CHƯƠNG VIII

TÀI NGUYÊN SINH VẬT

 

I. TÀI NGUYÊN THỰC VẬT - RỪNG

    Tài nguyên thực vật - rừng có một vị trí đáng kể trong nền kinh tế của tỉnh Bình Định. Trên cơ sở các tài liệu thống kê rừng; quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp đến năm 2010 và quy hoạch phát triển lâm nghiệp đến năm 2010 của tỉnh Bình Định nhận thấy như sau:

 

1. Về cây nông nghiệp và cây công nghiệp

 

        a. Cây lúa

    Toàn tỉnh có 53.156ha, phân bố: Phù Cát 9.504ha, Tuy Phước 8.389ha, Phù Mỹ 8.230ha, An Nhơn 7.722ha, Tây Sơn 6.233ha. Các huyện còn lại trồng lúa từ 5.000ha trở xuống. Hai huyện trồng lúa ít nhất là Vĩnh Thạnh 892ha và Vân Canh 786ha.

        b. Màu và cây công nghiệp ngắn ngày:

    Ngô, khoai, sắn, mía, rau, đậu phụng, đậu nành và các loại đậu khác, mè, thuốc lá, cói, dâu... Toàn tỉnh có 29.731ha, đáng kể là Phù Mỹ 4.441ha, Tây Sơn 4.326ha, Hoài Nhơn 3.441ha, Phù Cát 3.418ha, các huyện còn lại có diện tích từ 1.000 trở xuống. Thấp nhất là Quy Nhơn 549 ha và An Lão 354ha.

        c. Cây công nghiệp lâu năm:

    Toàn tỉnh có 322.621 ha bao gồm các cây chè, cà phê, đào, tiêu, dừa, ca cao, quế, cao su... Cây đào phân bố tập trung ở Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Ân và Hoài Nhơn. Các vùng dừa có diện tích tập trung ở 4 huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ và Phù Cát. Cây cà phê chỉ trồng ở Vĩnh Thạnh.

    Cây ăn quả diện tích toàn tỉnh 3.446ha, gồm có các cây xoài, chuối, dứa và nhóm cây có múi. Xoài trồng tập trung ở phía Tây Nam huyện Tây Sơn, phía Tây huyện Phù Cát, phía Tây huyện Phù Mỹ và các dải đất ven biển, ngoài ra còn đang phát triển ở các huyện An Lão và Hoài Ân. Cây chuối diện tích tập trung ở các huyện An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh và Tây Sơn. Cây mía trồng xen diện tích các cây lâu năm, tập trung nhiều ở An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh và Hoài Nhơn. Nhóm cây có múi như cam bưởi và quýt trồng khá rộng ở nhiều huyện, chủ yếu trong đất vườn, tập trung nhiều ở các huyện An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn.

    Tỷ lệ cây trồng phân bố như trên cho thấy sự phát triển chậm chạp cây công nghiệp dài ngày, cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Cần cải tạo cơ cấu giống và cây trồng thích hợp và hiệu quả cao hơn.

   

2. Tài nguyên rừng

 

    Tài nguyên rừng có vai trò rất đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, khả năng rừng hiện có và khả năng phát triển rừng khá lớn. Có thể thấy rõ vai trò của rừng qua diện tích rừng tự nhiên, trữ lượng và các chủng loại rừng. Diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng là khả năng to lớn để phát triển vốn rừng.

        a. Khả năng phát triển rừng

    Diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh hiện có 404.507ha, chiếm 67,52% diện tích tự nhiên tỉnh, trong đó có rừng là 184.940ha, chiếm 30,8% diện tích tự nhiên tỉnh. Độ che phủ rừng Bình Định năm 1995 là 45,5%. Diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng là 219.567ha, có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp 217.007ha, không có khả năng sản xuất là 2.560ha. Diện tích có khả năng phát triển rừng ước tính gấp trên 1,5 lần diện tích rừng tự nhiên hiện có ở tỉnh. Đây là nguồn tiềm năng lớn để phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng phòng hộ sinh thái, phòng hộ cảnh quan kết hợp với trồng rừng kinh tế, trồng cây công

nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp để tạo nguồn sản phẩm hàng hóa, đồng thời phát triển trồng rừng phòng hộ chống cát bay ven biển bảo vệ sản xuất nông nghiệp và cuộc sống nhân dân ven biển.

        b. Rừng tự nhiên:

    * Rừng tự nhiên sản xuất:

    Rừng tự nhiên sản xuất có diện tích 142.860 ha, chiếm 24% diện tích đất lâm nghiệp, với trữ lượng gỗ 9.749.446 m3. Rừng tự nhiên sản xuất chia làm các chủng loại:

        - Rừng giàu 3.944 ha, trữ lượng 712. 895 m3 gỗ.

        - Rừng trung bình 21.341 ha, trữ lượng 2.557.044 m3 gỗ.

        - Rừng nghèo 31.294 ha, trữ lượng 2.429.864 m3 gỗ

        - Rừng phục hồi 86.281 ha, trữ lượng 4.049.801 m3 gỗ.

    Từ số liệu trên thấy rằng diện tích rừng giàu hiện còn rất ít, chỉ bằng 18% diện tích rừng trung bình, bằng 12,6% diện tích rừng nghèo và 4,5% diện tích rừng phục hồi. Điều này nói lên rừng đã bị tàn phá và thoái hoá ở mức độ rất nghiêm trọng. Trữ lượng trong khu vực rừng nghèo và rừng phục hồi chỉ bằng xấp xỉ gấp 9 lần trữ lượng của khu vực rừng giàu mặc dù diện tích của nó gấp 29,8 lần diện tích rừng giàu.

    Đối với rừng giàu hiện tại Nhà nước quản lý 100% còn khu vực rừng phục hồi Nhà nước chiếm khoảng 21%.

    * Rừng trồng tập trung có diện tích 41.035ha cộng với cây trồng phân tán có trữ lượng khoảng 3 triệu m3 gỗ.

    * Rừng phòng hộ:

    Rừng phòng hộ chiếm diện tích 299.788ha, đều là rừng đầu nguồn, trong đó có rừng 109.419ha, trữ lượng rừng phòng hộ là 5.641.594m3. Diện tích đất rừng phòng hộ không có rừng 188.452ha, trong đó cần trồng rừng phòng hộ 34.743ha (kể cả phòng hộ chống cát bay ven biển 2.305ha). Diện tích có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 47.913ha, diện tích núi đá 17.071ha, cồn cát di động và sát mép nước 2.191ha, khoanh phòng hộ nơi quá dốc và cao xa 86.534ha.

    Rừng Bình Định chủ yếu là rừng kín, thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới, một kiểu rừng thứ sinh ổn định thường có 3-4 tầng rõ rệt, thực vật phong phú về giống và loài, có 66 bộ, 175 họ 1848 loài. Thành phần rừng đa dạng, bao gồm trắc (có trắc cẩm lai), hương, mun, chò, sao, dầu, giẻ, re, kiềng kiềng, mật, lim xanh, sến, sơn, giổi (xanh, đỏ), trám trắng, thông vàng, nhưng số rừng gỗ loại quý còn ít.

    Động vật hoang dã ở rừng Bình Định gắn với khu hệ thống động vật Kông Hà Nừng (Gia Lai), Ba Tơ, Trà Bồng (Quảng Ngãi), Trà My, Phước Sơn (Quảng Nam) gồm có 7 bộ thú với 19 họ, 38 loài và 13 bộ chim với 37 họ, 77 loài.

    Thú ở vùng núi cao trong tỉnh hiện còn nhiều: khỉ (vàng, mặt đỏ), cheo, hổ, cáo (xám, gốm), gấu, lợn rừng, tê tê, hươu, nai, sơn dương, hoẵng (mang), nhím, tắc kè, cầy bay, sóc bay, trăn...voi rừng còn rất ít, phân bố trong phạm vi hẹp, thấy ở vùng cao, vùng xa, ở thượng nguồn sông Kôn - phía Tây Bắc cả huyện Vĩnh Thạnh, phía Tây Nam huyện An Lão và phía Đông Bắc của xã An Toàn .

    Chim khá phong phú về chủng loại: công là chim đẹp, có giá trị kinh tế cao nhưng còn rất ít, ở thượng nguồn sông Kôn. Trĩ , sáo phân bố ở khắp vùng rừng núi cao và một số vùng trung du. Nhiều gà rừng, gà gô, chim xanh, chim cu, chim vành khuyên, vẹt (đầu hồng, ngực đỏ), vàng anh, yểng, khướu, chim yến lông xén ở hang hốc vùng đảo biển Quy Nhơn.

    Thực vật dưới tán rừng cũng phát triển: song và mây chủ yếu mọc ở ven suối. Mây nước sợi đỏ mọc nhiều hơn mây sắc sợi trắng, có thể khai thác 200 tấn/ năm.

    - Đót chủ yếu mọc ở ven khe suối rải rác khắp vùng trung du An lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn và Vân Canh, nhiều nhất ở Hoài Ân. Có thể khai thác 300 tấn/năm.

    - Sóc: mọc khắp vùng trung du, trong đó ở Tây Sơn và Hoài Ân mọc tập trung hơn, mỗi ha có trữ lượng 1000 kg. Ở các nơi khác mọc rải rác trên diện tích rộng với trữ lượng 200-300 tấn/ha. Mỗi năm có khả năng khai thác 4000 tấn trong cả tỉnh.

    - Dầu rái mọc hỗn giao trong rừng ở Hoài Ân, Vân Canh, Tây Sơn và Hoài Nhơn nhưng không mọc tập trung thành rừng. Cây dầu rái cho nhiều dạng nguyên liệu: nhựa, quả vô số.

    - Ngoài ra, có thể khai thác dầu chai đốt, các loại quả: xoay, ươi.., hạt điều 2000 - 3000 tấn, nguyên liệu giấy 20.000 tấn.

    - Cây con dược liệu rất đa dạng và gặp nhiều loài quý: 40 loài cây phân bố rộng khắp: sa nhân, thiên niên kiện, bách bộ, thổ phục linh, hoàng đằng, thiên môn, phong kỷ, kim ngân, rùa vàng...

        c. Phân bố rừng tự nhiên theo các huyện:

    Rừng tự nhiên tập trung nhiều ở các huyện:

    An Lão: 35.000ha, trong đó rừng giàu 2.652ha, rừng trung bình 5.800ha, trong đó rừng già 793ha, rừng trung bình 5.800ha, rừng nghèo 9.984ha và rừng phục hồi 16831ha.

    - Vân Canh: 34.433ha, rừng giàu: không có, rừng trung bình: 5811ha, rừng nghèo: 7.013ha, rừng phục hồi 21.609ha.

    - Tây Sơn: 21.532ha, trong đó rừng giàu 302ha, rừng trung bình 2.360ha, rừng nghèo: 6.406ha, rừng phục hồi: 12.462ha.

    Bốn huyện kể trên có tài nguyên rừng đáng kể, trong đó An Lão và Vĩnh Thạnh có diện tích rừng giàu khá lớn, sau đó là Tây Sơn. Các huyện còn lại không có rừng giàu. Các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát , An Nhơn, Tuy Phước và Quy Nhơn, chỉ có rừng phục hồi. Các loại rừng khác không có.

        d. Phân bố diện tích các loại rừng và đất rừng theo các khu vực quản lý.

    * Diện tích các loại rừng và đất rừng ngoài diện quản lý của Nhà nước.

    - Diện tích có rừng : 100 - 876ha.

    Trong đó:

    + Rừng giàu                               : 277ha

    + Rừng trung bình                     : 8.083ha

    + Rừng nghèo                            : 12.822ha.

    + Rừng phục hồi                        : 70.850ha

    + Rừng trồng                              : 8.843ha

- Đất trống                                      : 219.567ha.

    Số diện tích rừng và đất trống này phân bố hầu hết trên địa bàn các huyện trong tỉnh. Khu vực đất trống ở đây có diện tích hết sức lớn, gấp hơn 2 lần tổng diện tích rừng thuộc diện ngoài quốc doanh quản lý. Từ đó thấy rằng cần có một chính sách thỏa đáng để đẩy mạnh việc trồng rừng trên miền đất trống từ nguồn đầu tư của nhân dân hoặc các đối tác nước ngoài.

    * Diện tích các loại rừng và đất rừng thuộc diện Nhà nước quản lý:

    - Diện tích có rừng                     : 35.923ha.

    + Rừng giàu                                 : 3.673 ha.

    + Rừng trung bình                       : 13.853ha.

    + Rừng nghèo                              : không có.

    + Rừng phục hồi                          : 16.677ha.

    + Rừng trồng                                : 1720ha.

    - Đất trống                                    : 30.217ha.

    Nhà nước quản lý hầu hết rừng giàu. Rừng trồng do Nhà nước quản lý chỉ bằng 95% diện tích rừng trồng thuộc khu vực ngoài Nhà nước quản lý. Từ đó cho thấy việc phục hồi, làm giàu rừng cũng như Nhà nước đóng vai trò rất lớn, cần có chính sách hợp lý cũng như có sự chỉ đạo kịp thời để phần diện tích rừng khu vực Nhà nước quản lý phát huy tác dụng trong phát triển kinh tế quốc dân. Mặt khác, Nhà nước quản lý hầu hết rừng giàu, đây là nguồn tài nguyên rừng quan trọng của tỉnh. Vì vậy, cần có sự khai thác đi đôi với bảo quản phục hồi, tránh mọi sự khai phá tuỳ tiện không theo đúng quy trình hướng dẫn của Nhà nước và chính quyền địa phương tỉnh.

 

II. CÁC KHU HỆ THỦY SINH VẬT VÀ NGUỒN LỢI

 

A. KHU HỆ SINH VẬT VÀ NGUỒN LỢI SINH VẬT CÁC VỰC

NƯỚC NỘI ĐỊA

 

1. Thực vật nổi

 

    Qua nghiên cứu ở các vực nước sau: Đầm (Đèo Son, Châu Trúc), hồ chứa nước (Núi Một, Diêm Tiêu, Đá Bàn) và hồ tự nhiên (Hóc Hòm), cho thấy:

        a. Đặc điểm thành phần loài:

    Đã giám định được 166 loài thực vật nổi.

    - Ngành tảo lục (Chlorophyta) có số lượng giống loài nhiều nhất: 61 loài chiếm 37% tổng số loài thu được.

    - Ngành tảo lam (Cyanophyta) có 41 loài chiếm 24,8%.

    - Ngành tảo Silic (Bacillriophyta) có 41 loài chiếm 24,8%

    Ở các vực nước ngọt tảo lục bao giờ cũng chiếm ưu thế, tiếp đến là tảo lam, rồi đến tảo silic. Ngược lại ở các thủy vực nước lợ, tảo silic chiếm ưu thế. Ao là dạng thủy vực có số loài thực vật nổi nhiều nhất, sau đó đến hồ chứa, đầm hồ tự nhiên và suối.

    Các dạng thủy vực Bình Định có cấu trúc thành phần loài như sau: ở ao, tảo lục có số loài nhiều nhất rồi đến tảo lam và tảo silic. Ở đầm, tảo silic nhiều nhất rồi đến tảo lục và tảo lam. Hồ tự nhiên, tảo lam phát triển mạnh, chứng tỏ hồ nghèo nàn dinh dưỡng.

    Các loài thực vật nổi gặp ở các thủy vực nội địa Bình Định là những loài phân bố rộng: Surirella, Synecdra, Melosira, Ceratium, Nijchia, Navicula, Cymbella, Sicnedesnus cloterium, Periclinium, Skiletonema.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    * Số lượng tế bào thực vật nổi khá cao, trung bình 22.215,4 x10-3tế bào/l:

    - Ao                                     : 83.700,0 x 10-3 tế bào/l.

    - Hồ chứa                            : 22.773,9 x 10-3 tế bào/l.

    - Đầm                                  : 3.173,4 x 10-3 tế bào/l.

    - Hồ tự nhiên                      : 860,0 x 10-3 tế bào/l.

    - Suối                                   : 510,0 x 10-3 tế bào/l.

    * Sinh khối thực vật nổi đạt trung bình ở các thủy vực:

    - Sinh khối thực vật nổi đạt trung bình ở đầm: 0,0704mg/l

    - Sinh khối thực vật nổi đạt trung bình ở ao: 10,96 mg/l.

    - Sinh khối thực vật nổi đạt trung bình ở hồ chứa nước: 2,704 mg/l.

    - Sinh khối thực vật nổi đạt trung bình ở toàn thủy vực: 2,186 mg/l.

    Ngoài ra đã xác định khối lượng của 59 loài thực vật nổi trong đó có 23 loài tảo lục, 18 tảo silic, 7 loài tạo mắt, 6 loài tảo giáp và 5 loài tảo lam. Nhìn chung khối lượng các loài tảo biến thiên rất lớn: loài lớn nhất đạt 1.858 X 10-6 mg và loài nhỏ nhất đạt 0,020 x 10-6 mg.

    Trên cơ sở các kết quả thu được cho thấy: muốn nuôi cá đạt năng suất cao, cần phải cải tạo lại các đầm hồ bằng cách bón phân để tạo ra nguồn thực vật nổi phong phú làm thức ăn cho cá. Đối với ao sau một thời gian khai thác cũng nên bổ sung nguồn phân để duy trì lượng thực vật nổi ổn định.

 

2. Động vật nổi

 

    Qua lấy mẫu ở các thủy vực sau: Ao (ao cá Bác Hồ ở Mỹ Đức, ao cá mè trắng Mỹ Đức), hồ (Núi Một, Diêm Tiêu, Đá Bàn) và đầm (Châu Trúc, đèo Son), cho thấy:

        a. Đặc điểm thành phần loài:

    Qua phân tích đã tìm được 68 loài gồm 3 nhóm:

    - Nhóm giáp xác chân mái chèo (Copepoda) có 2 loài thuộc 10 giống, 5 họ thuộc các giống loài nhiệt đới thích ứng hẹp như: Macrothrix tricerialis, Diaphanosoma paucispinosum, tập trung vào họ Cyclopidae.

    - Nhóm giáp xác râu ngành (Cladocera) có 15 loài thuộc 10 giống, 5 họ, tập trung vào trong họ chydoridae, chủ yếu là họ có kích thước nhỏ.

    - Nhóm trùng bánh xe (Rotatoria) có 42 loài thuộc 19 giống, 13 họ, trong đó Brachionidae có số loài nhiều nhất. Trong số 42 loài, các giống Brachionus (16 loài), Trichocerca (6 loài) .

    Về cấu trúc thành phần loài động vật nổi có thể phân biệt các nhóm loài sau:

    - Nhóm phân bố rộng: có mặt hầu hết ở các thủy vực nước chảy, nước tĩnh, chủ yếu gặp ở các nhóm: Cyclopoida, Cladocera, Rotatoria, Mesocycloops leuckarti, Microcyclops varians, Diaphanosoma sarsi, Moina dubia, Asplanchna sieboldi, Brachionusfalcatus.

    - Nhóm phân bố hẹp: một số loài chỉ gặp ở mặt nước tĩnh: Alonadavidi, Notholcasp. Một số loài chỉ gặp ở các vực nước chảy: Alona alexandrovi. Các loài Sinocalnus lacvidactylus, Limnoithona sinensis chỉ gặp ở các thủy vực nước lợ ven biển.

    Cấu trúc thành phần loài trong các thủy vực như hồ, đầm, có tập hợp loài phong phú hơn ở ao.

    Nhóm Copepoda - cyclopoidae phân phối tương đối rộng ở các dạng thủy vực nhưng ít thích ứng với dạng đập. Nhóm cladocera phân bố tương đối đồng đều. Nhóm Rotatoria có tập hợp loài phong phú nhất thích ứng rộng. Trong thành phần loài không có loài nào đặc hữu cho Việt Nam, 3 loài có thể đặc trưng cho vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là Brachionus falcatus, B. caudatus, Keretella tropica. Loài xuất hiện quanh năm như Rotatoria neptunia, Asplanchna sicboldi. Khu hệ động vật nổi Bình Định mang tính chất nhiệt đới kém điển hình. Thành phần loài ít nhiều chịu ảnh hưởng đặc trưng của thành phần loài động vật hay gốc biển di nhập vào như: Sinocalanus lacvidactylis hay các loài đặc trưng cho vùng nước chịu ảnh hưởng của biển, nằm trong khu hệ động vật nổi đồng bằng ven biển Trung bộ và có những nét giống với khu hệ động vật nổi vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    Số lượng động vật nổi trong các thủy vực Bình Định không phong phú lắm. Ao là nơi có số lượng động vật nổi nhiếu nhất cũng chỉ đạt 6.550 - 299.950con/m3, trung bình đạt 133.125con/m3. Số lượng động vật nổi thay đổi theo tính chất canh tác và thời gian sử dụng ao. Cấu trúc thành phần số lượng ở ao (không kể nhóm Protozoa), nhóm trùng bánh xe chiếm ưu thế (47,1%). Trong thành phần nhóm giáp xác, nhóm ấu trùng Nauplius chiếm 19,3%, Copepoda trưởng thành chỉ có 14%, nhóm Cladocera 19,5%. Số lượng động vật nổi trong các đầm đạt trung bình 103.655 con/m3. Các đầm đa số đã ngọt hóa, thành phần loài phức tạp gồm cả nước ngọt và nước lợ. Đầm Châu Trúc có số lượng động vật nổi lớn

nhất 199.346con/m3.

    Các hồ có số lượng động vật nổi trung bình không vượt quá 100.000 con/m3, thấp nhất trong các dạng hình thủy vực, chỉ có thể xếp vào loại trung bình về dinh dưỡng.

    Sự thay đổi số lượng động vật nổi trong các thủy vực như ao, hồ, đầm v.v. phụ thuộc vào lưu vực, mức độ đầu tư của con người v.v. Do vậy để nuôi cá đạt năng suất cao, tận dụng hết các mặt nước hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng đầu tư của con người.

    Ngoài ra, còn xác định được khối lượng 24 loài động vật nổi, 14 loài thuộc nhóm trùng bánh xe; 9 loài thuộc giáp xác chân mái chèo và một số loài thuộc nhóm giáp xác râu ngành.

    Đối với nhóm trùng bánh xe, loài lớn nhất là loài Brachionus calyciflorus: 8,670 x 10-3 mg và nhỏ nhất là loài Polyarthra vulgaris có khối lượng 0,098 x 10-3 mg.

    Đối với nhóm giáp xác chân mái chèo, loài có khối lượng nhỏ nhất là Themocyclops taihokuensis 0,036 mg và lớn nhất là Detodiaptomus javanus 0,1777 mg.

 

3. Động vật đáy

 

    Qua nghiên cứu ở các thủy vực:

    - Đầm: Châu Trúc, Đèo Son, hồ: Núi Một, Diêm Tiêu cho thấy một số đặc điểm ở các loài:

        a. Đặc điểm thành phần loài:

Thu được 101 loài phân ra 3 ngành:

    - Ngành Mollusca: gồm 2 lớp.

    + Lớp Gastropoda có 4 bộ, 2 họ, 19 giống và 26 loài.

    + Lớp Bivalvia có 3 bộ, 12 họ, 15 giống, 28 loài.

    - Ngành Annelida: gồm 2 lớp

    + Lớp Polychaeta có 1 họ, 2 giống, 4 loài

    + Lớp Oligochaeta có 1 họ, 4 giống, 4 loài

    - Ngành Anthropoda có 2 lớp

    + Lớp Crustacea có 4 bộ, 15 họ, 17 giống, 25 loài

    + Lớp Insecta có 4 bộ, 7 họ, 16 giống, 16 loài. Đặc điểm thành phần loài động vật đáy tỉnh Bình Định mang tính chất nhiệt đới rõ rệt, tuy nhiên không gặp những loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới hẹp Nam châu Á mà chỉ gặp những đại diện của những loài phân bố ở vùng cận nhiệt đới.

    - Đặc điểm thành phần loài giáp xác: có 11 loài là đại diện phân bố ở vùng nhiệt đới như: Metapenaus ensis; nhóm tôm: họ Deneidae; cua như họ Ocypodidae, Grapridae. Bộ Decapoda có thành phần loài phong phú nhất. Các giống tôm cỡ nhỏ: Macrobrachium, Caridina với số lượng nhiều là nguồn thức ăn tốt cho các loài cá đáy. Chủ yếu là các loài thuộc nhóm phân bố rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới, mang sắc thái khu hệ động vật giáp xác miền Bắc Việt Nam.

    - Đặc điểm thành phần loài động vật thân mềm: bao gồm 16 loài thuộc lớp Gastropoda, 7 loài thuộc lớp Bivalvia. Những loài mang tính chất nhiệt đới như: Pila polita, Pila conica, Tarebla granifera, Melanoides tuberculatus. Một số loài đại diện vùng cận nhiệt đới như: Cipangopaludina lecythoides, Sinanodinta elliptica.

    Đặc trưng cho khu hệ nhuyễn thể là nhóm hến (Corbiculidea) nhóm Angulyagra, nhóm Thiarridae phong phú. Nhóm hến phát triển mạnh ở các thủy vực có đáy là bùn-cát hoặc cát - bùn. Nhóm Angulyagra phân bố rất rộng. Ngoài ra còn có các loài quan hệ gần với nhuyễn thể biển: Linnoperna siamensis. Khu hệ động vật thân mềm cũng mang sắc thái của khu hệ miền Bắc Việt Nam.

    - Đặc điểm thành phần loài giun nhiều tơ: Gặp 2 đại diện, phân bố vùng cận nhiệt đới, thích ứng với độ muối rộng Dendro nereis sp. và Tylorhynchus heterochaetus.

    - Đặc điểm thành phần loài giun ít tơ: 4 loài thuộc họ Tubificidae, Branchiusa sowerbyi, Aulodrilus limnobius, Linnodrilus hoffonesis là những loài phân bố rộng ở vùng ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới.

    Sự phân bố thành phần loài của động vật đáy có quan hệ mật thiết với sự phân bố chất đáy, độ sâu, độ muối v.v. Căn cứ vào đó có thể thấy dạng đáy thủy vực là bùn cát hay cát bùn có số loài phong phú nhất (24 loài), dạng đáy cát sỏi có số loài nghèo nàn nhất. Các thủy vực nước lợ có ít số loài hơn các thủy vực nước ngọt. Tại đầm, số loài động vật đáy phong phú nhất rồi đến ao, hồ, cuối cùng là suối.

    Thông thường thì động vật đáy tập trung ven bờ, nơi có độ sâu nhỏ hơn 4m. Càng ra giữa hồ, càng ít giống thích nghi.

    Khu hệ động vật đáy các vực nước nội địa tỉnh Bình Định mang sắc thái khu hệ động vật đáy miền Bắc Việt Nam.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    Mật độ sinh khối cho toàn vùng biến thiên từ 0,049g/m2 đến 199,9g/m2. Mật độ cá thể đạt từ 19,75con/m2 đến 444,459con/m2.

    - Lớp Gastropoda có sinh khối cao nhất từ 8,9g/m2 đến 199,96g/m2. Mật độ cá thể đạt 13,17con/m2 đến 444,459con/m2.

    - Lớp Insecta có mật độ cá thể 370,37con/m2.

    Các thủy vực nước ngọt có mật độ nhỏ hơn nhưng sinh khối lớn hơn các thủy vực nước lợ.

    Dạng đáy bùn - cát, cát - bùn có mật độ sinh khối cao. Mật độ cá thể ở đầm nhiều nhất rồi đến ao, cuối cùng là hồ, nhưng sinh khối đạt cao nhất ở ao rồi đến đầm và hồ.

   

4. Khu hệ cá

 

    Qua giám định 56 loài cá thuộc 7 bộ, 20 họ và 44 giống. Trong đó bộ cá chép chiếm ưu thế (26 loài) chiếm 46,9 % trong tổng số loài, tiếp đến là bộ cá vược 26 loài (47 %) các bộ còn lại chỉ có 1 - 2 loài.    

    Trong 56 loài có 44 loài có nguồn gốc cá nước ngọt, 11 loài có nguồn gốc biển có mặt thường xuyên trong các thủy vực ven biển đôi khi xâm nhập khá sâu vào nội địa.

    Vùng phân bố cá chia thành 2 nhóm đặc trưng cho 2 vùng sinh thái của tỉnh: miền núi và đồng bằng. Một số loài có tính phân bố rộng làm phong phú thêm tính đa dạng của các nhóm cá.

    Thành phần các loài cá trong các thủy vực mang tính chất khu hệ cá nhiệt đới gió mùa: kích thước nhỏ, phát dục sớm, sự phân bố cao, sinh trưởng nhanh, tuổi thọ thấp, ăn tạp thiên về thực vật. Phân tích cấu trúc thành phần loài và đặc tính phân bố của các cá thể sơ bộ nhận thấy khu hệ cá nội địa tỉnh Bình Định là ranh giới khu hệ cá miền Bắc và miền nam Việt Nam, thiên về khu hệ phía Nam nhiều hơn.

    Trong khu hệ cá có 18 loài cá kinh tế như cá trê, cá tràu, cá mè, các diếc, cá lác, các vược, cá đối nhưng nhiều nhất vẫn là thuộc họ cá chép, các loài này có nguồn gốc địa phương và nhập nội như: mè hoa, mè trắng, trắm cỏ, rô phi và được tạo thành đàn cá nuôi rộng rãi trong toàn tỉnh.

   

5. Nguồn lợi trong các đầm nước lợ và vùng triều ven biển

huyện Phù Mỹ

 

        a. Đặc điểm thành phần loài:

    Tại vùng triều ven biển Phù Mỹ đã thu được 63 loài rong, trong đó có vùng nước lợ có 26 loài, vùng bãi triều có 37 loài thuộc 4 ngành:

    - Rong lam (Cyanophyta)                     : gồm 9 loài

    - Rong lục (Chlorophyta)                     : gồm 28 loài

    - Rong nâu (Phacophyta)                      : gồm 9 loài

    - Rong đỏ (Rhidophyta)                       : gồm 13 loài

    4 loài thủy sinh bậc cao thuộc ngành hạt kín Angiospermae.

    Trong 63 loài, có 2 loài phân bố chung ở cả 2 dạng thủy vực nước lợ và bãi triều đó là Enteromorpha intertinalis và Enteromorpha flexuosa. Rong lam chỉ gặp ở vùng nước lợ, các loài rong đều có nguồn gốc rong địa phương. Khu hệ rong mang tính nhiệt đới rõ rệt.

    Đặc tính phân bố theo thời gian và theo dạng đáy thủy vực các loài rong xuất hiện sau tháng 1 tăng dần đến tháng 5. Thành phần giống loài xuất hiện cao nhất vào tháng 4 (53 loài) và tháng 5 (49 loài), thấp nhất vào tháng 12 (18 loài). Từ tháng 2 đến tháng 4 thành phần giống loài tăng đột ngột. Các loài rong phân bố phong phú nhất là dạng đáy đá, tiếp đến là cát bùn và cuối cùng là cát đơn thuần.

    Rong thường gặp ở đáy cát - bùn đặc trưng cho vùng nước lợ: Enteronurpha, Gracilaria verrucosa; Clodophora; Chactomorpha, Ectocarpus v.v. ở dạng đáy đá có các loài Porphyra vietnamensis, Sargassum, Padina (rong mơ) thường phân bố ở vùng bãi triều.

        b. Đặc điểm sinh khối:

    - Rong mứt đạt sinh lượng cao 87g/m2, xuất hiện nhiều ở tháng 12, tàn lụi vào tháng 1 năm sau (16g/m2). Trung bình đạt 31,50g/m2.

    - Rong mơ sinh lượng cao nhất đạt 1.655g/m2 vào tháng 5, trung bình đạt 742,6 g/m2.

    - Rong câu chỉ vàng (nước lợ) đạt 125g/m2 (tháng 5) thấp nhất tháng 12 (35g/m2). Trung bình đạt 78,08 g/m2.

    - Những loài thuộc giống Enteromorpha phân bố trong các thủy vực nước lợ đạt sinh lượng cao vào tháng 5 (116g/m2). Thấp nhất vào tháng 1 (21g/m2). Trung bình đạt 76,60g/m2.

    - Một số loài có giá trị kinh tế: Gracilaria verucosa, Entermorpha sagassum, Porphyta vietnamensis. Mùa vụ các đối tượng trên từ tháng 4 đến tháng 5 hàng năm.

 

B. KHU HỆ SINH VẬT CÁC VỰC NƯỚC LỢ VEN BIỂN

 

    Khu dạng sinh vật ở vùng triều cửa sông và dạng đất mặn sú vẹt Khu dạng sinh vật này chiếm khoảng 0,3% diện tích tự nhiên của tỉnh bao trùm hầu hết diện tích vùng triều ven biển của tỉnh Bình Định và được hình thành do sự lắng đọng của các quá trình phù sa sông, biển hỗn hợp. Khu vực đầm Thị Nại và vùng biển Quy Nhơn là điển hình cho hệ sinh vật này.

    Chất đáy ở đây đa dạng gồm: cát- bùn, bùn-cát và bùn mềm, ít gặp dạng cát thuần và không có dạng đáy đá. Rừng ngập mặn ở đây chủ yếu là các loài sú ,vẹt, đước và đây là mái nhà của loài thủy sinh tôm, cá. Rừng ngập mặn trong nhiều năm bị tàn phá nghiêm trọng làm phá vỡ cân bằng sinh thái, kéo theo sự sa mạc hóa vùng triều và cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.

    Quan trọng nhất là đầm Thị Nại và vịnh Quy Nhơn.

 

1. Đầm Thị Nại:

 

    Đầm Thị Nại nối liền với vịnh Quy Nhơn, diện tích biến thiên mạnh từ 3.200 ha (lúc triều xuống) đến 5.000 ha (lúc triều lên), chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, lượng mưa trung bình 1.500 mm/ năm, mang tính nước lợ đặc trưng. Nguồn lợi thủy sản của đầm phong phú, đa dạng. Đầm đã được khảo sát qui mô cho nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản.

        a. Thủy sinh vật:

    * Thực vật nổi:

    Ở đầm Thị Nại có 85 loài thực vật nổi thuộc 54 giống, 25 họ, 5 ngành, trong đó khuê tảo (Bacilariophyta) có 40 giống, chiếm 75% bình quân định lượng thực vật phù du qua các thời kỳ đạt 65,47 triệu tế bào/m3.

    * Động vật nổi:

    Có 64 loài, trong đó họ Copepoda có 46 loài, họ Cladocera có 3 loài, họ Am có 2 loài, ấu trùng phù du có 6 loài, các loại khác có 7 loài. Định lượng trung bình đạt được 76.356 cá thể/m3.

    * Động vật đáy:

    Có 181 loài nằm trong 4 ngành: chân bụng, chân đốt, giun, động vật thân mềm, xoang tràng. Ở vùng nước có nồng độ muối từ 17 - 20%, đáy cát bùn có 142 cá thể/m2 và 8,01g/m2. Ở vùng nước có nồng độ muối cao, đáy bùn có 41 cá thể/m2 và 1,39g/m2.

    Nhìn chung phù du sinh vật phát triển tốt ở vùng thượng đầm và ven bãi triều, đặc biệt là khuê tảo, điều này phù hợp với sự hình thành bãi tôm giống ở vùng này.

        b. Rong và thực vật bậc cao:

    Có 136 loài, 38họ, 59 giống thuộc 4 ngành rong (Cyanophyta, Chlorophyta, Phacophyta, Rhidophyta) và một ngành thực vật bậc cao (Angiospermae). Rong trong đầm phát triển và tàn lụi không rõ rệt, thường kéo dài thời gian sinh trưởng, tốt nhất từ tháng 3 - 5; đáng chú ý có 3 loại rong sau đây:

    * Rong câu chỉ vàng (Gracilaria verucosa) phân bố nhiều ở khu vực cồn Chim trên diện tích 345.000m2, sinh lượng trung bình từ 214,2g/m2 đến 229,2g/m2, có thể thu được 76,6 tấn tươi trong mỗi đợt; sinh lượng cao nhất vào tháng 5 là 3.662g/m2.

    * Rong bún (Entromorphyta) loại này phát triển quanh năm, dễ khai thác, sinh trưởng nhiều ở vùng rong rêu, sinh lượng bình quân đạt 283g/ m2, có thể thu 102 tấn tươi/đợt. Loài này dùng để chăn nuôi hay làm thức ăn cho cá rất tốt.

    * Rong hẹ (Diplanthera uniensis) phân bố trên diện tích 6.326.000 m2, có sinh lượng 736,5g/m2.

    Rong biển của đầm Thị Nại mang tính chất khu hệ rong miền nhiệt đới, có trữ lượng cao, phong phú về giống loài, nhiều loài có giá trị kinh tế phục vụ cho xuất khẩu, công nghiệp và chăn nuôi.

        c. Động vật thân mềm:

    Có 100 loài thuộc 67 giống, 43 họ, 8 bộ nằm trong 2 lớp Gastropoda và Bivalvia, sinh lượng động vật thân mềm ở vùng ngập: 493 cá thể/m2, sinh lượng 83- 87g/m2, vùng triều 273 cá thể/m2, 219,79g/m2. Một số loài có giá trị kinh tế như:

    - Vẹm vỏ xanh (Mitilus smaragdinus) phân bố vùng giữa đầm mật độ 93 cá thể/m2, sinh lượng 810 g/m2.

    - Phi (Sanguinolaria minis) phân bố nhiều ở giữa đầm, mật độ bình quân 5 cá thể/m2, sinh lượng 21,5g/m2.

    - Ngao (Meretrix meretrix) phân bố rộng.

    - Xút (Anomalocarolia plesuosa) ở vùng trung và hạ triều, mật độ 7 cá thể/m2, sinh lượng 68,8g/m2.

    - Điệp (placuma placenta) mật độ 3 cá thể/m2, sinh lượng 26,6 g/m2.

    Mùa vụ khai thác động vật thân mềm ở đầm Thị Nại từ tháng 3 - 9, tuy nhiên, dân địa phương khai thác quanh năm.

        d. Khu hệ cá:

    Có 116 loài gồm 86 giống, 64 họ, thuộc 15 bộ vừa cá nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Trong số này có 25 loài cá có giá trị kinh tế, chú ý một số loại cá sau: cá đối (Mugil cephalus), cá Dìa (Siganus guttatus), cá măng (Chanos chanos), cá hồng (Lutianus suselli). Các loại này khai thác được trong đầm và có thể nuôi trong ao.

    Cấu trúc thành phần loài: bộ cá trích chiếm ưu thế, tiếp đến là bộ cá đối, bộ cá chép, bộ cá bơn và cá nóc.

        đ. Khu hệ tôm:

    Đầm Thị Nại có 14 loài tôm, nằm trong 11 giống, 4 họ, 2 bộ, trong đó có 3 loại có giá trị kinh tế, chiếm sản lượng cao, kích thước lớn như tôm Sú, tôm Bạc, tôm Đất:

    * Tôm Sú (Penaeus monodon) chiếm 30 % sản lượng tôm trong đầm Thị Nại. Nghề nuôi tôm Sú đã trở thành truyền thống của nhân dân quanh vùng.

    * Tôm Bạc (Penaeus merguiensis) chiếm sản lượng lớn ở đầm Thị Nại, nuôi được trong ao và khai thác ở đầm.Tôm giống xuất hiện quanh năm, tập trung 2 vụ chính từ tháng 2 - 4 và từ tháng 7 - 9.

    * Tôm Rảo (Metapenaeus ensis) chiếm trên 40 % sản lượng. Tôm là đối tượng chiếm sản lượng lớn ở đầm Thị Nại, có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao.

   

2. Vịnh Quy Nhơn

 

    Vịnh Quy Nhơn có chất đáy thuộc dạng cát, cát - bùn, bùn - cát, bùn. Vùng thượng lưu do ảnh hưởng của các sông ngòi đổ vào nên nồng độ muối thấp (vùng nhạt muối). Vùng cửa vịnh tiếp giáp với biển, nồng độ muối cao tương đương với nồng độ muối của biển.

        a. Động vật thân mềm:

    * Đặc điểm thành phần loài:

    Vịnh Quy Nhơn có đặc tính khu hệ nước lợ, thành phần giống loài nghèo nàn. 80 loài thích ứng ở nồng độ muối thấp, rất ít giống loài sống ở nồng độ muối cao. Thành phần loài không phức tạp, tập trung trong một số bộ, họ nhất định thuộc 2 lớp Gastropoda và Bivalvia, 31 họ, 7 bộ.

    - Gastropoda tập trung ở họ Potamuidae.

    - Bivalvia tập trung ở họ Veneridae.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    Sinh vật lượng tại đây có sinh lượng lớn, mật độ phân bố trung bình 784,04 cá thể/m2, khối lượng bình quân 76,89g/m2.

- Sinh lượng lớp Gastropoda (2,76 - 112,57 cá thể/m2; 7,25 - 115,19 g/m2) ổn định hơn lớp Bivalvia (6,55 - 4.049 cá thể/m2, 3,28 - 112,34g/m2). Phân bố và biến động phân bố sinh vật lượng phụ thuộc vào môi trường chất đáy, nồng độ muối, v.v. Biến động sinh lượng ở bãi triều nhỏ hơn trong toàn bộ vịnh. Trung bình ở bãi triều mật độ đạt 205,04 cá thể/m2, sinh lượng 149,59g/m2. Vùng ngập 784,57 cá thể/m2, 76,85g/m2.

    * Một số loài có giá trị kinh tế:

    - Sò huyết (Aria granosa Line).

    - Điệp (placuma placenta).

    - Móng tay (Solen grandis Dunker).

    - Ngao (Meretrix meretrix).

    - Xút (Anomalocarolia plesuosa).

    - Phi (Sanguinolaria minis).

    - Dọp (Cynema sumetrensis).

        c. Động vật đáy: (trừ động vật thân mềm):

    * Đặc điểm thành phần loài:

    Vừa mang tính chất khu hệ nước lợ nghèo về thành phần giống loài, giàu sinh lượng, vừa mang tính chất khu hệ nước biển giàu thành phần giống loài nhưng nghèo về sinh lượng. Kết quả thu được 78 giống loài, trong đó có 10 loài thuộc 5 giống có giá trị kinh tế.

    Các giống loài thuộc 3 ngành chính: Chân đốt: (Anthropoda), ngành giun (Vernus), ngành xoang tràng (Coelenterata).

    Các loài phân bố rất đồng đều, hầu hết thuộc họ Penaeidae và portunidae. Các giống loài có giá trị kinh tế phân bố ở vùng ngập nước: Panaeus monodon, p.japonius, P. semisul catusportunus. Các giống loài trong họ Penaeidae, Portunidae phân bố trong nhiều rạn đáy.

    - Nhóm giáp xác chiếm ưu thế: 66 loài, 17 họ bộ Decapoda nhiều nhất 54 loài, tôm có 13 loài, số lượng một số loài rất lớn. Bộ Stomapoda có 4 loài, Amplipoda 2 giống, Isopoda rất ít. Các loài trong giống Penaeus là đối tượng nuôi và khai thác. Nhóm giáp xác phân bố không đều tập trung ở vùng nhạt muối và đáy bùn - cát, cát - bùn.

    - Nhóm giun nhiều tơ gồm có 9 giống loài, phân bố rộng ở các loại chất đáy bùn nhuyễn, cát bột, đá dăm, mật độ phân bố lớn nhất nhưng sinh lượng bé.

    * Đặc điểm sinh vật lượng:

    Cấu trúc sinh vật lượng:

    - Giáp xác đạt 137 g/m2 chiếm 47,73%.

    - Giun nhiều tơ đạt 1,36 g/m2 chiếm 47,39%.

    - Xoang tràng đạt 0,1 g/m2 chiếm 3,48%.

    - Da gai đạt 0,05 g/m2 chiếm 1,4%.

    Trọng lượng bình quân lớn nhất là vùng nước lợ. Riêng nhóm giáp xác, mật độ bình quân đạt 31,48 con/m2 chiếm 41,08 %. Bộ Copepoda chiếm ưu thế cả về mật độ lẫn trọng lượng, tiếp đến là Amphipoda rồi đến Stomatopoda và cuối cùng là Isopoda.

    Sinh vật lượng động vật đáy biến động theo môi trường, dạng đáy, độ sâu. Giữa vùng triều và vùng ngập nước có mối quan hệ tỷ lệ nghịch do sự di chuyển của các cá thể. Càng đi xa cửa vịnh nồng độ muối giảm dần thành phần giống loài giảm, sinh lượng tăng.

   

C. KHU HỆ SINH VẬT VÀ NGUỒN LỢI SINH VẬT VÙNG BIỂN

BÌNH ĐỊNH (7 - 140N Và 105 - 1100E)

 

1. Thực vật nổi

 

        a. Đặc điểm thành phần loài:

    Thành phần loài đã xác định được 220 loài thực vật nổi phân theo các nhóm như sau:

    - Tảo Silic (Bacillriophyta) có 170 loài.

    - Tảo giáp (Pyrrophyta) 48 loài.

    - Tảo lam (Cyanophyta) có 2 loài.

    Trong các loài đã giám định có 10 loài mới tìm thấy ở Việt Nam.

    Về cấu trúc thành phần loài thực vật nổi có thể phân biệt các nhóm loài sau:

    * Nhóm loài biển khơi:

    Phân bố chủ yếu ở vùng biển Đà Nẵng, Nha Trang và ở vùng giao lưu khối nước biển khơi và ven bờ. Trong số này có thể kể: Chaetoceros peruvianus, Rhijosa lenia rolusta, Planktoniella sol, clinmeadium frauen feldianum v.v.

    * Nhóm loài nước nhạt ven bờ:

    Tập trung nhiều ở vùng cửa sông, khu vực ven bờ có vai trò quan trọng trong sinh vật lượng thực vật nổi khu vực ven bờ như các loài Thalassic thrit fruenfelolic, Hemiaulus sinensis, Rhijosolenia alata f.indica,

Chaetocerus compressus ..

    Trong thành phần loài thực vật nổi chiếm phần lớn là các loài thích ứng rộng nhiệt, muối phân bố khắp trong vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Tây Thái Bình Dương. Các loài thích ứng hẹp muối ưa sống ở điều kiện nhiệt độ, độ mặn cao và ổn định, chiếm tỷ lệ nhỏ ở đây. Mặt khác không thấy các loài đặc trưng cho vùng nước ấm ôn đới, cận nhiệt đới ở tầng nước mặt (0 - 100 m) mà chỉ mới phát hiện thấy một loài này ở tầng nước sâu trên 300 m, có nhiệt độ 8 - 12oC ở khu biển phía Bắc vùng nghiên cứu trong vụ Xuân (tháng 4/1981). So với các vùng biển kế cận và vịnh Bắc bộ, sơ bộ có thể thấy thành phần loài vùng biển này gần với thành phần loài vịnh Bắc bộ và cả với thành phần vùng biển Nam Trung Quốc, Nam Nhật Bản nhất là thành phần loài trong mùa đông. Không thấy các loài đặc trưng cho vùng ôn đới các loài nước nhạt ven bờ kém ưu thế, mặt khác lại có nhiều hơn các loài biển khơi nhiệt đới, các loài biển sâu.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    Thực vật nổi tại các trạm điều tra có thể đạt tới 10ml/m3, song bình quân cho toàn vùng đạt trong khoảng 1,5ml/m3 (tháng 1/1980) đến 4,5 ml/m3 (tháng 9/1978), trung bình đạt 2,56ml/m3 với độ chênh lệch sinh vật bình quân giữa các tháng không lớn. Tại dải ven bờ gần cửa sông, sinh vật lượng cao nhất có thể đạt tới 26,3ml/m3 (tháng 8/1980) - gấp 16 lần so với tháng có số lượng thấp nhất 1,6ml/m3 (tháng 4/1979).Số lượng tế bào bình quân vùng ven bờ có thể đạt tới 0,5 - 6,3.106 tế bào/m3. Nhìn chung, sinh vật lượng thực vật nổi có xu thế giảm dần từ bờ ra khơi, biến động theo mùa thường cao về mùa mưa, giảm về mùa khô.

 

2. Động vật nổi

 

    Bước đầu đã xác định được 212 loài, 8 giống phân theo các nhóm như sau:

    - Thủy mẫu (Hydromedusse)                     : 40 loài

    - Sứa ống (Siphonophosa)                          : 10 loài

    - Chân cảnh (Preropoda) và

    - Chân khúc (Heteropoda)                          : 13 loài

    - Râu nhánh (Cladocera)                             : 4 loài

    - Có vỏ (Ostracoda)                                    : 3 loài

    - Chân mái chèo (Copepoda)                      : 127 loài

    - Tôm Quý (Luciper)                                   : 4 loài

    - Tôm Lân (Suphasiaces)                             : 13 loài

    - Hàm tơ (Chaetognatha)                             : 13 loài

    - Có bao (Tunicata)                                      : 14 loài

Trong các loài tôm có 18 loài mới tìm thấy.

        a. Tính chất thành phần loài:

    Thực vật nổi ở vùng biển Bình Định có thành phần loài đa dạng và phức tạp, so với vịnh Bắc Bộ phong phú hơn, do có thêm nhiều loài biển khơi điển hình và biển sâu. Động vật nổi sống ở vùng biển này là nhiệt đới rộng sinh cảnh, thích nghi được với biên độ biến đổi lớn về nhiệt độ cũng như về độ muối. Không có những loài chiếm ưu thế tuyệt đối mà chỉ có một số loài có số lượng tương đối nhiều như Eucalanus subcrassus, Undinula vulgarus, Canthocalanus pauper, Euchaeta concinna, Sagitta enflata.

    Về cấu trúc thành phần loài có thể phân ra:

    * Nhóm loài biển khơi: chiếm 71% tổng số loài, phạm vi phân bố chủ yếu ở vùng biển phía Bắc (Đà Nẵng - Nha Trang) ngoài khơi hoặc vùng biển sâu trên 300 m. Những loài biển khơi điển hình đều có số lượng rất ít và không thường xuyên xuất hiện như: Neocalnus sobustior, N.longiiornis, Eucalanuselongatus, Gaetanus miles, Pleuoromanma xiphias v.v. còn lại phần lớn là những là những loài biển khơi phân bố rộng (chiếm 35 %) trong tổng số loài, có nhiều loài chiếm ưu thế về số lượng.

    * Nhóm nước nhạt ven bờ: chiếm 22 % trong tổng số loài, thành phần loài và số lượng ít. Loài nước nhạt phân bố rộng, có khả năng thích ứng độ muối cao từ 25 - 33 ‰. Một số loài có số lượng tương đối lớn như: Centropages furcatus, Temosa discaudata, Calanopia elliptica, Penilia avirostris v.v.

    * Nhóm loài nước lợ: chiếm 71 % trong tổng số loài xuất hiện ở gần vùng cửa sông và có số loài cũng như số lượng đều rất ít như Sochamackerria speriosus, Sdubia, A.cartia biflosa v.v.

    Thành phần loài chân mái chèo (Copepoda): 127 loài, trong đó có 50 loài nhiệt đới điển hình (chiếm 40%); 30 loài phân bố từ nhiệt đới đến á nhiệt đới (chiếm 24%), 45 loài phân bố từ nhiệt đới đến ôn đới (chiếm 35%). Ngoài ra một số loài ôn đới sống ở tầng nước sâu trên 300m với nhiệt độ 8 - 12oC.

        b. Đặc điểm sinh vật lượng:

    Sinh vật lượng khá thấp trong toàn vùng, bình quân đạt 30 mg/m3. Tháng có sinh vật lượng cao nhất là tháng 11 và 12 (45,2 mg/m3). Tháng có sinh vật lượng thấp nhất là tháng 4 và 5 (21 mg/m3). Sự chênh lệch giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất không cao (2,1 lần). Nhìn chung biến động sinh vật lượng tương đối ổn định. Nếu dựa trên sinh vật lượng động vật phù du là thức ăn cho các loài cá nổi mà đánh giá thì thấy cơ sở thức ăn của cá nổi trong vùng biển này không phong phú. Riêng chân mái chèo (Copepoda) phân bố ở vùng nước hỗn hợp giữa hai khối nước biển khơi và nước nhạt ven bờ đạt số lượng rất cao là 50 con/m3. Bình quân cho toàn vùng 30 con/m3; cao nhất là tháng 12(54 con/m3), thấp nhất tháng 5 (15 con/m3).

    Nghiên cứu hiện tượng di động thẳng đứng ngày đêm của động vật nổi cho thấy: ban ngày xuống sâu, ban đêm lên tầng mặt. Sinh vật lượng động vật nổi cũng biến thiên theo qui luật giảm dần từ bờ ra khơi và thường cao về mùa mưa, giảm về mùa khô.

 

3. Nguồn lợi cá nổi

 

    a. Khu hệ cá:

    Bước đầu đã xác định được 467 loài trong 282 giống và 130 họ cá, đã bổ sung được 59 loài (12,4%), 9 họ cho đến nay chưa tìm thấy ở biển nước ta, trong đó có loài cá cổ, hiếm chỉ thấy ở vùng biển sâu như loài cá toàn đầu Chimaeraphantarma.

    Trong thành phần khu hệ cá, số loài cá đáy và gần đáy (70,14%) chiếm ưu thế so với các loài cá nổi (27,73%), đồng thời các loại cá gần bờ (67,63%) nhiều hơn các loài cá biển khơi (24%). Trong số đó loài cá gần bờ của cá đáy nhiều hơn so với cá nổi, ở cá đáy chiếm 51,87%, còn ở các nổi chiếm 15,96%.

    Các loài cá biển miền Nam nước ta có phạm vi phân bố rộng, có thành phần và nguồn gốc rất gần với khu biển lân cận. Trong các loài cá đã xác định được, có 74,34% số loài sống ở Vịnh Bắc bộ, 71,61% số loài sống ở Tây Bắc biển Đông, 57,54% số loài có ở Philippin. Mức độ khác biệt so với khu vực khác nhiều hơn, như chỉ có 43,68% ở Malayxia, 42,42 % ở Xri Lanca và 44,39% ở Nhật Bản.

    b. Đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nổi:

    Khu biển từ Nghĩa Bình cũ đến Minh Hải cũ ước tính khả năng khai thác cá nổi là 209.630 tấn.

    c. Cấu trúc thành phần, phân bố và quan hệ của cá nổi với các nhân tố môi trường:

Trong vùng biển nghiên cứu (Nghĩa Bình cũ và Minh Hải cũ) có khoảng 100 loài cá có giá trị kinh tế. Thành phần cá sống ở tầng đáy và tầng giữa đáy bằng lưới kéo, tầng giữa chủ yếu là cá nục sò 14,8%, cá bạc má 7,3%, cá mòi vạch 3%, cá nhồng đen 1%, cá trích tròn 0,8%, cá thu vạch 0,8%.

    Thành phần cá sống ở tầng đáy đánh được bằng lưới kéo đáy là: cá nục sò 13,8%, cá hố 6%, cá chỉ vàng 4,8%, cá trác ngắn 2,4%, cá nhồng đen 2%, cá bạc má 1,6%, cá mối vạch 1,99%, cá hồng 1,6%, cá trác 1,6%, cá nục chuối 1,1%, cá thu vạch 0,8%, cá mối thường 0,8%, cá nhồng vàng 0,6%, cá phèn khôi 0,5%, cá phèn hai sọc 0,5%. Mật độ tập trung cá cao nhất là từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Vùng ven bờ do ảnh hưởng của khối nước ngọt ven bờ lớn, cá ít tập trung. Tại khu vực biển sâu ở miền Trung hoặc xa bờ ở miền Nam, trong cả hai mùa đều không thấy hình thành các khu cá tập trung. Thành phần cá trên đây đặc trưng chủ yếu cho vùng gần bờ. Ở vùng biển Nghĩa Bình cũ và Minh Hải cũ hầu như quanh năm đều có cá đẻ, tháng nào cũng vớt được trứng cá, cá bột của nhiều họ cá, trong đó có các họ có ý nghĩa kinh tế như cá nục, cá trích, cá cơm, cá mối, cá liệt, cá trác, cá ngừ. Theo mùa vụ đẻ của cá có thể phân ra 2 loại:

    - Các loài cá đại dương di cư đi đẻ như cá ngừ, cá chuồn thường có mùa đẻ tập trung vào tháng 4 - 9 ở vùng gần bờ Nghĩa Bình cũ, Phú Khánh.

    - Hầu hết các loài cá sống gần bờ như cá nục, cá trích, cá mối v.v. đều đẻ rải rác từ tháng 2 - 3 và có thể kéo dài đến tháng 10 - 11.

    Vùng biển phía bắc từ Nghĩa Bình cũ - Phú Khánh cũ và xa bờ thường vớt được ít trứng cá và cá bột. Mật độ phân bố của trứng cá, cá bột trong từng tháng của một năm không có sự biến động lớn, xu thế là mùa mưa có số lượng nhiều hơn mùa khô, nhưng sự khác nhau giữa các tháng không lớn.

        d. Tập tính phân bố:

    Chúng ta đã xác định được 7 dạng phân bố của cá là: rải rác, đàn nhỏ, đàn vừa, đàn lớn, lớp cá nhỏ, lớp cá ban đêm và đàn cá sát đáy. Các đàn cá nhỏ chiếm tỷ lệ tới 81,2%, các đàn cá vừa chiếm 15%, các đàn lớn rất ít, vào mùa gió Đông Bắc các đàn cá xuất hiện nhiều hơn thời kỳ gió mùa Tây Nam (trung bình gấp 2,4 lần).

    Các đàn cá phân bố nhiều ở các khu vực nước nông, ra xa bờ càng ít đàn cá. Khu vực độ sâu 21 - 50m nhiều đàn cá nhất chiếm 57%, khu vực dưới 20m chiếm 16,3% và khu vực 51 - 100m chiếm 23,5%.

    Các đàn cá phân bố thẳng đứng chủ yếu ở tầng đáy (50%). Sau đó là tầng gần đáy (18%), tầng giữa chỉ có 15,3%. Tuy nhiên ở các vùng nước sâu đàn cá lại tập trung ở tầng mặt, tầng đáy rất ít. Ban ngày cá tập trung thành đàn nhiều hơn ban đêm, trung bình trong khu biển ban ngày số đàn chiếm 77,6% tổng số đàn, còn ban đêm chỉ có 22,4 %. Hiện tượng di cư thẳng đứng ngày đêm đã quan sát thấy rõ ở vùng cá tập trung ở biển Việt Nam vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc ở một số loài cá kinh tế.

   

4. Nguồn lợi mực

 

    Có 23 loài mực thuộc 3 họ, 6 giống trong đó có 12 loài chưa được công bố ở Việt Nam. Những loài phổ biến và có giá trị kinh tế là Ioligo formosme, L. edulis, Sepioteu - this lessoniana, sepia tigris. Khu vực có độ sâu 15 - 20 m là nơi các loài mực tập trung nhiều hơn cả. Tỷ lệ mực/ cá trong sản lượng lưới kéo đáy trung bình là 4,5%, tháng cao nhất đạt 19,4%. Tỷ lệ đó đối với lưới kéo tầng giữa là 1%, cao nhất đạt 13,8%. Thời gian đánh bắt mực đạt sản lượng cao là từ tháng 5 - 10 trong đó các tháng 7, 8, 9 đạt sản lượng cao nhất.

    Mực ống luôn chiếm sản lượng cao hơn mực nang, trung bình gấp 3 lần, trong các loài mực ống thì loài L.formosana chiếm nhiều nhất. Mùa vụ khai thác mực ống chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 12, còn mực nang từ tháng 1 - 3.

 

5. Nguồn lợi tôm hùm

 

        a. Thành phần tôm phân bố:

    Tôm hùm ở Bình Định chủ yếu thuộc giống Panulirus, có 7 loài sau:

    - P. homatus (tôm hùm đá).

    - P.longiper (tôm hùm đỏ).

    - P. stimpsoni (tôm hùm sỏi)

    - P. ornatus (tôm hùm bông).

    - P. versicolor (tôm hùm vằn).

    - P. penicillatus (tôm hùm ma).

    Tôm hùm phân bố ở độ sâu không lớn (nhỏ hơn 250m) trên hai dạng địa hình:

    - Dạng rạn nghềnh: có các độ sâu khác nhau. Ở chân núi độ sâu nhỏ hơn 10 m, chân đảo có độ sâu 20 - 30m, có nơi sâu 40m. Chiều dài rạn gềnh Bình Định là 45km.

    - Dạng rạn líp: là các dải đá ngầm nằm cách biệt với bờ bởi cát hay các chân núi kéo dài ra ngoài khơi. Độ sâu từ 20 - 50 m.

    b. Cấu trúc thành phần loài và sinh lượng:

    Loài P.longiper chiếm tỷ lệ cao nhất (44,5%) tiếp đến là loài P.homatus rồi đến loài P.stimproni (5,2%).

    Loài P.ornatus phân bố ở các chân đảo xa nằm lẻ loi ngoài khơi Hòn Khô, Hòn Đất ở Vịnh Quy Nhơn . Mật độ phân bố trung bình 1 cá thể/3,5 m. Ước tính trữ lượng 131,5 tấn. Mùa vụ đánh bắt quanh năm, tập trung nhất vào tháng 3 đến tháng 6. Cỡ tôm khai thác trung bình 0,2 kg/cá thể.

   

6. Nguồn lợi rong biển

 

        a. Thành phần loài và phân bố:

    Rong biển vùng biển Bình Định phong phú về thành phần loài, đại diện đầy đủ cho 4 ngành:

    - Rong đỏ (Rhodophyta).

    - Rong lục (Chlorophyta).

    - Rong lam (Cyanophyta).

    - Rong nâu (Phacophyta).

    Đa số loài mang tính chất nhiệt đới và á nhiệt đới nên có thể nói khu hệ rong Bình Định mang tính chất khu hệ nhiệt đới đặc trưng.

    Phần lớn các loài tập trung phân bố chủ yếu ở vùng trung triều (186 loài, chiếm 58,68 % tổng số loài); ở đây rong phát triển mạnh, đủ 4 ngành với số lượng tương đương nhau. Các loài thường gặp là Entromorpha flexuosa, E.salfsii,Ulva papenfussic, Chactomorpha, Cladophora socialis v.v.

    Vùng cao triều, rong phân bố ít (29 loài, chiếm 9,17 % tổng số loài) thường gặp các loài: Chatomorpha antennina, Ulvaunglobata, neomeris anulata v.v.

    Vùng hạ triều và phần trên tầng dưới triều chủ yếu gặp 3 ngành rong đỏ và rong nâu. Rong đỏ chiếm 40,5%, rong lục chiếm 24,65%, rong nâu chiếm 21,20% và rong lam chiếm 7,58%.

        b. Sinh vật lượng:

    Sinh lượng rong biển Nghĩa Bình (cũ) đạt 762g/m2, trữ lượng 80 tấn. Mùa vụ sinh học từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau.

 

7. Nguồn lợi chim yến

 

    Ở ven biển và các hải đảo miền Trung có hai loài chim yến làm tổ là: Chim yến hàng (Colloralir fucifaga germaim) làm tổ ăn được và chim yến núi (C. lrevirostris innominata) làm tổ không ăn được.

    - Chim yến hàng chủ yếu là ăn các côn trùng có kích thước nhỏ (99%). Chim non ở tổ được mớm chủ yếu là bọ rầy (50,5%) và ruồi muỗi (20,5%). Hầu như không có sự khác biệt về thành phần và tỷ lệ các loại thức ăn theo tháng, theo giống. Chim yến thường làm tổ từ cuối tháng 11 và có khả năng làm tới tháng 6 năm sau. Chúng bắt đầu đẻ trứng vào tháng 4, thời gian đẻ kéo dài 1 tháng. Chim cái đẻ trứng từ 24 giờ đêm đến 4 giờ sáng, mỗi lần đẻ 2 trứng. Thời gian ấp trứng khoảng 19 - 24 ngày, trung bình là 20 ngày. Cả con đực và con cái cùng ấp. Tỷ lệ trứng nở là 80,5%, tỷ lệ sống của chim non là 69,4%. Thời gian rời tổ của chim non tùy thuộc vào kiểu sinh trưởng, thay đổi trong khoảng từ 39 - 48 ngày.

    Phân tích thành phần hóa học của tổ chim yến hàng cho thấy hàm lượng nước và hàm lượng khoáng hầu như không thay đổi theo kỳ khai thác tổ trong năm (2 kỳ/năm) và theo loại tổ (đỏ, hồng và trắng), trong khi đó hàm lượng protein và lipit lại biến đổi khá rõ rệt. Các tổ khai thác ở kỳ I trong năm (dài khoảng 4 tháng) có hàm lượng lipit thấp nhưng lại có hàm lượng protein cao hơn các tổ khai thác ở kỳ II (chim làm tổ trong khoảng từ 20 - 30 ngày). Hàm lượng protein và các nguyên tố kim loại của tổ màu đỏ (yến huyết) cao nhất, thấp nhất là tổ màu trắng.

    Ở Bình Định, mỗi năm khai thác tổ 3 kỳ và 4 năm mới để chim sinh sản bình thường một lần. Tốc độ tăng của tổ yến Bình Định yếu hơn của Khánh Hòa.

    Tình hình khai thác tổ yến đặt ra vấn đề là: điều chỉnh nhịp điệu khai thác cho phù hợp với đặc điểm sinh học của chim để bảo vệ nguồn lợi, nghiên cứu, khôi phục đàn yến ở các đảo có điều kiện sinh thái thích hợp với chim yến, bảo vệ các hang yến khỏi bị sóng cuốn trôi tổ yến, đồng thời cần nghiên cứu đầy đủ hơn thành phần hóa học và tính chất hoạt tính sinh học chứa trong các loại tổ yến khác nhau để xác định giá trị từng loại sản phẩm, cũng như cơ chế tạo các tổ yến đỏ là loại tổ có giá trị thương phẩm cao hơn nhiều so với các loại tổ khác.

 

D. NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

 

Diện tích mặt nước tự nhiên: 3.132ha.

 

1. Nghề nuôi cá nước ngọt

 

    Từ năm 1981, diện tích mặt nước sử dụng để nuôi cá nước ngọt là 926ha, tổng sản lượng khoảng 50tấn/năm. Đàn cá tự nhiên ở các thủy vực nước ngọt: chép, diếc, trê, cá rô đồng, thát lát, bống v.v.

        a. Đối tượng cá nuôi:

    Bao gồm: mè hoa, mè trắng, trắm cỏ, rô phi, cá trôi, cá chép v.v. Trong cơ cấu đàn nuôi, lấy cá mè làm thành phần chính.

        b. Nguồn giống:

    Bao gồm nguồn giống tự nhiên và nhân tạo. Từ năm 1983 tỉnh đã sản xuất được giống cá trắm cỏ và mè hoa tại trại giống Mỹ Đức, cung cấp nguồn giống cho tỉnh Bình Định và các tỉnh lân cận. Để tăng sản lượng đàn cá nuôi, tỉnh đã kết hợp với Trường Đại học Thủy sản Nha Trang điều tra ký sinh trùng gây bệnh trên các đối tượng cá nước ngọt kinh tế để phòng, trị bệnh kịp thời. Bước đầu thu được kết quả như sau:

    - Thành phần giống loài ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở một số thủy vực của tỉnh Bình Định khá phong phú: 49 loài, 18 giống, 12 họ, 11 bộ, 7 lớp, 15 ngành. Trên một loài cá có nhiều loài ký sinh trùng ký sinh. Một số giống loài ký sinh trùng thuộc lớp Monogenoida có tính chọn lọc ký chủ rõ rệt, một số loài ký sinh mang tính chất rộng rãi.

    - Các loài cá nuôi ở giai đoạn phát triển khác nhau, thành phần giống loài và mức độ cảm nhiễm ký sinh trùng khác nhau. Cá hương trong ao nhiễm bệnh Trichodinoris với cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm cao.

 

2. Nghề nuôi tôm sú (nước lợ)

 

        a. Khu vực nuôi tôm sú:

    Tập trung chủ yếu ở vùng ven biển thành phủ Quy Nhơn , đặc biệt là đầm Thị Nại. Diện tích đầm là 819ha trong khi đó toàn tỉnh chỉ có 1.180 ha nước lợ (tính cả tỉnh Nghĩa Bình cũ). Đã qui hoạch ao nuôi khoảng 200ha để nuôi tôm sú. Sản lượng tôm nuôi hàng năm đạt được từ 70 - 80tấn. Tôm sú thường chiếm 25 - 30% lượng tôm nuôi.

        b. Nguồn giống:

    * Nguồn giống tự nhiên:

    Thu giống qua cửa cống theo biên độ thủy triều. Đối tượng giống chủ yếu là tôm sú (P.monodon), tôm bạc (P. merguiensis). Nguồn giống tự nhiên ở đầm Thị Nại xuất hiện quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào các tháng đông xuân. Ngoài ra còn có thể vớt giống ở các bãi triều như Cồn Chim, Hà Trường, Bãi Dài, chủ yếu là tôm sú vào các tháng từ 1 - 4 trong năm.

    * Nguồn giống nhân tạo:

    Vào những năm 1987 - 1990, trước nhu cầu gia tăng con giống và sự bùng nổ phong trào nuôi tôm ở các tỉnh ven biển miền Trung, tỉnh đã kết hợp với Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng nghiên cứu qui trình sản xuất tôm giống biển tại Quy Nhơn . Kết quả bước đầu đã đạt được khá nhiều thành công, trong đó quan trọng nhất là đã thiết lập được qui trình công nghệ sản xuất tôm giống biển bao gồm các bước từ việc cung cấp tôm mẹ, cho đẻ, ương nuôi ấu trùng cũng như các yếu tố kỹ thuật khống chế môi trường. Bên cạnh đó cũng đã xây dựng được các tiêu chuẩn kỹ thuật trong công nghệ sản xuất tôm giống như: tiêu chuẩn tôm mẹ, tiêu chuẩn nguồn nước, nhiệt độ, ánh sáng, cấp khí, tiêu chuẩn về trứng, ấu trùng, ương nuôi ấu trùng, tiêu chuẩn thức ăn, tiêu chuẩn trại sản xuất tôm giống. Trong năm 1990, trại giống Quy Nhơn đã sản xuất được hơn một triệu tôm giống cung cấp cho tỉnh nhà.

    Kỹ thuật nuôi tôm hiện nay chỉ đạt trình độ quảng canh, nguồn thức ăn sử dụng tự nhiên. Bởi vậy vấn đề phòng, chữa bệnh cho tôm chưa được đầu tư thích đáng đã dẫn đến hậu quả mất trắng cả vốn lẫn lời, năng suất thấp).

 

III. TÀI NGUYÊN THỰC VẬT

 

    Tài nguyên thực vật có một vị trí đáng kể trong nền kinh tế của Bình Định, bao gồm các loại cây nông nghiệp, công nghiệp và rừng. Trên cơ sở các tài liệu kiểm kê rừng tỉnh Bình Định năm 1992 và các tài liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 1993 của Đoàn điều tra - qui hoạch thiết kế nông lâm tỉnh Bình Định cho thấy như sau:

 

1. Về cây nông nghiệp và công nghiệp

 

        a. Cây lúa:

    Toàn tỉnh có 55.001 ha phần lớn phân bố tập trung ở các huyện: Phù Cát 9.504ha, Tuy Phước 8.389ha, Phù Mỹ 8.230ha, An Nhơn 7.722ha, Tây Sơn 6.233ha. Các huyện còn lại có diện tích trồng lúa từ 5.000ha trở xuống. Huyện có diện tích trồng lúa ít nhất là Vân Canh 786ha và Vĩnh Thạnh 892ha.

        b. Màu và cây công nghiệp ngắn ngày:

    Toàn tỉnh có 23.129 ha, trong đó đáng kể là Phù Mỹ 4.441ha, Tây Sơn 4.326ha, Hoài Nhơn 3.441ha, Phù Cát 3.418ha. Các huyện còn lại có diện tích cỡ từ xấp xỉ 1.000ha trở xuống, thấp nhất là Thành phố Quy Nhơn 549ha và huyện An Lão 354ha.

     c. Cây công nghiệp lâu năm:

    Toàn tỉnh có 11.178ha, chủ yếu tập trung vào các huyện Phù Cát 3.373ha, Hoài Nhơn 2.411ha, Phù Mỹ 1.618ha, Tây Sơn 1.177ha, các huyện còn lại có diện tích từ 400 ha đến vài chục ha như Vĩnh Thạnh

37ha.

    Nhìn chung toàn tỉnh trong diện tích trồng các loại cây nông nghiệp và công nghiệp, diện tích trồng lúa chiếm nhiều nhất 55.001ha, tiếp theo là diện tích trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày 23.129ha, trong khi đó diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm rất ít chỉ có 11.178ha.

    Rõ ràng với tỷ lệ cây trồng phân bố như trên cho thấy sự phát triển chậm chạp trong lĩnh vực cây công nghiệp dài ngày cũng như sự phát triển tổng màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Cần có sự nghiên cứu để cải tạo cơ cấu giống và cây trồng cho thích hợp.

 

2.Tài nguyên rừng

 

    Ngoài các tài nguyên thực vật trong lĩnh vực nông nghiệp, cây công nghiệp, tài nguyên rừng có một vai trò đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, khả năng về rừng hiện có và khả năng phát triển rừng khá lớn. Có thể nhận thấy vai trò của rừng qua các chủng loại, diện tích rừng tự nhiên, trữ lượng. Đồng thời cũng nói lên khả năng to lớn để phát triển rừng trên phạm vi diện tích đất lâm nghiệp chưa có

rừng.

        a. Khả năng phát triển rừng:

    Hiện trạng đất lâm nghiệp cho thấy trong toàn tỉnh còn 240.002ha chưa có rừng. Trong đó phần diện tích có khả năng sản xuất nông lâm là 237.442ha. Phần diện tích còn lại không có khả năng sản xuất là 2.560 ha. Rõ ràng diện tích có khả năng phát triển rừng là rất to lớn, có thể ước tính gấp 1,7 lần tổng diện tích rừng tự nhiên của toàn tỉnh. Điều đó cho thấy việc phát triển trồng rừng trên phần đất trồng có một ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như tăng cường bảo vệ môi sinh của tỉnh.

        b. Rừng tự nhiên:

    Hiện tại diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 144.193ha với trữ lượng 10.329.168m3. Trong tổng thể rừng tự nhiên có thể phân chia thành 2 loại: loại sản xuất và loại phòng hộ.

    * Rừng tự nhiên sản xuất:

    Rừng tự nhiên sản xuất chiếm diện tích 83.725ha với trữ lượng là 6.440.250m3 trong đó phân chia thành các chủng loại sau:

    - Rừng giàu chiếm 6.466 ha, trữ lượng 1.103.598m3

    - Rừng trung bình chiếm 15.336ha, trữ lượng 1.869.870m3

    - Rừng nghèo chiếm 16.520ha, trữ lượng 1.275.352m3

    - Rừng phục hồi chiếm 45.836ha, trữ lượng 1.275.430m3

    Từ đó cho thấy diện tích rừng giàu hiện còn tồn tại rất ít, chỉ bằng 0,24 diện tích rừng trung bình, bằng 0,39 diện tích rừng nghèo và 0,14 diện tích rừng phục hồi. Điều này cũng nói lên sự tàn phá và thoái hóa của rừng ở mức độ rất nghiêm trọng. Trữ lượng trong khu vực rừng nghèo và rừng phục hồi chỉ bằng xấp xỉ gấp 3 lần trữ lượng của khu vực rừng giàu mặc dù diện tích của loại rừng này lớn gấp 9,5 lần diện tích rừng giàu.

    Đối với rừng giàu hiện tại quốc doanh quản lý 100% còn khu vực rừng phục hồi quốc doanh chiếm khoảng 21%.

    * Rừng phòng hộ:

    Rừng phòng hộ chiếm diện tích 60.468 ha và đều là rừng đầu nguồn. Trữ lượng rừng phòng hộ là 3.888.918 m3. Trong toàn bộ rừng đầu nguồn quốc doanh chỉ chiếm 23,9 %.

        c. Sự phân bố rừng tự nhiên theo các huyện:

    Diện tích rừng tự nhiên tập trung nhiều nhất ở các huyện:

    - Vĩnh Thạnh chiếm diện tích 39.170ha. Trong đó rừng giàu 3.100ha, rừng trung bình 7.672ha, rừng nghèo 8.817ha, rừng phục hồi 9.776ha.

    - An Lão: diện tích rừng tự nhiên 36.668 ha. Trong đó rừng giàu 4.223ha, rừng trung bình 7.113ha, rừng nghèo 6.446ha, rừng phục hồi 18.866ha.

    - Vân Canh: tổng diện tích rừng tự nhiên 28.132ha. Trong đó rừng giàu không có, rừng trung bình 3.161ha, rừng nghèo 5.253ha, rừng phục hồi 19.728ha.

    - Tây Sơn: có diện tích rừng tự nhiên 22.783ha. Trong đó rừng giàu 302ha, rừng trung bình 4.001ha, rừng nghèo 6.633ha, rừng phục hồi 11.847ha.

    Đây là các huyện chủ yếu có tài nguyên rừng đáng kể. Trong đó An Lão và Vĩnh Thạnh có diện tích rừng giàu khá lớn và sau đó là Tây Sơn. Các huyện còn lại không có rừng giàu. Riêng các huyện: Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, tuy Phước, Quy Nhơn chỉ có rừng phục hồi. Các loại rừng khác không có.

        d. Sự phân bố diện tích các loại rừng và đất rừng theo các khu vực quản lý:

    * Diện tích các loại rừng và đất rừng thuộc diện quản lý ngoài quốc doanh:

    - Diện tích có rừng                             : 100.876 ha

    - Rừng giàu                                          : 277 ha

    - Rừng trung bình                                : 8.084 ha

    - Rừng nghèo                                       : 12.812 ha

    - Rừng phục hồi                                   : 70.850 ha

    - Rừng trồng                                         : 8.844 ha

    - Đất trống                                            : 209.785 ha

    Diện tích rừng và đất trống phân bố hầu hết trên địa bàn các huyện trong tỉnh. Khu vực đất trống ở đây có diện tích hết sức lớn, lớn gấp 2 lần tổng diện tích có rừng mà thuộc diện ngoài Nhà nước quản lý. Từ đó thấy rằng cần có chính sách thỏa đáng để đẩy mạnh việc trồng rừng trên miền đất trống từ nguồn đầu tư của nhân dân hoặc của các đối tác nước ngoài.

    * Diện tích các loại rừng và đất rừng thuộc Nhà nước quản lý:

    - Diện tích có rừng                               : 53.886 ha

    - Rừng giàu                                            : 7.354 ha

    - Rừng trung bình                                  : 13.853 ha

    - Rừng nghèo                                         : không có

    - Rừng phục hồi                                     : 16.677 ha

    - Rừng trồng                                           : 1.720 ha

    - Đất trống                                              : 30.217 ha

    Khu vực Nhà nước quản lý hầu hết rừng giàu và hoàn toàn không quản lý rừng nghèo. Rừng trồng do Nhà nước quản lý chỉ bằng 9,5% diện tích rừng trồng thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Từ các số liệu trên cho thấy việc phục hồi, làm giàu rừng cũng như trồng rừng trên các miền đất trống, vấn đề này khu vực ngoài quốc doanh đóng vai trò rất lớn và cần có chính sách hợp lý cũng như sự chỉ đạo kịp thời của Nhà nước để phần diện tích rừng quản lý ngoài quốc doanh phát huy tác dụng trong sự phát triển kinh tế quốc dân. Mặt khác khu vực Nhà nước quản lý hầu hết rừng giàu, đây là nguồn tài nguyên rừng quan trọng

của tỉnh. Vì vậy cần thiết có sự khai thác đi đôi với bảo quản phục hồi tránh mọi sự khai phá tùy tiện không theo hướng dẫn của nhà đương cục trong tỉnh.

 

IV. CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:

 

A. VỀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

 

1. Khu hệ thủy sinh vật tỉnh Bình Định mang đặc tính nhiệt đới và á nhiệt đới rõ rệt: phong phú về thành phần loài nhưng sinh lượng thấp.

2. Trong các vực nước nội địa, lượng sinh vật nổi phát triển mạnh, sinh vật lượng động vật nổi và động vật đáy đạt giá trị trung bình về dinh dưỡng, thuận lợi cho việc nuôi và phát triển các đàn cá nước ngọt, đặc biệt nghề nuôi cá bè.

3. Đầm Thị Nại và vịnh Quy Nhơn đặc trưng cho vùng nước lợ ven biển, nguồn lợi thủy sinh vật phong phú, là nơi thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển, đặc biệt là các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như tôm sú, cá mú, các loài động vật thân mềm. Cần có sự nghiên cứu và qui hoạch một cách hợp lý nhằm xây dựng một khu nuôi trồng các đặc sản của tỉnh để xuất khẩu.

4. Nguồn lợi biển nhìn chung không phong phú bằng các tỉnh phía Nam như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, mặc dù có đầy đủ thành phần loài, đặc biệt là các loài thủy sản có giá trị kinh tế nhưng trữ lượng không lớn.

5. Các tài liệu và kết quả nghiên cứu nhận được trên đây hầu hết được thực hiện theo các đề tài riêng biệt với các mục đích khác nhau, bởi vậy nên các tài liệu này thiếu tính liên tục theo không gian, thời gian và thiếu tính đồng bộ giữa các yếu tố nghiên cứu mà về bản chất các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Như quá trình nghiên cứu các vực nước nội địa hầu hết chỉ được thực hiện trong mùa khô, các số liệu nghiên cứu trong mùa mưa hầu như không có. Việc nghiên cứu khu vực hạ lưu sông Kôn, đầm Thị Nại và vịnh Quy Nhơn được xem trên quan điểm như các vùng hoàn toàn cô lập mà không xét đến sự tương tác giữa các khu vực trên trong quá trình nghiên cứu. Riêng khu vực biển số liệu về động vật đáy hoàn toàn không có.

6. Cần tiến hành khảo sát bổ sung những vùng còn trống hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ như: vịnh Quy Nhơn , vùng đầm phá và ven biển.

7. Thế mạnh của tỉnh là diện tích các vực nước rất lớn, cần có biện pháp thích hợp để đẩy mạnh nghề nuôi cá nước ngọt cũng như nghề nuôi thủy sản ở các đầm nước lợ và vùng triều ven biển. Mở rộng đối tượng nuôi, đặc biệt là các loại đặc sản (ngoài tôm) như sò huyết, cá mú, tôm hùm, rong câu chỉ vàng, tăng nguồn xuất khẩu khi nuôi cần lưu ý đến các biện pháp bảo đảm nguồn giống, cải tạo ao hồ, thức ăn phòng chữa bệnh cho các đối tượng nuôi mới mong đạt sản lượng cao.

8. Cần qui định rõ ràng và tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp bảo vệ nguồn lợi sinh vật chống tình trạng đánh bắt bừa bãi dẫn đến tính hình kiệt quệ nguồn lợi như hiện nay và tăng cường sự kiểm soát nhiễm bẩn

môi trường trong các khu vực nuôi trồng của tỉnh.

 

B. VỀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT RỪNG:

 

9. Cần nghiên cứu đưa ra sự bảo quản và khai thác hợp lý khu vực rừng giàu bên cạnh kế hoạch khai thác phải đi kèm trực tiếp với kế hoạch bảo quản và phục hồi.

10. Đưa việc phục hồi rừng và nâng cấp từng bước rừng phục hồi như chỉ tiêu cấp bách của ngành lâm nghiệp.

11. Bảo quản và phục hồi khu vực vùng đầu nguồn được coi như một trọng điểm của việc bảo vệ tài nguyên rừng.

12. Việc trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc thành một việc làm thường xuyên, có sự đầu tư cụ thể theo các địa phương, tạo điều kiện cho các địa phương bám sát các khu vực trồng rừng đã định.

 

----------------------------------------------------------------------