CHƯƠNG IX
SỰ BIẾN ĐỘNG DÂN CƯ CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
I. QUÁ TRÌNH HỘI TỤ DÂN CƯ Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH
TRONG LỊCH SỬ
Bình Định là một trong những vùng đất có dấu tích con người tụ cư, tồn tại, sinh sống từ lâu đời của khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam. Trong lòng đất ở đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hàng loạt các di chỉ văn hoá khác nhau của thời kỳ tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh và sau Sa Huỳnh.1 Điều đó nói lên tính liên tục của sự tồn tại và phát triển của con người trên mảnh đất Bình Định. Tuy nhiên việc chứng minh mối liên hệ, sự kết nối giữa những cư dân của thời kỳ xa xưa đó với cư dân tiền Chăm, Chăm và những cư dân có mặt hiện nay trên đất Bình Định là một trong những vấn đề chưa được giải quyết thoả đáng, cần phải có thời gian, sự đầu tư nghiên cứu nhiều hơn nữa. Dù thế, bằng các thư tịch cổ như “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên, “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn, “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, hay bằng vào các chuyên khảo của các tác giả ở thời gian sau này như “Non Nước Bình Định” của Quách Tấn, “Việt sử xứ
(1 Phạm Đức Mạnh trong bài viết “Suy nghĩ về Không gian văn hoá của Sa Huỳnh và về Sa Huỳnh” đăng ở Tạp chí Khảo cổ học số 1/1985 (trang 37) cho rằng: Văn hoá Sa Huỳnh nằm vào giai đoạn từ sơ kỳ đồng thau đến sơ kỳ đồ sắt, được phân bố từ Quảng Bình đến Đồng Nai, từ ven biển Trung-Nam Trung bộ đến Tây Nguyên gồm 48 di chỉ. Trong các địa phương đó, địa phương Quảng Ngãi, Bình Định có các di chỉ thuộc Văn hoá Sa Huỳnh phân bổ dày đặc nhất: Sa Huỳnh, Long Thạnh, Núi Sứa, Bình Châu, Thạch Đức, Phú Khương, Truông Xe, Tạ Long...)
Đàng Trong” của Phan Khoang, “Địa bạ Triều Nguyễn” của Nguyễn Đình Đầu..., chúng ta có thể bước đầu hình dung được quá trình hội tụ cư dân ở tỉnh Bình Định bao gồm những cư dân có nguồn gốc sau:2
1. Cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo (nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlinêdi)
Cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo hiện có mặt trên vùng đất Bình Định là cư dân Chăm. Người Chăm của tỉnh Bình Định hiện nay có khoảng 5.000 người, cư trú tập trung ở huyện Vân Canh. Các kết quả nghiên cứu hiện nay đã chỉ ra rằng: người Chăm ở tỉnh Bình Định hiện nay là một trong những cư dân bản địa, có mặt từ rất sớm tại vùng đất này. Tuy nhiên họ có phải là hậu duệ của người Chàm cổ ( người Chiêm Thành) hay không, giữa họ có mối liên hệ gì với chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh..., đang là những vấn đề chưa được giải quyết.3 Dù thế, lịch sử của vùng đất Bình Định đã từng thừa nhận một thực tế bên cạnh người Chăm hiện nay, trước đó trên vùng đất này đã có mặt người Chàm cổ sinh sống, hội tụ. Người Chàm cổ có mặt trên địa bàn Bình Định vào thời gian nào hiện chưa có lời giải chính xác. Nhưng theo Nguyễn Văn Hiển vị Hoàng giáp thời Minh Mạng thì sau khi bị vua Lê Đại Hành đánh lấy thành Địa Rí, vua Chiêm Thành lúc đó là Xá Lợi Đà Ngô Phật Hoàn đã bỏ Quảng Nam chạy vào Bình Định lập thành mới - thành Đồ Bàn.4 Sau một thời gian thành này trở thành trung tâm (kinh đô của vương quốc Chămpa cổ), phát triển khá thịnh vượng trong thời gian 983 -1470. Cùng với sự thịnh vượng, ổn định của vương quốc Chămpa cổ trong gần 5 thế kỷ (thế kỷ X - XV) là sự hội tụ đông đảo của người Chăm trên đất Bình Định vào thời gian đó. Như vậy người Chăm (bao gồm người Chăm ở Vân Canh hiện nay và người Chiêm Thành - Chàm cổ trước đó) là một trong những lớp dân cư có nguồn gốc bản địa nói ngôn ngữ Malayô - Pôlinêdi lâu đời nhất của vùng đất Bình Định. Trước khi có mặt của người Kinh (Việt) trên đất Bình Định, có thể nói người Chăm là cư dân có số lượng người đông nhất. Trải qua quá trình sinh tụ lâu dài trên đất Bình Định, người Chăm đã sáng tạo nên những giá trị văn hoá khá rực rỡ và đặc sắc mà đại diện tiêu biểu của nó là hệ thống thành quách, hệ thống tháp, các bia, tượng..., hiện nay còn được giữ lại như những chứng tích của một thời phát triển của tộc người này.
(2 Tại tỉnh Bình Định hiện nay có nhiều thành phần tộc người khác nhau với số lượng không giống nhau. Chính vì thế khi xem xét quá trình hội tụ của cư dân ở tỉnh Bình Định, chúng tôi tập trung đi vào lý giải những tộc người có số lượng dân đông.
3 Xem chương viết về các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định.
4 Nguyễn Văn Hiển, Đồ Bàn Thành ký.)
2. Cư dân thuộc ngữ hệ Nam Á
Sự hội tụ của cư dân thuộc ngữ hệ Nam Á trên đất Bình Định bao gồm hai nhóm ngôn ngữ khác nhau.
a. Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme.
Hai dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở tỉnh Bình Định là dân tộc Bana và dân tộc Hrê. Người Bana ở tỉnh Bình Định hiện có khoảng 15.000 người, cư trú trong các huyện An Lão, Hoài Ân, Vân Canh và tập trung đông nhất ở huyện Vĩnh Thạnh. Còn người Hrê ở tỉnh Bình Định hiện có khoảng 76.000 người cư trú ở huyện Vĩnh Thạnh và tập trung đông nhất ở huyện An Lão.5 Dân tộc Bana và dân tộc Hrê cũng là những dân tộc bản địa của vùng đất Bình Định. Dù thế hiện nay giới khoa học vẫn chưa xác định được thời gian có mặt sớm nhất của các dân tộc Bana, Hrê trên vùng đất này. Tuy nhiên thực tế lịch sử của vùng đất đã chỉ ra, cùng với dân tộc Chăm, dân tộc Bana và dân tộc Hrê là những dân tộc có mặt từ rất sớm trên vùng đất Bình Định. Các dân tộc này trong quá trình phát triển của lịch sử đã bỏ ra nhiều công sức, mồ hôi, xương máu để xây dựng và bảo vệ vùng đất Bình Định.
b. Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường.
Cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường của tỉnh Bình Định chủ yếu là người Kinh (Việt). Người Kinh (Việt) ở tỉnh Bình Định hiện nay chiếm tuyệt đại đa số dân cư (khoảng 1,4 triệu/1,44 triệu) và phân bố khắp các huyện thành của tỉnh.6 Ngược dòng lịch sử, người Kinh (Việt) ở tỉnh Bình Định hiện nay vốn là người Kinh (Việt) ở miền Bắc (đông nhất là những người Kinh của vùng Thanh - Nghệ Tĩnh) di cư vào trong nhiều thời điểm khác nhau. Có thể nói quá trình di cư của người Kinh từ miền Bắc vào Bình Định gắn bó mật thiết với quá trình “Nam tiến” của dân tộc chúng ta. Đó là một quá trình liên tục, diễn ra trong nhiều thế kỷ với nhiều nguyên nhân khác nhau. Quá trình đó có thể được bắt đầu từ cuộc hôn nhân Việt - Chiêm giữa vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân dưới thời Trần Anh Tông, hiệu Cảnh Đức (năm 1306), hay được khởi đầu từ năm 1471 khi vua Lê Thánh Tông nhân việc vua Chiêm Thành xua quân chiếm Hoá Châu đã
(5 Xem chương viết về các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định.
6 Bình Định có 10 huyện và 1 thành phố: An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước, Vân Canh và TP Quy Nhơn. Trong các huyện, thành phố đó đều có người Kinh sinh sống, làm ăn.)
thân chinh đem quân đánh dẹp và mở mang lãnh thổ Đại Việt đến vùng đất Bình Định. Sử cũ còn ghi lại: khi chiếm được vùng đất từ Quảng Nam trở vào, vua Lê Thánh Tông đã đặt phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Hơn thế, vào tháng 7 năm 1471, sau khi trở lại Thăng Long, nhà vua còn ra chỉ dụ thành lập 3 ty để coi việc dân, việc nước đối với vùng đất mới mở của Thừa Tuyên Quảng Nam.7 Rõ ràng theo bước chân của các đoàn quân “Nam tiến” và nhất là sau các cuộc “chinh phạt” thắng lợi là sự có mặt, hiện diện, ở lại của những người Kinh tại những vùng đất mới. Bình Định kể từ thế kỷ XV đã trở thành vùng đất hứa cho những người Kinh từ miền Bắc di cư vào. Quá trình di cư của người Kinh vào Bình Định được đẩy mạnh trong các thế kỷ XVI, XVII, suốt cả thời kỳ cận đại và kéo dài sang cả thời kỳ hiện đại. Trong suốt chuỗi dài 5 thế kỷ (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX) di cư đến Bình Định, về đại thể chúng ta có thể thấy những đợt di cư, tụ cư lớn đến vùng đất này của người Kinh như sau:
- Đợt tụ cư sau cuộc viễn chinh của vua Lê Thánh Tông ở thế kỷ XV.
- Những đợt tụ cư trong thời kỳ các chúa Nguyễn.
- Đợt tụ cư dưới thời Tây Sơn.
- Đợt tụ cư dưới triều Nguyễn.
- Đợt tụ cư vào những năm 1954 - 1955.
- Đợt tụ cư vào những năm sau ngày miền Nam giải phóng (1975)...
Tuy nhiên trong các đợt tụ cư đó, những đợt tụ cư vào thời các chúa Nguyễn là lớn, ồ ạt nhất. Đây là thời kỳ góp phần quan trọng vào việc làm thay đổi diện mạo dân cư vùng Bình Định. Nguyễn Hoàng kể từ khi vào trấn thủ xứ Thuận - Quảng, biến vùng đất này thành nơi “vạn đại dung thân”, đã bằng mọi cách tăng nhanh dân số cho vùng đất để làm đối trọng với Đàng Ngoài. Chính vì thế mỗi lần đánh thắng quân Trịnh Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng cũng như nhiều vị chúa kế tiếp đã bắt về theo một số lượng tù binh rất lớn. Ví như, vào năm 1648 trong trận thắng đậm quân chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Phúc Lan đã bắt được 3 vạn tù binh, bổ sung cho dân số của Đàng Trong (trong đó có Bình Định).8 Vị chúa này, trong một chỉ dụ có nói: “Hiện nay từ miền Thăng (Thăng Bình), Điện
(7 Trong Thừa Tuyên Quảng Nam có phủ Hoài Nhơn thuộc tỉnh Bình Định.
8 Hiện nay có ý kiến con số này chỉ là 3.000 người. Dù thế chúng tôi vẫn cho đây là một nguồn bổ
sung lớn.)
(Điện Bàn) trở vào Nam đều là đất cũ của người Chăm, dân cư thưa thớt, nếu đem chúng an tháp vào đất ấy, cấp cho canh ngưu điền khí, chia ra từng bộ, từng xóm, tính nhân khẩu cấp cho lương ăn để chúng khai khẩn ruộng hoang, thời trong khoảng mấy năm, thuế má thu được có thể giúp quốc dụng và sau 20 năm, sinh sản ngày càng nhiều có thể cho vào quân số có gì mà lo về sau”.9 Với cách nhìn như vậy, chúa Nguyễn Phúc Lan đã từng bước biến 3 vạn tù binh bắt được dần dần trở thành cư dân của những vùng đất mới mở. Thêm vào đó trong khoảng thời gian từ 1655 - 1660, vùng đất mới mở xuống phía Nam nói chung, vùng đất Bình Định nói riêng còn được bổ sung thêm những người nông dân của vùng Thanh - Nghệ Tĩnh bị bắt vào sau các cuộc giao tranh Trịnh - Nguyễn. Trong số những người nông dân đến Bình Định vào thời gian này có tổ tiên của dòng họ Nguyễn Tây Sơn được đưa vào gây dựng làng xóm ở vùng An Khê, ấp Tây Sơn Thượng.
Như vậy, quá trình tụ cư của người Kinh trên đất Bình Định là một quá trình lâu dài, liên tục diễn ra trong nhiều thế kỷ. Quê hương gốc của những người Kinh ở vùng đất Bình Định hiện nay là từ nhiều vùng khác nhau của vùng đất Bắc bộ, nhưng đông nhất vẫn là cư dân của vùng Thanh - Nghệ Tĩnh. Khi đến vùng đất Bình Định tụ cư, làm ăn, sinh sống, những người Kinh này có những thân phận, những hoàn cảnh, những nguồn gốc xuất thân không hoàn toàn giống nhau. Đó là các nguồn gốc, hoàn cảnh, thân phận :
- Những quan lại và anh em, gia đình, dòng tộc của họ.
- Những binh lính giải ngũ tự nguyện ở lại.
- Những tù binh bị bắt trong các cuộc chiến tranh.
- Những tội đồ, nghịch phản.
- Những người nông dân đi tìm vùng đất mới.
- Những dân di cư, dân chạy nạn.
- Những người thuyên chuyển do yêu cầu công tác, hay do kết quả hôn nhân... (có nhiều ở thời kỳ sau này).
Cách thức di cư đến Bình Định của những người Kinh có thể có tổ chức, có thể không có tổ chức, có thể tự nguyện hay không tự nguyện, có thể vì mục đích chính trị, mục đích kinh tế hay vì mục đích hôn nhân. Có điều dù xuất phát từ động cơ nào đi nữa thì tất cả những người Kinh đó đều mong
(9 Dẫn theo tài liệu của Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu, Lịch sử thành phố Quy Nhơn. NXB Thuận Hoá,
Huế năm 1998 (trang 56).)
muốn, đều tìm thấy ở mảnh đất Bình Định nơi “an cư lạc nghiệp”. Chính vì vậy khi đến Bình Định họ đã bỏ ra nhiều công sức để khai phá, tạo dựng vùng đất này thành những xóm làng, thị tứ, thị trấn, thành phố sầm uất..
3. Cư dân thuộc ngữ hệ Hán - Tạng
Có số lượng đông nhất trong số các cư dân thuộc ngữ hệ Hán -Tạng hiện nay ở Bình Định là người Hoa (người Hán). Quá trình tụ cư của người Hoa trên đất Bình Định cũng là một quá trình lâu dài, liên tục. Cố nhiên quá trình đó có nhiều điểm khác xa với quá trình tụ cư của người Kinh trên đất Bình Định:
- Việc di cư của người Hoa vào Việt Nam nói chung, vào Bình Định nói riêng thường gắn bó hết sức mật thiết với các sự kiện chính trị (mà chủ yếu là sự thay đổi của các vương triều) trên đất nước Trung Quốc.
- Đa phần những người Hoa di cư là do tránh nạn binh đao, do bất mãn không chịu hợp tác với chính quyền mới.
- Do tính chất buôn bán, thương mại thúc đẩy, nên người Hoa thường tìm đến những nơi đã có sẵn kinh tế hàng hoá phát triển trước đó. Hay nói rõ hơn tính chất “khai canh, khai khẩn” một vùng đất nào đó trên đất Bình Định của người Hoa hầu như không thấy.
Hiện tại chưa có một tài liệu nào xác định một cách chắc chắn thời điểm có mặt của người Hoa trên đất Bình Định, nhưng rõ ràng khi phố cảng Nước Mặn, Quy Nhơn khẳng định được vị trí trung tâm của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, văn hoá... thì đó cũng là lúc bắt đầu quá trình tụ cư của người Hoa trên đất Bình Định. Quá trình tụ cư đó càng được đẩy mạnh, tăng cường khi vua Minh Mạng có chỉ dụ cho phép người Hoa định cư một cách hợp pháp ở Bình Định vào năm 1832. Tuy nhiên vào những năm đầu của thập niên 50 của thế kỷ XIX, khi ở Trung Quốc xẩy ra những sự kiện chính trị lớn như: chiến tranh Nha phiến, Phong trào Thái Bình Thiên Quốc thất bại..., thì làn sóng di cư của người Hoa đến Bình Định nói riêng, ra nước ngoài nói chung càng trở nên ồ ạt và đông đảo10. Theo tài liệu của Châu Hải cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, số người Hoa ở Bình Định có khoảng 971 người.11 Khi đến Bình Định tụ cư, những người Hoa đã mua đất, xây nhà, lập phố, mở cửa hiệu buôn bán trên các trục đường lớn,
(10 Xem chương viết về các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định.
11 Châu Hải, Vài nét về sự di cư của người Hoa xuống Đông Nam Á và các tổ chức cộng đồng của họ. Lịch sử ĐNÁ hiện đại. Viện Đông Nam Á xuất bản, Hà Nội 1983.)
gần các khu chợ. Một đặc điểm riêng của người Hoa ở Bình Định là khi tụ cư lại trên vùng đất này, họ không sống tập trung thành các điểm cư trú lớn (kiểu làng Minh Hương ở Hội An hay ở Huế) mà họ sống xen cư với người Việt đã có trước đó. Chính đặc điểm này cộng với nhiều lý do khác đã làm cho người Hoa trên đất Bình Định sớm hội nhập vào cộng đồng các dân tộc trong tỉnh. Hiện nay người Hoa ở Bình Định có khoảng 2.455 người, cư trú tập trung trong các địa phương: Quy Nhơn (1154 người), An Nhơn (729 người), Tây Sơn (200 người) và Phù Cát (171 người).12
Như vậy, quá trình hội tụ dân cư trên đất Bình Định là một quá trình lâu dài, đa phương, đa tuyến. Những cư dân có mặt trên đất Bình Định hiện nay vừa là những cư dân có mặt từ rất sớm trong lịch sử phát triển của vùng đất (người Chăm và có thể còn là người Bana, người Hrê) vừa là những cư dân từ nơi khác chuyển cư đến vào những thời điểm lịch sử khác nhau (người Kinh, người Hoa và một số các dân tộc khác). Trong các cư dân đó có cư dân đông người (người Kinh), có cư dân ít người (Chăm, Bana, Hrê, Hoa...), nhưng khi họ đã tụ cư lại trên mảnh đất này, họ đoàn kết lại với nhau thực hiện mục tiêu thiêng liêng là khai phá vùng đất và bảo vệ quê hương Bình Định giàu đẹp.
II. DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ TỈNH BÌNH
ĐỊNH TRONG LỊCH SỬ
Quá trình hội tụ dân cư ở tỉnh Bình Định trong lịch sử đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển dân số cũng như sự phân bố dân cư trên địa bàn của tỉnh. Tuy nhiên tài liệu về dân số của tỉnh Bình Định vào những thời kỳ trước đây không đầy đủ, chỉ tản mác xuất hiện trong một số ít công trình nghiên cứu...13 Vì thế chúng ta chỉ có thể hình dung vấn đề dân số, phân bố dân cư tỉnh Bình Định trong lịch sử trên những chặng đường phát triển của tỉnh chủ yếu như sau :
1. Dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định trong buổi
đầu tạo lập
Bình Định sau một thời gian dài về với Đại Việt, bức tranh dân cư đã trở nên đa dạng và có những sự thay đổi so với trước đó. Có thể nói trong khoảng thời gian hơn 130 năm ( kể từ năm 1471 đến 1602) là thời gian định
(12 Theo số liệu tổng điều tra dân số tỉnh Nghĩa Bình (01.10.1979).
13 Những số liệu mà chúng tôi dẫn ra là những số liệu trong các tài liệu lưu trữ ở thư viện tỉnh Bình
Định.)
hình diện mạo dân cư tỉnh Bình Định.14 Lúc bấy giờ người Chăm vẫn tiếp tục cư trú trên những vùng đất mà họ đã sống trước đó. Nếu có thay đổi địa bàn sống thì chỉ là một bộ phận rất nhỏ của cộng đồng Chăm (Chàm) ở vùng đồng bằng chuyển cư lên vùng núi huyện Vân Canh sinh sống.15 Nói chung, địa bàn vùng núi tỉnh Bình Định lúc bấy giờ là vùng đất cư trú chủ yếu của người Bana và người Hrê. Đây là vùng đất rộng lớn của tỉnh nhưng dân cư hết sức thưa thớt. Trong khi đó vùng đồng bằng ven biển, dọc theo hạ lưu các con sông là vùng đất cư trú, dừng chân của người Kinh (Việt) từ miền Bắc di cư vào. Những người Kinh (Việt) trong quá trình “Nam tiến” mở mang bờ cõi đã nhìn thấy sự trù phú, giàu có của vùng đất Bình Định, một vùng đất mà “Dư địa chí” đã từng nói rõ: “Đất nơi đây đen và xốp”. Phan Định (tên sông) có giống thủy sư (sư tử dưới nước). Tư Minh sản xuất tơ và đay, tre vàng, chim yến đỏ. Miêu Sơn (Tư Minh và Miêu Sơn thuộc huyện Tuy Viễn) sản thứ lụa thâm. Xích Dã (Nghĩa Sơn) sản giống hạ dịch (loại chỉ ngũ sắc), Cô Sơn (Hà Đông) sản thứ cây đông đặc. Duyên Tân (tên sông ở Quy Nhơn) sản phù khánh (đá mọc trên nước có thể dùng làm khánh được), Danh Sơn có thác đá...16 Vùng đất trù phú, giàu có đó đã níu kéo giữ chân những quan lại, những người dân lưu tán, nghèo khổ từ miền Bắc vào. Họ đã tụ cư lại ở Bình Định, tiến hành khai khẩn đất hoang, cày cấy sinh sống, dần dần lập nên những xóm làng. “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi cho chúng ta biết, lúc mới thành lập ba huyện của phủ Hoài Nhơn chỉ có 33 xã (trong đó huyện Bồng Sơn 7 xã, huyện Phù Mỹ 8 xã và huyện Tuy Viễn 18 xã ). Nhưng 20 năm sau đó (năm 1490) “Thiên Nam Dư hạ tập” cho biết: phủ Hoài Nhơn dưới thời Hồng Đức đã có tới 19 tổng với hơn 100 xã, trong đó huyện Bồng Sơn 7 tổng, 32 xã, huyện Phù Ly 16 tổng, 60 xã, huyện Tuy Viễn có 6 tổng...17 Các số liệu về sự gia tăng của các tổng, xã ở phủ Hoài Nhơn lúc bấy giờ cho chúng ta thấy:
Thứ nhất: Mức độ tập trung dân cư ở Bình Định ngày một lớn. Bởi vì đi cùng với sự ra đời của các tổng, các xã là sự phát triển của dân cư.
(14 Năm 1471 là năm vua Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh thành Vijaya mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến núi Thạch Bi, còn năm 1602 là năm phủ Hoài Nhơn đổi thành phủ Quy Nhơn diện tích tương đương với tỉnh Bình Định ngày nay.
15 Xem chương nói về các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định.
16 Nguyễn Trãi, Dư Địa chí (trong Nguyễn Trãi toàn tập), trang 102.
17 Dẫn theo tài liệu của TS Đỗ Bang, TS Nguyễn Tấn Hiểu, Lịch sử thành phố Quy Nhơn. Nxb Thuận
Hoá, năm 1998 (trang 52)).
Thứ hai: Sự phân bố dân cư của Bình Định trong buổi đầu tạo lập chỉ mới tập trung ở các huyện đồng bằng, nơi có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống. Đó là các huyện thành Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão, Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước, An Nhơn, Quy Nhơn... ngày nay.
Thứ ba: Tập trung của dân cư trong buổi đầu tạo lập tỉnh Bình Định, người Kinh từ miền Bắc di cư vào đã dần dần xác lập được vai trò quan trọng trong sự phát triển của vùng đất, bên cạnh các dân tộc thiểu số
Chăm, Bana, Hrê đã tụ cư trước đó.
2. Dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định thời chúa
Nguyễn và thời kỳ anh em nhà Tây Sơn
Năm 1602, Nguyễn Hoàng đã cho đổi tên phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn, mở đầu cho một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của vùng đất. Trên phương diện dân cư thời kỳ 1602 trở về sau có chiều hướng phát triển khá mạnh mẽ về dân số. Các chúa Nguyễn với cách nhìn tích cực trong việc mở mang bờ cõi xuống phía Nam đã có những chính sách cụ thể và hiệu quả đối với việc phát triển dân cư ở những vùng đất này. Ví như chính sách khuyến khích, chiêu mộ dân tứ xứ đến định cư, chính sách chuyển dân từ vùng Thuận Hoá vào và nhất là chính sách “buộc” những tù binh bị bắt trong các cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn ở lại làm ăn sinh sống trên các vùng đất mới mở. Đó chính là các đợt bổ sung dân lớn trong lịch sử của vùng đất Thuận - Quảng như đợt bổ sung dân vào năm 1648, hay trong các năm 1655 - 1660... Sử cũ còn ghi lại: năm 1648 là năm chúa Nguyễn đại thắng quân Trịnh, bắt được hơn 3 vạn tù binh, để giải quyết số lượng tù binh lớn này, chúa Nguyễn Phúc Lan lúc đó đã chủ trương: chia số tù binh thành từng nhóm nhỏ và phân họ về các làng xã. Nhà nước tạo điều kiện, động viên, khuyến khích họ an cư lạc nghiệp... Thực hiện chủ trương của chúa Nguyễn Phúc Lan, các tù binh đã được chia nhỏ ra từng nhóm, chuyển về các làng, xóm sinh sống, hoặc hình thành nên làng xóm mới. Sử cũ cho biết, sau năm 1648 trong các vùng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... đã có khoảng 600 làng mới được thành lập. Đi cùng với sự tăng lên của số lượng các làng, xóm là sự đông lên của dân cư. Có thể nói bộ mặt dân cư thời các chúa Nguyễn đã có những thay đổi đáng kể. Khi được chính quyền sở tại cho tập trung và khuyến khích khai phá ở những vùng đất màu mỡ, dễ làm ăn, những người dân mà trước đó vốn có những hoàn cảnh, thân phận khác nhau (tù bình, tội đồ, lưu tán, nông dân, quan lại...) đã hợp lực lại với nhau trong cuộc mưu sinh và ý thức về một vùng quê mới.
Sự thay đổi của bộ mặt dân cư tỉnh Bình Định càng được đẩy nhanh hơn nữa dưới thời Tây Sơn. Có thể nói lúc bấy giờ, do những yêu cầu tự thân của nó nên dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định phải có những thay đổi lớn, phù hợp với yêu cầu lúc bấy giờ. Anh em nhà Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa ở vùng Tây Sơn Thượng chứng tỏ sự phân bố dân cư đã có những chuyển dịch từ vùng đồng bằng lên vùng trung du, vùng núi. Lúc bấy giờ địa bàn vùng núi tỉnh Bình Định không chỉ là vùng đất sinh sống chủ yếu của người Bana, người Hrê, mà còn là sự có mặt ngày một đông đảo của cộng đồng người Kinh. Người Kinh đã đến định cư ở những vùng đất tương đối bằng phẳng dọc theo trung lưu rồi thượng lưu các con sông. Hơn thế để có được sự ra đời và thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, yêu cầu đặt ra là phải có nguồn nhân lực đông đảo. Phong trào Tây Sơn đã quy tụ, lôi kéo được đông đảo nhân dân từ nơi khác hội tụ về đây. Đó có thể cũng là đợt chuyển cư, tập trung dân cư lớn trên đất Bình Định thời kỳ bấy giờ. Bên cạnh đó, đứng về mặt phát triển dân số, chúng ta cũng cần lưu ý tới đợt chuyển dân từ nơi khác về Bình Định của nhà Nguyễn khi phong trào khởi nghĩa của anh em nhà Tây Sơn thất bại.
3. Dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định trong thời
kỳ các vua Nguyễn
Tỉnh Bình Định dưới triều Nguyễn (1802 - 1945), đã có những thay đổi đáng kể trên nhiều phương diện, trong đó có sự thay đổi về mặt dân cư. Vào năm 1808 - Gia Long thứ 7, nhà vua đã đặt trấn Bình Định thay dinh Bình Định lập từ năm 1799. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), trong khi sắp xếp lại các đơn vị hành chính trên phạm vi toàn quốc, nhà Nguyễn đã chia huyện Tuy Viễn ra làm hai huyện: Tuy Viễn và Tuy Phước, chia huyện Phù Ly ra làm 2 huyện Phù Cát và Phù Mỹ. Đến năm 1877 đời Tự Đức đã đặt nha An Khê Kinh Lý ở miền Thượng du huyện Tuy Viễn. Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) cải đặt Bình Khê huyện thuộc phủ An Nhơn... Việc chia tách các đơn vị hành chính thời kỳ các vua Nguyễn, nhất là việc với tay tới các miền thượng du đã cho thấy sự thay đổi trong cơ cấu dân cư, sự mở rộng diện tích của vùng đất Bình Định, làm cho diện tích Bình Định ngày ấy gần với diện tích ngày nay. Hơn thế, cùng với sự mở rộng diện tích của tỉnh là sự đông lên của cư dân. Lúc bấy giờ người Kinh không còn chỉ sống tập trung và đông đảo ở vùng đồng bằng mà đã tiến dần lên khai phá các vùng trung du và vùng núi. Điều đó cũng có nghĩa mật độ dân số giữa đồng bằng, trung du và miền núi trên địa bàn tỉnh đã có những biến động, thay đổi. Dân cư tỉnh Bình Định đã có những phát triển mới và tỉ lệ thuận theo thời gian lịch sử. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua một vài số liệu về các suất đinh của Bình Định trong thời kỳ các vua Nguyễn như sau:
Biểu : Số lượng xuất đinh thời các vua Nguyễn.
| TT |
Thời vua |
Số suất định (người) | Ghi chú |
| 1 | Gia Long | 38.400 | |
| 2 | Tự Đức | 41.849 | |
| 3 | Thành Thái | 66.940 | năm 1902 |
(Nguồn: Dẫn theo số liệu trong Đại Nam Nhất Thống Chí tỉnh Bình Định).
Các con số trên đây đã phần nào nói lên sự phát triển về mặt dân số của tỉnh Bình Định trong thời kỳ các vua Nguyễn. Tuy nhiên các con số đó chỉ là những con số chỉ các suất đinh của tỉnh chịu thuế hàng năm. Ngoài các suất đinh đó ra, ở tỉnh Bình Định lúc này còn có những chức sắc miễn sai dịch, những người không phải đóng thuế, những người nhà nước không nắm được... Số lượng này không phải là ít. Dù thế những con số về các suất đinh của tỉnh Bình Định trong thời kỳ các vua Nguyễn cũng cho chúng ta thấy được đông đúc của cư dân thời kỳ này. Đặc biệt khi phố cảng Quy Nhơn được tạo dựng và phát triển đã thu hút được một lực lượng đông đảo cư dân từ nơi khác (trong đó có hàng loạt người Hoa từ Triều Châu, Phúc Kiến, Nam Hải...) đến tụ cư.
Như vậy, vào thời kỳ các vua Nguyễn, dân số, mật độ dân số, phân bố dân cư tỉnh Bình Định đã có nhiều thay đổi. Dân cư ngày một đông lên và phân bố trên hầu khắp mọi địa phương trong tỉnh. Bức tranh về thành phần tộc người trở nên phong phú hơn. Lúc bấy giờ bên cạnh người Hrê, người Bana, người Chăm, người Kinh, còn có sự có mặt của người Hoa. Người Kinh đã dần dần tiến lên vùng trung du và vùng núi làm ăn, sinh sống. Dù vậy có thể nói địa bàn sống tập trung nhất của người Kinh vẫn là vùng đồng bằng, vùng phố thị, những nơi điều kiện giao thông tương đối thuận lợi. Còn địa bàn vùng núi của tỉnh vẫn là nơi sinh tụ chủ yếu của các dân tộc thiểu số.
4. Dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định trong thời
kỳ từ 1945-1975
Từ 1945 - 1975 là thời kỳ nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong giai đoạn này, bức tranh dân cư của tỉnh Bình Định chịu nhiều ảnh hưởng của tình hình chiến sự nhưng có những đặc thù riêng của từng thời kỳ.
a. Thời kỳ từ 1945 đến 1954.
Từ khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng đã kéo theo sự có mặt ngày càng nhiều của người phương Tây trên khắp đất nước ta. Việc có mặt của người phương Tây đã làm cho thành phần dân tộc ở Việt Nam và ở Bình Định có những sự thay đổi. Lúc bấy giờ ở Bình Định bên cạnh người Kinh, người Hoa, người Chăm, người Bana, người Hrê,... còn có thêm người Pháp, người Ấn. Vào những năm đầu thế kỷ XX số người Pháp có mặt ở Bình Định có khoảng 127 người.18 Con số này thực ra không nhiều nhưng so với tổng số dân cư tỉnh Bình Định lúc đó thì đây lại là một con số không nhỏ. Những người Âu có mặt ở Bình Định thuộc nhiều thành phần khác nhau: công chức, thương gia, điền chủ, quan lại, binh lính... Họ là người của nhà nước thực dân, nên rất được chính quyền lúc đó nâng đỡ, ưu đãi. Tính chung, đến năm 1953, dân số Bình Định khoảng 730.000 người, trong đó: 4 người Ấn Độ, 7 người Nhật, 20 người Pháp và 3.000 Hoa Kiều.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tình hình dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định có rất nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh. Đó chính là việc rời bỏ Bình Định của hầu hết người Âu sau sự thất bại của thực dân Pháp trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó còn là việc chuyển dịch, ra đi của người dân thành thị về các vùng nông thôn, vùng núi khi thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Bình Định trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp là vùng tự do. Tuy vậy đây là một vùng trọng điểm nên thực dân Pháp luôn luôn đe dọa tấn công. Để bảo đảm an toàn và thắng lợi cho cuộc kháng chiến, ta đã chủ trương tản cư dân ở những vùng đô thị, vùng trọng điểm về vùng nông thôn. Quy Nhơn một trong những nơi đông dân cư nhất của Bình định lúc bấy giờ đã thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến khá ráo riết. Người dân Quy Nhơn đã tản cư về các huyện An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ..., một số khác
(18 L’ Annnam en 1906. Imprimerie Samát, Marseille 1906. Thư viện tỉnh Bình Định (Bản dịch tiếng
Việt, trang 3).
19 Dẫn theo tài liệu của TS Đỗ Bang và TS Nguyễn Tấn Hiểu: Sđd, trang 244-245.)
chạy vào Nha Trang hay Sàigòn. Quy Nhơn từ chỗ có trên 30.000 người vào năm 1945 đến tháng 10/1954 chỉ còn lại khoảng 9.200 người.19 Các vùng khác trong tỉnh cũng đã xảy ra hiện tượng đó.
Như thế có thể nói dân số, mật độ dân số Bình Định trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp có những sự thay đổi lớn. Bên cạnh đó sự phân bố dân cư giữa các vùng, miền đã có nhiều điểm khác với trước. Vùng nông thôn, vùng núi đã tiếp nhận một số lượng đông đảo dân cư từ thành thị chuyển về. Dù thế việc tăng dân số tỉnh Bình Định vào thời gian này chủ yếu vẫn là tăng tự nhiên.
b. Thời kỳ từ năm 1954 - 1975.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) Bình Định với trung tâm tỉnh lỵ Quy Nhơn là đầu cầu chiến lược nối các tỉnh duyên hải miền Trung Trung bộ với Tây Nguyên, Đông Bắc Cămpuchia và Hạ Lào. Đồng thời để đáp ứng nhu cầu của cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ và các thế lực tay sai đã từng bước xây dựng Quy Nhơn thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Bình Định. Chính vì thế vào thời gian này Quy Nhơn nói riêng, Bình Định nói chung đã thu hút dân cư từ nhiều
nơi khác đổ về. Đặc biệt vào thời điểm năm 1965, khi đế quốc Mỹ biến Quy Nhơn thành căn cứ chiến lược của Mỹ và là thành phố dịch vụ cho quân đội viễn chinh, quân đội chư hầu, thì Bình Định được bổ sung thêm nguồn dân số rất lớn. Lúc bấy giờ dân số tỉnh Bình Định tăng lên theo các nguồn:
- Nguồn tăng tự nhiên.
- Nguồn tăng cơ học (dân từ các nơi khác đổ xô về, kể cả dân chuyển cư sau năm 1954 từ miền Bắc vào, các loại lính tráng...).
Sự phát triển dân số tỉnh Bình Định trong thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 phần nào được phản ánh qua các số liệu sau đây:
Biểu : Dân số tỉnh Bình Định trong thời kỳ 1953-1975.
| TT |
Năm |
Dân số (người) | Ghi chú |
| 1 | 1953 | 527.492 | Chỉ riêng Bình Định |
| 2 | 1975 | 932.000 | Chỉ riêng Bình Định |
( Số liệu ở Kho Lưu trữ tỉnh Bình Định)
Như vậy, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước dân số tỉnh Bình Định đã phát triển tỷ lệ thuận với mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh. Dân số các năm sau bao giờ cũng tăng lên nhanh chóng so với dân số các năm trước. Tuy nhiên việc gia tăng dân số tỉnh Bình Định trong thời kỳ 1954 - 1975 có nhiều điểm khác với sự gia tăng dân số là sự tập trung ngày càng đông đảo dân cư vào các thành thị nhất là thành phố Quy Nhơn. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua con số gia tăng dân số ở thành phố Quy Nhơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ như sau:
Biểu : Sự gia tăng dân số ở thành phố Quy Nhơn qua một số năm.
| TT |
Năm |
Dân số (người) | Ghi chú |
| 1 | 10/1954 | 9.200 | |
| 2 | 1959 | 28.500 | |
| 3 | 8/1960 | 28.929 | |
| 4 | 6/1965 | 60.000 | |
| 5 | 1967 | 115.000 | |
| 6 | 1968 | 160.000 | |
| 7 | 9/1970 | 215.923 | Không kể dân không được kiểm soát |
| 8 | 1973 | 217.819 | Chưa kể dân vùng ven |
(Nguồn: Dẫn theo tài liệu của TS Đỗ Bang và TS Nguyễn Tấn Hiểu trong
“Lịch sử thành phố Quy Nhơn”).
Với sự gia tăng dân số đó thành phố Quy Nhơn thời kỳ 1954 - 1975 được xem là “một trong ba thành phố đông dân nhất ở miền Nam Việt Nam, chỉ đứng sau thành phố Sài Gòn và Đà Nẵng”.20 Ngay chính quyền Sài Gòn lúc đó cũng phải thừa nhận “dân chúng chen chúc nhau ở Quy Nhơn khá đông đúc so với các thị trấn khác”.21 Trong khi đó ở vùng nông thôn, miền núi mật độ dân số, phân bố dân cư của tỉnh Bình Định lại hết sức thấp và phân tán. Sở dĩ có tình trạng dân cư tập trung đông đảo vào thành phố và xa rời các vùng nông thôn là do những nguyên nhân sau:
- Do chính sách “Tố cộng, diệt cộng” đẫm máu, do chính sách dồn dân lập “ấp chiến lược” của chính quyền Mỹ - Diệm.
- Do yêu cầu phát triển về mọi mặt của thành phố Quy Nhơn nên đã thu
(20 TS Đỗ Bang, TS Nguyễn Tấn Hiểu, Sách đã dẫn, (trang 347)
21 Trần Đình Thái, Ai về Quy Nhơn. Tủ sách đẹp quê hương xuất bản, năm 1973 (trang 23))
hút một lực lượng đông đảo dân cư từ vùng nông thôn vào (di tản, kiếm sống, làm ăn...)
5. Dân số, mật độ dân số và phân bố dân cư tỉnh Bình Định thời kỳ từ
năm 1975 đến nay
Kể từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay (1975 - 2001), tỉnh Bình Định đã đi vào ổn định và có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Đây cũng là thời kỳ công tác thống kê dân số đã có những đóng góp tích cực, thiết thực vào việc hướng tiềm năng nhân lực vào nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học kỹ thuật trong thời kỳ mới. Niên giám thống kê Tỉnh Bình Định (phần dân cư dân số) thời kỳ sau năm 1975 trở lại đây đã cho chúng ta biết được số liệu về dân số, mật độ dân số qua các năm như sau:
Biểu : Số liệu dân số tỉnh Bình Định qua một số năm.
| TT |
Năm |
Dân số (người) | Ghi chú |
| 1 | 1978 | 1.032.500 | Chỉ riêng Bình Định |
| 2 | 1979 | 1.085.100 | nt |
| 3 | 1990 | 1.294.600 | nt |
| 4 | 1995 | 1.344.300 | nt |
| 5 | 1998 | 1.449.800 | nt |
| 6 | 1999 | 1.468.000 | nt |
| 7 | 2000 | 1.485.600 | nt |
(Nguồn: Số liệu do TS Man Ngọc Lý cung cấp và rút ra trong Niên giám
thống kê tỉnh Bình Định các năm 2000).
Nhìn vào bảng thống kê số liệu dân số, mật độ dân số tỉnh Bình Định đó chúng ta thấy:
- Dân số tỉnh Bình Định trong thời gian qua luôn phát triển theo chiều hướng đi lên.
- Sự phát triển dân số làm cho mật độ dân số năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước.
Dân số Bình Định phát triển nhanh trong thời kỳ 1975 - 2001 (nhất là những năm đầu sau giải phóng) một phần là nhờ vào nguồn tăng tự nhiên, một phần là nhờ dân cư từ các nơi khác chuyển đến (dân từ các tỉnh miền Bắc, từ các chiến khu, dân di tản trong chiến tranh từ các tỉnh khác về...).
Đứng về mặt thành phần tộc người, thời kỳ 1975-2001 là thời kỳ thành phần tộc người tỉnh Bình Định được bổ sung thêm những thành phần mới bên cạnh những thành phần đã có. Đó chính là những người Tày, người Nùng, người Thái, người Êđê..., theo chồng (hoặc theo vợ) về Bình Định do yêu cầu công tác hay hôn nhân. Tuy nhiên những người Tày, người Nùng, người Thái, người Êđê... theo chồng hoặc theo vợ về Bình Định định cư, làm ăn sinh sống chỉ chiếm một số lượng không nhiều và sống hết sức rải rác trong nhiều địa phương khác nhau. Họ góp phần tăng thêm dân số tỉnh, nhưng chưa thể là những tộc người riêng biệt. Rõ ràng sự phát triển về mặt dân số của tỉnh Bình Định trong thời kỳ 1975- 2001 là một điều tất yếu. Tuy nhiên sự phát triển dân số tỉnh Bình Định trong thời kỳ này có đặc điểm:
- Đây là sự phát triển có kế hoạch, có điều tiết.22
- Hơn thế đi cùng với sự phát triển dân số là sự phân bố dân cư ngày càng có tính hợp lý hơn giữa các vùng, các địa phương trong tỉnh. Thời kỳ 1975- 2001 tỉnh Bình Định đã có sự điều tiết của việc phân bố dân cư giữa các huyện đồng bằng và các huyện miền núi, giữa thành phố Quy Nhơn và các huyện, lỵ, giữa các vùng trong huyện...
- Khác với các giai đoạn trước, nguyên nhân của sự phát triển dân số trong thời kỳ 1975-2001 ngoài sự thúc đẩy của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, còn là vấn đề chăm sóc sức khoẻ ban đầu khá tốt. Số lượng trẻ sơ sinh bị chết yểu ở Bình Định (nhất là ở khu vực miền núi) đã giảm đi đáng kể, tuổi thọ của người dân tăng lên so với trước rất nhiều.
- Đặc biệt đi cùng với sự phát triển dân số tỉnh Bình Định thời kỳ 1975- 2001 còn là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đó chính là việc thực hiện và đảm bảo các quyền lợi cơ bản của con người: quyền ăn, ở, đi lại, học tập, lao động, làm việc, nghỉ ngơi, vui chơi, tôn giáo tín ngưỡng...
(22 Xem ở mục nói về chính sách dân số ở tỉnh Bình Định.)
III. CHÍNH SÁCH DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ CỦA TỈNH
BÌNH ĐỊNH TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY.
Dân số là một trong những thế mạnh của một địa phương, một quốc gia, thực tế đã chỉ ra sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... của một vùng đất, một quốc gia bao giờ cũng được bắt đầu và quyết định bởi nhân tố con người, trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn lực khác nhau. Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển của lịch sử mà vấn đề dân số và phát triển dân số có những biểu hiện, những yêu cầu riêng của nó. Vào các thời kỳ trước đây ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Bình Định nói riêng, đất đai, tài nguyên còn rộng lớn, còn nhiều, trong khi đó nguồn nhân lực lại quá ít ỏi, thưa thớt thì vấn đề phát triển dân số là một yêu cầu hết sức tự nhiên. Cũng chính vì lý do đó mà vào các thời kỳ trước đây, các Nhà nước, các giai cấp cầm quyền đã có những chủ trương, những biện pháp nhằm thúc đẩy sự gia tăng dân số, nhưng thuần tuý gia tăng về mặt số lượng người (chủ trương chiêu tập dân lưu tán, chuyển dân cư giữa các vùng, không hạn chế sinh đẻ...). Hơn thế, các chủ trương đó chỉ thực hiện nhất thời, không có tính dài lâu, tính chiến lược mang tầm quốc gia... Vào các thời kỳ sau này, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà dân cư ngày một quá đông đúc, mật độ dân số trở nên quá cao, trong khi đất đai ngày càng chật hẹp, nguồn tài nguyên, khoáng sản ngày cũng khan hiếm... thì vấn đề phát triển dân số cần phải được xem xét dưới những góc độ khác. Ở Việt Nam hiện nay, chính sách dân số và phát triển dân số đã mang tầm quốc gia, có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên ở mỗi địa phương, mỗi tộc người, việc thực hiện quốc sách về dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước ta có nhiều nguyên nhân và những giải pháp.
1. Chính sách dân số và phát triển dân số của Đảng và Nhà nước Việt
Nam hiện nay ở Bình Định
a. Chính sách dân số và phát triển dân số của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời đã có những chú ý đến vấn đề phát triển dân số. Tuy nhiên do những yêu cầu khách quan riêng của nó (nhất là phải tập trung vào việc thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc) nên cho mãi đến năm 1961, lần đầu tiên ở miền Bắc, Nhà nước ta mới tiến hành cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, nhằm giảm tốc độ tăng dân số từ 3,5% xuống 2,5%, phấn đấu mỗi gia đình chỉ có 2 - 3 con, cách nhau 5 - 6 năm. Dù vậy, cuộc vận động này đã bị gián đoạn do cuộc chiến tranh phá hoại mà đế quốc Mỹ đã gây ra ở miền Bắc. Chính vì thế mãi đến Đại Hội IV (1976), trong phương hướng nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), Đảng và Nhà nước ta mới chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, phấn đấu đến 1980 tỉ lệ tăng dân số chỉ trên 2%. Tại Đại Hội V, kế hoạch đề ra là giảm tỉ lệ tăng dân số vào năm 1985 chỉ còn 1,7%. Tỉ lệ này được Đại Hội VI phấn đấu giữ nguyên vào năm 1990. Tháng 10/1988 Hội Đồng Bộ Trưởng ra quyết định quy định rõ thêm về tuổi đẻ của nữ và nam ở thành phố (22, 24 tuổi), ở nông thôn (19, 24 tuổi) số con sinh tối đa là 2 (riêng ở vùng núi và Tây Nam bộ là 3 con). Tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp Hành TW khoá VII họp vào tháng 1/1993, lần đầu tiên Đảng ta có Nghị quyết riêng về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Nghị quyết lần này đã xem: công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Tiếp đó là các Đại Hội VII: Đại Hội VIII, Đại Hội IX, Đảng và Nhà nước ta kiên trì thức hiện vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình. Nội dung về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước ta hiện nay có các điểm chủ yếu sau:
- Phấn đấu các cặp vợ chồng chỉ có từ 1-2 con .
- Giảm tỉ lệ tăng dân số xuống mức cho phép nhằm tiến tới ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ XXI.
- Chú ý đặc biệt đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, coi đây là nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển dân số lâu dài của đất nước.
b. Việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước ta ở Bình Định từ 1975 đến nay.
Quán triệt những nội dung cơ bản trong chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước ta, các cấp bộ Đảng và chính quyền tỉnh Bình Định kể từ năm 1975 tới nay đã đề ra hàng loạt các biện pháp thực hiện dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Thứ nhất: Những biện pháp nhằm ổn định đời sống nhân dân sau ngày giải phóng, tiến hành phân bố, sắp xếp lại dân cư giữa các vùng, miền.
Đây là một công việc hết sức cấp bách và cần thiết của tỉnh Bình Định sau những ngày quê hương mới giải phóng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng Bộ và chính quyền địa phương, vượt lên những khó khăn trở ngại, nhân dân tỉnh Bình Định đã từng bước ổn định đời sống, yên tâm đi vào sản xuất. Tỉnh đã có những việc làm tích cực trong việc tiếp nhận những người dân từ các tỉnh khác chuyển về, tích cực vận động đồng bào từ các khu tập trung, từ các thị trấn, đặc biệt là thành phố Quy Nhơn quay trở về địa phương cũ. Gần 30 vạn dân bị Mỹ- Ngụy tập trung trong các khu đồn điền, ấp chiến lược, trại tập trung, dồn ép dựa vào chiến tranh trong các thị trấn, thị xã, thành phố Quy Nhơn... đã trở về quê hương cũ khai hoang, phục hoá, lao động sản xuất. Bên cạnh đó, tỉnh Bình Định còn thực hiện nhiều biện pháp như di dân, chuyển dân, lập các cơ sở kinh tế mới nhằm chuyển một lực lượng lao động dư thừa ở vùng đông dân, vùng thành thị về vùng nông thôn, vùng ít dân cư, vùng núi cao. Những điểm kinh tế mới của Bình Định vào thời gian sau giải phóng bao gồm: Trung Hoà Hưng, Phú Ninh (Hoài Ân), Quang Hiền, Long Mỹ, Tân Vinh (Phước Vân) Hội Lộc, Thuận Ninh... Những năm tiếp theo Bình Định còn xây dựng thêm hàng loạt các điểm kinh tế mới khác ở các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, Hoài Ân, Hoài Nhơn... Các điểm kinh tế mới đã thu hút một lực lượng đông đảo người Việt từ vùng đồng bằng, vùng đông dân cư đến định cư. Báo cáo về kết quả di dân và kinh tế mới cho biết, trong 20 năm (từ 1976 đến 1996) tỉnh Bình Định đã:
- Di dời dân đến các vùng dự án, vùng kinh tế mới trong tỉnh là 12.404 hộ với 48.008 người, trong đó có 23.935 lao động .
- Di dời dân đến các vùng định cư mới ngoài tỉnh là 12.039 hộ với 58.050 người, trong đó có 34.591 lao động.23
Đối với vùng núi, tỉnh Bình Định đã có các biện pháp tích cực vận động đồng bào các dân tộc Chăm, Bana, Hrê đi vào định canh định cư. Bằng nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh, hàng năm hàng chục tỉ đồng đã được huy động cho việc phát triển các mặt ở vùng núi, vùng các dân tộc thiểu số.
Thứ hai: Những giải pháp kỹ thuật để thực hiện các chỉ tiêu về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Bình Định là một tỉnh đất không rộng nhưng dân số lại tương đối cao so với nhiều tỉnh khác ở Trung Trung bộ. Đây cũng là một trong những tỉnh có tỉ lệ dân số tăng khá nhanh, được thể hiện qua tỉ lệ sinh, tử, tăng tự nhiên trong một số năm như sau:
(23 Báo cáo về di dân và kinh tế mới năm 1996 của tỉnh Bình Định.)
Biểu : Tỉ lệ sinh, tử, tăng tự nhiên của Bình Định
| TT |
Năm |
Tỉ lệ sinh (‰) | Tỉ lệ chết (‰) | Tỉ lệ tăng tự nhiên (‰) |
| 1 | 1975 | 30,5 | 5,9 | 24,6 (Nghĩa Bình Cũ) |
| 2 | 1978 | 31,6 | 6,1 | 27,5 |
| 3 | 1986 | 22,6 | 5,1 | 20,3 |
| 4 | 1990 | 25,4 | 6,4 | 18,6 |
| 5 | 1991 | 33,7 | 6,1 | 27,6 |
| 6 | 1993 | 30,3 | 4,4 | 25,9 |
| 7 | 1995 | 30,0 | 6,1 | 23,9 |
| 8 | 1996 | 25,2 | 5,6 | 19,6 |
| 9 | 1997 | 24,1 | 5,5 | 18,6 |
| 10 | 1998 | 22,7 | 5,5 | 17,2 |
| 11 | 1999 | 20,9 | 5,5 | 15,4 |
| 12 | 2000 | 19,7 | 5,2 | 14,5 |
(Nguồn:Số liệu của Niên giám Thống kê tỉnh Bình Định)
Trước tình hình đó, các cấp bộ Đảng và chính quyền tỉnh Bình Định trong thời gian từ 1975 trở lại đây đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm kiểm soát sự gia tăng dân số của tỉnh. Các biện pháp của Tỉnh để thực hiện quốc sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước Việt Nam bao gồm:
- Nâng cao năng lực quản lý cộng đồng về dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đây chính là cách thức tổ chức của quá trình thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình ở địa phương Bình Định. Trong thời gian qua, công tác tổ chức này ở Bình Định tương đối tốt. Ở mỗi cấp: tỉnh - huyện - xã đều có các Ban thực hiện dân số và kế hoạch hoá gia đình, do một cán bộ có chuyên môn phụ trách với sự tham gia tích cực của: đại diện cơ quan y tế, đại diện hội phụ nữ, đại diện của đoàn Thanh niên...
- Nâng cao hiệu quả dịch vụ dân số và kế hoạch hoá gia đình. Điểm tập trung của việc làm này chính là các vấn đề kỹ thuật cho công tác kế hoạch hoá gia đình. Hay nói khác đi, muốn cho người dân thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình, cần phải giải quyết tốt vấn đề kỹ thuật trên các biện pháp tránh thai lâm sàng và phi lâm sàng... Trong thời gian qua ở Bình Định đã làm tốt dịch vụ này.
- Nâng cao hiệu quả truyền thông giáo dục. Công tác truyền thông giáo dục là một mắt xích hết sức quan trọng trong chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đây chính là việc làm cho người dân hiểu được lợi ích sống còn của việc giảm dân số xuống mức cho phép, vận động để người dân tự nguyện tham gia, xem đó là công việc của mình và vì mình. Trong thời gian qua, công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình đã được tiến hành quảng bá rộng rãi trên những phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng núi, công tác thông tin, tuyên truyền về dân số và kế hoạch hóa gia đình còn có những hạn chế, tỉ lệ gia tăng dân số ở khu vực này vẫn còn cao hơn khu vực thành thị.
Thứ ba: Những giải pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Nâng cao chất lượng sống cho người dân là mục tiêu hết sức quan trọng nhưng cũng là mục tiêu vô cùng khó khăn, nặng nề đặt ra cho các cấp bộ Đảng và chính quyền tỉnh Bình Định trong thời gian qua. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, tỉnh đã thực hiện liên hoàn, tổng hợp hàng loạt các biện pháp khác nhau.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục...
- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường trạm, nước sạch - nay còn là chợ) cho các vùng dân cư trong tỉnh.
- Mở rộng các dịch vụ, nhất là dịch vụ cho vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
- Nâng cao các quỹ phúc lợi, các công trình phúc lợi cho người dân.
- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Như vậy, việc quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người dân chính là việc đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần tốt nhất cho sự phát triển của con người. Chất lượng cuộc sống của người dân không chỉ là việc có đủ cái ăn, cái mặc, cái ở mà còn là việc làm, học hành, vui chơi, giải trí, trình độ học vấn, nhận thức cuộc sống, các mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, ngoài xã hội...
2. Những kết quả bước đầu của việc thực hiện chính sách dân số và
phát triển dân số trong thời gian qua ở Bình Định
Từ sau năm 1975 đến nay, Bình Định đã thực hiện có kết quả chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Tình trạng mất cân đối nặng nề trong sự bố trí dân cư, bố trí lao động giữa các vùng/miền: đồng bằng - thành thị, nông thôn - miền núi của các thời kỳ trước đây đã từng bước được khắc phục. Thành phố Quy Nhơn nơi quá tải dân cư trong thời kỳ Mỹ - Ngụy đã được điều chỉnh cho phù hợp. Các huyện thưa dân, huyện miền núi đã được chính quyền tỉnh điều tiết lại lực lượng dân cư, lực lượng lao động nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của các vùng đất này. Thời gian từ năm 1975 đến năm 2000 cũng là thời gian mật độ dân số giữa các vùng trong tỉnh đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: vùng quá đông dân cư giảm xuống, vùng quá thưa dân cư tăng lên. Điều đó được phản ảnh qua số liệu về mật độ dân số giữa một số vùng trong thời gian qua như sau:
Biểu : Mật độ dân số một số huyện, thành phố của tỉnh Bình Định
| Địa phương |
Năm |
Mật độ dân số (người/km2) | Ghi chú |
| T.P Quy Nhơn | 1979 | 1024 | Thành phố |
| 1989 | 1127,4 | ||
| Huyện Phù Cát | 1979 | 226 | Đồng bằng |
| 1989 | 285,3 | ||
| Huyện Vĩnh Thạnh | 1980 | 36,7 | Vùng núi |
| 1990 | 39,4 | ||
| 1998 | 40,1 |
(Nguồn: Số liệu của Niên giám Thống kê tỉnh Bình Đinh).
Nhìn vào các số liệu về mật độ dân số giữa 3 vùng (thành phố, đồng bằng, vùng núi) của tỉnh Bình Định, chúng ta thấy sự chênh lệch vẫn còn cao, nhưng nếu đem so sánh với các thời kỳ trước đây (thời Mỹ - Ngụy dân số thành phố Quy Nhơn vào thời kỳ đỉnh điểm là năm 1973 là 217.879 người, trong khi đó dân ở các huyện khác rất thấp), đó là một sự cố gắng lớn của tỉnh Bình Định.24 Bên cạnh đó tỉnh Bình Định cũng đã thực hiện có kết quả các chỉ tiêu về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
- Tuổi thọ trung bình người dân đạt: 68 tuổi.
- Giảm tỉ lệ tăng dân số xuống còn: 1,5%.
- Tỷ lệ người áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình tăng cao.
(24 TS. Đỗ Bang, TS Nguyễn Tấn Hiểu (chủ biên): sđd (trang 347))
Nhưng hơn hết Bình Định đã từng bước nâng cao được chất lượng cuộc sống cho người dân. Về cơ bản nạn mù chữ đã được xoá bỏ. Số lượng người tốt nghiệp cao đẳng, đại học, trên đại học ngày một nhiều, trình độ văn hoá của người dân được nâng lên, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Các công trình phúc lợi xã hội, quỹ phúc lợi xã hội cho người dân ngày một nhiều. Các mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, ngoài xã hội được phát huy...
Nhìn chung, qua 25 năm thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình tỉnh Bình Định đã thu được những kết quả đáng kể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau đưa lại những kết quả trên, trong đó có sự nổ lực cao độ của nhân dân, của các cấp bộ Đảng và chính quyền tỉnh Bình Định.
IV. CƠ CẤU THÀNH PHẦN DÂN SỐ, DÂN SỐ VỚI VẤN ĐỀ LAO
ĐỘNG VÀ DỰ BÁO VỀ SỰ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ Ở BÌNH ĐỊNH
Việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hai gia đình ở Bình Định trong thời gian qua (1975 - 2000) đã thu được những kết quả đáng kể, nhất là tỉ lệ tăng dân số đã từng bước được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra cho công tác này, trong đó có việc phân loại dân số, dự báo sự phát triển dân số... Bởi lẽ, mỗi khi dân số được phân loại một cách khoa học sẽ góp phần rất lớn vào việc giải quyết vấn đề lao động, một vấn đề rất được quan tâm hiện nay. Mặt khác, mỗi khi dân số được phân loại, dự báo được tương đối chính xác sự phát triển dân số của một quốc gia, một địa phương sẽ góp phần tích cực vào việc làm giảm sự gia tăng dân số.
1. Cơ cấu thành phần dân số ở tỉnh Bình Định hiện nay
Có nhiều khía cạnh khác nhau trong việc phân loại dân số nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển dân số của một quốc gia, một địa phương. Tuy thế, thông thường khi tiến hành phân loại dân số, người ta thường phân loại trên các phương diện:
a. Dân số theo dân tộc.
Phân loại dân số theo dân tộc chính là việc xem xét trong một địa phương,một khu vực nào đó có bao nhiêu dân tộc/tộc người. Đối với tỉnh Bình Định, xét về mặt dân tộc/tộc người, vùng đất này có các dân tộc: Kinh, Hrê, Cor, Bana, Cadong, Hoa, Hán, Chăm, Êđê, Tày, Nùng, Thái... Các dân tộc đó số lượng nhiều ít hoàn toàn không giống nhau. Điều đó được phản ảnh qua số liệu điều tra về dân tộc, dân số các dân tộc ở Bình Định qua một số năm như sau:
Biểu : Dân số phân theo dân tộc.
Đơn vị tính: Người.
| TT |
Dân tộc |
Năm | Dân số |
| 1 | Kinh | 2000 | 1.431.742 |
| 2 | Hrê | 2000 | 7.012 |
| 3 | Bana | 2000 | 5.235 |
| 4 | Chăm | 2000 | 4.393 |
| 5 | Hoa | 2000 | 880 |
| 6 | Thái | 2000 | 225 |
| 7 | Tày | 2000 | 196 |
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định)
Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy ở Bình Định dân tộc Kinh là dân tộc có số lượng người nhiều nhất, thứ đến là dân tộc Bana, dân tộc Hrê và Chăm. Các dân tộc khác như Êđê, Tày, Nùng, Thái... cũng có mặt ở Bình Định nhưng với số lượng rất ít ỏi.
Người Kinh ở Bình Định hiện nay cư trú trên khắp các vùng đất của tỉnh, nhưng tập trung đông nhất vẫn là ở vùng thành phố, vùng đồng bằng. Còn người Bana, người Chăm, người Hrê, trước kia cũng như hiện nay, địa bàn sống tập trung nhất của họ là ở vùng núi. Các dân tộc Kinh, Chăm, Bana, Hrê... đã có sự đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá của tỉnh Bình Định, tạo nên diện mạo dân cư mang tính đặc thù của vùng đất.
b. Dân số phân theo giới tính:
Trên phương diện phân loại dân số theo giới tính ở Bình Định trong thời gian qua, chúng ta thấy có sự chênh lệch tương đối giữa số lượng nam và số lượng nữ. Thông thường, số lượng nam giới bao giờ cũng thấp hơn nữ giới. Sự chênh lệch giữa nam và nữ ở Bình Định trong các năm từ 1985 đến 1998 cho thấy dù có năm cao, năm thấp nhưng nữ giới thường nhiều hơn nam giới khoảng 60.000 người. Năm cao nhất như năm 1990, 1995 tỉ lệ nam và nữ của Bình Định biến thiên trong khoảng 48 - 52%. Số lượng nam và nữ ở Bình Định được phản ánh qua số liệu điều tra sau đây:
Biểu : Số lượng dân số phân theo giới tính.
(Đơn vị tính 1.000 người)
| Năm |
Tổng số |
Nam | Nữ |
| 1990 | 1294,6 | 623,1 | 671,5 |
| 1991 | 1316,1 | 633,9 | 682,2 |
| 1992 | 1336,7 | 644,3 | 692,4 |
| 1993 | 1356,5 | 654,3 | 702,2 |
| 1994 | 1375,5 | 664,1 | 711,4 |
| 1995 | 1394,3 | 673,9 | 720,4 |
| 1996 | 1412,9 | 683,6 | 729,3 |
| 1997 | 1431,4 | 693,4 | 783,0 |
| 1998 | 1449,8 | 703,1 | 746,7 |
| 1999 | 1468,0 | 712,8 | 755,2 |
| 2000 | 1485,6 | 721,1 | 764,5 |
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định)
Chỉ số chênh lệch giữa nam và nữ là chỉ số mang tính tự nhiên, có tính quy luật. Dù thế chúng ta cũng cần phải biết để giải quyết những vấn đề có tính chất xã hội, nhất là cần phải lưu ý tới việc phân bổ/điều chỉnh việc làm giữa nam và nữ.
c. Dân số phân theo vùng, khu vực sản xuất và nghề nghiệp.
Việc phân loại dân số theo vùng, khu vực sản xuất và nghề nghiệp có ý nghĩa trong chiến lược phát triển dân số của một vùng đất. Chỉ số về dân số giữa các vùng, các ngành nghề sản xuất là những chỉ số đánh giá tốt nhất về sự phát triển ở một địa phương. Chỉ số về dân số ở các khu vực (nông thôn, thành thị) của Bình Định cho thấy sự chênh lệch khá cao giữa các khu vực. Khu vực nông thôn ở Bình Định bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ dân số cao hơn hẳn ở khu vực thành thị. Điều đó được phản ảnh qua số liệu dân số
phân theo khu vực trong các năm như sau:
Biểu : Dân số chia theo khu vực.
(Đơn vị tính: 1000 người)
| Năm |
Tổng số |
Khu vực | |
| Thành thị | Nông thôn | ||
| 1990 | 1294,6 | 235,0 | 1059,6 |
| 1991 | 1316,1 | 240,8 | 1075,3 |
| 1992 | 1336,7 | 246,6 | 1090,1 |
| 1993 | 1356,5 | 252,4 | 1154,1 |
| 1994 | 1375,5 | 258,3 | 1117,2 |
| 1995 | 1394,3 | 256,2 | 1129,1 |
| 1996 | 1412,9 | 272,1 | 1140,8 |
| 1997 | 1431,4 | 279,1 | 1152,3 |
| 1998 | 1449,8 | 345,8 | 1184,0 |
| 1999 | 1468,0 | 352,0 | 1116,0 |
| 2000 | 1485,6 | 375,6 | 1128,0 |
(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Định năm 2000)
Điều đó có nghĩa, dù Bình Định đã có thành phố Quy Nhơn, với các nhà máy, xí nghiệp, công sở với cảng lớn ở miền Trung nhưng nhìn chung đây vẫn là một tỉnh nông nghiệp. Tuy nhiên với sự tăng lên của dân số trong khu vực thành thị trong thời gian gần đây (năm 1998 là 345,8; năm 1999 là 352,0; năm 2000 là 357,6...) cho thấy sự phát triển của công nghiệp của quá trình đô thị hoá ở Bình Định ngày một gia tăng.
Đối với khu vực sản xuất (nông nghiệp và phi nông nghiệp) chúng ta cũng thấy sự chênh lệch khá lớn giữa hai khu vực này. Khu vực nông nghiệp bao giờ cũng chiếm một số lượng người đông hơn hẳn khu vực phi nông nghiệp. Tuy nhiên giữa khu vực thành thị và nông thôn, khoảng cách chênh lệch giữa những người làm nông nghiệp và những người làm phi nông nghiệp càng về sau này càng được rút ngắn lại. Con số về số lượng người giữa 2 khu vực này ở Bình Định trong những năm qua đã nói lên điều đó.
d. Phân loại dân số theo độ tuổi.
Dân số Bình Định phân theo độ tuổi vào năm 2000 được phản ánh qua số liệu sau:
| Nhóm tuổi | Tổng số | Nam | Nữ |
| < 1 tuổi | 26.704 | 13.904 | 12.800 |
| 1-4 tuổi | 123.881 | 64.156 | 59.725 |
| 5-9 tuổi | 190.285 | 97.644 | 92.641 |
| 10-14 tuổi | 155.023 | 80.122 | 74.901 |
| 15-17 tuổi | 90.991 | 46.576 | 44.415 |
| 18-19 tuổi | 57.645 | 28.026 | 29.619 |
| 20-24 tuổi | 135.818 | 67.187 | 68.631 |
| 25-29 tuổi | 136.646 | 67.967 | 68.679 |
| 30-34 tuổi | 117.070 | 57.904 | 59.166 |
| 35-39 tuổi | 83.585 | 39.296 | 44.289 |
| 40-44 tuổi | 71.082 | 32.400 | 38.682 |
| 45-49 tuổi | 55.755 | 25.275 | 30.480 |
| 50-54 tuổi | 39.699 | 16.850 | 22.849 |
| 55-59 tuổi | 36.186 | 13.593 | 22.593 |
| 60-64 tuổi | 38.003 | 15.296 | 22.707 |
| 65-69 tuổi | 35.795 | 15.158 | 20.817 |
| 70-74 tuổi | 30.373 | 12.311 | 18.062 |
| 75-79 tuổi | 20.570 | 8.035 | 12.472 |
| 80-84 tuổi | 10.046 | 3.669 | 6.377 |
| > 85 tuổi | 5.453 | 1.762 | 3.691 |
Nhìn vào bảng nhóm tuổi của dân số tỉnh Bình Định, chúng ta thấy số lượng dân dưới tuổi lao động thường có số lượng cao, hay nói khác đi dân số ở địa bàn này còn rất trẻ. Lấy năm 2000 làm ví dụ, vào năm này số lượng dân toàn tỉnh Bình Định là 1.485.600 người, trong đó nhóm tuổi từ 1 tuổi đến 17 tuổi có 586.884 người (chiếm 46,6%). Trong tổng số 586.884 người đó thì nhóm tuổi từ 10 đến 14 là 155.023 người nhóm tuổi từ 15 - 17 là 90.991 người.
Dân số Bình Định thuộc loại dân số trẻ. Nguồn nhân lực ở tuổi lao động dồi dào, nếu được đào tạo, trang bị kiến thức văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ đồng thời bố trí sử dụng hợp lý sẽ trở thành vốn quý của xã hội; nếu ngược lại thì đây sẽ là gánh nặng cho xã hội trên nhiều phương diện. Hơn nữa, dân số trẻ còn có nguy cơ tiềm ẩn về bùng nổ. Ở Bình Định, hàng năm cứ 1 phụ nữ bước ra khỏi tuổi sinh đẻ thì có 3 phụ nữ bước vào độ tuổi này.
Sau đây là tháp tuổi của Bình Định theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 như sau:

Biểu đồ dân số
2. Dân số với vấn đề lao động ở tỉnh Bình Định
Số liệu thống kê về dân số ở Bình Định từ năm 1975-2000 cho thấy dân số của năm sau bao giờ cũng tăng hơn năm trước. Sự gia tăng dân số ở Bình Định một mặt tạo ra nguồn nhân lực lớn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá của tỉnh nhà. Tuy nhiên sự bùng nổ dân số diễn ra trong lúc kinh tế tỉnh nhà đang còn khó khăn, nhất là trong bối cảnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác đến mức gần như cạn kiệt..., cho nên sẽ có nhiều khó khăn đặt ra cho việc phát triển bền vững ở Bình Định. Mặc khác, sự gia tăng dân số ở Bình Định trong thời gian qua cho thấy, khu vực có sự gia tăng dân số cao thường rơi vào khu vực kém phát triển (khu vực nông thôn, khu vực miền núi). Điều này đã dẫn đến hệ quả ở khu vực nông thôn, khu vực miền núi số lao động dư ra rất nhiều. Đây cũng là khu vực thiếu việc làm trầm trọng cho người dân. Chính vì thế những năm qua đã có hàng chục ngàn người từ các vùng nông thôn, vùng núi đi tìm việc làm trong các thành phố, các khu công nghiệp. Hướng giải quyết việc làm cho
số lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp hiện nay không chỉ dồn vào các khu công nghiệp, vào các thành phố, mà phải tạo ra công ăn việc làm ngay trên vùng đất của họ. Có như vậy các thế mạnh của mọi vùng đất mới được khai thác một cách triệt để... Qua chỉ số về sự gia tăng dân số ở khu vực phi nông nghiệp trong thời gian qua cho thấy sự phát triển của kinh tế, của công nghiệp, của quá trình đô thị hoá ở Bình Định, nhưng đây cũng mới chỉ là một hướng giải quyết việc làm cho người dân. Bình Định ngoài thành phố Quy Nhơn, một số thị trấn, thị tứ ra, còn là vùng nông thôn và vùng núi rộng lớn. Đối với các vùng này, dân số tăng nhanh nhưng đứng về mật độ dân số mà nói lại rất thấp so với vùng thành phố (mật độ dân số ở Quy Nhơn năm 1979 là 1024 người/km2, trong khi đó ở Phù Cát là 226 người/ km2, còn Vĩnh Thạnh năm 1980 là 36,7 người/km2 ). Chính vì thế việc điều chỉnh, phân bố lại lực lượng lao động giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi trên địa bàn tỉnh cần phải được tiếp tục. Lao động trong khu vực phi nông nghiệp hay trong khu vực nông nghiệp, một yêu cầu lớn đặt ra hiện nay cho người lao động là phải gấp rút nâng cao trình độ. Đó cũng là một giải pháp, một yêu cầu cho việc giải quyết vấn đề dân số và lao động ở Bình Định hiện nay.
3. Về dự báo sự phát triển dân số tỉnh Bình Định trong thời gian tới
Từ sự phân tích về thực tại dân số và phát triển dân số ở Bình Định trong thời gian 1975-2000, có thể dự báo một số vấn đề liên quan đến dân số và phát triển dân số của Bình Định trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất: Trong thời gian tới dân số Bình Định vẫn tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên tỉ lệ tăng dân số tự nhiên sẽ được kiểm soát một cách chặt chẽ và có chiều hướng ngày càng giảm dần. Có được kết quả đó là do nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao nhất là do việc thực hiện có kết quả chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước ta. Trong các khu vực có sự gia tăng dân số, khu vực nông thôn và miền núi vẫn còn chiếm tỉ lệ cao hơn khu vực thành thị. Thành phố Quy Nhơn vẫn là đơn vị dẫn đầu về tỉ lệ tăng dân số thấp (từ 1975 - 1995 tỉ lệ tăng trung bình hàng năm ở Quy Nhơn là 1,6%). Khu vực thành thị tỉ lệ tăng dân số tự nhiên có chậm lại nhưng mật độ dân số sẽ lại tăng lên do quá trình đô thị hoá, do nguồn tăng cơ học (dân từ vùng nông thôn đổ về).
Thứ hai: Dân số Bình Định vẫn tiếp tục là dân số trẻ trong một thời gian dài nữa. Trong vài ba mươi năm tới, số lượng dân dưới độ tuổi lao động vẫn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số dân cư. Đây là một nguồn lao động lớn bổ sung cho nguồn lao động của tỉnh, của đất nước. Tuy nhiên đây cũng là một gánh nặng cho chiến lược phát triển bền vững của vùng đất này, nhất là việc giải quyết việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân.
Thứ ba: Trên cơ sở ổn định về mặt chính trị, sự tiến bộ của xã hội, sự tăng trưởng của kinh tế..., chất lượng sống của người dân không ngừng được nâng cao. Điều kiện sống về vật chất, về tinh thần luôn được bảo đảm, tăng cường. Các mối quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội không ngừng được cải thiện. Trình độ học vấn, nhận thức của người dân ngày một nâng lên, tuổi thọ trung bình của người dân sẽ cao lên đồng đều trong các khu vực... Tất cả những tiến bộ đó góp phần đắc lực vào việc phát triển thể chất, tinh thần
cho người dân, giúp cho người dân có những điều kiện tốt nhất đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc sống.
--------------------------------------------------------------