phân ban Xứ ủy được Phân cục Trung kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập ở Đà Nẵng vào cuối tháng 4.1930.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập I, sđđ, tr. 42- 43.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), tập I, sđd, tr. 49

1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 304.

1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 304 và các nguồn khác

2 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 306  và các nguồn khác

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), tập I, sđd, tr. 67.

2 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 308, và các nguồn khác.

1 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định 1928-1945, sđd, tr. 38.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1930-1945, tập I, sđd, tr. 80.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1930-1945, tập I, sđd, tr. 81.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1930-1945, tập I, sđd, tr. 81

1 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định 1928-1945, sđd, tr. 42.

2 Chi bộ Hồng Lĩnh thực chất là một Đảng bộ liên huyện phía nam Bình Định.

1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 313 và các nguồn khác.  

1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 313 và các nguồn khác.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 99.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 103.

1 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định (1928-1945), sđd, tr. 66.

2 "Tọa thử" là lối chia đem nhiều lợi thế cho bọn quan viên chức sắc. Chúng nhận được nhiều phần ruộng, lại  được bắt trước, chọn những đám ruộng tốt nên canh tác thuận lợi và năng suất cao, chi phí sản xuất thấp.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 107.

1 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 319.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 113

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 117.

1 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định (1928 -1945), sđd, tr. 78.

1 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn  (1930-1975), sđd, tr. 84.

2 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 322 và các nguồn khác.

1  Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 128.

2 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định (1928-1945), sđd, tr. 88.

1 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), sđd, tr. 87.

2 Lịch sử  thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 323.

3 Sự kiện lịch sử Đảng bộ Bình Định (1928-1945), sđd, tr. 135.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 135.

1 Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930-1975), sđd, tr. 92.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1975), sđd, tr. 141.

2 Lịch sử thành phố Quy Nhơn, sđd, tr. 325.

1 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), sđd, tr. 142 và các nguồn khác.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân  (1930-1975), 1999, tr. 70.

2 Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân  (1930-1975), sđd, tr. 73

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Phước (1930-1975), sđd, tr. 71.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn (1930-1975), 1998, tr. 63.

1 Hoài Nhơn, lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước 1930-1975, Bình Định, 1996, tr. 102.

2 Thanh niên thân Nhật toàn huyện.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930-1975), 1996, tr. 52.

2 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), tập I, sđd, tr. 153.