PHẦN KẾT LUẬN
Bình Định - vùng đất phong cảnh hữu tình, có "rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu"; nơi tạo ra những thắng cảnh ngoạn mục hiếm có của đất nước; nơi hội tụ những nhân tài để góp phần làm nên những kỳ tích vinh quang trong lịch sử .
Nhìn lại từ quá khứ xa xưa, chúng ta tự hào về Bình Định - nơi sớm sản sinh ra nền văn hoá lớn của cư dân cổ Sa Huỳnh, mang đậm nét đặc trưng của thời đại kim khí, đã để lại nhiều di tích phong phú, các công cụ sản xuất bằng đồ sắt, đồ trang sức bằng đá quý và thuỷ tinh đặc sắc v.v... những trống đồng Đông Sơn cũng đã được tìm thấy ở đây chứng tỏ thời đó đã có sự giao lưu văn hoá rộng lớn giữa các vùng của đất nước.
Bình Định còn là nơi chứng kiến sự phát triển, lụi tàn của quốc gia cổ Chămpa - một vương quốc có nhiều thăng trầm song cũng không tránh khỏi số phận tồn vong của lịch sử. Cái tên Chămpa chỉ còn như một tên riêng của một dân tộc Chăm gắn bó trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Vương quốc Chămpa xưa, nay còn để lại những di tích khảo cổ học, nhiều thành cổ, điêu khắc cổ và kiến trúc đền tháp nổi tiếng, cổ kính, uy nghi. Các di tích được các nhà khảo cổ phát hiện ở nhiều nơi trên đất Bình Định phong phú, đa dạng về chủng loại, tinh xảo về kỹ thuật, gồm các đồ gốm sứ phục vụ cho cuộc sống cộng đồng, giao lưu, trao đổi hàng hoá ngoài khu vực và các nước phụ cận.
Bình Định có thành Đồ Bàn tồn tại gần 5 thế kỷ mà sau đó là thành Hoàng Đế thời Tây Sơn - Nguyễn Nhạc.
Thế kỷ XV, đất nước Chămpa đầy biến động bởi sự nội biến bên trong v xung đột bên ngoài. Vua Lê Thánh Tông đã có thời cơ để chấm dứt nạn tranh chấp này vào năm 1471. Từ đó, đất Bình Định trở thành một bộ phận của nước Đại Việt.
Nhà Lê đã cho lập Thừa tuyên Quảng Nam tạo cho phủ Quy Nhơn thời chúa Nguyễn một nội lực kinh tế phát triển, một thế đứng vững chắc để mở nước về phía nam.
Với một tầm nhìn chiến lược, với chính sách thông thoáng trong việc thu nạp hiền tài (trường hợp của Lương Văn Chánh, Đào Duy Từ...) cùng với việc khuyến nông, các chúa Nguyễn đã có chính sách tích cực trong việc di dân, khai phá, lập làng, tạo cho phủ Quy Nhơn hình thnh nhiều làng xã trù phú, canh tác nông nghiệp phát triển. Phủ Hoài Nhơn (Quy Nhơn) trở thành bệ phóng cho công cuộc mở đất vào Phú Yên và từ đây, thế Thuận - Quảng vững mạnh về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, đủ sức đương đầu với quân Trịnh ở phía bắc.
Bên cạnh những yếu tố tích cực trên của phủ Quy Nhơn thời các chúa Nguyễn, nhưng dần dần do sự phân hoá bất công trong xã hội ngày càng tăng khiến cho mâu thuẫn ngày một gay gắt giữa tầng lớp lao động và giai cấp thống trị, đã nảy sinh những cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ hà khắc đương thời. Mở đầu là những cuộc nổi dậy của Linh Vương và Quảng Phú (1695) rồi của Lía, sau đó các cuộc khởi nghĩa có tổ chức, quy mô thành phong trào rộng lớn, đại diện cho giai cấp nông dân Việt Nam đứng lên chống cường quyền, áp bức; nhất là khi có giặc ngoại xâm đã nhanh chóng trở thành một phong trào giải phóng dân tộc lan toả khắp đất nước. Đó là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn xuất phát từ vùng núi An Khê của phủ Quy Nhơn.
Dưới sự chỉ huy thiên tài của Nguyễn Huệ với đội ngũ tướng lĩnh ti ba, trí dũng, kiên cường, cùng sự đóng góp của nhân dân Bình Định và nhân dân cả nước đã dập tắt nạn cát cứ, nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài trên hai thế kỷ; đánh tan 5 vạn quân Xiêm ở phía nam, 29 vạn quân Thanh xâm lược ở phía bắc, giải phóng dân tộc, lập lại nền độc lập thống nhất đất nước.
Thời đại Tây Sơn với những chiến công hiển hách, vang dội làm nhiều nước trên thế giới phải kính nể. Đó là niềm tự hào của nhân dân Bình Định - quê hương của phong trào Tây Sơn, của các anh hùng áo vải cờ đào và của mỗi một người dân Việt Nam. Những đóng góp, cống hiến của thời đại Tây Sơn còn để lại cho muôn đời sau về binh pháp thiên tài, các bài võ, đường quyền, những áng văn thơ tuyệt tác, một kho tàng văn hoá chữ Nôm đồ sộ và văn học dân gian phong phú mà chúng ta mãi trân trọng, giữ gìn.
Dưới thời Nguyễn, Bình Định được triều đình Huế rất chú tâm về việc tổ chức cai trị cũng như về kinh tế, xã hội, nhất là vào đầu thời kì vua Nguyễn. Vì nơi đây - vốn là đất của triều Tây Sơn, đã diễn ra cuộc chiến tranh khốc liệt lâu ngày, bị tàn phá nặng nề và là nơi cịn tồn tại nhiều mu thuẫn nn một mặt cần trấn áp nhưng mặt khác cũng phải thu phục lòng dân. Vì vậy, Bình Định được coi là trọng trấn của Triều đình, rồi trở thành một tỉnh trực thuộc chính quyền Trung ương Huế (1832).
Với việc lập lại địa bạ vào năm 1839 đã loé lên một niềm tin đấu tranh về quyền lợi chính đáng của người dân Bình Định đối với Triều đình mà đòi hỏi Nhà nước cần phải chia sẻ, quan tâm để giảm bớt sự bất công trong các tầng lớp địa chủ và dân nghèo, trong đó có sự đóng góp của Tổng đốc Võ Xuân Cẩn và các quan lại địa phương. Tuy cuộc cải cách này cuối cùng thất bại nhưng đã để lại bài học kinh nghiệm về chính sách ruộng đất và đấu tranh của nhân dân cho cc đời sau.
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, Quy Nhơn được chúng xem là cảng khẩu quan trọng của miền Trung và Tây Nguyên để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa. Từ giữa thế kỷ XIX, Bình Định bắt đầu chuyển mình để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và trào lưu yêu nước diễn ra mạnh mẽ khắp nơi trong tỉnh, đặc biệt khi đô thị Quy Nhơn ra đời.
Với phong trào Cần Vương, nhân dân Bình Định đã hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, đứng lên đánh giặc cứu nước. Phong trào kháng Pháp ở Bình Định diễn ra mạnh mẽ lan rộng trong cả tỉnh và liên kết với các tỉnh lân cận, đã làm cho bộ máy cai trị của Pháp và tay sai ở Bình Định khốn đốn, lung lay.
Với những phong trào: Cải cách Duy Tân, phong trào Chống thuế, phong trào đòi dân sinh, dân chủ được các tầng lớp nhân dân Bình Định hưởng ứng tham gia, tạo thành một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, thể hiện chân lý: "Có áp bức, có đấu tranh".
Tuy các cuộc đấu tranh của nhân dân Bình Định bị đàn áp khốc liệt nhưng đã khơi dậy trong quần chúng một truyền thống quật cường, một tinh thần yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc cao độ đã buộc địch phải nhiều phen khốn quẫn, lao đao.
Phong trào Cách mạng Việt Nam đã chuyển mình và khởi sắc từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930.
Các tổ chức Đảng Cộng Sản ở Bình Định tại các huyện, xã, thị xã Quy Nhơn đã nắm bắt phong trào, lập các cơ sở Cách mạng lúc hoạt động công khai, lúc rút vào hoạt động bí mật, đã lãnh đạo phong trào Cách mạng của tỉnh giành được nhiều thắng lợi trong đấu tranh chính trị, vũ trang... đi đến giành được chính quyền về tay nhân dân vào Tháng 8 năm 1945.
Cùng với tình hình chung của Cách mạng toàn quốc, Cách mạng Bình Định cũng trải qua các thời kỳ gian khổ và cực kỳ ác liệt trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh tỉnh, các đoàn thể yêu nước được ra đời để đáp ứng tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, quyết tâm đẩy lùi nạn giặc đói, giặc dốt, chiến thắng giặc ngoại xâm, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng quê hương, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc.
Đồng thời với cuộc kháng chiến trường kỳ đánh Pháp, nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cũng còn phải vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để vươn lên đạt được những thành tựu đáng kể trong các mặt: xây dựng nền công nghiệp, nông nghiệp, khôi phục và phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông... Tất cả những điều đó đã góp phần đập tan các kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp, giành lại độc lập cho quê hương, đất nước.
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi vẻ vang vào năm 1954 đã là một minh chứng về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự mưu trí, quả cảm và sự hy sinh vô bờ bến của bao chiến sĩ cách mạng và xương máu của nhân dân Việt Nam nói chung, Bình Định nói riêng; là kết tinh của truyền thống yêu nước của ông cha ta từ bao đời nay đã làm nên sức mạnh tổng hợp "nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước", đem lại độc lập - tự do - hạnh phúc cho nhân dân.
Đất nước đã giải phóng nhưng người dân miền Nam nói chung, Bình Định nói riêng vẫn chưa được hưởng trọn vẹn niềm vui của người dân độc lập. Họ phải chịu sự đàn áp khốc liệt, dã man tàn bạo của chính quyền Mỹ-ngụy - một chế độ phát xít độc tài, quân phiệt - đế quốc đã khiến cho đồng bào miền Nam sống trong khong khí ngột ngạt, chết chóc, đau thương.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Bình Định lại một lần nữa phải ra sức đương đầu với những âm mưu thâm độc, những cuộc càn quét đẫm máu của địch nhằm chống phá các cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang của ta. Mặc dù vậy, nhân dân và các lực lượng quân sự Bình Định đã phối hợp với toàn miền đấu tranh bằng ba mũi giáp công, kiên quyết đập tan các chiến lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng quê hương, hoà trong ca khúc khải hoàn: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng" vào mùa Xuân năm 1975.
Đây là một thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc ta. Ba mươi năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ với bao mất mát hy sinh lớn lao mà nhân dân Việt Nam, trong đó có nhân dân Bình Định đã cống hiến hết mình về sức người, sức của cho sự đấu tranh vì độc lập - tự do của dân tộc. Đây là trang sử hào hùng chói lọi về chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam - một dân tộc nhỏ bé đã đương đầu đánh thắng một đế quốc đầu sỏ nhất thế giới, mạnh hơn ta gấp nhiều lần về kinh tế, tiềm lực quân sự và vũ khí tối tân.
Hoà chung niềm vui của đất nước, sau ngày giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đã hăng hái bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khơi phục, phát triển kinh tế, xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng.
Từ sau năm 1975 đến nay, chỉ mới hơn một phần tư thế kỷ so với hàng ngàn năm lịch sử mà nhiều thế hệ nhân dân Bình Định đã trải qua, nhưng thực sự Bình Định đã đổi đời, thực sự đổi mới từ trong nếp nghĩ kinh tế, làm ăn đến tư duy cuộc sống, tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội của tỉnh nhà.
Diện mạo quê hương đã đổi thay, bộ máy Nhà nước cc cấp của tỉnh đã kiện toàn, hệ thống cơ sở hạ tầng đã và đang phát triển làm thay da đổi thịt cuộc sống của nhân dân. Các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế... ngày một ổn định, pht triển và nâng cao; mức sống của người dân ngày được cải thiện.
Chính sách của Nhà nước đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa ngày một quan tâm đúng mức để tiến tới lập thế cân bằng giữa miền núi và miền xuôi.
Công cuộc hiện đại hoá đang được hình thành dần ở nơi đây, đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày một tốt đẹp hơn. Nếp sống văn minh trong sinh hoạt cộng đồng ngày càng phong phú đã tạo nên một sự chuyển biến tích cực trong xu thế phát triển của xã hội Bình Định. Từ đó mở ra một cuộc sống đầy đủ hứa hẹn ở tương lai: ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng và văn minh mà nhân dân Bình Định bằng truyền thống lịch sử của mình có quyền tin tưởng và quyền được hưởng những thành tựu đó, vì đã góp phần cống hiến sức lực của mình trong quá khứ và trong hiện tại.