CHƯƠNG X

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

 

I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở BÌNH ĐỊNH

 

    Bình Định là một tỉnh dân số tương đối đông so với các tỉnh khác ở khu vực Trung Trung bộ. Theo số liệu thống kê của Chi cục Thống kê tỉnh, tính đến ngày 01/4/1999 toàn tỉnh Bình Định có 1.460.727 nhân khẩu; bao gồm nhiều dân tộc khác nhau:

    Biểu: Dân tộc và dân số tỉnh Bình Định.

STT Dân tộc Dân số (người) Ghi chú
01 Kinh 1431742  
02 Tày 196  
03 Thái 225  
04 Hoa 880  
05 Mường 84  
06 Nùng 34  
07 Bana 1523  
08 Chăm 4393  
09 Hrê 7612  
10 Các dân tộc khác 84 Số còn lại

(Nguồn: Số liệu tổng điều tra dân số tỉnh Bình Định ngày 01/4/1999).

 

    Trong các dân tộc trên ở Bình Định, dân tộc Kinh là dân tộc có số lượng lớn nhất (1431742 người), chiếm tới 98% dân số của tỉnh. Người Kinh (Việt) có mặt ở khắp nơi trên các vùng đất ở Bình Định, tuy nhiên địa bàn cư trú chủ yếu của người Kinh là ở vùng đồng bằng, thành phố, huyện lỵ, thị trấn... Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định chiếm số lượng không nhiều. Trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định, dân tộc Chăm, Bana, Hrê, Hoa là những dân tộc có số lượng người tương đối đông so với các dân tộc thiểu số khác của tỉnh. Các dân tộc Chăm, Bana, Êđê theo chúng tôi là những dân tộc có mặt từ khá sớm ở vùng đất Bình Định. Họ là những dân tộc bản địa, những dân tộc thiểu số gốc của vùng. Còn các dân tộc khác như người Tày, Nùng, Thái, H’rê... ở Bình Định có số lượng không nhiều và nhất là họ mới di cư từ các nơi khác đến trong những thời gian gần đây. Nguyên nhân dẫn đến sự có mặt của người Tày, Nùng, Thái, Êđê...trên đất Bình Định theo chúng tôi đa phần là do kết quả của các cuộc hôn nhân. Họ là những người vợ theo chồng (hay chồng theo vợ) đến sinh sống làm ăn trên đất Bình Định trong vòng 2,3 thập kỷ trở lại đây. Nhưng dù nhiều hay ít, có mặt sớm hay muộn, cư dân gốc/ bản địa (Chăm, Bana, H’rê) hay cư dân từ nơi khác (Tày, Nùng, Thái...) chuyển cư đến vùng đất Bình Định, họ đều gắn bó với mảnh đất này và xem Bình Định là quê hương nặng

nghĩa, nặng tình đối với họ. Dù thế khi nói đến các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định chủ yếu nói đến các dân tộc Chăm, Bana, H’rê, Hoa. Bởi xét trên nhiều phương diện các dân tộc thiểu số này đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng bảo vệ và phát triển vùng đất, đã hình thành nên những đặc trưng tộc người của vùng đất. Về những đặc trưng tộc người chung của các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, có thể khái quát như sau:

    1.Các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định (chủ yếu là dân tộc Chăm, Bana, H’rê) trước đây thường phân bố rải rác theo vùng trong nhiều điểm định cư nhỏ trải dài trên địa bàn rộng lớn của tỉnh, cách xa nhau, khó liên lạc. Về cơ bản các dân tộc Chăm, Bana, H’rê đã hình thành nên những khu vực cư trú riêng của từng dân tộc, ở vùng thấp có hiện tượng xen cư giữa 2 hoặc 3 dân tộc. Sống biệt lập phân cách và xen kẽ là đặc điểm dễ thấy của các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định.

    Một điều dễ dàng nhận thấy khi nhìn vào bản đồ phân bố dân cư của tỉnh Bình Định là các dân tộc thiểu số thường cư trú tập trung theo từng vùng địa lý tự nhiên phù hợp với hoạt động kinh tế truyền thống của từng dân tộc. Ví dụ: điểm mạnh trong kinh tế của người Hoa là buôn bán, trao đổi, sản xuất hàng hóa... Do vậy, địa bàn cư trú chủ yếu của người Hoa phải là nơi giao thông phát triển, dân cư đông đúc, là các thành phố, thị trấn, thị tứ. Điều này càng rõ hơn là khi nhìn vào các khu vực cư trú của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê. Chúng ta biết rằng người Bana ở Bình Định vừa có mặt tại huyện Vân Canh, huyện An Lão nhưng địa bàn cư trú điển hình, tập trung nhất của người Bana là ở huyện Vĩnh Thạnh. Vĩnh Thạnh là một trong những huyện vùng cao của tỉnh Bình Định, nơi có nhiều sông suối, đồi núi, rừng già với thảm thực vật và động vật phong phú, đa dạng... Đây chính là điều kiện lý tưởng cho những cư dân chuyên sống bằng kinh tế nương rẫy như cư dân Bana. Người H’rê trong hoạt động kinh tế truyền thống, bên cạnh kinh tế nương rẫy, từ khá sớm cư dân này đã biết đến kỹ thuật trồng lúa nước. Bởi vậy địa bàn cư trú của người H’rê thường gần các lưu vực của các con sông suối, những nơi có mặt bằng tương đối thuận lợi cho việc trồng lúa một năm hai vụ (như vùng núi thấp An Lão). Trong khi đó, gốc gác của người Chăm là ở vùng đồng bằng ven biển, nên khi chuyển cư lên vùng núi, họ vẫn mang theo sở thích cư trú ở những vùng thấp, nơi có điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp dùng cày. Cũng có thể do sở thích đó người Chăm đã lấy vùng đất Vân Canh làm nơi cư trú chủ yếu cho dân tộc mình... Tất cả những điều đó được phản ánh rõ qua bảng phân bố dân cư các dân tộc thiểu số ở Bình Định như sau:

    Biểu : Địa bàn phân bố chủ yếu của các dân tộc.

STT Dân tộc Dân số (người) Ghi chú
01 Bana Vĩnh Thạnh, Vân Canh  
02 Chăm Vân Canh  
03 H'rê An Lão  
04 Hoa Quy Nhơn còn có ở nơi khác

(Nguồn : Ban Dân tộc và miền núi tỉnh Bình Định).

    Trong mỗi khu vực cư trú tập trung và điển hình theo khu vực, theo dân tộc, các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định lại sống phân tán, trải rộng trên nhiều điểm tụ cư nhỏ khác nhau (nhất là đối với ba dân tộc: Chăm, Bana, H’rê. Thực tế hiện nay cho thấy người Chăm, Bana, H’rê tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân cư tỉnh Bình Định nhưng lại cư trú trên một diện tích rất rộng (gần 381.499 ha) với 104 cụm dân cư (làng) khác nhau. Điều đó đã dẫn đến kết quả: mật độ dân số ở miền núi so với vùng đồng bằng, vùng thành thị của tỉnh Bình Định thấp hơn rất nhiều.

    Biểu : Mật độ dân số giữa các vùng của tỉnh Bình Định.

Địa phương Dân số (1000 người) Mật độ dân số trên Km2

1.TP Quy Nhơn

243,3 1124,3

2.Huyện Hoài Nhơn

212,1   513,7

3.Huyện An Nhơn

182,4 753,1

4.Huyện An Lão

23,4  33,9

5.Huyện Vân Canh

21,8 27,3

6.Huyện Vĩnh Thạnh

26,1   37,2

(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2000).

    Như vậy cư trú theo vùng là một trong những điểm dễ nhận thấy trong cư trú của các dân tộc thiểu số ở Bình Định. Người Hoa có khu vực cư trú riêng của người Hoa, các dân tộc thiểu số ở vùng núi như người Chăm, Bana, H’rê, có khu vực cư trú riêng của từng dân tộc. Đặc điểm cư trú theo từng khu vực dân tộc lại càng thấy rõ hơn khi tìm hiểu các điểm tụ cư của các cụm dân cư (làng, xã). Có thể nói trong các cụm dân cư ở miền núi Bình Định thường ít thấy sự xen cài của nhiều dân tộc. Dù thế tính chất cư trú theo vùng giữa các dân tộc lại không giống nhau. Trong ba dân tộc ở vùng núi Bình Định, dân tộc H’rê cư trú biệt lập thấy rõ hơn dân tộc Bana và dân tộc Chăm (nhất là người Bana, người Chăm ở huyện Vân Canh). Thực tế cho thấy trong làng của người H’rê ở An Nghĩa (huyện An Lão) có hiện tượng người khác tộc cùng cư trú trong một làng, nhưng xét cho cùng đó là kết quả của hôn nhân ngoại tộc, chứ không phải là hiện tượng cư trú xen cài một cách có ý thức. Điều này ít nhiều khác với cộng đồng người Chăm, người Bana (nhất là người Chăm, người Bana ở huyện Vân Canh). Người Chăm, Bana bên cạnh đặc tính cư trú theo từng dân tộc đã xuất hiện hiện tượng cư trú xen cài giữa các dân tộc với nhau. Điều lý thú của việc xen cài trong cư trú của các dân tộc này thể hiện ở chỗ: hiện tượng cư trú ở đây không chỉ là kết quả của những cuộc hôn nhân ngoại tộc mà còn là kết quả của quan hệ cận cư, quan hệ láng giềng có ý thức. Chúng ta có thể xem huyện Vân Canh là một trong những khu vực điển hình cho hiện tượng cư trú hỗn hợp giữa các dân tộc ở Bình Định nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Tại huyện Vân Canh trong các xã Canh Hòa, Canh Hiệp, Canh Thuận đều có sự cận cư giữa ba dân tộc Chăm, Bana, Kinh. Hơn thế ở đây mức độ cận cư, xen cài giữa các dân tộc đã vượt qua phạm vi làng, đến từng ngõ xóm hay nhóm gia đình. Tình hình cư trú xen kẽ đó càng được đẩy mạnh từ sau năm 1975 và đưa lại kết quả tất yếu là làm cho bức tranh về phân bố cư dân của Bình Định có những thay đổi, xáo trộn mạnh.

    2. Trong các dân tộc thiểu số có số lượng tương đối đông của tỉnh Bình Định (trừ người Hoa) về cơ bản nền kinh tế của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê đã vượt qua kinh tế chiếm đoạt, bước vào thời kỳ kinh tế sản xuất nhưng với tính chất đóng kín, tự cung tự cấp. Trên nền tảng của nền kinh tế ấy, xã hội của người Chăm, Bana, H’rê phát triển thấp, trì trệ, còn tồn tại nhiều tàn dư và tập tục của quá khứ. Tuy nhiên giữa các dân tộc Chăm, Bana, H’rê tính chất mức độ của các hiện tượng đó lại không giống nhau.

    Thực tế hoạt động kinh tế của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê ở Bình Định hiện nay cho chúng ta thấy tính đa dạng của các loại hình sản xuất ở các dân tộc này như sản xuất lúa nước, làm vườn, trồng rừng, chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê, cá, thu nhặt lâm thổ sản, làm nghề thủ công, trao đổi hàng hóa..., nhưng bao trùm lên mọi hoạt động kinh tế đó vẫn là hoạt động kinh tế nương rẫy ở cả 3 dân tộc. Có thể nói, hoạt động kinh tế nương rẫy đã ăn vào tiềm thức, trở nên hết sức quen thuộc, gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số của vùng núi Bình Định. Kinh tế nương rẫy với việc trồng cây lúa khô 1 năm/1 vụ, với công cụ sản xuất hết sức thô sơ, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chủ yếu chỉ dựa vào độ mùn của đất, không cần phân bón và nước tưới... nên năng suất thấp và bấp bênh. Hệ quả về mặt xã hội do nền kinh tế nương rẫy đưa lại cuộc sống của người dân thường nghèo nàn, lạc hậu, mù chữ, bệnh tật. Trong xã hội các dân tộc này thường không xảy ra những cuộc phân công lao động lớn (phân công giữa chăn nuôi với trồng trọt, giữa nông nghiệp với các ngành nghề thủ công và giữa thương nghiệp với công nghiệp) mà chỉ có phân công theo giới tính, tuổi tác, mới chỉ có phân hóa giàu nghèo mà chưa có sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Hơn thế xã hội của những dân tộc được xây dựng chủ yếu trên cơ tầng của kinh tế nương rẫy là xã hội còn mang nặng tính chất thị tộc với tính bình quân và tính cộng đồng khá cao. Trong các dân tộc này chế độ già làng tồn tại khá vững bền, quan hệ huyết thống (quan hệ dòng họ) vẫn tồn tại đậm nét và vượt trội bên cạnh quan hệ cận cư, láng giềng. Sự níu kéo, không rạch ròi, không dứt khoát giữa yếu tố cũ và mới luôn là gánh nặng cho sự phát triển của những cư dân chuyên sống về nương rẫy. Có thể nói trong lòng xã hội hiện nay của những cư dân lấy kinh tế nương rẫy làm hoạt động chính vẫn còn tồn tại nhiều tập tục, nhiều tàn dư lạc hậu của những thời kỳ đã qua. Đây chính là những trở ngại, lực cản cho định hướng phát triển hiện nay đối với các dân tộc Chăm, Bana, H’rê ở Bình Định. Tuy nhiên mức độ, tính chất của các yếu tố cũ cũng như việc tiếp thu, cách tân các yếu tố mới trong các dân tộc thiểu số ở miền núi Bình Định cũng không giống nhau.Cũng là ý thức cộng đồng, là tính bình quân, là việc đề cao, quý trọng kinh nghiệm của người già, là sự phân tầng xã hội, sự tồn tại, bảo lưu những phong tục tập quán cũ... nhưng giữa người Chăm, người Bana, người H’rê có sự khác nhau về quy mô, cách thức thực hiện. Người Bana do ảnh hưởng nặng nề và có tính chất quyết định của nền kinh tế nương rẫy, do đặc tính và truyền thống dân tộc tác động... nên ý thức cộng đồng trong cư dân này rất cao, tuy thế sự phân hóa giàu nghèo lại diễn ra không rõ ràng và khá chậm chạp. Trong khi đó người H’rê, đặc biệt là người Chăm bên cạnh kinh tế nương rẫy còn có kinh tế lúa nước xuất hiện từ khá sớm với việc

dùng sức kéo của trâu bò nên sự phân tầng xã hội, ý thức mở, biểu hiện của nền kinh tế hàng hóa... ở các dân tộc này thấy rõ hơn, có tính quy mô hơn so với người Bana.

    3. Trải qua quá trình sinh tồn, phát triển lâu dài, các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định đã sáng tạo nên nền văn hóa khá đa dạng, phong phú. Những giá trị văn hóa đó chính là sự thích ứng với điều kiện tự nhiên, môi trường sống của con người, phản ánh rõ bản sắc của từng dân tộc, của hợp thể đa văn hóa, của khu vực lịch sử - dân tộc học.1

    Những giá trị văn hóa mà các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định sáng tạo ra nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình là những tài sản vô giá của các dân tộc. Đó cũng chính là bản sắc văn hóa của từng dân tộc sống trên vùng đất Bình Định. Những bản sắc văn hóa tộc người đó là điều kiện giúp phân biệt được sự giống nhau hay khác nhau giữa các tộc người. Những giá trị văn hóa mà dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định đã sáng tạo trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử đã được lưu giữ trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành niềm tự hào, sức sống mãnh liệt của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê.

    Đó là những cách thức trong các hoạt động kinh tế, những kinh nghiệm trong trồng trọt chăn nuôi,

(1.Khu vực lịch sử - dân tộc học là phần đất đai cư trú của các tộc người -các tộc người sống trên vùng đất đó tuy có sự phát triển kinh tế-xã hội không giống nhau nhưng do sống gần nhau, lại có nhiều mối quan hệ với nhau trong lịch sử nên đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa giống nhau.)

trong cách tính lịch thời vụ, trong kiến thức bản địa về sản xuất... của các dân tộc thiểu số. Đó là cách sắp xếp, cấu trúc làng bản, nhà cửa, cách ăn ở, mặc, đi lại, cách đối nhân xử thế, cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình dòng họ, cộng đồng, hay cách thức tổ chức lễ hội, cách kể chuyện, cách giải thích về nguồn gốc rất khác nhau trong các dân tộc Hoa, Chăm, Bana, H’rê ở Bình Định. Đó cũng chính là kết quả

của sự thích ứng phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường sống. Hay nói một cách khác trong quá trình sinh tồn và phát triển, điều kiện tự nhiên, môi trường sống của vùng đất Bình Định đã có những tác động ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến đời sống của dân tộc. Bên cạnh đó con người sống ở nơi đấy cũng đã có những cải tạo, tác động nhiều chiều đến điều kiện sống của vùng đất. Kết quả của sự tác động ảnh hưởng qua lại đó là ngoài việc sáng tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, đã từng bước hình thành nên những đặc trưng văn hóa của khu vực, của vùng văn hóa.2 Đây chính là những nét tương đồng trong văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định (đặc biệt là trong ba dân tộc Chăm, Bana, H’rê). Đó chính là mẫu số chung của lòng tự hào về vùng đất, con người, là lòng tương thân tương ái, giúp đỡ, bao dung, đói no cùng hưởng, hoạn nạn sẻ chia. Đó là sự đồng cam cộng khổ, yêu lao động, quý trọng lao động, đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống lại sự bất công, sự nô dịch...

(2 Khái niệm vùng văn hóa, khu vực văn hóa hiện đang có nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận khác nhau,tuy thế đã có nhiều ý kiến nói đến các vùng văn hóa khác nhau trong quốc gia hay từng tộc người.)

    4. Mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định là mối quan hệ gắn bó, gần gũi, đoàn kết trong xu thế xích lại gần nhau. Hiện nay mối quan hệ tốt đẹp trong lịch sử của các dân tộc ở tỉnh Bình Định được củng cố và phát huy cao độ trên tầm nhận thức mới. Kết quả của mối quan hệ đó đã tạo nên tình huống quá trình tộc người và quá trình đan xen văn hóa hết sức lý thú trong các dân tộc thiểu số ở Bình Định (nhất là các dân tộc thiếu số ở vùng núi Vân Canh), đó là quá trình hội tụ thống nhất trong đa dạng.

    Hiện tại trên vùng đất Bình Định có khá nhiều dân tộc anh em sinh sống, làm ăn, trong đó các dân tộc Kinh (Việt), Chăm, Bana, H’rê, Hoa là những dân tộc có số lượng người đông hơn cả. Các dân tộc này xét trên nhiều phương diện khác nhau: Nguồn gốc dân tộc, ngôn ngữ, trình độ phát triển kinh tế- xã hội, mức sống, mức thu nhập, phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa... có nhiều điểm khác nhau. Người Kinh (Việt) tuy cùng một hệ ngôn ngữ với người Bana và người H’rê (ngữ hệ Nam Á) nhưng lại thuộc hai nhóm khác nhau (người Kinh thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, còn người Bana, và người H’rê thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme). Xét về mặt nguồn gốc, người Kinh (Việt) ở Bình Định hiện nay vốn từ miền Bắc (cụ thể vùng Thanh- Nghệ -Tĩnh) chuyển cư vào trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Còn người Bana, người H’rê lại là cư dân có mặt lâu đời tại vùng núi Trường Sơn-Tây Nguyên. Người Hoa thuộc ngữ hệ Hán-Tạng và mới có mặt ở Bình Định trong 2 - 3 thế kỷ trở lại đây. Trong khi đó người Chăm lại thuộc ngữ hệ Nam Đảo, vốn nguyên xưa họ cư trú ở vùng đồng bằng, vùng thấp trên nhiều địa điểm khác nhau của dải đất miền Trung. Trước khi chuyển lên vùng núi của Bình Định cư trú, người Chăm đã biết đến nông nghiệp dùng cuốc, dùng cày, biết đến nghề đánh cá ven biển. Lịch sử của vùng đất đã từng chứng kiến sự phát triển rực rỡ và hùng mạnh của Nhà nước Chămpa trong các thế kỷ VIII -XI. Hiện tại trên dải đất này vẫn còn bảo lưu dấu vết những thành, tháp, những tượng, những công trình kiến trúc khá đẹp, kỳ bí của một nền văn hóa Chămpa khá rực rỡ trước đó. Về mặt văn hóa bên cạnh những điểm giống nhau, các dân tộc ở Bình Định cũng thể hiện nhiều điểm khác nhau. Ví như về mặt sản xuất kinh tế, ở người Hoa kinh tế hàng hóa khá phát triển, ở người Kinh từ lâu đã biết đến kinh tế lúa nước, người Chăm, người H’rê bên cạnh kinh tế nương rẫy truyền thống, có kinh tế lúa nước, còn ở người Bana chủ yếu là kinh tế nương rẫy. Ứng hợp với các loại hình kinh tế đó là các nấc thang phát triển khác nhau của các dân tộc ở Bình Định. Vào những thời kỳ trước đây trong khi người Kinh, người Hoa đã có sự phân hóa giai cấp sâu sắc, thì ở người Chăm, người Bana, người H’rê mới chỉ có sự phân hóa giàu nghèo ở những mức độ chưa rõ nét.

    Tuy nhiên những khác biệt về nguồn gốc, về ngôn ngữ, về trình độ phát triển, về các đặc trưng trong văn hóa của các dân tộc ở Bình Định không phải là lực cản, trở ngại cho quá trình tiếp xúc, đan xen văn hóa giữa các dân tộc trong tỉnh.

    Đối với vùng núi Bình Định, nơi có các dân tộc thiểu số Chăm, Bana, H’rê tụ cư lâu đời (về sau này còn là sự có mặt / hiện diện của người Kinh) quá trình tộc người có nhiều điểm khác nhau với quá trình tộc người của các vùng đất khác trên đất nước ta.3 Có thể nói dưới những tác động của điều kiện địa lý tự nhiên, của nhân tố lịch sử - xã hội - thời đại, các dân tộc ở vùng núi Bình Định như dân tộc Chăm, Bana, H’rê, Kinh trong quá trình phát triển của mình đã có những quan hệ hết sức mật thiết với nhau trên

nhiều phương diện của đời sống. Phải nói rằng trong lịch sử xung đột, va chạm, mâu thuẫn hiểu nhầm giữa các dân tộc ở vùng núi Bình Định ít nhiều có xảy ra, nhưng không phải là cơ bản, không phải là tất cả. Điểm mấu chốt trong các quan hệ của các dân tộc ở nơi đây vẫn là đoàn kết, hội nhập, xích lại gần nhau nhất là vào thời gian sau này. Kết quả tất yếu của các mối quan hệ nhiều chiều đó đã hình thành nên quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa khá lý thú, đặc biệt lớn giữa các dân tộc: Chăm, Bana, H’rê, và người Kinh ở vùng núi tỉnh Bình Định. Tuy nhiên kết quả này không phải là kết quả làm tan biến, mất đi một dân tộc, tộc người nào đó để hình thành nên một cộng đồng tộc người chung Chăm-Bana như một số người lầm tưởng.4 Trạng thái tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc ở các huyện miền núi của tỉnh Bình Định nói chung và đặc biệt ở huyện Vân Canh nói riêng là trạng thái tiếp xúc văn hóa bình đẳng, tự nhiên giữa các dân tộc anh em trên một vùng địa lý giống nhau nhưng về yếu tố nhân văn có nhiều điểm khác nhau. Yếu tố tích cực của trạng thái này là ở chỗ: không có sự đồng hóa có ý thức, mang tính chất bắt buộc/cưỡng bức giữa các thành viên có sự khác nhau về loại hình nhân chủng (loại hình nhân chủng của người Kinh, Bana, H’rê là loại hình nhân chủng Nam Á còn của người Chăm là loại hình nhân chủng Anh-đô-nê-diêng), về nguồn gốc, về ngôn ngữ, về văn hóa, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội...Như thế trạng thái giao lưu, tiếp xúc văn hóa trong các dân tộc ở miền núi Bình Định không dẫn đến kết quả là sự đổi chiều từ nền văn hóa A sang nền văn hóa B mà dẫn đến sự xuất hiện trạng thái song ngữ song văn hóa, đa ngữ đa văn hóa. Ở trạng thái này chiếm ưu thế là những ảnh hưởng qua lại giữa A và B được du nhập một cách có ý thức hay vô ý thức với mục đích nhằm làm phong phú lẫn nhau và nhằm làm hoàn chỉnh cả hai hay nhiều hệ thống tham gia vào quá trình giao thoa. Trong quá trình giao lưu, đan xen văn hóa giữa các dân tộc ở vùng núi Bình Định những động thái giao thoa diễn ra không chỉ giữa các dân tộc A đối với dân tộc B mà cả dưới ảnh hưởng của dân tộc B đối với dân tộc A, trong tư cách của một cộng đồng đa văn hóa bình đẳng. Đó chính là quá trình xích lại gần nhau, thống nhất trong đa dạng đối với những khu

(3 Khác về đối tượng của các quá trình, khác về mức độ, tính chất, cách thể hiện...

4 Quan điểm của tác giả trong cuốn “Những nhóm thiểu số tại Cộng Hoà Việt Nam”, Sàigòn 1966.)

vực có nhiều dân tộc khác nhau cùng cư trú trên đất nước Việt Nam. Hiện nay mối quan hệ gắn bó, gần gũi, hoà hợp giữa các dân tộc Kinh, Chăm, Bana, H’rê ở miền núi Bình Định đang được đẩy mạnh và mở rộng hơn bao giờ hết. Dưới tác động của những nhân tố mới và yêu cầu mới, ý thức về cái chung (đất nước, quốc gia, cộng đồng) với cái riêng (tộc người) đã có những thay đổi hết sức lớn lao tạo nên quá trình tộc người khá đặc thù ở vùng núi Bình Định.

    Tóm lại : Bức tranh về các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định hiện nay khá đa dạng và khá phong phú. Sự phong phú và đa dạng đó thể hiện ở số lượng các dân tộc thiểu số, ở thời điểm các dân tộc có mặt trước hay sau tại vùng đất này, ở sự đóng góp nhiều hay ít khác nhau của các dân tộc vào tiến trình phát triển của tỉnh nhà... Nhưng như đã nói, dù nguồn gốc dân tộc, tiếng nói có sự khác nhau, dù phong tục tập quán, đặc trưng văn hóa có những điểm khác nhau..., các dân tộc thiểu số hiện có mặt trên vùng đất Bình Định, đều gắn bó, có những tình cảm sâu nặng đối với vùng đất này, xem vùng đất này là quê hương máu thịt của mình. Họ đều là những thành viên trong cộng đồng các dân tộc của tỉnh Bình Định. Tuy thế ở đây, với nhiều lý do khác nhau, chỉ xin giới thiệu tổng quát các dân tộc : Hoa, Chăm, Bana, H’rê là những dân tộc thiểu số có số lượng đông và có thời gian tụ cư dài lâu ở Bình Định.

 

II. DÂN TỘC HOA.

 

1. Quá trình tụ cư của người Hoa ở tỉnh Bình Định

 

    Trong đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam, người Hoa là một tộc người có số lượng dân tương đối đông (năm 1989 người Hoa có 961.702 nhân khẩu). Địa bàn cư trú của người Hoa ở Việt Nam chủ yếu tập trung trong các thành phố, thị trấn- nơi có giao thông thuận tiện, buôn bán phát triển. Quá trình người Hoa đến tụ cư ở Việt Nam diễn ra liên tục kéo dài trong nhiều thế kỷ. Có nhiều nguyên nhân cắt nghĩa cho việc người Hoa di cư đến Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên điểm chung của các đợt di cư của người Hoa thường gắn với các diễn biến chính trị của đất nước Trung Quốc. Thực tế lịch sử cho thấy những cuộc di cư tập thể của người Hoa sang các nước khác luôn đi cùng với sự thay đổi của các triều đại. Chính vì thế phần lớn những người Hoa di cư là những người bất mãn với chế độ mới, những binh lính, những quan lại, những người có nhiều liên hệ với chế độ cũ... Quê hương gốc của những người Hoa di cư thuộc nhiều vùng khác nhau của nước Trung Hoa rộng lớn, nhưng đông hơn là những người quê ở vùng ven biển Quảng Đông, Phúc Kiến... Sử sách của Việt Nam đã ghi lại những đợt di cư lớn của người Hoa vào Việt Nam đó là vào thời Đông Hán, thời Nam Tống và đông nhất là vào thời cuối Minh đầu Thanh. Nhà nghiên cứu Cheng Chinh Ho trong công trình “Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích ở Hội An” đã viết như sau : “Trong năm 1682-1683 có bộ đội thủy binh thuộc nhà Trịnh tại Đài Loan, hơn ba nghìn binh sĩ và gia quyến đáp hơn 70 chiếc tàu, dưới quyền chỉ huy của Dương Ngạn Địch... đi tới Quảng Nam xin đầu hàng và xin làm tôi cho chúa Nguyễn... Chúa liền xuống chỉ ủy, ban tước cho họ rồi khiến họ xuống miền Mỹ Tho và Biên Hòa để họ khai thác...5 Vào thời cận đại, sau các cuộc biến động lớn ở Trung Quốc như cuộc chiến tranh Nha phiến (1840), phong trào Thái Bình Thiên Quốc (1850-1865), chiến tranh Trung-Nhật (1895)... làn sóng di cư của người Hoa ra nước ngoài càng ồ ạt và đông đảo hơn. Điều đó được thể hiện qua các số liệu sau:

    -Năm 1866 số người Hoa di cư đến Đông Dương là 6.000 người, nhưng vào năm 1895 đã lên đến 90.772 người.6

    -Trong 10 năm (1912-1922) số người Hoa di cư vào Việt Nam là 157.982 người.7

    -Tính đến năm 1920 số người Hoa có mặt ở các tỉnh của Việt Nam lên tới hàng nghìn, có tỉnh lên tới hàng chục nghìn.8

    Vào thời kỳ hiện đại, số lượng người Hoa có mặt ở Việt Nam đã lên tới hàng triệu người, phân bố ở nhiều tỉnh thành khác nhau của quốc gia Việt Nam .

    Quá trình di cư của người Hoa đến Việt Nam trên đây cũng chính là quá trình di cư của người Hoa đến Bình Định. Hiện tại chúng ta chưa có một tài liệu nào khẳng định chắc chắn thời điểm có mặt sớm nhất của người Hoa ở tỉnh Bình Định. Nhưng rõ ràng khi phố cảng Quy Nhơn, Nước Mặn ra đời vào thế kỷ XVII-XVIII và XIX đã khẳng định vị trí trung tâm của mình trên các lĩnh vực kinh tế, hành chính, 

(5 Cheng Ching Ho, Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích ở Hội An - Việt Nam Khảo cổ tập san số 1/1960 - Viện Khảo cổ học Sàigòn.

6 Quảng Đảo Trịnh Nhất Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992

trang 30, trang 33.

7 Quảng Đảo Trịnh Nhất Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992

trang 30, trang 33.

8 Annuaire General de L’Indochine. 1920, Paris commerciale, Hanoi-Haiphong- Ineprime d’ Extrême- Orient. 1920 (P.1997- Viện Sử Học)).

văn hóa... thì đó cũng là lúc vùng đất này trở thành nơi hội tụ của những người từ nơi khác đến, trong đó có người Hoa. Các gia phả của người Hoa ở Quy Nhơn cho thấy tổ tiên của họ chủ yếu ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến. Họ đến Quy Nhơn định cư sau sự kiện “bài Thanh phục Minh” thất bại ở chính quốc. Trong “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ” có ghi rõ như sau: “Năm thứ 13 (1832 đời Minh Mạng) vua chuẩn lời tâu cho trấn Bình Định nhận người Hoa ở 2 tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến phiêu lưu tới.”9

    Như thế có thể đây cũng là thời điểm sớm nhất cho phép người Hoa định cư một cách hợp pháp ở Bình Định (mà lúc bấy giờ chủ yếu là Quy Nhơn ). Thời gian này phù hợp với thời gian mà gia phả các họ của người Hoa ở Quy Nhơn ghi như gia phả họ Âu, họ Đường, họ Ngụy, họ Mã... Khi đến Quy Nhơn các Hoa Kiều đã tiến hành mua đất, xây nhà, mở các cửa hiệu gần các chợ để buôn bán. Sau một thời gian nhất định, họ đã lập các bang riêng và xây các hội quán. Địa điểm sống khá tập trung của người Hoa tại phố cảng Quy Nhơn là ở địa điểm phường Trần Hưng Đạo hiện nay. Cũng có thể từ đây người Hoa đã di chuyển chỗ ở đến những địa điểm khác trong phố cảng Quy Nhơn và trong địa bàn của tỉnh Bình Định. Hiện nay số lượng Hoa Kiều ở Bình Định có 880 người và được phân bố trong các địa bàn của tỉnh sau đây: Quy Nhơn (có số lượng đông nhất), An Nhơn, Phù Cát, Tây Sơn và một số địa phương khác.

    Một điều lạ đối với việc tụ cư của người Hoa ở Quy Nhơn cũng như trong toàn tỉnh Bình Định là họ thường không sống tập trung trong các điểm tụ cư lớn kiểu các làng Minh Hương như ở Hội An, ở Huế mà họ sống xen kẽ với người Việt đã định cư trước đó.

    Nhìn vào các dãy phố đường Gia Long cũ chúng ta sẽ thấy hiện tượng: xen kẽ giữa các hiệu buôn bán người Hoa là hiệu buôn người Việt, hay xen kẽ giữa các hội quán người Hoa là các công trình kiến trúc chùa, đình miếu... của người Việt. Chính những đặc điểm trong cư trú trên đây cộng với chủ trương đồng hóa từng bước của các vua Nguyễn đã làm cho người Hoa trên đất Bình Định sớm hội nhập vào cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam.

(9 Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự lệ, tập 4 (trang 304)).

 

2. Các hoạt động kinh tế chủ yếu của người Hoa ở tỉnh Bình Định

 

    Khi đến sinh cơ lập nghiệp ở Quy Nhơn nói riêng và ở Bình Định nói chung, các Hoa Kiều đã làm nhiều việc khác nhau để kiếm sống. Tuy thế hoạt động kinh tế của Hoa Kiều ở Bình Định về cơ bản có các nhóm chủ yếu sau:

    a. Nhóm những người Hoa mở các hiệu buôn bán.

    Tại Quy Nhơn các hiệu buôn của người Hoa tập trung nhiều vào hai bên đường Trần Hưng Đạo ngày nay. Các hiệu buôn lớn của người Hoa ở Quy Nhơn là: hiệu buôn Toàn Phát, (thuộc Bang Quảng Đông), hiệu buôn Đồng Nguyên, Thái Hưng, Tường Quang... (thuộc Bang Triều Châu). Các mặt hàng buôn bán của người Hoa ở Bình Định khá đa dạng, phong phú với rất nhiều mặt hàng khác nhau.

    b. Nhóm những người Hoa chuyên chở hàng hóa đi các nơi.

    Vào những thời kỳ trước đây công việc này của các Hoa Kiều ở Bình Định thấy khá rõ. Nhiệm vụ của những “thương lái” này là chuyển hàng theo hợp đồng cho các cửa hiệu, các công xi (công ty). Khi tàu đến cảng Thị Nại, các “chú chiệt” lập tức thông báo cho các cửa hiệu buôn để các hiệu buôn huy động công nhân bốc dỡ hàng và chuyển hàng xuống tàu, thuyền, kịp xuất phát. Tuy nhiên cũng cần phân biệt những Hoa Kiều làm nghề chuyên chở hàng hóa này với những lái buôn Trung Quốc chuyên chở hàng từ Trung Quốc sang Quy Nhơn và từ Quy Nhơn sang Trung Quốc. Những Hoa Kiều ở Quy Nhơn chuyên chở hàng hóa là những người đi chở hàng thuê. Đứng về mặt quyền lợi và nghĩa vụ những người Hoa Kiều chở

hàng thuê này có nhiều điểm khác với lái buôn người Trung Quốc. Điều đó được thể hiện trong quy định của vua Minh Mạng vào năm 1840 như sau:

    1. Phàm người Tàu sang sinh sống ở nước ta, chỉ cho đi đường sông mà mua bán không được đi đường biển.

    2. Nhất thiết thương thuyền ra biển không được thuê người Tàu lái và thủy thủ.

    3. Như có người Tàu nào thuê thuyền ra biển đi buôn, hoặc lén theo dân ta đi buôn thì địa phương phải hòa giải, nghiêm trị. Trừ những người Tàu tới buôn bán rồi về nước thì không cấm”.10

(10 Châu bản triều Nguyễn (triều Minh Mạng, tập 73a). trang 95-96).

    c. Nhóm người Hoa chuyên về hoạt động sản xuất.

    Vào các thời kỳ trước đây bộ phận này của người Hoa ở Bình Định chiếm số lượng lớn trong tổng số các người Hoa Kiều. Các mặt hàng mà người Hoa Kiều ở Bình Định sản xuất khá đa dạng, phong phú, bao gồm: làm giấy hàng mã, làm thuốc bắc, làm vàng bạc, mỹ thuật, chế biến cá, mắm...

    d. Nhóm những người Hoa chuyên mở các cửa hiệu ăn, các quán trà. Các món ăn mà người Hoa thường bán trong các cửa hiệu, trên các xe lăn gồm: mì ổ, mì hoành thánh, xủi cảo, lục tàu xá, xíu mại, lộ mai phần, hà cảo... Hai loại trà nổi tiếng của người Hoa là trà Song Hỷ và trà Thiết Quan Âm. Đây cũng là món ăn, uống truyền thống của các Hoa Kiều.

    e. Nhóm những người Hoa làm công chức trong các công sở. Số lượng những người Hoa làm công chức trong các công sở khá phát triển vào thời kỳ Pháp thuộc, khi chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam có những chế độ ưu đãi riêng cho các Hoa Kiều.

    Hiện tại các hoạt động kinh tế trên đây của người Hoa có cái còn giữ được, có cái đã giảm đi về mặt quy mô, cách thức tổ chức. Tuy thế điểm nổi bật trong hoạt động kinh tế của Hoa Kiều trước cũng như nay là hoạt động trong lĩnh vực buôn bán, thương mại, trao đổi hàng hóa.

   

3. Một số đặc trưng văn hóa của người Hoa ở Bình Định

 

    Mang trong mình dòng máu Hoa tộc mạnh mẽ, cộng với tình trạng di cư tập thể, nhất là để bảo vệ được những quyền lợi kinh tế, chính trị, truyền thống văn hóa... của mình nên khi đến định cư ở vùng đất mới người Hoa đã cố kết lại với nhau thành nhóm cộng đồng cư dân. Các nhóm cộng đồng của người Hoa ở Bình Định nói riêng ở Việt Nam nói chung thường là các nhóm cộng đồng theo dòng máu (họ tộc), theo nhu cầu nghề nghiệp, hay địa phương gốc trước đây (Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam...).

Đó chính là các tổ chức “bang”, các bang thành lập “hội quán” của người Hoa. Các “bang”, “hội” của người Hoa có trách nhiệm quản lý, điều hành các thành viên trong tổ chức của mình thực hiện những quy định của Nhà nước. Thời kỳ trước đây, tổ chức “bang”, “hội” của người Hoa đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam thừa nhận. Hiện nay việc quản lý Hoa Kiều ở Bình Định là quản lý theo các đơn vị hành chính Nhà nước.

    Đặc tính trong cư trú của người Hoa ở Bình Định là cư trú xen kẻ với người Kinh, ít tập trung thành các khu vực cư trú riêng, chính vì lẽ đó trải qua một quá trình lâu dài, người Hoa ở Bình Định đã hội nhập với người Kinh, dần dần thay đổi phong tục tập quán, ngôn ngữ... Hiện tại ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của người Hoa ở Bình Định là ngôn ngữ phổ thông (tiếng Việt). Tiếng Quan Thoại (tiếng phổ thông Trung Quốc), hay các phương ngữ (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến...) chỉ được một số ít người già sử dụng trong phạm vi gia đình. Còn lớp trẻ Hoa Kiều ở Bình Định hiện nay trong giao tiếp gia đình, giao tiếp xã hội đều dùng tiếng Việt. Quan hệ hôn nhân của người Hoa ở Bình Định hiện nay cũng đã khác trước rất nhiều. Thời kỳ trước đây (nhất là trong buổi đầu định cư ở Bình Định) hôn nhân có tính chất phổ biến của người Hoa là hôn nhân giữa những người đồng quốc (cùng một đất nước). Lúc bấy giờ người Hoa ở Bình Định chỉ lấy người Hoa khác dòng họ với mình. Hầu như không xảy ra trường hợp người Hoa lấy người Việt hay người Việt lấy người Hoa. Nhưng càng về sau (nhất là giai đoạn hiện nay) quan hệ hôn nhân của người Hoa ở Bình Định đã được mở rộng ra rất nhiều. Hàng rào ngăn chặn việc chỉ kết hôn với người đồng quốc phổ biến trong một thời gian dài trước đây của người Hoa ở Bình Định đã bị xóa bỏ. Hiện tại việc lấy vợ, lấy chồng, kết hôn cho con cháu gốc Hoa với người Việt ở Bình Định được xem như là một điều tất yếu của quá trình hội nhập. Dù thế trong gia đình tính chất phụ hệ gia trưởng của người Hoa ở Bình Định vẫn còn thể hiện khá rõ. Người chồng, người cha luôn là chủ gia đình. Trong các người con chỉ có con trai mới được thừa kế tài sản, trong đó người con trai cả bao giờ cũng được chia phần nhiều hơn.

    Việc tang ma theo phong tục Hoa phải lần lượt trải qua các bước: lễ báo tang, lễ phát tang, lễ khâm liệm, lễ mở đường cho hồn người chết về cõi “hư vô”, lễ hết tang. Trong một đám tang của người Hoa các lễ trên đều được thực hiện một cách đầy đủ, chặt chẽ. Đối với người Hoa, những người đã khuất: ông bà, cha mẹ, anh em... đều được cúng tại nhà nơi bàn thờ tổ tiên. Người Hoa quan niệm mọi vật đều có “hồn” hay “thần”. Đây là một thứ tín ngưỡng từ thời kỳ xa xưa, còn để lại dấu vết. Bên cạnh đó người Hoa

ở Bình Định còn chịu tác động, ảnh hưởng mạnh của đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật...

    Hiện nay người Hoa ở Bình Định ngoài các lễ Tết chung với người Việt như lễ Tết Nguyên Đán, Trung Thu, Đoan Ngọ, đồng bào còn có các lễ Tết riêng của mình như lễ Thượng nguyên (rằm tháng giêng), lễ Trùng cửu (mồng 9 tháng 9), lễ Thanh minh và nhiều lễ Tết khác.

    Tóm lại: Do những biến động lớn trong xã hội Trung Quốc nên đã dẫn đến hiện tượng di cư tập trung từng đợt và ồ ạt của người Hoa đến Việt Nam, trong đó có phố cảng Quy Nhơn. Khi đến Quy Nhơn tụ cư, những người Hoa đã liên kết lại với nhau trong các Bang, Hội. Sau đó từ Quy Nhơn, các Hoa Kiều đã toả ra một số nơi khác trên đất Bình Định. Với sinh hoạt kinh tế có tính phổ biến là trao đổi, buôn bán, thông thương hàng hóa, sinh hoạt kinh tế của người Hoa đã có vị trí nhất định trong hoạt động kinh tế của người dân Bình Định trong thời kỳ phong kiến và ngay cả trong thời kỳ cận đại. Tuy nhiên do sống giữa lòng người Việt trong một thời gian dài, nên cộng đồng Hoa Kiều ở Bình Định đã sớm hòa nhập vào xã hội Việt, trở thành một bộ phận dân cư vừa có bản sắc riêng, vừa mang bản sắc chung trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam: người Việt gốc Hoa.

 

III. DÂN TỘC BANA (BƠHNAR - BAHNAR)

 

1. Tên gọi, nguồn gốc và phân bố cư dân

 

    Dân tộc Bana có gần 137.000 người cư trú trên một địa bàn rộng lớn bao gồm vùng Đông Nam Kontum và Gia Lai thuộc Tây Nguyên và miền núi của hai tỉnh Bình Định và Phú Yên.11 Cụ thể người Bana phân bố trong phạm vi toàn quốc như sau (tính đến thời điểm năm 1999):

    Biểu: Dân số người Bana ở một số tỉnh.

STT Tỉnh Dân số (người)
01 Kontum 11.429
02 Gia Lai 110.007
03 Bình Định 15.235
04 Phú Yên 14.506

    Nhìn vào biểu bảng đó ta thấy, người Bana cư trú chủ yếu ở tỉnh Gia Lai. Điều đó đã được Nguyễn Trắc Dĩ nói rõ : “Trong lịch sử lãnh địa của sắc tộc này (chỉ người Bana) trên toàn tỉnh Plâyku, Phú Bổn, một phần của tỉnh Phú Yên, Bình Định. Vào cuối thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX có những cuộc chinh chiến giữa các sắc tộc Bana, Jarai, Sêđăng. Người Bana phía Bắc bị người Sêđăng phá phách, phía Nam bị người Jarai-Hơdrong đánh phá thường xuyên, nhất là những làng gần biên giới. Bởi vậy đến cuối thế kỷ XIX khu vực của người Bana cứ bị thu hẹp lại.12 Người Bana thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme. Ngoài tên gọi Bana ra, người Bana ở từng

(11 Lưu Hùng, Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên. Nxb VHDT. HàNội 1996, (trang 20).

12 Nguyễn Trắc Dĩ, Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam. Sàigòn 1972, (trang 38)).

vùng từng địa phương còn có những tên gọi khác như Gơlar, Tơlô, Giơ lâng (Y Lăng), Rơ Ngao, Kriêm, Roh, Conkdeh, A la công, K’pơng công, Bơ nâm... Từ trước tới nay có nhiều ý kiến phân chia dân tộc Bana theo những ngành, nhóm địa phương, hay chi tộc khác nhau. Đó là các ý kiến phân chia của Nguyễn Trắc Dĩ, Nguyễn Hữu Thấu, Lê Thị Ngọc Ái, và của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn.13 Các cách phân chia trên đây tuy có những điểm khác nhau về nhóm, chi tộc của người Bana nhưng thống nhất đều cho rằng: dân tộc Bana là cư dân bản địa lâu đời ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, có nền văn hóa cổ truyền khá hấp dẫn, lý thú được xếp vào hàng thứ 12 trong 53 các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.14

    Ở Bình Định người Bana cư trú ở các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão và 3 xã của huyện Hoài Ân, 1 xã và 3 làng của huyện Tây Sơn. Trong các huyện đó thì Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Ân là những huyện có người Bana sống tập trung đông nhất. Cụ thể người Bana phân bố trong các huyện này như sau:

    Biểu : Dân số và phân bố cư dân của người Bana ở Bình Định15.

Huyện Dân số (người) Ghi chú
Vĩnh Thạnh 6.454  
Vân Canh 5.267 Xen cư với người Chăm
An Lão 734  
Hoài Ân 2.100 Mới chuyển cư đến

(Nguồn : Số liệu do Ban Dân tộc - Miền núi tỉnh cung cấp năm1998).

    Kết quả nghiên cứu cho thấy người Bana ở Hoài Ân mới từ Vĩnh Thạnh

(13 Nguyễn Trắc Dĩ : “Đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam” do SG xuất bản 1972 chia người Bana ở Việt Nam thành 2 nhóm: Nhóm Bana miền Đông và nhóm Bana miền Tây :

+ Nguyễn Hữu Thấu trong bài viết “Dân tộc Bana Tây Nguyên” đăng ở Tập san Dân tộc học số 4/

1960 cho rằng Bana ở Việt Nam có 2 ngành lớn (Bana Kơpông Kông và Bana Alacông với 7 chi tộc khác nhau.

+ Lê Thị Ngọc Ái “Một số nét về xã hội người Bana” đăng trong tạp chí NCLS số 21-22 năm 1969 cho người Bana có 7 ngành lớn và 7 chi tộc khác nhau.

+ Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”(các tỉnh phía Nam) do Nxb KHXH Hà Nội ấn hành 1984 cho người Bana ở Việt Nam có 3 nhóm khác nhau. Đó là nhóm Rơ Ngao, nhóm Giơ Lăng và nhóm Krem.

    Xuất phát từ thực tế của nhiều cách phân chia khác nhau đó, chúng tôi rất tán đồng ý kiến của Yang Danh (người dân tộc Bana, Đại biểu quốc hội tỉnh Bình Định) là cần phải sớm có một cuộc hội thảo khoa học về người Bana trên phạm vi rộng.

14 Danh mục các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tạp chí Dân tộc học số 4/1978.

15 Theo tài liệu của Ban Dân tộc và miền núi tỉnh Bình Định).

chuyển cư sang. Người Bana ở Vân Canh trong quá trình tồn tại và phát triển đã trao đổi văn hóa rất mạnh với người Kinh, đặc biệt là người Chăm sống kề cận. Hiện tượng trao đổi, giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa người Chăm và người Bana ở Vân Canh đã hình thành nên trạng thái đan xen văn hóa rất đặc thù ở nơi đây. Chính vì thế, có lẽ người Bana ở Vĩnh Thạnh hiện còn giữ được nhiều nét văn hóa đặc thù tộc người nhất trong số những người Bana ở Bình Định.Tại huyện Vĩnh Thạnh người Bana phân bố như sau:

    Biểu : Phân bố người Bana ở huyện Vĩnh Thạnh.

Tên xã Số hộ Số nhân khẩu

Vĩnh Sơn

314 2.087

Vĩnh Kim

395 2.104

Vĩnh Hòa

176 931

Vĩnh Hảo

32 191

Vĩnh Quang

86 305

Vĩnh Hiệp

96 489

Vĩnh Thạnh

73 365
Tổng cộng 1.142 6.454

(Nguồn : Báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định năm 1998).

    Nhìn vào bảng phân bố dân cư đó chúng ta dễ dàng nhận thấy người Bana sống tập trung và đông nhất ở huyện Vĩnh Thạnh. Người Bana ở huyện Vĩnh Thạnh được cộng đồng người Bana trong vùng gọi là Bana K’ riêm. Ngữ nghĩa của danh từ K’riêm hiện nay nhiều cách giải thích khác nhau.16 Tuy thế đa phần ý kiến của người dân Bana ở Vĩnh Thạnh thừa nhận : danh từ K’riêm có nghĩa chỉ người Bana ở vùng thấp, phân biệt với người Bana ở vùng cao. Người Bana ở Vĩnh Thạnh cho rằng: xét về mặt nguồn gốc họ có cùng nguồn gốc với người Bana ở Gia lai, ở Kon Tum. Có một câu chuyện kể về nguồn gốc của người Bana ở Vĩnh Thạnh như sau:

    “Vào một ngày xa xưa, trên đất Việt, nhà vua bắt người Bana vào rừng tìm một loại gỗ quý có tên Sui cho vua làm cột cung điện. Người Bana đi vào

(16 Điều đó được thể hiện ở chỗ người thì cho K’riêm là để chỉ vùng đất, con suối, người thì tìm ngữ

nghĩa bên trong của từ K’riêm).

rừng tìm mãi, tìm mãi mà không thấy cây gỗ quý đó. Họ trở về tay không. Nhà vua tức giận nấu dầu đổ lên đầu họ. Người Bana sợ hãi chạy tan tác vào rừng. Trên đường chạy họ mang theo một chiếc ghè đựng rượu rất quý. Bị đói khát và mệt nhọc hành hạ, họ phải đổi chiếc ghè cho bà chủ đất có tên là Tu Lét để lấy đất sinh sống. Vùng đất đó chính là vùng đất miền Tây Bình Định ngày nay”.17

    Trong khi đó người Bana ở Vân Canh được gọi là Bơhua- Chăm roi hay Bana Bằng hường. Về nguồn gốc xa xưa của bộ phận Bana ở Vân Canh hiện đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có ý kiến cho rằng: có thể xưa kia người Bana ở đây chính là người Mađa mà bia ký Chàm đã nói đến.18 Qua một quá trình đấu tranh sinh tồn và chịu những biến động của lịch sử, người Bana ở vùng ven biển đã dần dần chuyển lên vùng cao hơn sinh sống. Nhưng có ý kiến khác lại xếp người Bana ở Vân Canh thành một bộ phận riêng gọi là Bana - Chăm.19 Cách giải thích này khó mà chấp nhận trên phương diện lý thuyết cũng như thực tế. Vì về mặt ý thức tộc người mà nói, người Bana cũng như người Chăm không bao giờ chấp nhận giữa họ lại có chung một nguồn gốc, cho dù hiện nay trong đời sống văn hóa của hai dân tộc này có những điểm giống nhau, đan xen vào nhau.

    Cho dù có nhiều ý kiến khác nhau về người Bana ở Vĩnh Thạnh, ở Vân Canh nhưng trên những nét lớn chúng ta có thể khẳng định người Bana ở Bình Định là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng Bana. Người Bana ở Bình Định hiện nay vẫn còn giữ lại được nhiều nét văn hóa của cộng đồng Bana nói chung. Tuy nhiên trong quá trình di cư, xáo trộn, sống xen kẽ, cận cư, người Bana Bình Định (nhất là người Bana ở Vân Canh) đã tiếp xúc, đan xen nhiều yếu tố văn hóa của người Chăm, người Kinh (Việt) sống bên cạnh.

 

2. Các đặc trưng văn hóa chủ yếu của người Bana ở Bình Định

 

    Một trong những đặc điểm dễ nhận biết trong cư trú của người Bana ở Bình Định là điểm cư trú của dân tộc này thường ở vùng rừng núi cao, nơi độ che phủ của rừng còn nhiều, thảm động thực vật phong phú, đa dạng. Đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế nương rẫy. Phải nói rằng trong ba dân tộc thiểu số sống lâu đời và có số

(17 Chuyện này do chúng tôi sưu tầm tại Vĩnh Thạnh tháng 3/1998.

18 Xem Đặng Nghiêm Vạn và các tác giả, Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kontum, Nxb KHXH, Hà Nội 1981.

19 Xem Nguyễn Trắc Dĩ, Các dân tộc thiểu số Việt Nam. Hội đồng sắc tộc Sàigòn 1974).

lượng đông của vùng núi Bình Định, dân tộc Bana có hoạt động kinh tế nương rẫy điển hình nhất. Hầu như kinh tế nương rẫy đã chi phối, tác động đến các hoạt động kinh tế khác của người Bana. Trước đây, ở người Bana bên cạnh kinh tế nương rẫy còn có kinh tế hái lượm, săn bắt, thu nhặt lâm thổ sản của núi rừng, chăn nuôi, làm một số ngành nghề thủ công (đan lát, dệt vải, rèn...). Tuy thế các ngành này còn chỉ có tính chất là kinh tế phụ, hỗ trợ cho kinh tế nương rẫy. Cây trồng chính trên nương rẫy của người Bana trong một thời gian dài là cây lúa cạn, bên cạnh đó còn có ngô, đậu, sắn, các loại bầu bí, các loại rau. Vào thời gian sau này nhất là giai đoạn hiện nay do nhiều nguyên nhân tác động (diện tích rừng tự nhiên bị  giảm, Nhà nước Việt Nam hạn chế chặt đốn phá rừng làm nương rẫy, xuất hiện một số ngành nghề sản xuất mới) vị trí của kinh tế nương rẫy trong các hoạt động kinh tế của người Bana ở Bình Định đã có những sự thay đổi. Dù thế phải chờ một thời gian nữa kinh tế nương rẫy của người Bana mới có sự thay đổi, mất dần vị trí chủ đạo, then chốt. Hiện tại người Bana đã chuyển sang phát triển kinh tế vườn, đầu tư cho chăn nuôi, đào ao thả cá, trồng lúa nước, nhất là việc trồng rừng và bảo vệ rừng hay đa dạng hóa cây trồng trên nương rẫy, ngoài trồng các cây lương thực, thực phẩm như trước đây, đồng bào còn trồng cây công nghiệp, cây cho giá trị kinh tế cao (tiêu, đào lộn hột, cà phê, mía, cam, chanh, trầu...), cây lấy gỗ, cây nhiên liệu (keo, tràm, bạch đàn, luồng...), nhưng rõ ràng hình ảnh cái nương, cái rẫy vẫn còn sâu nặng với người dân Bana.

    Ngôi nhà truyền thống của người Bana ở Bình Định là ngôi nhà sàn với hai kiểu khác nhau: ngôi nhà sàn nhỏ và ngôi nhà sàn lớn. Thời kỳ trước đây kiểu nhà sàn lớn thích hợp cho một đại gia đình (gia đình lớn, gia đình không phân chia cư trú trong đó) có tính chất phổ biến ở người Bana. Hiện nay ngôi nhà sàn dài ở người Bana không còn có tính chất phổ biến, đã mai một đi rất nhiều. Kiểu nhà phổ biến trong các làng của người Bana ở Bình Định hiện nay là kiểu nhà trệt, ngắn (nhà trệt nhỏ). Đây chính là những ngôi nhà ngói hay nhà đất xây dựng theo mô hình nhà của người Kinh (Việt), phù hợp cho một cặp vợ chồng và con cái cư trú. Có thể nói, cuộc chuyển đổi từ nhà sàn sang nhà đất ở người Bana diễn ra khá ồ ạt và rầm rộ nhất là đối với những người Bana ở vùng thấp. Trong các ngôi nhà truyền thống của người Bana ở Bình Định, ngôi nhà “rông” là ngôi nhà thể hiện rõ đặc tính tộc người nhất. Trước đây ngôi nhà “rông” của người Bana được  xây dựng khá to lớn và đẹp đẽ, đứng nổi bật lên giữa làng. Mỗi làng có một ngôi nhà “rông” riêng, xây dựng theo những quy mô to nhỏ khác nhau, với những cách bài trí và hình vẽ hoa văn trong nhà khác nhau. Ngôi nhà “rông” của người Bana là nơi làm việc hội họp, tiếp khách lạ của làng, nơi bàn việc công của những người già trong làng (hội đồng già làng), nơi thanh niên chưa vợ và trai góa vợ đến ngủ đêm... Đó cũng còn là nơi tổ chức các lễ hội cộng đồng, nơi đêm đêm bên ánh lửa bập bùng vang lên giọng kể chuyện trầm hùng của các già làng cho con cháu nghe về nguồn gốc, về sinh hoạt, về những anh hùng dân tộc... Chính vì lẽ đó mỗi một người dân Bana đều tự hào, kiêu hãnh về ngôi nhà “rông” của làng mình, của dân tộc mình.

    Đơn vị xã hội cơ bản của người Bana ở Bình Định trước đây là đơn vị làng (người Bana gọi là P’lei). Điều hành đơn vị xã hội ấy có một bộ máy tự quản của cộng đồng bao gồm: chủ làng và những người giúp việc cho chủ làng. Bộ máy tự quản của làng người Bana tồn tại và phát huy được năng lực là nhờ biết dựa vào các luật tục vốn có tự ngày xưa. Như thế luật tục của người Bana là sợi dây ràng buộc, liên kết, hướng dẫn con người đi vào những khuôn phép nhất định của cộng đồng. Trong xã hội của người Bana tính cộng đồng cao là đặc điểm nổi bật nhất. Tính cộng đồng cao được thể hiện trong sản xuất kinh tế (giúp đỡ, hợp sức trong khi làm nương rẫy...), trong cư trú (cư trú có tính phổ biến của người Bana trước đây là cư trú mật tập, quây quần...), trong ứng xử xã hội (đoàn kết, thương yêu, chia sẻ quyền lợi...), và cả trong đời sống tinh thần (sinh hoạt lễ hội chung, có lễ nghi tôn giáo chung...). Chính vì thế dù còn đói nghèo, còn vất vả, khổ cực nhưng trong xã hội của người Bana trước đây chưa hề có sự phân hóa giai cấp, mới chỉ có sự phân hóa giàu nghèo. Nhìn chung đó là một xã hội công bằng, thấm đượm tính nhân văn.

    Tính chất xã hội đó đã ảnh hưởng lớn đến tính chất gia đình, hôn nhân của người Bana ở Bình Định. Đối với người Bana, dù là con trai hay con gái đều được đối xử như nhau và đều có quyền kế thừa tài sản. Trong gia đình bố mẹ, con cái, anh em sống hòa thuận, đùm bọc, cưu mang nhau. Con cái được tự do tìm hiểu lựa chọn bạn đời, kết tóc xe duyên nhưng phải được sự chấp thuận của bố mẹ và sự nhất trí của cộng đồng. Người con trai, người con gái Bana đều có quyền chủ động trong việc tìm hiểu, trong khi cưới hỏi

hay trong hôn nhân. Các nghi lễ, cách thức tổ chức một đám cưới của người Bana đều được thực hiện theo những phong tục, tập quán, quy định của dân tộc (người làm mối, lễ vật thách cưới, cách thức tặng quà, cách thức ăn uống, giao tiếp của cô dâu, chú rể, vai trò của ông cậu...). Hình thức cư trú của đôi vợ chồng trẻ sau hôn nhân khá đa dạng: có thể cư trú ở nhà trai, hay cư trú ở nhà gái, có thể luân phiên cư trú bên nhà trai, bên nhà gái (tuỳ vào sự thoả thuận của hai gia đình hai vợ chồng). Đôi vợ chồng trẻ người Bana chỉ ra ở riêng khi họ đã sinh con đầu lòng. Trong việc đặt tên cho con cái, người Bana rất kiêng, phản đối những trường hợp đặt tên trùng với tên của tổ tiên hay những người thân. Đồng bào có nguyên tắc đặt tên riêng của mình để tránh trùng khớp. Đó là nguyên tắc đặt tên theo cách lấy chữ cái đầu của tên, hay cái âm gần nhau để nhận biết anh em ruột thịt, người cùng một dòng họ... Ví dụ nếu anh tôi là Chư thì tôi là Chữ, êm tôi là Chung, Chúng... Đối với những trường hợp hai người khác họ trùng tên, họ sẽ kết nghĩa anh em với nhau và phân biệt thứ bậc qua tuổi tác.

    Người Bana quan niệm mọi vật đều có linh hồn (quan niệm vạn vật hữu linh). Chính vì thế trong tâm linh của đồng bào có vô vàn các vị Yàng (thần, ma) khác nhau: thần núi, thần sông, thần đất, thần cây, thần nước... Trong hệ thống thần linh đó có thần ác (những thần thường mang lại rủi ro, ốm đau, bệnh tật, mất mùa, chết chóc cho đồng bào), thần hiền (những thần mang lại may mắn, được mùa, giúp cho đồng bào  lành bệnh, tai quan nạn khỏi) và cũng có những vị thần không ác không hiền. Một điều khá lý thú trong hệ thống thần linh của người Bana đó là sự sắp xếp thứ bậc, sự “phân công trách nhiệm” khá rõ ràng giữa các vị thần... Đồng bào Bana quan niệm con người chết đi sẽ thành ma, tồn tại trong cõi vô hình. Có 2 trường

hợp chết khác nhau: chết xấu và chết bình thường. Chết xấu là chết bất đắc kỳ tử, chết do hổ vồ, cây đè, nhất là trường hợp chết của thai nhi ở trong bụng mẹ. Đối với những trường hợp chết xấu đồng bào phải thực hiện nhiều kiêng cữ nặng nề, và thông thường không được chôn trong bãi tha ma của dòng họ của cộng đồng (làng). Còn chết bình thường là trường hợp chết già, chết do ốm đau... Đối với những trường hợp chết bình thường, đồng bào chôn cất trong nghĩa địa của làng, của dòng họ. Cách thức đưa đám và chôn cất người chết của người Bana được thực hiện theo những quy định từ xa xưa để lại. Trước đây quan tài của người Bana là thân cây đục rỗng, hiện nay cưa ván đóng quan tài. Người chết lúc đầu được chôn  cất ở khu vực mộ táng của làng, sau một thời gian đồng bào tiến hành lễ bỏ mả để cho linh hồn người chết về với thế giới tổ tiên. Đối với người Bana lễ bỏ mả được coi như lần cuối cùng tiễn biệt người đã khuất và vì thế đồng bào tổ chức khá to, khá chu đáo, mang tính cộng đồng.

    Cũng giống như nhiều dân tộc khác trong khu vực, trong đời sống văn hóa, người Bana có khá nhiều lễ hội với quy mô gia đình, quy mô cộng đồng khác nhau. Đó là những lễ hội như lễ hội cúng cơm mới, lễ vào mùa, lễ cúng máng nước, lễ nghi về cây lúa, mẹ lúa...và đặc biệt là lễ đâm trâu. Đồng bào Bana gọi lễ đâm trâu là Tăm Kờ pô hoặc Sa Kờ pô. Thông thường một lễ đâm trâu của người Bana ở Bình Định phải trải qua các bước sau đây:

    1. Chọn nguyên liệu làm cột đâm trâu : công việc này được tiến hành sau khi các chủ gia đình, dòng tộc đã bàn bạc và thống nhất ý kiến cho rằng cần phải tổ chức lễ đâm trâu để ăn mừng một sự việc nào đó. Công việc chọn nguyên liệu làm cột đâm trâu là công việc của những người nam giới. Thông thường đồng bào Bana ở Vĩnh Thạnh chọn những cây cao, thẳng, chắc... để làm cột đâm trâu.

    2.Trang trí hoa văn các loại trên cột đâm trâu. Đây là công việc công phu và cần nhiều thời gian nhất của lễ hội này. Bởi vì thông thường khi nhìn vào cột đâm trâu với sự trang trí kỳ công với nhiều hình vẽ, người ta có thể đánh giá được lễ đâm trâu này là to hay nhỏ, là sang trọng hay bình thường...Chính vì thế những người khéo tay, có đầu óc thẩm mỹ của cộng đồng Bana đều được huy động vào công việc này. Những “nghệ nhân dân gian” đã chạm trổ xung quanh cột đâm trâu hình thù những động vật (khỉ, hươu, nai, các loại chim...), và nhiều loại hình hoa văn cùng cây cối, mặt trời, mặt trăng...

    3. Chọn vị trí để dựng cột đâm trâu “gưng”. Thông thường vị trí để dựng cột đâm trâu phải rộng, tương đối bằng phẳng trong khu vực cư trú.

    4. Chọn trâu, lùa trâu và bắt trâu. Ngày trước ở người Bana trâu thường thả rong trong rừng nên trước ngày mở hội đâm trâu, yêu cầu những người đàn ông khỏe mạnh phải vào rừng chọn và lùa trâu về.

    5. Tiến hành cúng tế “khai mạc” lễ đâm trâu: đây là công việc của những già làng, những người chuyên lo việc cúng tế. Người chủ lễ sẽ thay mặt gia đình, dòng tộc, hay cộng đồng làng nói về ý nghĩa của cuộc đâm trâu và cầu mong các vị thần (Yàng) đưa lại những điều may mắn.

    Sau khi người chủ lễ làm xong thủ tục đó, những người nam giới sẽ gióng lên những hồi chiêng hồi cồng. Đây cũng là thời điểm lễ đâm trâu đi vào giai đoạn hào hứng nhất của nó.

    6. Người đàn ông già khỏe mạnh trong trang phục cổ truyền không khí rạo rực, sôi nổi của buổi lễ tiến hành đâm những phát đâm đầu tiên vào cổ con trâu, nếu con trâu chưa chết người ta tiến hành đâm tiếp cho đến khi con trâu ngã gục xuống. Lúc này chiêng cồng rền vang, mọi người say sưa, hò la nhảy múa.

    7. Tiến hành làm thịt con trâu. Đầu trâu để lại trên cột, còn thịt đem đi nấu nướng.

    8. Tổ chức ăn, uống rượu cần, vui chơi, nhảy múa, ca hát... Thông thường các công việc chính của một lễ đâm trâu kéo dài trong 3 ngày. Tất nhiên tuỳ vào tính chất của lễ đâm trâu mà có những hình thức đâm và tổ chức vui khác nhau.

    Lễ đâm trâu ở người Bana thường được tổ chức ở phạm vi cộng đồng. Ngày đâm trâu là ngày hội lớn của cả làng và cả dân tộc. Trong những ngày hội đâm trâu, mọi người mặc những bộ áo váy và múa những điệu múa dân tộc hết sức đặc sắc.

    Bên cạnh đó người Bana ở Bình Định còn có kho tàng văn nghệ dân gian khá đa dạng, phong phú và độc đáo. Đó là các làn điệu dân ca, các câu chuyện dài (H’amon) nói về các nhân vật anh hùng Bok Rok, Bok Sét, Riăh, Đăm Noi, Dyông, Dy Ông Chư, Diẽ Bya Rai...), các điệu múa (múa khiên: Soang Khêl, múa kiếm: soang đao, múa trống: soang sa gơl, múa cồng chiêng: soang cinh chiêng, múa que: soang Kơdẽh, múa bàu nước: soang ta lớp, múa tát nước: soang kơăi đăk...) các loại nhạc cụ (gồm nhạc cụ gõ, cồng chiêng, t’rưng, trống lớn, pơrưng); nhạc cụ vỗ: trống nhỏ Hê Hô, Khỏng khuy, Dung duk; nhạc cụ gãy: đàn gôn, đàn Bró; nhạc cụ kéo: đàn K’ni; nhạc cụ dùng hơi thổi: sáo Atal, kèn T’nốt, Zơ diếp H’la...), hay

các hình ảnh trang trí ở nhà mồ, nhà rông. Những hình thức nghệ thuật trên đây của người Bana ở Bình Định vừa mộc mạc, vừa đơn sơ nhưng lại hết sức tinh tế, sinh động, phóng khoáng như cuộc sống của cộng đồng dân tộc này.

 

IV. DÂN TỘC H’RÊ.

 

1. Nguồn gốc, dân số và phân bố dân cư

 

    Trong quá trình tồn tại và phát triển của người H’rê mang nhiều tên gọi khác nhau. Dưới chế độ phong kiến và thời thuộc Pháp, người H’rê được gọi bằng những tên gọi như: mọi Đá Vách, mọi Thạch Bích, mọi Sơn Phòng, mọi Cao, mọi Chòm, mọi Thanh Cù... Nhưng những tên gọi đó vừa không đúng, vừa không được đồng bào chấp nhận, nên hiện nay đã bị loại bỏ dần. Đồng bào H’rê tự gọi tên mình theo tên con nước nơi đồng bào cư trú. Ví như ở huyện Minh Long có con nước Rvá, gọi là “Người Rvá”, ở Ba Tơ có con sông Liên gọi là “người nước Liên”... H’rê là tên một đoạn thượng nguồn sông Trà Khúc, chảy qua vùng nơi đồng bào cư trú và đã trở thành tên gọi chính thức của dân tộc này.

    Trong phạm vi toàn quốc người H’rê có số lượng người tương đối đông, xếp thứ 19 về mặt dân số trong danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam. Người H’rê hiện có mặt tại tỉnh Bình Định, tỉnh Gia Lai, tỉnh Thuận Hải, nhưng tập trung đông nhất là ở tỉnh Quảng Ngãi. Tại miền Tây của tỉnh Quảng Ngãi người H’rê cư trú trong các huyện Sơn Hà, BaTơ, Minh Long, Trà Bồng, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức... với tổng số khoảng 90.000 người trong tổng số gần 100.000 người H’rê ở Việt Nam. So với các dân tộc khác ở miền Trung Việt Nam, quá trình cố kết tộc người diễn ra ở người H’rê rất sớm và rất mạnh. Quá trình cố kết đó được đẩy mạnh gấp bội vào thời kỳ từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay. Điều đó được phản ánh qua tên gọi thống nhất của cộng đồng người H’rê. Hiện tại những khác biệt nhỏ về nếp sống, về tiếng nói, về từng vùng, từng nhóm địa phương đã giảm đi rõ rệt, hình thành nên cộng đồng H’rê thuần nhất và thống nhất.

    Ở miền núi Bình Định người H’rê có mặt tại huyện Vĩnh Thạnh (khoảng vài trăm người) và cư trú tập trung ở huyện An Lão trên 7.000 người. Số người H’rê có mặt tại Vĩnh Thạnh mới từ An Lão chuyển qua. Chính vì thế khi nói đến người H’rê ở Bình Định chúng tôi đặc biệt lưu ý tới người H’rê ở huyện An Lão. Tại huyện An Lão người H’rê phân bố trong các xã như sau.

    Biểu : Phân bố của người H’rê ở huyện An Lão.20

Địa bàn cư trú

Chú thích

An Toàn

Xen cư

An Vinh

 

An Trung

 

An Quang

Xen cư

An Hưng

 

An Nghĩa

Xen cư

An Dũng

 

(Nguồn : Báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định năm 1998 - Tỉnh Quảng Ngãi năm 1997).

    Người H’rê dù sống ở Bình Định (An Lão, Vĩnh Thạnh), hay ở Quảng Ngãi (Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long, Trà Bồng, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức)... đều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền núi. Nhiều kết quả nghiên cứu về mặt ngôn ngữ của người H’rê đã cho thấy sự gần gũi giữa ngôn ngữ của dân tộc này với ngôn ngữ của dân tộc khác trong vùng như ngôn ngữ của người Bana, người Xơ Đăng, người Gié-Triêng... Về loại hình nhân chủng người H’rê thuộc loại hình nhân chủng Nam Á, của tiểu chủng Mông -gô- lô- ít phương Nam. Riêng về mặt nguồn gốc của người H’rê hiện vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau trong giới khoa học.21 Tuy nhiên trên thực tế, bản thân người H’rê lại coi miền Tây Bình Định (huyện An Lão), miền Tây Quảng Ngãi (bao gồm các huyện Sơn Hà, BaTơ, Minh Long, Trà Bồng, Tư Nghĩa) là quê hương lâu đời gắn bó mật thiết với quá trình sinh tồn và phát triển của đồng bào, là vùng đất mà tổ tiên người H’rê đã khai phá, tạo dựng lên. Điều này còn được phản ánh qua các truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc của người H’rê -ví như trong các câu chuyện kể người H’rê thường nhắc đến các tên các ngọn núi. Mùn, Rin có ở địa phương và xem đó như là vùng đất khởi thủy của dân tộc... Dù thế về

(20 Số liệu Ban Dân tộc miền núi tỉnh Bình Định cung cấp 1998 và Miền núi tỉnh Quảng Ngãi cung

cấp năm 1997.

21 Trong khoa học hiện có các quan điểm sau đây về nguồn gốc dân tộc của người H’rê.

- Quan điểm đi tìm nguồn gốc bản địa của vùng rừng núi Trường Sơn-Tây Nguyên.

- Quan điểm cho từng đồng bằng chuyển cư lên.

- Quan điểm cho từ nơi khác đến (điển hình là quan điểm của H-Haquet cho người H’rê từ Malaysia

đến)).

nguồn gốc dân tộc của người H’rê còn phải được tiếp tục làm rõ.

 

2. Các loại đặc trưng văn hóa chủ yếu của người H’rê

 

    Người H’rê ở Bình Định cư trú chủ yếu và tập trung tại vùng núi thuộc huyện An Lão, trên các vùng thung lũng tương đối bằng phẳng, gần nơi hội tụ các vùng sông suối lớn nhỏ. Chính vì thế khác với người Bana, trong hoạt động kinh tế của người H’rê bên cạnh hoạt động kinh tế nương rẫy còn có hình thức canh tác lúa nước. Canh tác lúa nước là một hình thức canh tác có mặt từ rất sớm, mang tính chất truyền thống của dân tộc H’rê. Có thể nói trong các dân tộc thiểu số ở miền Trung Việt Nam, người H’rê là một trong số ít các dân tộc thiểu số biết đến lợi ích của cây lúa nước từ thời xa xưa.22     Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, người H’rê sớm biết tận dụng địa hình để mở mang đồng ruộng, sớm biết khai phá cải tạo những vùng đất bằng phẳng, sình lầy làm nơi trồng lúa nước.Tùy theo địa hình của vùng đất, người H’rê chia khu đất trồng lúa ra làm mấy loại ruộng sau :

    -Ruộng Hóc : Ruộng Hóc là những mảnh ruộng được khai phá nơi đầu các con suối, nơi tương đối cao.

    -Ruộng K’rô dát. Ruộng K’rô dát là những mảnh ruộng bậc thang, thường ở những vùng đất thấp.

    -Ruộng Rộc. Ruộng Rộc là những loại ruộng bùn lầy, chạy theo các con sông suối lớn. So với các loại ruộng Hóc, ruộng K’rô dát thì ruộng Rộc khá bằng phẳng, lượng phù sa tích tụ nhiều, luôn có nước. Năng suất lúa của loại ruộng này thường khá cao, ổn định. Chính vì thế trong các loại ruộng hiện có, người H’rê rất chú ý tới loại ruộng Rộc và đã phát triển loại ruộng này thành những cánh đồng tương đối lớn (hàng chục, có khi lên tới hàng trăm mẫu). Đối với loại ruộng này đồng bào có thể canh tác một năm từ 1 đến 2 vụ lúa. Về phương thức canh tác lúa nước, từ lâu đồng bào đã biết dùng cày bừa, sức kéo trâu bò, biết làm thủy lợi (be bờ, đắp đập, làm mương dẫn nước...). Thời kỳ trước đây người H’rê thường gieo mạ trên đất khô, ngày nay đồng bào gieo mạ trên các ruộng bùn. Kỹ thuật gieo mạ trên ruộng bùn của người H’rê về cơ bản giống kỹ thuật gieo mạ của người Kinh (Việt) bừa san phẳng đám đất, sau đó vun thành từng luống và vãi lúa giống lên đó. Công việc tiếp theo của quy trình làm ruộng nước và làm đất trước khi cấy.

(22 Trong nhiều dân tộc thiểu số ở miền Trung Việt Nam chỉ có người H’rê và người Chăm có tập quán trồng cây lúa nước lâu đời).

    -Thời kỳ xa xưa người H’rê có bắt trâu làm sục bùn đám đất nào đó, nhưng hiện nay đồng bào thường dùng chiếc cày bắp dài và sử dụng sức kéo trâu bò vào việc cày cấy. Khi đất cày xong đồng bào bừa ngay. Thông thường người H’rê bừa 3 đến 4 lần cho đất bằng, vụn tơi rồi mới cấy. Lúa cấy được 15 đến 20 ngày, đồng bào làm cỏ đợt một, khi lúa trổ đòng, đồng bào làm cỏ đợt 2. Thời kỳ trước đây người H’rê ít có thói quen bón phân hữu cơ cho lúa, vì sợ làm bẩn lúa, lúa sẽ bỏ đi. Hiện nay cách chăm bón đối với cây lúa nước của người H’rê đã có nhiều đổi khác. Đồng bào đã tiến hành bón phân, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, nhất là chủ động trong việc tưới tiêu nhằm đảm bảo đủ nước cho cây lúa sinh trưởng. Vào khoảng tháng 4, 5 hay 8, 9 Âm lịch đồng bào tiến hành thu hoạch lúa. Công việc thu hoạch lúa là công việc của cả cộng đồng. Đồng bào H’rê thường dùng công cụ Hai (một kiểu liềm) để thu hoạch lúa ruộng.

    Như thế đối với người H’rê, canh tác lúa nước đã có từ lâu đời và đã để lại trong đồng bào những kinh nghiệm sản xuất quý giá (lịch thời vụ, cách làm đất, cách giữ nước, cách chọn giống...). Tuy nhiên như đã nói bên cạnh hình thức canh tác lúa nước ở người H’rê còn phố biến hình thức canh tác cây lúa cạn (canh tác nương rẫy). Có thể nói vị trí của kinh tế nương rẫy trong bức tranh hoạt động kinh tế của người H’rê (nhất là đối với người H’rê ở các địa phương ít có điều kiện làm ruộng cũng quan trọng không kém kinh

tế lúa nước. Đối với người H’rê sản phẩm của kinh tế nương rẫy đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết cái ăn và duy trì cuộc sống của người dân. Nhưng do nhiều nguyên nhân tác động, trong đó có nguyên nhân tập quán và kỹ thuật canh tác lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ,... nên kể cả việc trồng lúa cạn và lúa nước, trong một thời gian dài trước đây người H’rê vẫn thiếu lương thực trầm trọng. Để bù vào nguồn lương thực thiếu hụt và khắc phục tình trạng đói ăn, người H’rê đã tiến hành các hoạt động kinh tế khác như làm vườn, khai thác lâm thổ sản của núi rừng, chăn nuôi, đánh cá, làm các ngành nghề thủ công (dệt, đan, rèn) và trao đổi hàng hóa (hình thức trao đổi, buôn bán ở người H’rê không chỉ dừng lại ở hình thức vật đổi vật, vật ngang giá, hay về sau là dùng tiền mà còn xuất hiện một số người đứng ra làm trung gian cho các cuộc trao đổi). Dù thế đối với người H’rê ở Bình Định những ngành kinh tế này vẫn chỉ có tính chất là kinh tế phụ gia đình, hỗ trợ cho kinh tế nương rẫy, kinh tế lúa nước. Đối với người H’rê ở Bình Định trước đây cũng như hiện nay nguồn thu chính của đồng bào vẫn là nguồn thu từ ruộng lúa, thu từ nương rẫy.

    Người H’rê định cư thành từng làng (Plây) với quy mô to nhỏ khác nhau. Có thể nhờ kết quả của việc làm ruộng nước lâu đời nên nhìn chung làng của người H’rê khá ổn định ( nhất là đối với bộ phận người H’rê sống ở vùng thấp). Đồng bào H’rê chỉ dời làng trong những trường hợp có dịch bệnh dữ dội, có nhiều người chết “bất đắc kỳ tử”, hay trong những trường hợp có sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Còn nói chung đồng bào ít di dời làng với mục đích tìm đất mới làm ăn. Chính vì lẽ đó khi nhìn vào làng

của người H’rê ở vùng thấp thường thấy toát lên tính ổn định, bền lâu bởi thấp thoáng của bóng tre xanh, cây dừa, vườn trầu, cây cau, ao cá và ở một đôi nơi là giếng nước. Làng của H’rê đều có tên gọi riêng. Tên gọi làng của người H’rê thường là tên con sông suối, đồi núi, cánh đồng, đặc điểm nơi cư trú hay tên của người đứng đầu làng, người có công khai phá làng...Trong làng người H’rê, nhà cửa được bố trí sắp xếp theo hình dạng khác nhau :

    -Theo trục đường giao thông.

    -Theo địa hình nơi cư trú

    -Theo triền đồi từ thấp lên cao

    -Làng có 2 hay nhiều dãy với lối đi ở giữa.

    Nhà truyền thống của người H’rê là nhà sàn, có 2 hàng cột. Sàn cao cách mặt đất khoảng 1m. Kỹ thuật làm nhà khá đơn giản, chủ yếu dùng giá lắp, buộc. Nhà có 3 cầu thang chính: cầu thang ở cửa giữa (cửa A may) và hai cầu thang ở hai đầu hồi (Ing chin, Ing doảng). Người H’rê có tục ngủ nằm theo chiều ngang của sàn nhà, quay đầu về hướng đất thấp... Cấu trúc của ngôi nhà sàn H’rê mang vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng không kém phần chắc chắn. Hiện nay số lượng nhà sàn trong một làng người H’rê ngày một ít đi, thay thế vào đó là các ngôi nhà trệt (bằng ngói hoặc bằng tranh) theo lối của người Kinh (Việt)... Trước đây nghề dệt của người H’rê tương đối phát triển, áo quần của các thành viên trong gia đình đều do người phụ nữ dệt lấy. Bộ trang phục truyền thống của người đàn ông H’rê gồm: khăn đội đầu (có hai loại khăn: khăn đen dài và khăn trắng nhỏ), áo (màu đen hoặc chàm với ống tay dài, có khuy cài phía trước) và khố (một tấm vải dài độ 3 đến 4m, rộng 0,15 - 0,25m với tua 2 đầu). Bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ H’rê gồm: các loại trâm cài tóc, khăn đội đầu, áo 5 thân có khuy cài ở bên phải, yếm và váy 1 lớp hoặc 2 lớp. Ngoài ra đàn ông cũng như đàn bà H’rê còn đeo nhiều đồ trang sức ở tay, cổ... Hiện tại  người H’rê đã mặc và trang sức theo theo lối người Kinh (Việt). Bộ trang phục truyền thống chỉ còn được lưu giữ ở những người già, những người làm nghề tôn giáo hay trong những dịp tổ chức lễ hội của cộng đồng.

    Làng (Plây) là một đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất của người H’rê. Mỗi một làng có một bộ máy tự quản riêng. Bộ máy tự quản cộng đồng của người H’rê bao gồm: chủ làng (K’rã Plây hy Kan Plây) và những người giúp việc cho chủ làng (người xử kiện, hòa giải, người lo việc quân sự, người lo về tôn giáo: thầy cúng, thầy mo).

    Chủ làng H’rê là người đàn ông già, có kinh nghiệm trong sản xuất, quản lý điều hành công việc, am hiểu phong tục tập quán, nắm rõ địa giới của làng... Chủ làng H’rê có thể do dân làng bầu lên, có thể do ông là người có công khai phá tìm ra nơi cư trú đầu tiên cho cộng đồng làng. Nguyên tắc làm việc của chủ làng H’rê là dân chủ, tập trung. Khi giải quyết công việc ông đều trao đổi tham khảo ý kiến của những người già trong làng (Hội đồng già làng) nhưng quyết định cuối cùng là do ông. Trừ một số ít chủ làng H’rê trong thời Pháp thuộc giàu lên nhờ các nguồn thu bất chính, còn hầu hết các chủ làng H’rê là những người sống hòa mình trong đời sống cộng đồng. Ông được dân làng vì nể, kính trọng là nhờ vào năng lực điều hành, quản lý, vào vốn kiến thức được tích lũy, và nhất là vào khả năng lao động của ông. Hiện nay trong một làng của người H’rê bên cạnh tổ chức tự quản truyền thống với vai trò cao của người chủ làng (K’rã Plây), còn có tổ chức bộ máy hành chính các cấp (Đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội. Hai bộ máy quản lý đó có những tiếng nói riêng, có những ảnh hưởng tích cực khác nhau đối với người dân địa phương, nhưng đều hướng tới mục đích chung là quản lý cộng đồng , quản lý tới hệ sinh thái nhân văn và ở vùng các dân tộc thiểu số. Chính vì thế yêu cầu đặt ra hiện nay là phải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn cách thức quản lý của hai bộ máy : bộ máy quản lý cộng đồng và bộ máy quản lý Nhà nước trong vùng người H’rê tỉnh Bình Định.

    Người H’rê ở Bình Định có hai hình thức sở hữu khác nhau:

    - Sở hữu cộng đồng.

    Thời kỳ trước kia sở hữu cộng đồng thể hiện khá rõ. Đó là những quy định về phạm vi cư trú, về việc sở hữu các tài nguyên rừng, đất, nước, cũng như các nguồn lợi có ở trong đó (bao gồm nguồn lợi về động, thực vật). Hiện nay sở hữu cộng đồng truyền thống đã thu hẹp đi rất nhiều. Hình thức sở hữu bao trùm hiện nay là sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể. Cố nhiên hình thức sỡ hữu tập thể, sở hữu Nhà nước trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, trong vùng người H’rê ở Bình Định nói riêng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.

    - Sở hữu cá thể.

    Đối với người Hrê ở Bình Định hình thức sở hữu cá thể là hình thức sở hữu chiếm ưu thế trong các hình thức sở hữu. Sở hữu cá thể của người H’rê bao gồm sở hữu về những tài sản cá nhân, gia đình. Ở người H’rê, tài sản có giá trị đáng nói nhất là tài sản thuộc về ruộng đất, nương rẫy. Đây cũng là điều làm nên tính khác biệt trong vấn đề sở hữu cá nhân của người H’rê so với sở hữu cá nhân của các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn-Tây Nguyên. Điều đó thể hiện ở chỗ: Đối với người H’rê không chỉ ruộng trở thành tư hữu mà một đôi nơi, nương rẫy cũng trở thành tư hữu (khi chuyển cư sang địa điểm mới nhưng người H’rê vẫn có quyền đối với đám nương rẫy cũ của mình như thu hoạch các sản phẩm trên đó và ai muốn khai phá phải có sự thỏa thuận với chủ cũ...). Thời kỳ trước đây (nhất là trong thời kỳ Pháp thuộc) đối với ruộng nước người H’rê có quyền trao đổi, chuyển nhượng, mua bán. Chính vì thế đã dẫn đến hiện tượng có những gia đình có tới hàng chục ha ruộng nước, trở nên khá giàu có, ngược lại có những gia đình ngày một nghèo đi do không có ruộng đất.

    Trên cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu về ruộng đất, nên ở người H’rê đã diễn ra sự phân hóa giai cấp ở những mức độ nhất định. Vào thời kỳ trước đây, trong xã hội của người H’rê đã hình thành nên các bộ phận dân cư: những người giàu có (Kan proong), những người đủ ăn hay có dư thừa chút ít (Plâp cá), những người thiếu ăn, sống chật vật (lơ xa) và những nô lệ vì nợ (Poọng hay hpoong). Dù thế ranh giới giữa giàu và nghèo ở người H’rê không phải là bức tường quá vững chắc, là hố ngăn cách không thể nào vượt qua nổi. Hơn thế nữa sự phân hóa ở đây là sự phân hóa của cư dân vùng núi, của cư dân làm nương rẫy, của cư dân có tính cộng đồng cao... nên mức độ, quy mô rõ ràng không lớn lắm và nhất là không triệt để.

    Hình thái gia đình phổ biến của người H’rê ở Bình Định hiện nay là gia đình nhỏ gồm bố mẹ, con cái hoặc thêm ông bà cư trú trong đó. Tuy thế trong các làng của người H’rê đây đó vẫn tồn tại hình thái gia đình nhiều thế hệ hay gia đình lớn. Những gia đình của người H’rê dù là gia đình lớn, gia đình nhiều thế hệ ở chung nhà, ăn chung nồi, có nương rẫy và kho thóc chung. Đó cũng chính là những hạt nhân để cấu tạo nên các dòng họ người H’rê. Người H’rê có nhiều dòng họ khác nhau, tuy thế những tên gọi dòng họ như họ Đinh, họ Phạm, họ Nguyễn, họ Hồ, họ Lê... là những tên gọi họ vay mượn, ảnh hưởng của người Kinh. Người H’rê lấy họ theo dòng cha. Trong gia đình người chồng, người cha là chủ gia đình. Tuy vậy trong gia đình của người H’rê không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Vợ chồng, con cái đều đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau. Con cái dù nam hay nữ đều được quyền thừa kế tài sản. Trong các người con, người nào phụng dưỡng cha mẹ được chia phần nhiều hơn. Đối với người H’rê, bố mẹ thường có xu hướng ở với người con trai út. Tâm lý thích đông con (và gần đây là thích con trai) là tâm lý phổ biến của các cặp vợ chồng người H’rê. Người H’rê thực hiện hôn nhân theo nguyên tắc ngoại hôn triệt để và theo nguyên tắc một vợ một chồng. Người H’rê tuyệt đối cấm những trường hợp trong dòng họ lấy nhau. Ai vi phạm luật tục này sẽ bị ghép vào tội loạn luân (là một tội rất nặng trong hệ thống tộc của người H’rê), bị cộng đồng lên án và bị nguyền rủa. Trong sinh hoạt hàng ngày người H’rê có những quy định ngặt nghèo nhằm hạn chế việc tiếp xúc riêng giữa bố chồng, anh em trai bên phía chồng với cô dâu hay mẹ vợ với chị em gái của vợ với chú rễ.23

    Người H’rê rất tôn trọng tình yêu và ý kiến của đôi trẻ đối với vấn đề hôn nhân. Một đám cưới của người H’rê bao giờ cũng phải tuân thủ theo những quy định của luật tục. Đám cưới của người H’rê thường được tổ chức vào thời gian cuối năm, khi đã thu hoạch lúa rẫy, lúa ruộng xong. Đây là thời gian rảnh rỗi trong năm và phù hợp về mặt thời tiết, khí hậu. Ngày cưới của người H’rê là ngày vui lớn của hai trẻ, hai gia đình, hai dòng họ. Vào ngày cưới của đôi trẻ, bà con, anh em thân thiết dù ở xa mấy cũng cố gắng về dự đông đủ.

    Trong ngày cưới mọi người uống rượu (nhất là rượu cần), ca hát, nhảy múa vui vẻ. Đối với người H’rê, bên trai hay bên gái đứng ra tổ chức đám cưới đều được (miễn là hai bên nhất trí với nhau). Bên gia đình nào đón dâu (hoặc rể) về nhà mình, bên đó sẽ tổ chức đám cưới to hơn. Trường hợp đón dâu về nhà trai, nhà trai cử một cô gái đi đón, nhà gái sẽ cho một cô gái tiễn đưa. Cô dâu khi về nhà chồng phải đi vào theo lối cửa “may”. Trường

(23 Trước đây đó là những quy định như: không sử dụng đố tục, không sử dụng nằm ngồi sai nơi quy định, không đi riêng với nhau).

hợp đón rể về nhà gái, nhà gái sẽ cử một chàng trai đưa tiễn. Chú rể khi về nhà vợ phải đi qua cửa “mắtk”. Trong đêm tân hôn những người đưa tiễn sẽ ở lại cùng với cô dâu hoặc chú rể. Sáng ngày hôm sau cưới, đôi vợ chồng trẻ về nhà bố mẹ vợ (hoặc chồng) chào hỏi, tạm biệt người thân. Sau đó sẽ trở về nơi cư trú đã được thỏa thuận từ trước... Hiện nay trong hôn nhân của người H’rê đã có những cách tân, đổi mới. Một trong những cách tân đổi mới cần được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển đó là xu thế hôn nhân

giữa những người khác dân tộc, như hôn nhân giữa người H’rê với người Bana, hôn nhân giữa người H’rê với người Kinh (Việt).

    Trong thời gian dài trước đây, người H’rê thường tin vào các lực lượng siêu nhiên. Đồng bào đã thần thánh hóa sức mạnh của tự nhiên qua một hệ thống thần đông đảo, có đặc điểm về giới tính, có thứ bậc rõ ràng, và có chức năng cụ thể. Đó là hệ thống thần ở tầng trời, tầng đất, và xung quanh con người. Trong quan niệm của người H’rê, các hệ thống thần đó đã có tác động khác nhau đến đời sống con người. Con người phải tôn thờ, phải cầu cúng để các thần “bớt giận làm vui”, mang lại sự may mắn, hạnh phúc cho con người. Người H’rê quan niệm mỗi một con người đều có hai phần tồn tại song hành trong đó : phần xác và phần hồn. Phần xác là phần hiện thực. Phần hồn là phần hư vô, mông lung nhưng có sức mạnh siêu phàm. Người H’rê cho rằng : mỗi một người đàn ông có 7 hồn ( mhua) và người đàn bà có 9 hồn. Khi con người chết hồn vẫn tồn tại. Có thể xuất phát từ quan niệm này mà người H’rê đã có những quy định rất chặt chẽ về việc làm ma cho người chết. Người H’rê quan niệm có hai cái chết : chết bình thường và chết xấu. Người chết bình thường được đặt tại nhà, trong tư thế nằm ngửa. Sau khi làm xong các thủ tục : rửa mặt, tắm rửa, thay áo quần, người chết được bó vào chiếu hay vào quan tài (trước đây quan tài được làm bằng một thân cây đục rỗng, nay là các tấm ván ghép lại). Xác chết sẽ được quàn tại nhà trong 2-3 ngày (trước đây đối với người giàu là 3-4 ngày). Trong những ngày có người chết, người H’rê cấm người lạ vào làng. Đồng bào chỉ tổ chức đón tiếp những người bà con thân thích từ nơi khác về. Những ngày làng có đám tang các thành viên trong làng hợp sức với gia đình của người chết lo cho người quá cố. Thông thường trong những ngày này cả làng tổ chức ăn uống với nhau. Người H’rê có những cách thức biểu hiện tình cảm với người chết như khóc than, đập đầu, rạch đùi (nhiều vết sẹo còn để lại ở người già là hậu quả của trường hợp này)... Theo phong tục cổ truyền của người H’rê, người chủ gia đình khi chết đi, quan tài sẽ được đưa ra khỏi nhà qua cửa chính phía đầu nhà, còn các thành viên khác đưa qua cửa “mang” (cửa bên hông). Sau khi chôn cất người chết xong, đồng bào H’rê tiến hành làm nhà mồ và tiến hành chia của cho người quá cố. Của cải chia cho người chết bao gồm những thứ mà khi người đang sống đã sử dụng. Người H’rê không có tục để tang lâu như người Việt. Đồng bào chỉ nghỉ ngơi (không làm việc, không ca hát, không tham gia hội hè, cưới xin...) trong 5 ngày kể từ sau khi mai táng người chết. Sau 5 ngày tang chủ đem một con gà nhỏ ra cạnh làng cúng, tỏ lòng an ủi và chia tay lần cuối cùng với linh hồn người đã khuất. Trước tết trong năm có tang, tang chủ tổ chức cúng ở nhà mồ. Sau đó người H’rê chỉ cúng vong linh người đã khuất vào những dịp gia đình gặp rủi ro, ốm đau hay nghi ngờ tổ tiên quở phạt... Đồng bào không tổ chức cúng người chết vào ngày mất.

    Người H’rê thích sáng tác thơ ca, ham múa hát, và sành điệu trong việc chơi các loại nhạc cụ. Làn điệu dân ca quen thuộc và thể hiện rõ bản sắc dân tộc là làm điệu Ka Choi và Ka Lêu. Đồng bào H’rê có một kho tàng chuyện cổ dân gian khá lớn và khá phong phú. Nội dung các chuyện cổ của người H’rê ca ngọi tình yêu đôi lứa, về cuộc đấu trí giữa cái thiện cái ác, giữa người giàu và người nghèo, về quan niệm sống... Nhạc cụ của người H’rê gồm nhiều loại : đàn Brook, ching Kala, sáo linhta, tiêu ta-lia, đàn ống bơ bút, kèn ra-vai, ràng ngói, Pơren, các loại trống... Trong các loại nhạc cụ đó, nhạc cụ được đồng bào H’rê quý nhất là chiêng, cồng. Chiêng, cồng của người H’rê thường dùng bộ 3 chiếc, 5 chiếc với các nhịp điệu, âm thanh khác nhau.

 

V. DÂN TỘC CHĂM.

 

1. Nguồn gốc phân bố và dân số dân tộc Chăm ở Bình Định

 

    Trong bảng danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam do Tổng cục Thống kê chính thức ban hành ngày 2/3/1979, nhóm Hroi (hay còn gọi là Chăm Hroi) cùng với nhóm Chiêm Thành được xếp chung làm một dân tộc (dân tộc Chăm). Dân tộc Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Phú Yên.24 Trong hai nhóm : nhóm Hroi (Chăm Hroi) và nhóm Chiêm Thành (Chăm) của dân tộc Chăm thì nhóm Chiêm Thành từ trước tới nay đã được giới nghiên cứu quan tâm rất nhiều và đã có những kết luận tương đối thỏa đáng về mặt nguồn gốc, cũng như đặc trưng văn hóa tộc người.25 Riêng nhóm Hroi (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên, sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như những kết luận về mặt nguồn gốc đối với bộ phận cư trú tộc người này lại không giống nhau. Chúng ta biết rằng nhóm Chăm (Chăm Hroi) hiện có khoảng trên 12.000 người phân bố các địa phương của Bình Định và Phú Yên như sau :

    Biểu : Dân số và phân bố dân cư trú của người Chăm ở Bình Định và Phú Yên :

Địa phương

Dân số (người)

Vân Canh

4393

Sơn Hòa (Phú Yên)

5424

Đồng Xuân (Phú Yên)

2519

Tổng cộng

12.336

(Nguồn : Báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi 2 tỉnh Bình Định, Phú Yên năm 1999).

    Người Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên có mối quan hệ mật thiết với nhau và có một quá trình phát triển vừa chung, vừa riêng rất đáng được chú ý trong cộng đồng Chăm (Chàm) trên phạm vi cả nước. Theo các cụ già người Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên kể lại cách đây 50-70 năm người Chăm Hroi còn ăn mặc lối người Chăm. Hiện nay họ đã ăn mặc theo lối người Bana, người Kinh. Hơn thế nữa hình thức tôn giáo phổ biến của người Chăm Hroi là đa thần giáo, ngôn ngữ của họ 86% từ chung với nhóm Chăm...26 Có thể cũng vì những lý do đó mà các tác giả người Mỹ đã xếp chung người Hroi (Chăm Hroi) với người Bana làm một, còn tác giả của cuốn sách “Cao nguyên miền Thượng” lại coi người Hroi (Chăm Hroi) là một trong những sắc tộc nhỏ của người Gia Rai.27 “Hroi lai giữa giống Djarai và Rhadé, có nhiều huyết thống Djarai hơn Rhadé”.28 Ngoài ra còn có ý kiến cho người Chăm ở Bình Định và ở Phú Yên thuộc nhóm độc lập, như những tộc người khác trên đất nước Việt Nam.

    Ở Bình Định, người Chăm (Chăm Hroi) cư trú tập trung ở huyện Vân

(24 Danh mục Thành phần dân tộc ở Việt Nam do Tổng cục Thống kê ban hành năm 1979.

25 Phạm Xuân Biên và các tác giả, “Văn hóa Chăm” . Nxb KHXH Thành phố Hồ Chí Minh 1991.

26 Nguyễn Văn Lợi, Sự phân loại và tình hình phân bố các ngôn ngữ dân tộc ở miền Nam nước ta.

T/ c DTH số 1/1987.

27 “Những nhóm thiểu số tại Cộng hoà Việt Nam” Sàigòn 1966.

28 Cửu Long - Toan Ánh , Cao nguyên miền Thượng, Sàigòn. 1974)

Canh. Tại huyện Vân Canh, người Chăm cư trú với người Bana và người Kinh. Người Chăm ở huyện Vân Canh tỉnh Bình Định có khá nhiều tên gọi và tên tự gọi khác nhau : Chăm Hroi, Hroi, A Roi, Chăm Đắc Rây, Chăm Hơ đang, Chăm Đèo... Theo đồng bào Chăm ở Vân Canh, Chăm Hroi (hay Hroi, A Roi) là những người Chăm ở vùng cao, người Chăm ở vùng núi. Chăm Đắc Rây hay Chăm Hơ đang là Chăm phía mặt trời mọc. Đồng bào Chăm ở Bình Định giải trình : trước kia người Chăm sống ở vùng thấp, vùng mặt trời mọc, sau đó do nhiều nguyên nhân họ đã chuyển lên vùng cao (vùng có tên là Hroi). Hiện nay người Chăm ở Vân Canh rất tự hào khi gắn ý nghĩa Chăm với nghĩa “Chăm mặt trời mọc”. Còn Chăm Đèo không có nghĩa chỉ người Chăm ở bên kia đèo mà là tên người Chăm ở Phú Yên gọi người Chăm ở Vân Canh... Hiện nay trong giới khoa học cũng chưa có kết luận chắc chắn, cuối cùng về nguồn gốc người Chăm ở Bình Định và Phú Yên. Giới khoa học chỉ khẳng định người Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định, Phú Yên là một bộ phận trong cộng đồng Chăm ở Việt Nam. Như thế việc nghiên cứu nguồn gốc Chăm (Chăm Hroi) ở Bình Định và Phú Yên cần phải được tiếp tục làm rõ theo các giả định sau:

    + Có thể gốc gác của người Chăm ở Bình Định, Phú Yên vốn là những người Chăm cổ. Những người Chăm cổ này sau sự kiện thất bại của vương quốc Chiêm Thành ở Thành Đồ Bàn đã chạy dạt lên miền núi rồi tụ cư lại ở đó. Trong quá trình sinh sống ở miền núi, do tách biệt với cộng đồng ban đầu, do giao lưu và chịu ảnh hưởng của người Bana sống trước đó (29) nên trong văn hóa của bộ phận “Chăm miền núi” này dần dần xuất hiện những yếu tố văn hóa mới. Những yếu tố văn hóa mới hình thành đó càng được củng cố và phát huy khi mà quá trình cận cư, xen cư được đẩy mạnh với tốc độ lớn trên đất Vân Canh vào thời gian sau này.

    + Có thể họ vốn là những nhóm địa phương của người Chăm cổ đã có mặt từ rất lâu trên đất Bình Định, Phú Yên, hay từ nơi khác đến. Những nhóm địa phương tộc người này trong quá trình tồn tại và phát triển của mình vừa mang những yếu tố của văn hóa nguồn cội văn hóa Chăm, vừa mang những yếu tố văn hóa khác nguồn cội do sự thay đổi của môi trường sống tạo nên.

    + Có thể người Chăm ở Bình Định, Phú Yên là một tộc người riêng biệt

(29 Trong các dân tộc thiểu số có mặt ở vùng núi Vân Canh , dân tộc Bana được người dân địa phương xem là dân cư trú có mặt sớm và lâu đời nhất).

với những tiêu chí xác định đầy đủ, cụ thể rõ ràng (ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức...). Dù thế tộc người này trên con đường hình thành của mình đã tiếp thu, ảnh hưởng sâu đậm văn hóa của tộc người sống kế cận.

    Hiện tại người Chăm ở Bình Định có khoảng 4.500 người, được phân bố tập trung trong các xã sau đây:

    Biểu : Địa bàn, phân bố của người Chăm ở huyện Vân Canh.

STT Địa phương Ghi chú

01

Canh Hiệp

 

02

Canh Thuận

Sống xen cư với người Bana

03

Canh Hòa

Sống xen cư với người Bana, Kinh

04

Canh Liên

 

05

Các xã khác

Không đáng kể

(Nguồn : Báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định).

    Tóm lại: Người Chăm (hay Chăm Hroi) ở Bình Định hiện nay có số lượng không nhiều (khoảng 4.500 người), nhưng đó là một trong những dân tộc thiểu số có mặt lâu đời của vùng đất này. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình dân tộc này đã có những ảnh hưởng, tiếp thu văn hóa của các dân tộc sống kế bên (hay các dân tộc sống kế bên đã tiếp thu chịu ảnh hưởng văn hóa của dân tộc Chăm). Đây là một trong những nguyên nhân làm nên tính phức tạp khi xem xét nguồn gốc dân tộc của bộ phận Chăm “Hroi” ở miền núi Vân Canh tỉnh Bình Định.

 

2. Các đặc trưng văn hóa chủ yếu của người Chăm ở Bình Định

 

    Người Chăm (nếu là một bộ phận của người Chăm cổ), trước kia vốn cư trú ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam, trong kinh tế của dân tộc này có các ngành sản xuất khá phát triển đó là sản xuất  nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi), đánh cá biển và buôn bán nhỏ. Có thời kỳ trong sản xuất nông nghiệp của dân tộc này đã biết dùng đến sức kéo của trâu bò, biết dùng thủy lợi, biết dùng phân bón. Nhưng kể từ khi chuyển lên vùng núi huyện Vân Canh cư trú, trong hoạt động, trong kết cấu kinh tế của nhóm cư dân này đã có những thay đổi. Đó là sự mất đi của nghề đánh cá biển, sự thu hẹp lại của nghề buôn bán và đặc biệt là sự ra đời của một hình thái kinh tế khác thích ứng với môi trường, cảnh quan vùng núi, hình thái kinh tế nương rẫy. Hình thái kinh tế nương rẫy là hệ quả của điều kiện sống ở vùng núi và đã mau chóng tác động mạnh đến người Chăm ở Vân Canh. Người Chăm ở Vân Canh đã bắt nhịp rất nhanh với hoạt động kinh tế nương rẫy nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ con người. Dù thế các hoạt động kinh tế truyền thống của người Chăm trước đây (nghề trồng lúa nước, nghề thủ công, nghề buôn bán) vẫn phát huy tác dụng. Một sự kết hợp khá là lý thú giữa yếu tố kinh tế cũ (truyền thống) và yếu tố kinh tế mới (cách tân hiện đại) đã xảy ra khi người Chăm chuyển cư từ đồng bằng lên vùng núi. Điều đó được thể hiện ở tính đa dạng trong hoạt động kinh tế của người Chăm ở Vân Canh hiện nay. Khai phá ruộng khô (đất nà thổ) trồng lúa cạn, phát triển kinh tế nương rẫy, đầu tư cho kinh tế vườn, làm ruộng nước, phát triển chăn nuôi, tiến hành săn bắn, đánh cá, hái lượm, thu nhặt lâm thổ sản núi rừng... Tuy nhiên trong các hoạt động kinh tế đó, hoạt động kinh tế nương rẫy chiếm vị trí trọng yếu trong kinh tế của người Chăm ở

Vân Canh.

    Người Chăm ở Vân Canh tỉnh Bình Định, vốn đã đạt đến trình độ phát triển khá cao trước đó nên từ bao đời nay dù ở trong tình trạng nào, làng của người Chăm vẫn là một hợp thể cân đối, hài hoà trong quy hoạch xây dựng. Đó là sự cân đối trong cấu trúc, sự hài hòa trong việc bố trí, sắp xếp nhà cửa, vườn tược, đường sá... làng của người Chăm ở Vân Canh thường được chia thành nhiều Pla nhỏ (nhóm gia đình), cách nhau bởi những dãy rào, dòng suối, con đường. Thông thường chạy dọc theo chiều dài của một làng Chăm là một trục đường lớn nối các gia đình lại với nhau. Từ trục đường lớn đó phân ra các trục đường nhỏ giống như những đường gân trên các chiếc lá. Hai bên đường làng hiện nay thỉnh thoảng đồng bào trồng điểm xuyến một vài cây gạo hoặc bông gòn. Cấu trúc làng Chăm như vậy gợi lên hình ảnh của một ngôi làng ngăn nắp, nhưng không đơn điệu. Mọc lên trong những làng Chăm là những ngôi nhà sàn truyền thống (có nhiều ở những thời kỳ trước đây) và những ngôi nhà trệt bằng tranh, tồn hay ngói (có nhiều trong những năm sau này). Ngôi nhà sàn truyền thống của người Chăm thường nhỏ nhưng cân xứng và thoáng mát. Nhà sàn của người Chăm trổ cửa lên xuống phía đầu hồi. Bước lên cầu thang là một khoảng sân hẹp lộ thiên trông như một hành lang. Khoảng không gian đó vừa là sân phơi, vừa là một cách bài trí nhằm tăng thêm vẻ duyên dáng của ngôi nhà hay để thể hiện ý tưởng hòa đồng với thiên nhiên sau một ngày lao động vất vả, trong những đêm trăng sáng... Có thể nói ngôi nhà sàn truyền thống của người Chăm là một công trình kiến trúc thủ công độc đáo. Nhìn đại thể một ngôi nhà sàn truyền thống của người Chăm bao giờ cũng tạo nên một cảm giác mảnh mai, nhẹ nhàng từ kết cấu của bộ khung nhà, đến vách... Trong ngôi nhà Chăm chứa đựng nhiều vật dụng khác nhau: những phương tiện phục vụ cho sinh hoạt gia đình, cá nhân (các loại gùi, các loại ché, đồ đựng áo quần, lương thực, thực phẩm, tư trang, y phục, nồi niêu, soong chảo..., hiện nay còn là giường tủ, bàn ghế, tivi, đài...), những phương tiện phục vụ cho đời sống tâm linh (trống, chiêng, đàn, bàn thờ...) Người Chăm dù đàn ông hay đàn bà đều mặc kiểu áo giống áo bà ba của người Kinh (Việt). Chiếc áo cổ truyền của người Chăm cổ tròn, hay dài không xẻ, thường màu trắng, không có trang trí hoa văn...Vào những ngày lễ, ngày hội, đàn ông Chăm thường mặc bộ y phục màu trắng, đầu đội khăn, ngoài mặc thêm chiếc áo “ghon”. Áo “ghon” xẻ hai bên nách, không có cúc, chỉ có dây buộc trước bụng, trên hai vai áo có ráp hai miếng vải đỏ, sau lưng và mặt trước của áo có trang trí một đường màu đen, từ đường chỉ này có những dây cườm xanh, đỏ, trắng với những đồng xu lủng lẳng treo ngay gấu váy. Váy của người phụ nữ Chăm là một tấm vải không khâu thành ống gồm hai bộ phận: dây thắt lưng và tấm váy. Đằng sau tấm váy có miếng “phờ” (miếng vải gắn vào thêm dài 40cm, ngang 20 cm, có trang trí hoa văn). Nghề dệt vải là nghề truyền thống của người Chăm và hiện còn tồn tại nên ở dân tộc

này việc bảo lưu được những trang phục dân tộc là một điều tất yếu. Dù thế, với nhiều lý do, hiện nay đồng bào đã ăn mặc theo kiểu hiện đại, theo lối người Kinh (Việt ).

    Cũng giống như các dân tộc Bana, H’rê, đơn vị xã hội cơ bản, duy nhất của người Chăm ở Bình Định là đơn vị làng (Plây). Thời kỳ trước kia làng của người Chăm chỉ bao gồm những người cùng một dòng máu (cùng một họ, cùng một huyết thống). Tuy thế so với người H’rê, đặc biệt là người Bana, tính chất huyết thống trong tổ chức làng của người Chăm đã bị phá vỡ từ rất sớm, thay thế vào đó là tính chất láng giềng, cận cư, đồng tộc. Đứng đầu một làng của người Chăm trước đây là một chủ làng (Ha Plây). “Ha Plây” là người số một, người thứ nhất trong làng Chăm. Thông thường người chủ làng được tuyển chọn từ những người già trong làng (Hội đồng già làng). Người chủ làng có vai trò và vị trí rất cao trong xã hội Chăm. Ông luôn là người điều khiển các hoạt động của cộng đồng làng, là người giải quyết những xích mích, xung đột, mâu thuẫn, kiện cáo... giữa các thành viên, gia đình, dòng họ với nhau. Ông còn là người thay mặt làng bảo vệ quyền lợi của làng mình với làng khác khi xảy ra tranh chấp về đất đai, địa giới, danh dự...

    Đối với cộng đồng Chăm, người chủ làng ngoài yếu tố lắm lý lẽ, giàu kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, giàu đức độ, còn có yếu tố tài sản (yếu tố kinh tế) tác động, can thiệp. Chính vì thế những người chủ làng của người Chăm thường là những người khá giả về kinh tế (những người giàu có). Đó cũng là tầng lớp trên trong xã hội của dân tộc Chăm. Dù thế sự phân cách giữa người giàu, người đủ ăn, người nghèo trong xã hội của người Chăm ở Bình Định trước đây nhìn chung không rõ ràng, không lớn lắm. Hình thức sở hữu nhất là sở hữu đất đai của người Chăm ở Bình Định nói chung đang ở vào trình độ thấp, đơn giản, chỉ tồn tại quyền sử dụng cá nhân và sở hữu cộng đồng. Thời kỳ trước đây, đối với người Chăm, toàn bộ đất đai rừng núi, sông suối nằm trong phạm vi của làng đều thuộc làng quản lý và đó là tài nguyên chung cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng. Mọi cá nhân gia đình đều có quyền khai phá, sử dụng nhưng phải thông qua chủ làng, chủ đất, nhất là phải được sự đồng ý chấp thuận của các vị thần cai quản đất đai (dù là trên danh nghĩa). Người Chăm rất đề cao và tôn trọng quyền khai phá, sử dụng đất đai đầu tiên. Điều đó thể hiện ở chỗ: người nào muốn khai phá, sử dụng lại một đám đất nào đó, nhất thiết phải được sự đồng ý của chủ cũ... Như thế, trong xã hội Chăm quyền cá nhân rất được coi trọng. Đây là một trong những lý do cắt nghĩa cho việc so với sự phân tầng xã hội của người Bana, sự phân tầng xã hội của người Chăm đậm nét hơn, thuần thục hơn, mở hơn. Dù thế, cũng như dân tộc Bana, dân tộc H’rê, tính công bằng, tính nhân văn của người Chăm là những đặc tính nổi bật trong quan hệ xã hội. Hơn thế đối với dân tộc này còn tồn tại những tập tục khá đặc biệt mang nặng tình người như : tập tục kết bạn giữa những cá nhân, gia đình có cảnh ngộ giống nhau, tập tục kết nghĩa giữa hai người cùng tên... Ngoài ra quan hệ dòng họ cũng là quan hệ khá đặc biệt trong quan hệ xã hội của người Chăm. So với người Bana, người H’rê sống trên địa bàn tỉnh, dòng họ của người Chăm là một tổ chức khá chặt chẽ, hoàn chỉnh, quy cũ. Những người cùng dòng họ là những người có quan hệ mật

(30 Trực hệ và bàng hệ là những khái niệm chỉ quan hệ thân tộc trên tôi, dưới tôi và những người anh em thân thích với tôi).

thiết với nhau theo dòng máu, theo trực hệ và bàng hệ.30 Người Chăm có khá nhiều dòng họ khác nhau, đó là các dòng họ: Kso, Sogun, Sopênh mo, Măng, Lơo, Rơman, Xiaugươm, Pơnơmal. Dòng họ (Ptixai) của người Chăm được vận hành trong một tổ chức có hệ thống. Đứng đầu một dòng họ là một trưởng họ (Ha pti xai). Người trưởng họ là người cao tuổi nhất, người anh cả của dòng họ chính người trưởng họ là người am hiểu phong tục tập quán, nắm rõ mồ của cha ông, người trưởng họ là người đại diện cho dòng họ đứng ra quan hệ với các dòng họ khác trong làng. Tiếng nói của người trưởng họ là tiếng nói của tất cả các thành viên trong dòng họ. Mỗi một gia đình trong dòng họ khi có tang ma, tế lễ, cưới xin... đều hỏi ý kiến của trưởng họ. Bàn thờ dòng họ được đặt tại nhà trưởng họ. Vào những ngày lễ, ngày chạp... các thành viên tập trung về nhà trưởng họ. Người trưởng họ còn là thành viên của “Hội đồng già làng”. Mỗi khi trong làng xảy ra dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, chuyển làng, đánh nhau... các trưởng họ (thành viên của Hội đồng già làng) họp nhau lại bàn biện pháp giải quyết. Thời kỳ trước đây, các dòng họ của người Chăm thường cư trú biệt lập, khoanh vùng, nhưng hiện nay đã bị xáo trộn, cư trú không tập trung. Có điều dù cư trú gần nhau hay xa nhau, các cá nhân, gia đình trong một dòng họ thường giúp đỡ nhau rất tận tình và vô tư từ phát rẫy, làm ruộng, dựng nhà, cho đến cưới hỏi, ma chay, lễ tết... Như vậy sự đoàn kết và quan tâm đối với nhau là một nét đặc thù trong quan hệ dòng họ của người Chăm. Cố nhiên cũng như các dân tộc khác, dòng họ của người Chăm còn mang tính khép kín, tính biệt lập. Chính những đặc tính này đã ảnh hưởng lớn đến tính chất hôn nhân và gia đình của người Chăm. Đối với đồng bào Chăm, trai gái khi đã đến tuổi trưởng thành (thông thường tuổi trưởng thành của con trai từ 19-20 tuổi, khi đã “biết cạo râu”, còn con gái từ 17-18 tuổi) đều có quyền chọn người bạn đời cho mình. Việc tìm hiểu, yêu nhau của con gái Chăm hoàn toàn mang tính chất tự giác, bắt nguồn từ những rung động cảm nhận chung về cái đẹp. Trong quan niệm của con gái Chăm, người con trai đẹp là người con trai khỏe mạnh, lao động giỏi, siêng năng, cần cù, gan dạ... Còn trong quan niệm của con trai Chăm, người con gái đẹp là người con gái có ngoại hình đẹp, hiền lành, giỏi việc nhà, biết nấu nướng, thêu thùa, dệt vải... Bố

(31 Loạn luân dùng để chỉ khái niệm những người trong cùng một huyết thống lấy nhau hay quan hệ với nhau).

mẹ người Chăm rất trân trọng sự lựa chọn cũng như rất ủng hộ tình yêu đôi trẻ. Tuy nhiên đồng bào lên án, không chấp nhận những trường hợp không lành mạnh xảy ra trước khi kết hôn. Luật tục của người Chăm tuyệt đối nghiêm cấm những người trong một dòng họ lấy nhau và xử phạt nghiêm khắc những trường hợp ngoại tình. Đồng bào rất căm ghét và có những hình phạt nặng nề đối với trường hợp loạn luân, ngoại tình.31 Khung hình phạt cao nhất cho các tội này là đuổi ra khỏi cộng đồng (đây là nỗi nhục, nỗi khổ tâm rất lớn đối với người Chăm trong các thời kỳ trước đây). Đối với người Chăm hôn nhân có tính phổ biến, được cộng đồng ủng hộ là hôn nhân một vợ một chồng. Tuy thế luật tục Chăm cũng không quá khắt khe đối với trường hợp người đàn ông do trong gia đình hiếm con, nuôi con khó nên đã cưới thêm người vợ lẽ. Khi cưới vợ lẽ, người đàn ông Chăm phải được người vợ cả đồng ý. Đối với người Chăm việc cư trú sau hôn nhân, không nhất thiết phải về nhà trai mà tuỳ thuộc vào thỏa thuận đôi bên của

gia đình. Sau khi cưới đôi trai gái về với gia đình bố mẹ bên nào điều đó không bắt buộc. Điều bắt buộc là sau khi có con, khi đã có được những của cải nhất định họ phải ra ở riêng, hình thành nên những gia đình mới. Gia đình của người Chăm ở Bình Định hiện nay là gia đình nhỏ phụ quyền, nhưng không mang nặng tính chất gia trưởng. Trong gia đình người chồng, người cha là người chủ gia đình. Dù thế tàn dư mẫu hệ chưa dễ gì mất đi trong Chăm hiện nay. Điều đó thể hiện ở chỗ con cái trong gia đình Chăm có thể lấy họ theo bố, có thể lấy họ theo mẹ, con gái có thể chủ động cưới xin hay bắt rể, con gái có quyền thừa kế hay có tài sản riêng... Tâm lý chung cho mọi gia đình Chăm hiện nay là thích con đàn, cháu đống. Đồng bào Chăm rất ngưỡng mộ những gia đình nhiều con, nhất là khi gia đình đó hòa thuận, thương yêu nhau, thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, tôn trọng, lễ phép. Các bậc cha mẹ Chăm khi muốn làm, muốn giải quyết một công việc hệ trọng nào đó đều có trao đổi với con cái, ngược lại con cái rất tôn trọng ý kiến và nghe theo lời khuyên, căn dặn, giáo dục của bố mẹ...

    Khác với người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, người Chăm ở Bình Định không theo đạo Hồi hay đạo Bà La Môn. Trong tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm ở Bình Định, các hình thái tôn giáo nguyên thủy như: quan niệm về vạn vật hữu linh, tô tem, ma thuật, hay các lễ nghi liên quan đến nông nghiệp... khá là phát triển, chi phối mạnh đến đời sống tâm linh của đồng bào. Đây có thể là kết quả của việc ảnh hưởng qua lại trên lĩnh vực đời sống tinh thần giữa người Chăm và người Bana ở vùng núi Vân Canh Bình Định. Đối với người Chăm, quan niệm vạn vật hữu linh (vạn vật đều có linh hồn) từ lâu đã tồn tại khá mãnh liệt trong tâm linh của đồng bào, làm nảy sinh các tục thờ ma hay tín ngưỡng về ma. Trong cuộc sống hàng ngày đồng bào tin rằng : những cây đa, cây gạo... là nơi trú ngụ của những linh hồn bất tử, nơi có lực lượng siêu nhiên sẵn sàng giúp đỡ con người, nhưng cũng sẵn sàng trừng trị những ai xúc phạm, quấy phá, hay coi thường thần linh... Người Chăm có tục thờ thần lửa, thờ thần bếp. Bếp lửa đối với người Chăm là một cái gì đó rất linh thiêng, được đồng bào đặc biệt coi trọng. Thời kỳ trước đây ở người Chăm có tín ngưỡng Saman giáo và quan niệm về ma người sống (ma lai).32 Hiện nay hiện tượng ma lai đã dần dần chấm dứt. Đồng bào Chăm tin rằng mỗi con người dều có phần hồn và phần xác (đàn ông 7 hồn và đàn bà có 9 hồn). Khi đang sống hồn gắn bó với xác, nhưng cũng có khi hồn rời xác đi lang thang (lúc bị ốm đau nên phải gọi hồn về). Còn khi chết, hồn sẽ vĩnh viễn rời khỏi xác để đi vào thế giới linh hồn. Người Chăm quan niệm vũ trụ có 3 tầng, 3 thế giới : tầng trời (nơi ở của thế giới thần tiên), tầng đất nơi ở của con người và linh hồn đang sống và tầng dưới đất (nơi ở của các hồn

ma)... Cũng từ quan niệm vạn vật hữu linh, nên người Chăm khi phát rẫy, xuống giống, thu hoạch...đều có lễ nghi cầu xin thần linh phù hộ công việc làm ăn gặp được nhiều may mắn. Trong sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt gia đình, người Chăm có khá nhiều lễ hội và phong tục khác nhau. Đó là các lễ hội : lễ chọn đất phát rẫy, lễ cầu mùa (Lơ Lươm, quaip Pơrie), lễ săn thú rừng dạo mối, bắt cá (Paxăm- Rotfie), lễ cúng Yàng nước, lễ cúng cơm mới (bưng pu-prau) và đặc sắc nhất là lễ đâm trâu (Prong cớp reo). Hay những

lễ nghi phong tục liên quan đến chu kỳ của một đời người : lễ an thai, lễ đặt tên cho con, lễ cúng hồn vía trong mỗi con người, lễ cầu an, lễ kết nghĩa anh em, các phong tục liên quan đến tang ma, đến cưới xin, dựng nhà, làm nhà...Sự phong phú trong đời sống tinh thần của người Chăm ở Bình Định còn được thể hiện trên sự đa dạng, độc đáo của vốn văn nghệ dân gian. Đó là sự giàu có của kho tàng chuyện kể, của các loại trường ca, của thơ ca

(32 Saman giáo là một trong những hình thái tôn giáo nguyên thủy. Nội dung của Saman giáo là việc tin tưởng vào một số người có khả năng giao tiếp với thần linh, ma quỷ, có phép bùa, ngãi, ma thuật. Những người đó là các thầy cúng, thầy mo (Pơdâu).

Ma lai là việc tin vào lực lượng siêu nhiên nào đó nhập vào người đang sống (chủ yếu là nhập vào thiếu nữ) để làm hại mọi người).

dân gian với làn điệu hát ru (ơ mai ơ), hát trữ tình dành cho đôi lứa (H’ri cô ning, H’ri ling rang), hát tiễn biệt... Đó là sự độc đáo, uyển chuyển của các điệu múa trong các dịp hội làng (Mơ chư rung cô), trong các dịp đâm trâu (Prong cớp reo), trong các đám cưới (Nhung Prôi),... với sự gắn bó của các nhạc cụ (Pư nưa - đàn bầu 2 dây, đỏ koang, đàn bầu 12 dây, đàn ớp, đàn bầu một dây, đàn cơ nhi, đàn kéo, Lơtin, kèn môi...). Đó là các hoạ tiết hoa văn thể hiện theo lối rích rắc, mặt trời, chim muông, cây cỏ... đầy ấn tượng trên các trang phục của đồng bào Chăm.

 

VI. CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH BÌNH ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP

XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG.

 

I. Vài nét về truyền thống đấu tranh của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định

 

    Các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định tuy chỉ chiếm 2% dân số của toàn tỉnh, nhưng cư trú trên một vùng rừng núi rộng lớn. Đó là nơi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng của cách mạng Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng, là căn cứ địa của quân và dân tỉnh Bình Định trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Nơi đó, trong suốt chiều dài của lịch sử chống giặc cứu nước hào hùng của dân tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số đã nêu cao vai trò đấu tranh bất khuất, trung dũng và thủy chung son sắt. Dưới chế độ phong kiến, từ vùng đất này nhiều cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số đã liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là phong trào đấu tranh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Lía (Võ Văn Don) chống chế độ hà khắc của chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1769).33 Cuối thế kỷ XVIII trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định ở vùng Tây Sơn Thượng Đạo đã góp những công lao to lớn. Họ không những tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa, cùng với nghĩa quân xây dựng căn cứ địa đầu tiên của phong trào, mà còn che chở, đùm bọc một số tướng lĩnh và nghĩa quân trốn tránh sự trả thù tàn khốc và hèn mạt của vua quan nhà Nguyễn. Chính sử sách của nhà Nguyễn cũng đã thừa nhận điều đó.34

    Năm 1773 từ căn cứ Tây Sơn Thượng Đạo, nghĩa quân Tây Sơn tràn xuống đánh chiếm phủ Quy Nhơn, mở đầu cuộc chiến đấu ngót 20 năm dưới sự

(33 Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định, Chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định-Quy Nhơn,

1991, (trang 18).

34 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, trang 42).

lãnh đạo của Nguyễn Huệ - Quang Trung, lật nhào ách thống trị phong kiến thối nát Nguyễn-Trịnh-Lê,  đánh tan quân xâm lược Xiêm (1784-1785), Mãn Thanh (1788-1789), lập lại sự thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Trong những chiến công oanh liệt của đoàn quân chân đất áo vải cờ đào nổi lên vai trò xung kích và trung kiên của các đội quân voi và cung nỏ thiện chiến của đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định.

    Cho đến nay, nhân dân vùng An Khê - Vĩnh Thạnh còn lưu truyền và gìn giữ những truyền thuyết, di tích về Tây Sơn hiển hách. Đó là chuyện “Chúa Xà Đàng và bầy ngựa rừng” phản ảnh tài thu phục các già làng của Nguyễn Huệ.35 Những truyền thuyết về vực lồng đèn ở Kon Roi (Vĩnh Hòa), cánh đồng Nguyễn Huệ và thành đá Tà Kơn (Vĩnh Sơn).36 Đặc biệt là đồng bào Bana vùng Vĩnh Sơn đã giữ gìn khẩu đại bác của nhà Tây Sơn và chăm sóc vườn cam Nguyễn Huệ (Khẩu đại bác đó hiện đang trưng bày tại nhà Bảo tàng Quang Trung ở Phú Phong -Tây Sơn, còn vườn cam ở làng Kon Truch xã Vĩnh Sơn). Ở các vùng Vân Canh, An Lão, theo tương truyền, nghĩa quân Tây Sơn do Quang Trung lãnh đạo đã chặn đánh cánh quân của Nguyễn Ánh tại cửa Thị Nại. Nguyễn Ánh thua đã cùng tàn quân bỏ chạy vào làng Đèo (nay thuộc Canh Giao, xã Canh Hiệp), từ đó băng qua rừng đến Dạ Lộc (huyện Đồng Xuân, Phú Yên). Hiện nay trên địa bàn huyện Vân Canh còn tồn giữ dấu tích căn cứ “Trại Đền” (nay thuộc làng Canh Giao, xã Canh Hiệp) và một xưởng sản xuất vũ khí thời Tây Sơn.

    Trong phong trào Cần Vương chống Pháp (1885-1887) của nhân dân Bình Định, dưới cờ “Bình Tây đại nguyên soái” của Mai Xuân Thưởng (1860- 1887) của Đào Doãn Địch, Tăng Bạt Hổ, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định đã nổi dậy hưởng ứng mạnh mẽ cùng nhau nô nức gia nhập nghĩa quân giết giặc cứu nước. Tại Vĩnh Thạnh vẫn còn lưu giữ những truyền thuyết của dấu tích về cuộc hội quân giữa nghĩa quân người Bana với nghĩa quân người Việt của phó tướng Tiểu. Nhiều vùng rừng núi ở Bình Định từng là trại vừa sản xuất lương thực, rèn vũ khí thô sơ, vừa là nơi luyện tập quân sĩ, giam giữ tù binh của nghĩa quân. Đồng bào các dân tộc thiểu số không những nô nức tham gia nghĩa quân, hăng hái vận chuyển lương thực, vũ khí mà còn đóng góp cho phong trào Cần Vương những vị chỉ huy nghĩa quân

(35 Sở Văn hóa -Thông tin Nghĩa Bình, Kỷ yếu Hội nghị nghiên cứu phong trào nông dân Tây Sơn,

1978, trang 118.

36 Dự thảo lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Bình Quang - Vĩnh Thạnh 1982).

anh dũng tài ba như Đề binh Nguyễn Trung Thuận, Khiển binh Đỗ Nguyễn, các Quản Trấn, Quản Bờ, Quản Nguyễn... Đặc biệt là phong trào chăm lo hậu cần tại chỗ cho nghĩa quân của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hiện nay đồng bào vẫn còn lưu truyền những tấm gương quyên góp lúa gạo cho nghĩa quân như mẹ Năm Đá, Đỗ Thị Lài người Bana ở Vĩnh Thạnh.37

    Tinh thần cách mạng của đồng bào dân tộc thiểu số Bình Định được nhân lên gấp bội khi thực dân Pháp tấn công lên miền núi Bình Định. Đồng bào các dân tộc đã phản kháng quyết liệt để chống lại ách áp bức, bóc lột hà khắc, nhất là chống Pháp cướp đất lập đồn điền.

    Từ đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chống xâu thuế, chống áp bức, bóc lột, giành quyền làm chủ núi rừng của đồng bào các dân tộc Chăm, Bana, H’rê đã liên tiếp nổ ra dưới hình thức và quy mô khác nhau...

    Năm 1889, tại Vân Canh, đồng bào các dân tộc thiểu số dưới sự lãnh đạo của Võ Trứ trang bị dao, rựa, giáo, mác tập trung đến tỉnh lỵ sông Cầu để biểu tình đòi “khất thuế”, đòi “trừng trị” bọn sâu dân mọt nước.38

    Trong thời gian từ 1902-1906 phối hợp với đồng bào Bana ở Vĩnh Thạnh, người Chăm, Bana, H’rê ở trong vùng đã liên tục nổi dậy chống thực dân Pháp lên vùng rừng núi chiếm đất để thăm dò vàng, kền, cô ban... Đặc biệt từ 16/4/1908 đến 19/5/1908, đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định đã nổi dậy thu sổ thuế của bọn tổng lý, cùng kéo nhau về tỉnh lỵ (nay là thị trấn An Nhơn) đòi trừng trị bọn gian ác, chống sưu cao thuế nặng. Các ông trưởng Các, Nguyễn Thiện, Ung Văn Lê, Ung Văn Diện, Trương Dị vừa là những chiến sĩ tiên phong của phong trào chống sưu thuế ở địa phương, vừa là những chiến sĩ “cắt tóc” cảm tử cùng đoàn quân khất sưu thuế tại thành Bình Định.39

    Đặc biệt từ năm 1937 đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Tây Bình Định đã tham gia tích cực vào phong trào “Nước xu đỏ” của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Tây Nguyên. Nội dung chính của phong trào là chống xâu, chống thuế, chống áp bức của thực dân Pháp giành quyền làm chủ núi rừng. Phong trào “Nước xu đỏ” lúc đầu nổi lên mạnh mẽ ở vùng Đắc Tô, Đắc Sút, Mang Bút... rồi lan xuống miền Tây Quảng Ngãi và Bình Định. Phong trào “Nước xu đỏ” ở miền núi Bình Định bắt đầu từ năm

(37 Sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh, 1998.

38 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930-1945), tập I, Nxb Tổng Hợp, Bình Định, trang 24-28).

1937, đến mùa hè 1938 bùng lên với quy mô rộng lớn với nhiều hình thức đấu tranh quyết liệt.

    Sau khi đón được “Nước thần” về (1938-1914) một phong trào chống Pháp rất mạnh mẽ đã thu hút nhiều dân tộc ở Bình Định tham gia. Đồng bào các dân tộc ở vùng núi tỉnh Bình Định dấy lên phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính và đặc biệt là phong trào bất hợp tác với Pháp. Nhiều vùng, đồng bào đã thực hiện những cuộc “chạy làng” vào vùng rừng núi cao, cắt đứt mối liên hệ, sự kiểm soát của các đồn binh Pháp.

    Có thể nói, từ khi Pháp đặt chân đến nước ta, suốt 80 năm thống trị, chúng chưa bao giờ “bình định” được miền núi Bình Định. Những chiến dịch vây, quét của chúng diễn ra liên tiếp, nhưng đều thất bại. Đồng bào vùng rừng núi Bình Định bất khuất, kiên cường chống trả kẻ thù bằng nhiều hình thức, nhất định không chịu hợp tác, không chịu làm nô lệ cho giặc.

    Ngày 11/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, thừa lúc Pháp hoang mang dao động, đồng bào các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên đấu tranh quyết liệt. Điển hình là phong trào tập hợp thanh niên học sinh đấu tranh đuổi giặc Pháp của ông Mang Thoong (người Bana), ông Mang Tân (người Chăm) ở huyện Tuy Phước. Các thanh niên tham gia phong trào đã đánh trọng thương tên tổng binh Pháp ở đồn Vân Canh.40

    Đầu tháng 5/1945 được hướng dẫn và giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh tỉnh, các đội tự vệ cứu quốc ở Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão và nhiều nơi khác ra đời. Trong những người con ưu tú của các đội quân cứu quốc có sự tham gia tích cực của các thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số; điển hình như đồng chí Mang Thoong (người Bana), Mang Tân (người Chăm)...

    Vào những ngày cuối cùng tháng 8 năm 1945 không khí cách mạng sục sôi khắp toàn tỉnh. Ngày 23/8 Mặt trận Việt Minh đã giành được chính quyền. Ngay sau đó một phong trào mít tinh rầm rộ khắp các huyện miền núi Bình Định để chào mừng chiến thắng và tuyên bố độc lập của chính quyền cách mạng lâm thời. Trước phong trào cách mạng , chính quyền địch ở các thôn, xã tan rã; các chánh tổng, lý trưởng phải nộp đồng triện (khuôn dấu) tài liệu cho chính quyền cách mạng.

(39 Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định(1930-1945), tập I, Nxb Tổng Hợp, Bình Định, trang 24-28.

40 Sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh, bản thảo 1998).

    Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân các dân tộc thiểu số Bình Định đã hăng hái tham gia phong trào kháng chiến, biến rừng núi thành căn cứ của cách mạng. Đó là phong trào “luống rau kháng chiến”, “đàn gà kháng chiến”, “lập quỹ nuôi quân”, quà cho các chiến sĩ ở chiến trường, đó là phong trào “mẹ nuôi”, “chị nuôi” trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc thương bệnh binh, phong trào thành lập lực lượng du kích bảo vệ quê hương, động viên con em tòng quân nhập ngủ phát triển mạnh mẽ, rộng khắp đến từng làng. Sau Cách mạng Tháng 8, đội du kích của huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão đã trở thành những lực lượng vũ trang nòng cốt của Ủy Ban Hành chính kháng chiến các huyện. Trong những đội quân vũ trang đó có sự tham gia nhiệt tình của con em đồng bào các dân tộc thiểu số như Mang Thoong, Mang Tân, Mang Dựng, Mang Lơ... Đặc biệt phụ nữ các dân tộc đã quyên góp lúa gạo, ủng hộ cho kháng chiến. Tiêu biểu như mẹ So Yuôn Nghe Khơ (Bahnar), Lơ Omơ Húi (Chăm), Bà Nhe (Chăm)...41

    Sau năm 1954, đế quốc Mỹ và tay sai đã thi hành nhiều âm mưu thâm độc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, khuyến khích rộng rãi mê tín dị đoan, cúng bói, ma chay, đồng thời dụ dỗ, mua chuộc, bắt ép các thanh niên làm bia đỡ đạn cho chúng. Chúng còn bao vây phá hoại kinh tế, bắt bớ tù đày, khủng bố đồng bào các dân tộc, hòng dập tắt tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của đồng bào. Nhưng ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi so sánh giữa ta và địch, nhất là lực lượng vũ trang còn rất chênh lệch, đồng bào các dân tộc vẫn một lòng theo Đảng, cùng người Việt anh em đứng dậy chống ách kìm kẹp của giặc.Trong khi Mỹ-Ngụy tìm mọi cách nhưng chưa thiết lập chính quyền tay sai ở vùng núi Bình Định, thì ở Vĩnh Thạnh và nhiều xã vùng cao An Lão, Vân Canh, đồng bào các dân tộc đã thiết lập được Ban cán sự cách mạng từ 3 - 5 người để lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Đến đầu năm 1960, ở Vĩnh Thạnh đã tổ chức được Đại hội đại biểu nhân dân tự quản huyện. Đến 1964 có thêm hai huyện An Lão, Vân Canh thành lập được Ủy ban nhân dân tự quản các cấp huyện - xã - làng trong vùng đồng bào các dân tộc.

    Cuối năm 1956-1957, phong trào diệt tề trừ gian phát triển ở các huyện miền núi tỉnh Bình Định. Ở An Lão, tháng 6/1957, đồng bào các dân tộc đã

(41 Sơ thảo lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh, năm 1998 (bản thảo), (trang 34)).

bí mật diệt nhiều - mật vụ ác ôn xã Ân Tường và xã An Toàn, làm cho bọn ngụy quyền ở đây hết sức lo sợ.42 Tháng 6/1957, bọn Mỹ- ngụy thực hiện hàng loạt chiến dịch tố cộng nhưng thất bại. Tháng 11/1957 địch lập ra kế hoạch dồn dân các xã vùng cao, vùng giáp ranh giữa ta và địch vào các chi khu để thực hiện chiến lược “Tách cá khỏi nước”. Ở Vĩnh Thạnh, chúng chọn các làng Hà Ri, Tà Lok, Tà Lek làm thí điểm. Đồng bào dưới sự lãnh đạo của Đảng dựa vào phong tục và tập quán giằng co không chịu đi, đấu

tranh quyết liệt với địch, mãi đến cuối năm 1958 chúng vẫn không thực hiện được kế hoạch dồn dân.

    Từ khi có Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cán bộ và nhân dân các dân tộc ở miền núi Bình Định đã kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa diệt ác trừ gian với chống lập tề, ngụy, giữa chống đoàn ngũ hóa của giặc với xây dựng lực lượng... Trên cơ sở đó, các lực lượng vũ trang đã vận dụng sáng tạo các phương pháp và hình thức tác chiến, đánh địch bằng mọi vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, trên mọi địa hình, trong mọi thời tiết và đặc biệt là phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân với ưu thế của núi rừng. Những Đá Huê (Vân Canh), cuối năm 1961, Tà Lok, Tà Lek, Hà Ri (Vĩnh Thạnh), chiến dịch An Lão (cuối 1964), đấu tranh du kích... lại một lần nữa là mồ chôn của bọn cướp nước và bán nước.

    Một đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc ít người miền Tây Bình Định là xây dựng căn cứ và nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến. Vùng rừng núi Bình Định, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là căn cứ của các huyện đồng bằng tỉnh Bình Định và của các tỉnh Trung Trung bộ. Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định đã cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo vệ an toàn khu căn cứ. Đồng bào còn đóng góp sức người, sức của cho việc nuôi dưỡng, phát triển lực lượng vũ trang giải phóng. Nhiều nơi đồng bào đói chỉ ăn sắn, ăn rau còn lúa gạo làm ra đều để giành cho kháng chiến.

    Trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, các dân tộc thiểu số ở miền núi Bình Định đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng quê hương, giải phóng đất nước. Những địa danh như Gò Sau, Đá Huê, Tà Lok, Tà

(42 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định, Chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định (1954-1975), Bình Định 1991, (trang 85)).

Lek, Hà Ri... và những người con ưu tú như Mang Quơ, Mang Thoong, Mang Tân, anh hùng liệt sĩ Đinh Ruối... mãi mãi là những tấm gương cao quý kết tinh truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh của đồng bào các dân tộc ở miền Tây của Bình Định. Chính tinh thần đấu tranh kiên cường đó của đồng bào đã cùng với nhân dân cả nước lập nên một kỳ tích vĩ đại - giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước vào năm 1975.

 

2. Những biến đổi cách mạng của các dân tộc Chăm, Bana, H’rê ở

Bình Định kể từ sau năm 1975 đến nay.

 

    Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (1975), cùng với sự chuyển mình của đất nước, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định đã có những thay đổi căn bản về mọi mặt. Hầu hết các gia đình đã chuyển sang phát triển sản xuất theo hộ gia đình với hình thức “làng tự quản, hộ tự chủ”. Đặc biệt đồng bào đã thấy được tác hại của việc phá rừng làm nương rẫy, nên đã chú trọng phát triển đất nà thổ, ruộng nước, các loại vườn nhà, vườn rừng để giảm dần diện tích nương rẫy.43

    Trong đó việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ hình thức tự cung, tự cấp sang phát triển kinh tế hàng hóa đã được đồng bào đặc biệt chú trọng. Ruộng nước chủ yếu trồng cây lúa. Ruộng cạn trồng lúa khô và ngô. Đất nà thổ trồng sắn và các loại cây ăn quả (đu đủ, chuối, thơm, mít...) hoặc cây công nghiệp (tiêu, đào lộn hột, chè, cà phê...), đất rẫy tỉa lúa, trồng sắn, mía...

    Nhờ vậy trong những năm qua phong trào khai hoang đất nà thổ, ruộng nước để trồng trọt ngày càng phát triển. Với tinh thần vượt khó, cần cù nên chỉ trong thời gian ngắn đồng bào các dân tộc thiểu số ở Bình Định đã biến những thung lũng dọc các bờ sông Kôn, sông Lại Giang và những ô trũng khác thành những khoảnh ruộng trồng lúa nước một năm từ một đến hai vụ.

    Trong thời gian gần đây, đồng bào đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như làm cỏ, bón phân, phun thuốc trừ sâu, sử dụng giống mới... nên năng suất cây lúa tăng nhiều so với trước đây. Năm 1998, ở người H’rê (An Lão) năng suất bình quân đạt 16-20 tạ/ha, trong đó có những nơi đạt 35-40 tạ/ha.

(43 Báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định năm 1996, tổng số diện tích sản xuất ở các

huyện miền núi trong tỉnh đạt được như sau :

- Ruộng nước : 488 ha (Vĩnh Thạnh 92, Vân Canh 85, An Lão 290, các nơi khác 121ha).

- Ruộng cạn : 1.058 ha(Vĩnh Thạnh 236, Vân Canh 326, An Lão 450ha).

- Ruộng rẫy : 1.138 ha ( Vĩnh Thạnh 487, Vân Canh 511, An Lão 100ha)).

Bình quân thu nhập đầu người trong năm ở An Lão cũng tăng lên từ 150- 200kg lương thực / người trong năm 1991 lên 250-280kg năm 1998. Sản lượng lương thực năm 1998 khu vực miền núi tỉnh đạt 17.145 tấn, tăng 15,9% so với năm 1991.

    Theo báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định năm 1998, phong trào chăn nuôi của đồng bào các dân tộc ngày càng phát triển. Ở Vân Canh, hơn 2/3 số hộ (938 hộ) đều chăn nuôi trâu bò, trong số đó có số hộ có từ 5 con trâu bò trở lên (469).

    Ở An Lão hơn 1/2 số hộ (627) đều có chăn nuôi trâu bò từ 3 con trở lên. Ở Vĩnh Thạnh có khoảng 1/3 số hộ (305) chăn nuôi trâu bò từ 3 con trở lên. Chỉ tính riêng ở huyện Vân Canh đàn bò từ 5.072 con năm 1982 tăng lên 10.000 con năm 1993. Đàn lợn từ 36.000 con năm 1982 tăng lên 50.000 con năm 1993... Tính đến năm 1998 toàn miền núi Bình Định có 29.290 con bò, tăng 48,4% so với năm 1991.

    Về lâm nghiệp, sau nhiều năm nặng khai thác đến cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên, đến nay đồng bào đã chú ý đến việc bảo vệ rừng và trồng rừng với sự hỗ trợ của các dự án 327, dự án định canh, định cư. Đồng bào đã phát triển các hình thức vườn đồi, vườn rừng và đã nhận quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng. Nhờ vậy, chỉ tính đến năm 1998, đã tiến hành giao khoán cho 779 hộ quản lý, bảo vệ 26.671 ha rừng, trong đó đồng bào dân tộc được giao 18.025 ha, trồng mới 20.000ha, rừng hệ đầu nguồn ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Tài nguyên rừng được chú trọng đầu tư, bảo vệ và phục hồi, nâng độ tán che từ 28% năm 1991 lên 32% năm 1998.44

    Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở miền núi Bình Định cũng được mở mang. Các ngành nghề thủ công truyền thống như dệt, đan lát cũng được các gia đình duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều ngành nghề thủ công mới như chế biến nông sản, rèn, làm gạch ngói, may vá... ở hầu khắp các làng đồng bào dân tộc.

    Công tác định canh, định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng đồng bào Chăm, Bana, H’rê ở miền núi tỉnh Bình Định trong những năm qua cũng có nhiều bước tiến đáng kể. Tính đến năm 1999, ở miền núi Bình Định đã

(44 Theo báo cáo tổng kết công tác Dân tộc và Miền núi năm 1996 của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định.

45 Theo báo cáo tổng kết công tác Dân tộc và Miền núi năm 1996 của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh

Bình Định).

có gần 80% số hộ đã đi vào định canh, định cư tương đối ổn định. Riêng đồng bào Chăm, 27/28 làng đã ổn định về cơ bản công tác định canh định cư.45

    Tuy mức độ có khác nhau, nhưng những làng định canh định cư đời sống đã đi vào ổn định. Những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, những trường học, trạm xá, trụ sở ủy ban, những con đường giao thông liên thôn, liên xã, những công trình thủy lợi, thủy điện, những lớp học xoá mù... đã làm cho bộ mặt ở miền núi tỉnh Bình Định ngày càng thêm thay đổi. Theo báo cáo của ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định, tính đến năm 1999 các huyện miền núi đã xây dựng mới 56km đường, cải tạo nâng cấp 58km đường, xây dựng mới 23 cầu, 10 đập, sửa chữa hàng trăm cầu cống lớn nhỏ... Hiện tại ở miền núi tỉnh Bình Định 100% số xã đã có đường ô tô đến tận Trung tâm xã, với hơn 179 chiếc ô tô. Đó là những biến đổi căn bản về đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc trong hơn 20 năm qua. Tuy còn hạn chế nhưng những biến đổi to lớn đó có một ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện đời sống của nhân dân. Cho đến nay hầu hết các điểm cư trú của đồng bào dù ở vùng cao hay vùng thấp đều có trường học, trạm xá, trụ sở ủy ban được xây dựng bằng gạch ngói chắc chắn. Ở nhiều vùng đồng bào đã chuyển sang ở nhà đất, sống ổn định, nhiều nhà có bàn ghế, giường tủ, có xe đạp, radio, thậm chí có cả xe gắn máy...

    Công tác y tế đã có những tiến bộ vượt bậc, đồng bào đã chú trọng đến việc giữ gìn vệ sinh làng, bảo vệ nguồn nước, hạn chế đến mức tối đa việc chữa bệnh bằng cúng bái. Phong trào sạch đẹp làng, ăn chín uống sôi, tiêm chủng mở rộng cũng được đồng bào hưởng ứng rộng rãi và mạnh mẽ.

    Nhờ vậy, đến cuối năm 1999 các bệnh xã hội như lao, bướu cổ, phong, sốt rét ở vùng đồng bào các dân tộc đã được ngăn chặn, phát hiện điều trị kịp thời. Vì thế đã hạn chế đến mức tối đa tỷ lệ tử vong do các bệnh trên gây nên.

    Công tác sinh đẻ có kế hoạch cũng đạt nhiều thành tích đáng kể, nhiều chị em dân tộc đã tự giác đến cơ sở y tế để thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Các bệnh viện huyện cũng được nâng cấp khá hơn so với trước đây. Số giường bệnh tăng, số cán bộ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ y tế ngày càng nhiều.

    Đến nay, các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão đều có bệnh viện huyện với quy mô từ 70 - 120 giường. Cùng với các bệnh viện huyện là các đội vệ sinh phòng dịch, phòng chống sốt rét, bướu cổ... đã có mặt ở hầu khắp các xã. Theo báo cáo của sở Y tế Bình Định, mạng lưới y tế ở vùng núi đã xuống tận tất cả các xã. Hiện tại có 3 trung tâm y tế huyện, trong đó có 3 bệnh viện, 3 đội vệ sinh phòng dịch, sốt rét lưu động và 3 đội bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình với số cán bộ 142 người, trong đó có 16 bác sĩ, 9 cán bộ trung cấp, 8 cán bộ sơ cấp. Hệ thống y tế xã được củng cố, kiện toàn, với 91 người, trong đó có 40 y sĩ đa khoa, 19 y sĩ sản nhi, 19 y học dân tộc, 6 nữ hộ sinh trung cấp, 11 y tá trung cấp, 14 y tá sơ cấp, các cán bộ y tế cơ sở phần đông là con em đồng bào các dân tộc được đào tạo tại chỗ từ 3 - 9 tháng tại bệnh viện các huyện.46 Qua đánh giá bước đầu của Sở Y tế tỉnh, các trạm y tế xã hoạt động có hiệu quả, nhất là việc chăm sóc cho trẻ sơ sinh và phòng chống các dịch bệnh khác cho đồng bào. Hiện nay, trong khu vực các huyện miền núi không có xã trắng về trạm xá và hoạt động y tế.

    Công tác văn hóa, giáo dục ở miền núi Bình Định cũng có những bước tiến đáng kể. Trong chế độ cũ, đa số đồng bào các dân tộc không biết chữ. Sau Cách mạng tháng Tám và qua hai cuộc kháng chiến đã có một số người được đi học. Nhưng chỉ từ sau năm 1975 đến nay đồng bào mới có điều kiện để đẩy mạnh phong trào học tập và xóa nạn mù chữ.

    Đến cuối năm 1977, ở các huỵện miền núi, chiến dịch xóa nạn mù chữ đã được mở rộng. Hiện nay gần 70% người từ độ tuổi 15-35 đã hết mù chữ. Thành tích đó hết sức có ý nghĩa, nó không chỉ làm cho bộ mặt đời sống ở một vùng rừng núi thay đổi to lớn mà còn hứa hẹn một tương lai văn minh, hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định. Đến nay, hầu khắp các xã ở miền núi Bình Định đã có hệ thống trường cấp I với quy mô lớp học từ 20-25 em học sinh. Tính đến 1996 tổng số học sinh ở trường xã và làng ở vùng đồng bào các dân tộc là 36.258 em, trong đó có 4.415 em học sinh là người dân tộc thiểu số. Như vậy trung bình cứ 6 người dân tộc có 1 người đi học. Bên cạnh đó, trong những năm qua các huyện Vân Canh, An Lão, Vĩnh Thạnh đã xây dựng được trường dân tộc nội trú để tạo điều kiện cho con em các dân tộc có điều kiện nâng cao học tập. Hiện nay có khoảng 1400 em học sinh từ cấp I đến cấp II.

    Đội ngũ giáo viên miền núi, trong đó có nhiều giáo viên người dân tộc

(46 Theo báo cáo của Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Bình Định, năm 1999).

ngày càng được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng. Đó là lực lượng quan trọng trong công tác phát triển giáo dục ở miền núi và cũng là lực lượng nòng cốt trong phong trào xây dựng nếp sống mới, văn minh, văn hóa trong cùng đồng bào Chăm, Bana, H’rê.

    Chúng ta tin chắc rằng, với ý chí và miền tin đi theo Đảng, với truyền thống quật khởi hào hùng, với tinh thần cần cù yêu lao động, đồng bào các dân tộc H’rê, Bana, Chăm ở Bình Định nhất định sẽ xây dựng quê hương mình thành một vùng rừng núi giàu đẹp.

    Tóm lại: Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định là những cư dân sống lâu đời trên vùng đất này. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, cùng với người Kinh (Việt), các dân tộc Chăm, Bana, H’rê, Hoa..., đã có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều phương diện và sự lớn mạnh của quê hương Bình Định. Hiện nay các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định, đang vượt lên mọi khó khăn, trở ngại, đang phấn đấu hết sức mình để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, sớm đi vào con đường phát triển chung của đất nước.

 

--------------------------------------------------------------