CHƯƠNG XV
TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ BỘ MÁY QUẢN LƯ
NHÀ NƯỚC Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
QUA CÁC THỜI KỲ
I. VÀI NÉT VỀ QUẢN LƯ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, ngoài dân tộc Việt (Kinh) ra, hiện tại trên đất nước chúng ta c̣n có 53 dân tộc thiểu số khác nhau. Xét về mặt cư trú, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có cư trú ở vùng hải đảo, vùng ven biển,vùng đồng bằng, vùng thành thị, vùng trung du, vùng núi..., nhưng có thể nói vùng núi mới là nơi sống tập trung đông đảo và lâu đời nhất của các dân tộc thiểu số ở nước ta (trừ người Chăm, người Hoa, người Khơme ra, các dân tộc thiểu số khác c̣n lại đều sống ở vùng núi). Vùng núi Việt Nam
từ xưa tới nay là nơi có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc pḥng và môi trường sinh thái, nơi chiếm tới 2/3 diện tích của cả nước, nơi có đường biên 3000km/4000km đường biên của Việt Nam... Chính đặc điểm đó đă đặt ra cho các Nhà nước cầm quyền ở Việt Nam nhiệm vụ phải coi trọng vấn đề dân tộc, vấn đề miền núi trong các đối sách của ḿnh. Hay nói một cách khác đi, các Nhà nước cầm quyền ở Việt Nam trong lịch sử khi muốn bảo vệ quyền lợi của ḿnh, khi muốn bảo vệ chủ quyền của đất nước, quốc gia th́ phải tranh thủ, lôi kéo được sự đồng t́nh ủng hộ, phải có những chính sách phù hợp với vùng dân tộc và vùng núi.
Hiện tại chúng ta chưa có đủ những tư liệu khoa học, chưa có những công tŕnh khoa học lớn nói về h́nh thức quản lư Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong suốt 1.000 năm Bắc thuộc của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Nhưng với tư tưởng coi khinh các dân tộc thiểu số ở chính quốc, ở ngoại biên là “man, di, mọi, rợ” th́ rơ ràng khi sang Việt Nam, các triều đại Trung Quốc như Tần (221 - 207 TCN), Hán (206TCN - 220 SCN), Tuỳ (581 - 618), Đường (618 - 907)..., cũng không từ bỏ quan niệm đó. Nhưng từ thế kỷ X trở đi, khi nước ta bước vào thời kỳ tự chủ, với các triều đại như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lư, Trần, Lê, Tây Sơn, Nguyễn..., vấn đề dân tộc và miền núi đă có những thay đổi trong cách nh́n của các Nhà nước cầm quyền Việt Nam. Nhà Lư, nhà Trần, nhà Lê, trong và nhất là sau các cuộc kháng chiến chống Tống, chống Mông-Nguyên, chống Minh thắng lợi đă nh́n thấy vị trí trọng yếu của vấn đề dân tộc và miền núi. Chính quyền của các Nhà nước Việt Nam độc lập này đă bằng nhiều con đường, nhiều phương pháp khác nhau nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là thu phục, nắm chắc được đồng bào các dân tộc thiểu số (đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng biên giới phía Bắc của Tổ quốc). Điều đó thể hiện ở hàng loạt các chính sách như tăng quyền, phong vương, gả con gái...cho
các tù trưởng người dân tộc thiểu số. Có thể nói h́nh thức quản lư Nhà nước mang tính hiệu quả lúc bấy giờ đối với các dân tộc thiểu số là lôi kéo, kết thân trên cơ sở ưu đăi và dựa vào thế lực của các Tù trưởng địa phương. Tất nhiên các Nhà nước cầm quyền cũng không hoàn toàn phó mặc quyền quản lư con người, quản lư vùng đất cho các tù trưởng người dân tộc thiểu số . Thông qua các h́nh thức như vào chầu, cống nạp, hay việc cử những quan lại có khả năng giao tiếp với đồng bào dân tộc thiểu số (Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư... thời Trần), Nhà nước trung ương về cơ bản đă giám sát, đă nắm được mọi hoạt động ở vùng có đồng bào dân tộc sinh sống.
Thời kỳ cai trị của nhà Nguyễn (1802 - 1945) và chủ nghĩa tư bản phương Tây (Pháp, Mỹ), xuất phát từ những mục đích chính trị của ḿnh, các thế lực này cũng muốn nắm bắt, quản lư cho được các dân tộc thiểu số nhưng lại thông qua con đường bạo lực, trấn áp, chia rẽ, gây thù hằn hay dụ dỗ, mua chuộc... Kết quả của những chính sách đó là bên cạnh lôi kéo được một bộ phận các dân tộc ít người đi theo chúng, c̣n tuyệt đại bộ phận các dân tộc thiểu số đă vùng lên đấu tranh, chống lại sự hà khắc của bộ máy cai trị.
Như thế trong hơn 2000 năm qua, các Nhà nước cầm quyền ở Việt Nam đă có những thế ứng xử khác nhau đối với vùng núi và vùng các dân tộc thiểu số. Hay nói một cách khác, ở mỗi thời kỳ các Nhà nước cầm quyền ở Việt Nam đều đưa ra những cách thức quản lư Nhà nước riêng đối với các đồng bào dân tộc. Dù thế về đại thể tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước đối với vùng các dân tộc thiểu số cho đến thời kỳ trước năm 1945 đều đi theo mô h́nh quản lư mà vua Lê Thánh Tông đă đưa ra vào năm 1490. Đó chính là h́nh thức quản lư cấp cơ sở theo mô h́nh :

(Chú thích : 1 Đại Việt Sử Kư toàn thư (tập 2). Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội 1983, (trang 315))
II. TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ BỘ MÁY QUẢN LƯ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở B̀NH ĐỊNH TRONG LỊCH SỬ
B́nh Định là nơi có các dân tộc thiểu số Chăm, Bana, Hrê sinh sống lâu đời. Các dân tộc Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định hiện nay chủ yếu cư trú ở các huyện vùng núi cao của tỉnh như huyện Vân Canh, huyện Vĩnh Thạnh, huyện An Lăo.... Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng về động thực vật, khoáng sản, đất đai, nguồn nước, là cửa ngơ phía Tây của tỉnh, tiếp giáp với các tỉnh Tây Nguyên... Nhưng trước khi về với quốc gia Đại Việt (1471), vùng đất này thuộc vương quốc Chămpa. Chính v́ thế khi nói đến quản lư Nhà nước của các Nhà nước Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số ở B́nh Định chúng ta chỉ đề cập đến thời kỳ từ năm 1471 trở về sau trên 2 góc độ:
-Quản lư Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số ở tầm vĩ mô.
-Quản lư Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số ở cấp cơ sở.
Quản lư Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số ở tầm vĩ mô trong thời kỳ từ năm 1471 trở về sau tại địa phương B́nh Định chính là cách nh́n nhận của các triều đại Lê, Nguyễn, của chủ nghĩa thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ (sau năm 1930 c̣n là chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam) về vấn đề dân tộc và miền núi trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên xuất phát từ những lợi ích, những mục đích khác nhau, xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau nên cách nh́n nhận về vấn đề dân tộc và miền núi tại địa phương B́nh Định của các Nhà nước cầm quyền, của các thế lực không giống nhau.
Quản lư Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số ở cấp cơ sở tại địa phương B́nh Định chính là việc thực thi các chính sách, chủ trương của cấp trên. Đây c̣n là các h́nh thức tổ chức quản lư, điều hành, giải quyết một cách cụ thể và sáng tạo những nội dung do cấp trên đề ra. Nh́n chung tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước trong vùng các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đă có những thay đổi, biến động qua các thời kỳ trong lịch sử. Điều đó được phản ánh qua từng giai đoạn lịch sử của vùng đất B́nh Định như sau :
1. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư ở vùng dân tộc thiểu
số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ 1471 - 1802.2
Vùng núi B́nh Định là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc thiểu số: Chăm, Bana, Hrê. Các dân tộc thiểu số ở B́nh Định đă có những đóng góp hết sức quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ vùng đất này. Tuy nhiên trong buổi đầu tạo lập tỉnh, do nhiều nguyên nhân khác nhau (dân cư thưa thớt, vùng đất các huyện đồng bằng c̣n rộng lớn, chính quyền mới được thành lập...) nên có thể nói chính quyền trung ương thời Lê, thời các chúa Nguyễn khó có điều kiện với tay tới được vùng các dân tộc thiểu số của tỉnh B́nh Định. Dù thế về mặt nguyên tắc tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước đối với vùng các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định vẫn phải tuân thủ theo quy định chung của Nhà nước Đại Việt lúc bấy giờ. Đó là mô h́nh quản lư Nhà nước cấp cơ sở theo kiểu : Xă -> Trang -> Sách -> Động -> Nguồn -> Trưởng mà vua Lê Thánh Tông đă áp dụng chung cho mọi vùng dân tộc thiểu số .
(Chú thích : 2 Năm 1471 là năm vua Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh thành Vijava mở mang lănh thổ Đại Việt đến núi Thạch Bi, c̣n năm 1802 là năm Gia Long lên ngôi vua mở đầu thời kỳ Nguyễn. Trong hơn 330 năm này có thể chia ra các thời kỳ: thời kỳ Lê (1471-1558), thời kỳ các chúa Nguyễn, thời kỳ Tây Sơn nhưng do hạn chế tài liệu nên chúng tôi không phân nhỏ ra.)
Thời kỳ các chúa Nguyễn, nhất là vào thời kỳ Tây Sơn, vùng núi nơi cư trú của các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định có những biến động mạnh về mặt xă hội. Anh em nhà Tây Sơn sau một thời gian sống với đồng
bào các dân tộc thiểu số đă lôi kéo, đoàn kết, thu phục được đông đảo các dân tộc về với cuộc khởi nghĩa của ḿnh. Dù thế cho đến thời kỳ này h́nh thức quản lư Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở B́nh Định chủ yếu vẫn dựa vào bộ máy quản lư truyền thống của cộng đồng. Đó là bộ máy quản lư đă có từ lâu đời và hiện vẫn c̣n phát huy tác dụng tích cực trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định. Bộ máy quản lư truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định bao gồm: chủ làng, chủ đất, thủ lĩnh quân sự, người làm nghề tôn giáo và “Hội đồng già làng”. Bộ máy quản lư truyền thống này dựa vào luật tục (hay là tập quán pháp) để quản lư và điều hành xă hội, giữ cho xă hội cân bằng và phát triển đi lên. Trong bộ máy quản lư truyền thống (bộ máy tự quản làng) của các dân tộc thiểu số ở B́nh Định vai tṛ của người chủ làng có một vị trí đặc biệt quan trọng. Người chủ làng là người cầm đầu bộ máy tự quản của người Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định. Ông là người từng trải, cương nghị, có đạo đức, am hiểu phong tục tập quán, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và trong cuộc sống... Người chủ làng là người điều khiển các hoạt động, giải quyết những xích mích giữa các thành viên hoặc giải quyết các trường hợp vi phạm phong tục tập quán, luật lệ của cộng đồng làng. Đối với các dân tộc thiểu số ở B́nh Định, chủ làng là người phải nắm rất rơ địa giới của làng, ông là người đại diện cao nhất cho cộng đồng làng đứng ra giải quyết những vụ vi phạm, tranh chấp đất đai giữa các làng với nhau. Thông thường, chủ làng được dân làng bầu lên không kỳ hạn, khi người chủ làng quá già yếu hay không đủ năng lực để chăm lo việc chung dân làng sẽ bầu người khác lên thay... Với những đặc tính ưu việt đó nên người chủ làng rất có uy tín với dân làng, tiếng nói của vị chủ làng luôn được mọi người nghe theo. Đó cũng chính là cơ sở để các Nhà nước, thế lực cầm quyền trong những điều kiện hạn chế nhất định của ḿnh biết dựa vào các chủ làng để quản lư người dân.
Như vậy, dù đă có những thay đổi trong cách nh́n nhận về vấn đề dân tộc và miền núi, nhưng do những hạn chế của thời đại, của điều kiện lịch sử lúc bấy giờ quy định nên nh́n chung trong một thời gian dài của buổi đầu tạo lập, quản lư Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định chủ yếu vẫn phải dựa vào quản lư truyền thống cộng đồng. Trên thực tế, lúc bấy giờ các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong tổ chức xă hội của ḿnh chỉ biết đến tổ chức cơ bản, duy nhất đó là tổ chức cộng đồng làng (Pơ lei hay P’lây, P’lei). Đơn vị xă hội làng (Pơlây, P’lây, P’lei...) của các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định là cộng đồng của những người có quan hệ huyết hay khác huyết thống cùng sinh sống làm ăn trong một phạm vi đất đai nhất định. Vào thời kỳ xa xưa mối quan hệ trong các làng của người Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định là mối quan hệ huyết thống. Lúc bấy giờ mỗi đơn vị cư trú chỉ bao gồm những người cùng một ḍng máu (cùng một họ/ một huyết tộc). Đó chính là những công xă thị tộc. Nhưng về sau, do nhiều nguyên nhân tác động (trong đó đặc biệt do sự phát triển dân số) nên tính huyết thống đặc trưng của công xă thị tộc đă từng bước tan ră, thay thế vào đó là tính cận cư, tính láng giềng. Trên cơ sở đó công xă láng giềng, công xă nông thôn xuất hiện. Dù thế mỗi một công xă nông thôn, công xă láng giềng đó cũng chỉ bao gồm những người đồng tộc (cùng một dân tộc), rất ít có trường hợp những người khác dân tộc cư trú trong cùng một cộng đồng làng. Có thể đó cũng là một trong những nguyên nhân cắt nghĩa cho việc đồng bào các dân tộc thiểu số ở B́nh Định trong một thời gian dài chỉ biết đến tổ chức xă hội gần gũi, duy nhất này mà không hề biết đến những tổ chức xă hội (hay là đơn vị hành chính) khác lớn hơn hay là nhỏ hơn đơn vị xă hội làng.
2. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng dân
tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ 1802 - 1885
Thời kỳ từ năm 1802 đến 1858 là thời kỳ Gia Long lên ngôi mở đầu triều đại các vua Nguyễn (1802) kéo dài cho đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858). Trong thời kỳ này đứng về mặt tổ chức hành chính tỉnh B́nh Định đă có những thay đổi trong tên gọi: Dinh B́nh Định thời Gia Long (1802), tỉnh B́nh Định thời Minh Mạng (1832) hay việc chia tách, sát nhập các đơn vị hành chính cấp cơ sở trong phủ Quy Nhơn, phủ Hoài Nhơn... Các vua Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đă có những
chính sách nhằm quản lư chặt chẽ toàn bộ lănh thổ đất nước, nhằm đề cao quyền lực của Nhà nước Trung ương đối với các địa phương và vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên tuỳ vào điều kiện lịch sử cụ thể, tuỳ vào ư tưởng và phương pháp quản lư quốc gia mà mỗi một ông vua triều Nguyễn ít nhiều đă có những cách nh́n khác nhau về vấn đề dân tộc và miền núi. Dù thế về đại thể, dưới triều Nguyễn, tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng núi và vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định được phân theo các cấp:
a. Cấp châu:
Cấp châu là cấp hành chính to nhất ở vùng núi và vùng dân tộc thiểu số thời các vua Nguyễn. Cấp châu tương đương với cấp huyện ở đồng bằng. Thời các vua Nguyễn ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định có các châu như châu Vĩnh Thạnh, châu Vân Canh... Đứng đầu cấp châu là các Tri châu. Tri châu là những người có nhiệm vụ thay mặt triều đ́nh trung ương thu thuế, thực hiện chế độ cống nạp, lao dịch, binh dịch... đối với người dân địa phương. Ngoài nhiệm vụ hành chính, Tri châu c̣n phải lo nhiệm vụ quân sự mỗi khi trong vùng có biến loạn. Thông thường Tri châu là người Việt do Nhà nước trung ương phái đến. Tri Châu có lực lượng quân đội và một hệ thống giúp việc riêng. Tuy thế, Tri châu phải chịu sự giám sát, quản lư và điều hành của Tuần phủ, Tổng đốc (cấp tỉnh).
b. Cấp tổng:
Tổng là đơn vị hành chính nhỏ hơn châu. Dưới triều vua Nguyễn, vùng dân tộc thiểu số được chia ra thành nhiều tổng khác nhau. Ví như: tổng Hà Thanh, tổng An Tượng (vùng huyện Vân Canh hiện nay). Cấp
tổng cũng làm nhiệm vụ quản lư về mặt hành chính, quân sự nhưng phạm vi hoạt động nhỏ hơn châu và chịu sự quản lư của cấp châu. Nhưng tổng lại là đơn vị hành chính có quan hệ trực tiếp đối với chính quyền cấp cơ sở. Đứng đầu các tổng có Chánh tổng. Giúp việc cho chánh tổng có Phó Chánh tổng và các Đầu mục. Phó Chánh tổng và các Đầu mục mỗi một chức vụ có một nhiệm vụ riêng, lo các công việc riêng. Các chức vụ đầu mục thời các vua Nguyễn đều do người dân tộc thiểu số nắm. Họ là những người được chính quyền cấp trên lựa chọn từ những tù trưởng của các sách và có tiếng nói quan trọng đối với đồng bào dân tộc Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định.
c. Cấp Sách:
Sách cũng là đơn vị hành chính ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời các vua Nguyễn, nhưng nhỏ hơn tổng, nhiều sách hợp lại thành một tổng. Dưới thời Nguyễn Tấn cai quản, miền Tây Quảng Ngăi và miền Tây B́nh Định được chia ra hàng trăm sách khác nhau. Đứng đầu mỗi sách là các Sách Trưởng. Sách trưởng được toàn thể dân trong sách bầu lên. Tuy thế việc bầu cử các Sách Trưởng thường có sự can thiệp và được sự chuẩn y của các tổ chức hành chính cấp trên. Thời kỳ các vua Nguyễn, Sách trưởng của người Chăm, Bana phổ biến là các già làng. Riêng ở người H’rê, Sách trưởng là những người giàu có nhất trong các làng.
d. Các plei (lây):
P’lei hay Pơlẽi là đơn vị xă hội nhỏ nhất ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ các vua Nguyễn. Đây cũng là tổ chức xă hội cổ truyền của đồng bào Chăm, Bana, Hrê. Đứng đầu các P’lei là các Bok chơnun Pơlẽi, Càră P’lei - chủ làng. Người chủ làng là người thay mặt chính quyền cấp trên đứng ra giải quyết mọi việc trong làng, đôn đốc dân làng thực hiện mọi quyền lợi và nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Trên đây là tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước vùng núi và vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ các vua Nguyễn . Chúng ta có thể sơ đồ hóa bộ máy quản lư Nhà nước đó bằng sơ đồ sau:
![]()
Bên cạnh đó, để quản lư chặt chẽ vùng núi và vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định các vua Nguyễn c̣n đặt ra một cơ quan riêng gọi là “trấn man”. Trấn man được chính thức thành lập vào năm Gia Long thứ 3 (1804). Điều này được ghi rơ trong “Vũ man tạp lục” như sau: “Vào năm Giáp Tư (1804) năm thứ 3 triều Thế tổ Cao Hoàng Đế Gia Long lập 10 kiên cơ trấn man sau đổi làm 6 Kiên cơ”.3 Nhiệm vụ chính của trấn man là quản lư vùng đồng bào các dân tộc từ Quảng Ngăi đến B́nh Định, đốc thúc thu thuế và nhất là đàn áp, b́nh định các cuộc khởi nghĩa của người dân tộc thiểu số. Phụ trách trấn man là một viên quan có
phẩm tước cao nhất vùng do nhà Nguyễn chỉ định. Người đầu tiên được giữ chức vụ này là lưu thủ Nguyễn Công Toản.4 Nhưng đến năm 1863,
(Chú thích : 3 Nguyễn Tấn, Sđd, trang 210.
4 Nguyễn Công Toản người Diên Niên, huyện B́nh Sơn, tỉnh Quảng Ngăi. Dưới thời Gia Long, ông có nhiều công trạng trong việc b́nh “man” nên khi mất được phong “Anh dũng tướng quân Kinh xa đô uư”, “Dũng liệt trấn uy dũng tướng quân”.)
vua Tự Đức đă sai Nguyễn Tấn (ḍng dơi Nguyễn Công Toản) lúc đó đang làm án sát tỉnh Thái Nguyên về giữ chức Tiểu phủ sứ trấn man. Từ đây, trấn man được đổi thành sơn pḥng trấn, đứng đầu là tiểu phủ sứ.
Bên cạnh tiểu phủ sứ có đề đốc cùng 2 lănh binh (một người Việt, một người Thượng) nắm quyền chỉ huy quân đội. Bản doanh của sơn pḥng trấn lúc bấy giờ đóng tại ấp Vạn Lư huyện Đức Phổ “bốn phía mỗi phía đều rộng 50 trượng, đắp vào năm Tự Đức thứ 17 (1864) đặt tên là Tả Bảo, có các đội nghĩa hùng và dịch man trú giữ”.5 Sơn pḥng trấn tồn tại cho đến khi chủ quyền của đất nước rơi vào tay thực dân Pháp (Sơn pḥng trấn chính thức bị băi bỏ vào năm 1905).6
3. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng dân
tộc thiểu số tỉnh B́nh Định dưới thời Pháp thuộc (1885 - 1945)
Thời kỳ từ năm 1858 đến năm 1945 là thời kỳ nước ta bị đặt dưới quyền thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp. Rút kinh nghiệm của việc quản lư Nhà nước ở các vùng dân tộc và miền núi không thành công của các vua Nguyễn, trong hơn mấy mươi năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp đă chọn phương án không thủ tiêu tổ chức xă hội cổ truyền của các dân tộc thiểu số mà lợi dụng, dựa vào, t́m cách duy tŕ, nuôi dưỡng bộ máy đó nhằm can thiệp và điều khiển có hiệu quả các hoạt động của chính quyền cơ sở theo hướng có lợi cho chúng. Đây cũng là thời kỳ thực dân Pháp tiến hành nhiều “cuộc cải lương hương chính” trên phạm vi cả nước (Nam kỳ vào năm 1904, Bắc kỳ vào năm 1921, Trung kỳ vào năm 1942) và tiến hành chia đặt lại đơn vị hành chính các cấp. Tỉnh B́nh Định vào thời kỳ Pháp thuộc đă diễn ra nhiều lần tách nhập:
- Năm 1885, B́nh Định là 1 tỉnh lớn của Trung Kỳ. Lúc này nhiều vùng đất của GiaLai - KonTum c̣n thuộc về B́nh Định.
- Năm 1890, sát nhập tỉnh Phú Yên vào tỉnh B́nh Định. Nhưng đến năm 1899 lại tách Phú Yên ra khỏi B́nh Định.7
-Năm 1905, thành lập tỉnh tự trị: Plâycu Đe (Pleikou Derr). Vùng đất của tỉnh tự trị này bao gồm vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu
(Chú thích : 5 Cao Xuân Dục, Đại Nam Nhất Thống Chí (tỉnh Quảng Ngăi). Bản dịch của Nguyễn Tạo. Sài G̣n, 1964 (trang 62).
6 B. Bonrothe, Montagna du sur Indochinoise Jusque 1945. Essai d’histoire des Populations, B.S.E.I, 1955 (trang 92).
7 Việc tách nhập với tỉnh Phú Yên c̣n diễn ra trong các năm 1913, 1921.)
số Xơ Đăng, Bana... tách từ tỉnh B́nh Định ra. Đến năm 1907 thực dân Pháp băi bỏ tỉnh Plâycu Đe bằng cách chia tỉnh này ra làm 2 phần: một phần cho sát nhập vào tỉnh B́nh Định, một phần cho sát nhập vào tỉnh Phú Yên.8
- Năm 1921, thực dân Pháp lập lại tỉnh B́nh Định thành một tỉnh độc lập và cơ bản giữ nguyên hiện trạng đó cho đến năm 1945.
T́nh trạng chia tách, sát nhập đó đă có ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lư Nhà nước đối với vùng núi, vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định lúc bấy giờ. Nhằm phục vụ cho mục đích nô dịch và chia rẽ khối đoàn kết Kinh - Thượng, sau khi b́nh định xong nước ta, thực dân Pháp đă chủ trương tách vùng dân tộc thiểu số ở thượng du B́nh Định và cao nguyên Trung phần thành lập một khu vực riêng nằm ngoài sự cai quản của chính quyền nhà Nguyễn. Vào ngày 16.10.1898, Khâm sứ Trung kỳ đă đề nghị với triều đ́nh Huế để người Pháp trực tiếp phụ trách an ninh vùng thượng du trong đó có cả vùng sơn pḥng trấn của Quảng Ngăi và B́nh Định. Với sự bạc nhược của ḿnh, triều đ́nh Huế đă chấp nhận ngay đề nghị của khâm sứ Pháp. Đó cũng là cơ sở pháp lư để thực dân Pháp thành lập một cơ quan chuyên trách lo về việc quản lư vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực này. Cơ quan chuyên trách đó được người Pháp gọi là Nha đại lư. Từ những năm đầu của thế kỷ XX các Nha đại lư ở khu vực B́nh Định và cao nguyên Trung phần lần lượt ra đời:
- Năm 1900, thực dân Pháp lập Nha đại lư An Lăo.
- Năm 1901, thành lập Nha đại lư ở BaTơ.
- Năm 1902, thành lập Nha đại lư Nước Vang
- Năm 1904, thành lập Nha đại lư MaDrắc...9
Đứng đầu các Nha đại lư là một viên sĩ quan người Pháp có cấp bậc từ thiếu uư đến trung uư. Nha đại lư có quyền hành khá lớn, trực tiếp điều khiển bộ máy quản lư Nhà nước Nam triều cấp cơ sở trong vùng. Hay nói một cách khác đi các bộ máy hành chính của nhà Nguyễn đă có trước đó đều đặt dưới quyền chỉ huy/cai trị của các Nha đại lư do người Pháp đặt ra.
(Chú thích :8 Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (tập 2, giai đoạn 1896 - 1918). Nhà Xuất bản KHXH, Hà Nội, 1982.
9 Nguyễn Quốc Lộc, Các dân tộc dọc Trường Sơn và Tây Nguyên. TTKH trường ĐHTH Huế. Tập II, năm 1978.)
Như vậy, vào thời kỳ Pháp thuộc vùng núi và vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định bên cạnh bộ máy quản lư Nhà nước Nam triều (do triều đ́nh Huế lập nên) c̣n có bộ máy quản lư Nhà nước của thực dân Pháp . Trong 2 bộ máy quản lư Nhà nước đó th́ bộ máy quản lư Nhà nước của thực dân Pháp có một uy quyền khá lớn, lấn át bộ máy quản lư Nhà nước Nam triều.
Như vậy, trong thời kỳ Pháp thuộc, đứng về mặt tổ chức hành chính, vùng núi, vùng các dân tộc thiểu số ở B́nh Định được tổ chức theo các cấp:
- Cấp phủ: B́nh Định lúc bấy giờ có 2 phủ: phủ Hoài Nhơn và phủ An Nhơn.
- Cấp huyện: Thời Pháp thuộc (năm 1885) B́nh Định có các huyện: Bồng Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ (thuộc phủ Hoài Nhơn), huyện Tuy Viễn, Tuy Phước (thuộc phủ An Nhơn).
- Cấp tổng: Năm 1885, cả tỉnh B́nh Định có 14 tổng.
- Cấp thôn xă/trang ấp: Năm 1885, số thôn xă/trang ấp của B́nh Định là 678 đơn vị. Bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định thời kỳ Pháp thuộc được cụ thể hóa bằng sơ đồ sau:

Tóm lại, vào thời kỳ Pháp thuộc, dưới những tác động của chính quyền thực dân, tính chất đóng kín, tự trị của các đơn vị hành chính cơ sở (làng xă) ở vùng núi vùng dân tộc tỉnh B́nh Định đă có nhiều thay đổi, mở rộng. Có thể nói một trong những kết quả của người Pháp trong việc quản lư Nhà nước vùng núi vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung ở B́nh Định nói riêng trong thời kỳ đô hộ nước ta là đă biết lợi dụng tổ chức xă hội truyền thống vào mục đích cai trị người bản xứ. Tuy nhiên do tính cố kết của cộng đồng làng xă, trang ấp đă tồn tại lâu dài trong đồng bào các dân tộc ở Việt Nam nên những thay đổi, mở rộng của làng xă trong thời kỳ này vẫn chưa thể nào phá vỡ được tính bền vững của làng xă. Có thể nói những quy định chặt chẽ của luật tục/tập quán pháp làng xă Việt Nam đă gây cho thực dân Pháp không ít khó khăn trong việc áp đặt chính sách của ḿnh. Đó cũng chính là sự tồn tại của những làng không chịu sự quản lư Nhà nước của chính quyền thực dân (và của cả chính quyền Nam triều) trong mấy mươi năm đô hộ của chính quyền thực dân Pháp ở B́nh Định.
4. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng dân
tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống
Pháp xâm lược (1945-1954)
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ra đời, nhưng đă gặp phải nhiều khó khăn chồng chất. Đó là những khó khăn do giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm gây ra. Đây cũng là thời kỳ, Nhà nước Cộng ḥa non trẻ đứng trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhận thức được tầm quan trọng và ư nghĩa sống c̣n đối với việc bảo vệ thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đă kịp thời ra sắc lệnh 63/SL (ngày 22/11/1946) về tổ chức HĐND (cấp tỉnh, thành phố, thị xă, xă) và UBHC các cấp. Sắc lệnh đă quy định rơ chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ của hệ thống chính quyền các cấp và tiến hành tổ chức tổng tuyển cử bầu quốc hội, HĐND, tiến tới bầu UBHC các cấp.
Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ra đời, thể hiện tập trung các quan điểm có tính chất nguyên tắc của chính quyền nhân dân, do dân, v́ dân. Hiến pháp ghi rơ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp xă, coi cấp xă là cấp chính quyền cơ sở (trong hệ thống chính quyền 5 cấp). Để củng cố tăng cường sức mạnh của quyền cách mạng trong t́nh h́nh có chiến tranh sau năm 1945, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa đă ban hành các sắc lệnh 91/SL, 150/SL, 151/SL và Sắc lệnh 245/SL... quy định chức năng tổ chức lực lượng kháng chiến cho các cấp chính quyền địa phương và đổi tên Ủy Ban kháng chiến thành UBKC-HC.
Đối với vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định do hậu quả của lịch sử để lại, do những đặc điểm riêng của ḿnh, nên sau Cách mạng tháng 8/1945 việc xây dựng chính quyền mới ở đây gặp phải nhiều khó khăn. Nhận thức được vấn đề đó nhất là thấm nhuần tư tưởng lănh đạo của Đảng và các Sắc lệnh của chính phủ, Liên khu uỷ khu 5 và các cấp bộ Đảng, chính quyền tỉnh B́nh Định đă mở các Hội nghị bàn về công tác dân tộc, miền núi. Đó là Hội nghị cán bộ Thượng vận toàn tỉnh lần thứ nhất (năm 1949), lần thứ hai (1950)... Trước và sau các Hội nghị đó chính quyền cách mạng đă có sự phân công chỉ đạo, h́nh thành các tổ chức, đưa cán bộ người Kinh cắm sâu vào vùng các dân tộc thiểu số, tuyên truyền vận động, giác ngộ chính trị, nâng cao nhận thức, hiểu biết về mọi mặt cho đồng bào các dân tộc Chăm, Bana, Hrê... Chỉ tính riêng trong 2 năm, “năm 1949-1950, nhất là năm 1950, tỉnh đă điều lên 3 huyện miền núi hơn 100 cán bộ chính trị và chuyên môn... Cùng thời gian trên, pḥng quốc dân thiểu số tỉnh mở 4 lớp đào tạo 100 cán bộ cho UBKC-HC huyện và xă miền núi. Ba huyện miền núi cũng mở lớp đào tạo tại chỗ cho 76 cán bộ...”.10 Thời kỳ từ năm 1945 - 1954 cũng là thời kỳ công tác xây dựng, phát triển Đảng được đặc biệt chú ư và tăng cường trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định. Đảng ta đă kết nạp nhiều đảng viên người dân tộc thiểu số (Chăm, Bana, Hrê), đă xây dựng được nhiều Chi bộ Đảng vững mạnh tại các huyện vùng núi cao của tỉnh B́nh Định như Vân Canh, An Lăo, Vĩnh Thạnh.11
Tóm lại, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định ngoài việc chịu sự quản lư Nhà nước của Ủy Ban kháng chiến và hành chính các cấp đặt dưới sự lănh đạo của các cấp bộ Đảng, c̣n có một cơ quan chuyên trách chuyên
(Chú thích: 10 BCH Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh, Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945-1975), trang 83.
11 Trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, các huyện miền núi tỉnh B́nh Định đă trải qua nhiều lần chia tách, sát nhập.)
theo dơi về vấn đề dân tộc thiểu số - lúc bấy giờ cơ quan chuyên trách này có 3 cấp khác nhau:
- Cấp khu: đó là “Nha Quốc Dân Thiểu Số Liên Khu 5”.
- Cấp tỉnh: đó là “Pḥng Quốc Dân Thiểu Số Tỉnh B́nh Định”.
- Cấp huyện: đó là các “Phân pḥng quốc dân thiểu số” như Phân pḥng quốc dân thiểu số huyện Vĩnh Thạnh, phân pḥng quốc dân thiểu số huyện Vân Canh, phân pḥng quốc dân thiểu số huyện An Lăo...
Cơ quan chuyên trách về vấn đề dân tộc thiểu số các cấp trên đây đă có quan hệ chặt chẽ với nhau và đă làm tốt công tác tham mưu cho các cấp bộ Đảng và chính quyền cách mạng tỉnh B́nh Định trong việc quản lư, lănh đạo đồng bào các dân tộc Chăm, Bana, Hrê trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Có thể nói, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hoàn cảnh của Việt Nam nói chung, của B́nh Định nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lănh đạo của các cấp bộ Đảng, chính quyền tỉnh B́nh Định, nhân dân các dân tộc thiểu số trong tỉnh đă nghiêm chỉnh chấp hành Sắc lệnh 03/SL của chính phủ, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, đă xây dựng cho ḿnh một hệ thống chính quyền cấp cơ sở vững mạnh, đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến. Chính quyền địa phương (cấp xă) được coi là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương. Hỗ trợ cho chính quyền cách mạng cấp cơ sở trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp c̣n có các tổ chức xă hội, các đoàn thể, các ban chuyên môn... Với cách thức tổ chức và quản lư như vậy, chính quyền cấp cơ sở của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trở nên vững mạnh, trở thành công cụ sắc bén, hiệu quả chống lại kẻ thù, giữ vững thành quả cách mạng và biến miền Tây tỉnh thành căn cứ địa cách mạng, thành vùng tự do trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
5. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng dân
tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Thời kỳ từ năm 1954 - 1975 đất nước ta bị chia ra làm 2 miền: miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Hai miền Nam - Bắc đất nước ta sau năm 1954 có những thể chế chính trị khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến hành xây dựng CNXH; miền Nam tạm thời đặt dưới ách thống trị của Mỹ - Diệm. Tuy hai miền Nam - Bắc thực hiện những nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng đều có một mục tiêu chung là độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất đất nước để cùng tiến
lên CNXH.
Như vậy, cùng với toàn miền Nam, tỉnh B́nh Định sau năm 1954 đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách hết sức ngặt nghèo, vừa phải đương đầu với kẻ thù giàu mạnh, thâm độc, và tàn bạo nhất thế giới (đó là đế quốc Mỹ), vừa phải củng cố lực lượng, tiếp tục làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc... Thời kỳ từ năm 1954-1975 cũng là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa chính quyền cách mạng và chính quyền địch nhằm xác lập ảnh hưởng vai tṛ quản lư Nhà nước đối với người dân trên đất B́nh Định. Trong bối cảnh đó, đứng về mặt tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ 1954 - 1975 có thể phân ra:
a. Dưới chính quyền Ngụy.
Ngay sau khi hiệp định Giơ ne vơ được kư kết (1954), đế quốc Mỹ đă nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng nên bộ máy tay sai Ngô Đ́nh Diệm. Dưới sự chỉ đạo, viện trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă thông qua Hiến pháp (ngày 26/10/1956) và tiến hành tổ chức lại bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Đặc điểm nổi bật của chế độ hành chính thời kỳ Mỹ -Ngụy là quyền hành tập trung vào tay tổng thống. Quyền lực ở các địa phương do các Tỉnh trưởng nắm. Tỉnh trưởng do Tổng thống quyết định, bổ nhiệm. Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra đó, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă tiến hành xóa bỏ chính quyền, các tổ chức cách mạng đă thành lập được trong thời kỳ 1945 - 1954. Riêng ở vùng núi và vùng các dân tộc thiểu số chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cũng đă xóa bỏ cơ chế địa phương tự trị, xây dựng lại toàn bộ hệ thống chính quyền ở vùng núi, nhằm đảm bảo sự quản lư và can thiệp trực tiếp của chính quyền trung ương đến tận cơ sở (các làng xă).
Đối với vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định, vào đầu năm 1956, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă tổ chức bộ máy quản lư (cai trị theo các cấp):
- Nha (Nha Vân Canh, Nha Vĩnh Thạnh...).
- Dưới Nha là tổng (tổng Hà Thanh...)
- Dưới tổng là xă/thôn. Tại các xă/thôn, chính quyền Diệm thành lập các liên gia để quản lư/ḱm kẹp từng hộ gia đ́nh, từng người dân. Sau khi xác lập được bộ máy ḱm kẹp ở cơ sở (xă thôn), chính quyền Diệm đă tiến hành nhiều biện pháp nhằm chống phá phong trào cách mạng. Chúng đă lập ra các tổ chức phản động như “thanh niên cộng ḥa”, “phụ nữ liên đới”, tiến hành các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trên khắp địa bàn vùng núi tỉnh B́nh Định. Đến tháng 5 năm 1958,12 chính quyền Ngô Đ́nh Diệm lại đổi các Nha miền núi thành các quận (quận Vân Canh, quận Vĩnh Thạnh, quận An Lăo...). Dưới quận là các xă/
thôn. Điều đó cho thấy, kể từ tháng 5/1958 trong các vùng tạm chiếm tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định của Mỹ - Ngụy có các cấp:
- Cấp quận . Mỗi một quận có quận trưởng và những người giúp việc.
- Cấp xă. Xă có Hội đồng xă (gồm một đại diện chung, 1 phó đại diện quản lư về mặt an ninh, hộ tịch, hộ khẩu, và 1 thư kư).
- Cấp thôn. Có Thôn trưởng trực tiếp giúp Hội đồng xă trong việc quản lư thôn.
Nhằm giúp cho việc quản lư Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đạt hiệu quả, Mỹ - Diệm đă có sự kết hợp giữa bộ máy chính quyền với bộ máy quân sự, cảnh sát, mật vụ ḥng dụ dỗ, chia rẽ, đàn áp, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Thời kỳ từ năm 1954 - 1975 tại nhiều địa điểm của vùng núi tỉnh B́nh Định, địch đă lập ra 1 hệ thống đồn bốt, căn cứ quân sự, sân bay ở Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lăo... Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân việc quản lư Nhà nước theo kiểu đàn áp, khủng bố đó của chính quyền Mỹ - Ngụy không phát huy được tác dụng. Sau Đồng Khởi (1960), bộ máy quân phiệt đó đă bị tê liệt và đă tan ră trên nhiều địa phương của vùng núi B́nh Định.
b. Dưới chính quyền cách mạng.
Vùng núi,vùng các dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vùng đất có sự tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Từ năm 1954 - 1960 chính quyền Mỹ - Diệm đă dùng nhiều biện pháp đàn áp, mua chuộc, b́nh định, dồn dân, định cư... nhằm thiết lập bộ máy quản lư Nhà nước của chúng ở vùng dân tộc, vùng núi tỉnh B́nh Định. Nhưng những cố gắng đó của địch đă không thu được kết
(Chú thích: 12 Theo Nghị Định 231/BVN/HC/NĐ, ngày 22/5/1958 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng ḥa.)
quả. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, nhất là từ năm 1960 trở về sau, trên vùng đất miền Tây rộng lớn của tỉnh B́nh Định, nhiều địa phương chính quyền cách mạng đă được xác lập, nhiều nơi đă trở thành căn cứ địa cách mạng, trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến của nhân dân trong tỉnh. Thời kỳ từ năm 1954 - 1975 là thời kỳ vai tṛ của các tổ chức Đảng có vị trí quyết định trong việc lănh đạo, tổ chức đồng bào các dân tộc thiểu số ở B́nh Định vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Sau năm 1954, Tỉnh ủy tỉnh B́nh Định đă tổ chức các Hội nghị phổ biến tinh thần Hội nghị trung ương lần thứ VI (Khoá II), phổ biến nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ và đề ra một số nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Vào đầu năm 1958, Tỉnh ủy B́nh Định đă họp ở Đak Hmang để nghe phổ biến tài liệu “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn và học tập dự thảo Nghị quyết của khu ủy khu V về xây dựng Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh trở thành căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang, để kết hợp đấu tranh vũ trang bộ phận với đấu tranh chính trị. Ở các huyện miền núi, Hội nghị chủ trương: lấy vùng cao Vĩnh Thạnh (Vĩnh Kim, Vĩnh Châu,Vĩnh Tường) và vùng cao An Lăo làm căn cứ trung tâm của tỉnh. Phát động phong trào làm “rẫy cách
mạng” trong 3 huyện miền núi. Tích cực xây dựng các tổ chức quần chúng, nhất là lực lượng trẻ, lập ban cán sự quần chúng và chi đoàn thanh niên, xây dựng và phát triển các tổ tự vệ mật. Triệt để lợi dụng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc để bố pḥng chống địch. Phát động quần chúng kiên quyết chống dồn dân, đồng thời chuẩn bị mọi mặt cho chiến đấu lâu dài, nhất là đẩy mạnh sản xuất, dự trữ muối, vải, nông cụ, thuốc men...13
Dưới sự lănh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy B́nh Định mà trực tiếp là Đảng ủy miền Tây (sau đổi thành Ban cán sự miền Tây), Đảng bộ các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lăo đă lănh đạo cán bộ và nhân dân trong địa phương làm tốt công tác chiến đấu (chống dồn dân, lập ấp, chống càn...) và phục vụ chiến đấu (sản xuất, xây dựng chính quyền...). Đảng bộ các huyện ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đă chú trọng việc thành lập, củng cố các chi bộ Đảng, bồi dưỡng cán bộ tại
(Chú thích:13 Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945-1975). Trang 128-129.)
chỗ, xây dựng chính quyền tự quản trong thời chiến. Năm 1962, Mặt trận Dân tộc giải phóng các huyện miền núi được thành lập. Cùng với sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng các huyện là sự ra đời của các đoàn thể như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ... Như vậy với việc thành lập các chi bộ Đảng, chính quyền tự quản, Mặt trận và các đoàn thể ở các địa phương (các xă), việc quản lư Nhà nước đối với vùng núi và vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) đă được đẩy lên một bước. Lúc bấy giờ, chính quyền tự quản, đứng đầu là chủ tịch danh dự và các ban ngành chuyên môn như Ban Kinh tế, Ban Văn hoá - xă hội, Ban Y tế, Ban Xă đội cùng với Mặt trận giải phóng xă và các đoàn thể quần chúng... là những đại diện cho chính quyền thực hiện việc quản lư Nhà nước ở các địa phương vùng núi, vùng dân tộc thiểu số của tỉnh B́nh Định. Bộ máy quản lư Nhà nước cấp cơ sở đó đă vận động, tổ chức đồng bào các dân tộc không hợp tác với địch, phục vụ chiến đấu và chiến đấu, hăng hái tham gia sản xuất, góp phần to lớn vào việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn B́nh Định nói riêng, miền Nam nói chung vào năm 1975.

Sau đây là mô h́nh quản lư Nhà nước vùng núi và vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ từ 1954-1975 :
6. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lư Nhà nước ở vùng núi,
vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ 1975 đến nay
Miền núi B́nh Định nằm trên chiều dài của dăy Trường Sơn hùng vĩ, với diện tích đất tự nhiên 374, 212 ha, chiếm hơn 62% diện tích đất toàn tỉnh. Hiện nay Nhà nước CHXHCN Việt Nam đă công nhận tỉnh B́nh Định có 45 xă, phường miền núi, vùng cao thuộc 10 huyện và thành phố Quy Nhơn (có phường Bùi Thị Xuân). Trong các huyện, thành có các xă, phường miền núi, vùng cao, Nhà nước ta đă công nhận huyện Vân Canh là huyện miền núi, huyện Vĩnh Thạnh và huyện An Lăo là huyện vùng cao.
- Huyện Vân Canh. Huyện Vân Canh nằm về phía Tây Nam tỉnh B́nh Định. Diện tích đất tự nhiên hiện nay của huyện Vân Canh là 79,797 ha. Huyện Vân Canh có 6 xă trong đó có 4 xă người dân tộc ở 35 làng khác nhau. Dân số huyện Vân Canh có 22.336 người của 3 dân tộc Chăm, Bana, Kinh, trong đó đồng bào dân tộc có 10.270 người.14 Cuối năm 1975 huyện Vân Canh sát nhập với huyện Tuy Phước thành huyện
Phước Vân thuộc tỉnh Nghĩa B́nh. Nhưng đến ngày 24/8/1981 theo Quyết định 41/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng huyện Phước Vân lại tách ra làm 2: huyện Vân Canh và huyện Tuy Phước, thuộc tỉnh Nghĩa B́nh. Năm 1987 tỉnh Nghĩa B́nh tách ra làm 2 tỉnh: tỉnh B́nh Định và tỉnh Quảng Ngăi. Huyện Vân Canh thuộc vùng đất tỉnh B́nh Định.
- Huyện Vĩnh Thạnh. Huyện Vĩnh Thạnh là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh B́nh Định. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Vĩnh Thạnh hiện nay là 70.079 ha. Huyện Vĩnh Thạnh có 7 xă, trong đó có 3 xă với 28 làng người dân tộc thiểu số . Dân số huyện Vĩnh Thạnh có 25.461 người (với 2 dân tộc chủ yếu: Kinh, Bana).15 Cuối năm 1975 huyện Vĩnh Thạnh sát nhập với huyện Tây Sơn thuộc tỉnh Nghĩa B́nh. Sau đó tách ra thành huyện độc lập. Hiện nay huyện Vĩnh Thạnh thuộc tỉnh B́nh Định.
- Huyện An Lăo. Huyện An Lăo là một huyện vùng cao nằm về phía
(Chú thích:14 Số liệu do Ban Dân tộc và miền núi tỉnh B́nh Định cung cấp năm 1978.
15 Số liệu do Ban Dân tộc và miền núi tỉnh B́nh Định cung cấp năm 1978.)
Tây Bắc tỉnh B́nh Định. Diện tích đất tự nhiên của huyện An Lăo là 69.035 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 2,104 ha. Huyện An Lăo có 9 xă, trong đó có 7 xă người dân tộc thiểu số ở 41 làng. Dân số huyện An Lăo có 23.059 người ( gồm 3 dân tộc: Kinh, Hrê, Bana), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 8.844 người.16
Muốn hiểu rơ hơn h́nh thức quản lư Nhà nước đối với các địa phương của vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định trong thời kỳ từ năm 1975 lại nay, cần phải được hiểu nó trong 2 giai đoạn :
- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986.17
- Giai đoạn từ năm 1986 lại nay.
a. Hệ thống chính trị - xă hội ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ 1975 - 1986.
Cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đă kết thúc hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đất nước ta từ đây thu về một mối, Nam-Bắc sum họp một nhà. Miền Bắc tiếp tục hoàn thành công cuộc xây dựng CNXH, miền Nam tiến hành khắc phục hậu quả của chiến tranh và bước đầu xây dựng CNXH theo tinh thần của các Nghị quyết của Đại Hội IV, Đại Hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trước bước ngoặt lịch sử, bên cạnh niềm vui được giải phóng, nhân dân các dân tộc ở miền Tây của tỉnh B́nh Định phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Muốn sớm khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh, muốn sớm đưa đồng bào Chăm, Bana, Hrê về sống định canh định cư, trong các làng xóm..., đ̣i hỏi chính quyền cách mạng phải sớm ổn định, phát huy vai tṛ tổ chức, lănh đạo của ḿnh. Dưới ánh sáng của các Nghị quyết của các cấp bộ Đảng từ trung ương đến địa phương (ĐHĐB Đảng toàn quốc, ĐHĐB tỉnh Đảng bộ, ĐHĐB huyện Đảng bộ), các xă ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đă gấp rút đi vào xây dựng hệ thống chính trị- xă hội của ḿnh bao gồm:
- Đảng ủy (những xă chưa có đủ đảng viên th́ thành lập các chi ủy của các chi bộ Đảng). Đảng ủy có vai tṛ lănh đạo toàn diện các hoạt động của các cấp bộ đảng và chính quyền xă. Đối với những xă có nhiều đảng viên, tiến hành thành lập các chi bộ ở các làng.
(Chú thích:16 Số liệu do Ban Dân tộc và Miền núi tỉnh B́nh Định cung cấp năm 1978.
17 Lấy mốc năm 1986 làm ốc phân giai đoạn, v́ năm đó là năm có sự đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực.)
- Chính quyền cấp xă (UBND, HĐND). Tại các làng thành lập các Hợp tác xă (HTX) bậc thấp. Dưới HTX là các đội sản xuất. UBND xă thông qua các HTX điều hành và quản lư các mặt của đời sống đồng bào các dân tộc thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của ḿnh đối với Nhà nước. Thời kỳ 1975-1986 là thời kỳ Đảng và Nhà nước ta chú trọng tới việc xây dựng các HTX, các đội sản xuất. Các hợp tác xă, các đội sản xuất của thời kỳ này về cơ bản vẫn dựa trên những giá trị truyền thống của làng để quản lư người dân, và hướng người dân vào việc xây dựng chế độ xă hội mới. Tuy nhiên do cơ chế quản lư chủ yếu dựa vào mệnh lệnh, vào bao cấp, chưa thực sự khuyến khích năng lực sản xuất của người dân..., nên cơ chế “Đảng lănh đạo, Nhà nước quản lư, nhân dân làm chủ” ở thời kỳ này đă không phát huy được tác dụng.
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng. Một trong những công việc quan trọng của các tổ chức này trong thời kỳ 1975 - 1986 là vận động quần chúng nhân dân vào các hợp tác xă.
b. Hệ thống chính trị - xă hội ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định từ năm 1986 đến nay.
Sau 10 năm đất nước giải phóng (1975 - 1986), việc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước đă đạt được những thành tựu bước đầu trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, xă hội, văn hóa... Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thời kỳ 1975 - 1986 đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Việc phân phối theo chế độ bao cấp, việc tập trung đất đai, nguồn vốn, công cụ sản xuất... vào các HTX, vào các nông trường quốc doanh không phát huy được hiệu quả. Cơ chế quản lư Nhà nước trong giai đoạn 1975 - 1986 bộc lộ những hạn chế, yếu kém, bất cập. Thêm vào đó, t́nh h́nh quốc tế lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển theo hướng bất lợi cho sự nghiệp cách mạng của nước ta. Nhiều nước anh em trong hệ thống XHCN lâm vào các cuộc khủng hoảng trầm trọng dẫn tới xa rời con đường XHCN. Đứng trước t́nh h́nh đó đ̣i hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có một đường lối khoa học, sáng tạo để đưa đất nước ta vượt qua những khó khăn, vững bước đi lên.
Với Đại Hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng và Nhà nước ta đă đi vào con đường đổi mới trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xă hội, trong đó có việc đổi mới quản lư Nhà nước. Các Đại Hội sau Đại Hội VI của Đảng ta như Đại Hội VII, Đại Hội VIII, Đại Hội IX, Đảng ta đă hoàn thiện thêm một bước những ư tưởng, mục tiêu, nhiệm vụ đổi mới mà Nghị quyết của Đại Hội Đảng lần thứ Đại Hội VI đưa ra. Dưới ánh sáng của đường lối chung của Đảng, của các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh B́nh Định, của các Đảng bộ huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lăo, căn cứ vào Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, căn cứ vào luật tổ chức HĐND và UBND các cấp năm 1994..., các xă vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đă từng bước kiện toàn hệ thống chính trị - xă hội từ xă đến thôn/làng nhằm thực hiện có hiệu quả hơn việc quản lư Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.
- Về tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng cấp xă ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định thời kỳ 1986 đến nay là các Đảng bộ, các chi bộ. Đảng bộ xă, có Ban chấp hành Đảng bộ, có Thường vụ Đảng ủy, gồm 1 bí thư, 1 phó bí thư trực. Chi bộ có Bí thư chi bộ và phó bí thư chi bộ. Đối với những xă chỉ có chi bộ, th́ ở các thôn/ làng thành lập các tổ Đảng. Đảng bộ, chi bộ thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau: xây dựng
các định hướng phát triển về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xă hội, văn hoá, giáo dục, an ninh quốc pḥng... của địa phương, lănh đạo công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, lănh đạo các đoàn thể quần chúng, xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.
- Về bộ máy quản lư hành chính cấp xă. Bộ máy quản lư hành chính cấp xă ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định gồm có:
- Hội Đồng Nhân Dân. HĐND xă là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương đại diện cho ư chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do người dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và các cơ quan Nhà nước cấp trên. Nhiệm kỳ của HĐND xă theo luật định là 5 năm. HĐND có quyền bầu, băi miễn, miễn nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ tịch cũng như các thành viên khác của UBND. HĐND có quyền băi bỏ những quyết định sai trái của UBND, thông qua đề án phân lệnh, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính trong xă đề nghị cấp trên xem xét. Về cơ cấu tổ chức HĐND xă có chủ tịch và 1 phó chủ tịch.
- Ủy ban Nhân dân. Cán bộ lănh đạo của UBND xă do HĐND xă bầu ra và được cấp trên phê chuẩn; cùng một số chuyên viên được bổ nhiệm. UBND xă là cơ quan hành chính Nhà nước ở xă, có trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND xă, chịu sự lănh đạo của UBND huyện và sự lănh đạo thống nhất của chính quyền cấp trên. UBND xă có chức năng quản lư mọi mặt công tác Nhà nước ở xă, nhằm bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, hướng dẫn, tổ chức đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, động viên nhân dân làm tṛn nghĩa vụ với Nhà nước. UBND xă có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc thực hiện quản lư Nhà nước trên các khía cạnh: quản lư Nhà nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và môi trường, thể dục thể thao, báo chí, truyền h́nh, đất đai, tài nguyên. Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc tiến hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND xă, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xă hội, pḥng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ các tài sản xă hội, tính mạng, tự do, danh dự, tài sản và các lợi ích khác nhau của đồng bào, chống tham nhũng, buôn lậu, các tệ nạn xă hội khác trên địa bàn, quản lư công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương, học tập, bồi dưỡng, bảo hiểm cho cán bộ trong xă, tổ chức thực hiện chi thu ngân sách... Bộ máy tổ chức của UBND xă gồm có 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch kiêm trưởng công an xă và các ủy viên khác cùng các ban ngành chuyên môn. Bộ máy này do HĐND bầu ra và do chủ tịch UBND bổ nhiệm. UBND xă có 1 văn pḥng do 1 cán bộ phụ trách.
Dưới cấp xă, trong thời kỳ từ 1986 đến nay c̣n có tổ chức thôn/làng. Thôn/làng ở các xă vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định chính là các tổ chức xă hội truyền thống của người Chăm, Bana, Hrê trước đây. Thôn/làng không phải là một cấp chính quyền, một đơn vị hành chính mà là một tổ chức trung gian trong quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, giúp UBND quản lư tốt các mặt của đời sống xă hội nông thôn vùng núi, chịu sự lănh đạo của Chi bộ, Đảng bộ và sự quản lư của chính quyền cấp xă. Thôn/làng của người Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định hoạt động dưới sự phân công, quản lư của UBND, định kỳ 6 tháng họp một lần (trừ những lúc họp đột xuất). Tổ chức thôn/làng có nhiều nhiệm vụ khác nhau liên quan tới đời sống xă hội, sản xuất, an ninh trật tự của thôn... Về cơ cấu tổ chức mỗi thôn/làng có Trưởng thôn và Phó thôn do nhân dân trong địa phương bầu ra, hoặc do UBND đề cử nhân dân bầu. Nhiệm kỳ hoạt động của trưởng thôn và phó thôn là 2 năm. Trong mỗi thôn/làng của người Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định c̣n có các cụm dân cư, tổ ḥa giải, tổ an ninh, tổ vần công đổi công... Bên cạnh đó để quản lư tốt hơn người dân trong các thôn /làng, thời kỳ từ 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất chú ư tới việc phát huy vai tṛ của tổ chức xă hội cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu số, chú ư đến vai tṛ của các già làng. Có thể nói thôn/ làng của người Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định hiện nay đă thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng răi nhằm giải quyết các công việc của cộng đồng dân cư, đảm bảo đoàn kết, giữ ǵn trật tự, an toàn xă hội, vệ sinh môi trường, giữ ǵn phát huy truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của cộng đồng, thực hiện tốt các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của cấp trên giao cho, xây dựng các làng/ các điểm văn hóa.
- Về Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong các xă ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số ở B́nh Định.
- Mặt trận Tổ quốc xă. Mặt trận Tổ quốc xă giữ vai tṛ quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đoàn kết nhân dân trong xă, chịu sự lănh đạo của Đảng ủy xă và Mặt trận Tổ quốc huyện theo ngành dọc. Mặt trận Tổ quốc xă có 1 chủ tịch và 1 phó chủ tịch. Trong 1 năm Mặt trận Tổ quốc có 2 kỳ họp, hàng tháng, hàng quư phải báo cáo hoạt động công việc của ḿnh cho Đảng ủy và các đoàn thể cấp trên.
Ngoài tổ chức Mặt trận tổ quốc ra, ở xă c̣n có các đoàn thể quần chúng:
- Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn thanh niên là một tổ chức của những thanh niên, đoàn viên trong xă. Đoàn thanh niên có 1 bí thư và 1 phó bí thư đảm nhiệm. Ở các thôn/làng có các chi đoàn do bí thư điều hành.
- Hội liên hiệp phụ nữ xă. Hội phụ nữ có nhiệm vụ tập hợp tất cả các chị em trong xă chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của HĐND và UBND xă, tích cực tham gia sản xuất thực hiện kế hoạch hóa gia đ́nh, thực hiện tiết kiệm, xây dựng gia đ́nh văn hóa mới... Hội phụ nữ xă có 1 Chủ tịch và 1 Phó Chủ tịch. Trong các thôn/làng có các Chi hội phụ nữ do Chi hội trưởng điều hành.
- Hội nông dân. Hội nông dân là tổ chức của những người nông dân trong xă, có nhiệm vụ tập họp đoàn kết, giáo dục nông dân nâng cao ư thức và năng lực làm chủ, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hội nông dân xă có 1 Chủ tịch và 1 Phó Chủ tịch.
- Hội cựu chiến binh. Đây là tổ chức của những chiến sĩ đă từng tham gia trong quân đội. Hội có 1 Chủ tịch và 1 Phó Chủ tịch. Ở các thôn/làng có các chi hội cựu chiến binh.
Nh́n chung, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng cấp xă vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định đă có những thành tích trong công tác quần chúng, là trung tâm đoàn kết nhân dân trong xă, giúp cho bộ máy quản lư Nhà nước cấp xă quản lư tốt hơn các vấn đề kinh tế, chính trị, xă hội, văn hóa, an ninh, quốc pḥng trên địa bàn, góp phần nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của quần chúng nhân dân, giúp cho các thành viên của cộng đồng thực hiện nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần không nhỏ thực hiện nguyên tắc “Đảng lănh đạo, Nhà nước quản lư, nhân dân làm chủ”.
Tóm lại, thời kỳ từ năm 1975 đến nay việc quản lư Nhà nước đối với vùng các dân tộc thiểu số trên đất nước ta nói chung, ở B́nh Định nói riêng đă có những thay đổi to lớn. Quán triệt nội dung cơ bản về vấn đề dân tộc mà Đảng ta đă đưa ra tại Đại hội lần thứ IV (1976) “giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”,18 Đảng và Nhà nước ta đă có cách nh́n mới đă đưa ra những biện pháp mới trong công tác dân tộc. Ngoài bộ máy quản lư hành chính Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số theo ngành dọc (Chính phủ, tỉnh, huyện, xă, thôn) thời kỳ từ 1975 đến nay c̣n có bộ máy chuyên trách vấn đề dân tộc ở cấp trung ương (Ban Dân tộc trung ương, văn pḥng Miền núi và Dân tộc của chính phủ, năm 1993 hợp nhất 2 cơ quan này thành UBDT và MN), ở cấp tỉnh (Ban Dân tộc, Ban Miền núi, Ban miền Tây, Ban Dân vận dân tộc, Ban Dân tộc tôn giáo, Ban ĐCĐC dân tộc, phổ biến hơn cả là Ban Dân tộc và Miền núi trực thuộc Tỉnh ủy). Bộ máy chuyên trách vấn đề dân tộc này đă làm tốt công tác tham mưu cho các cấp bộ Đảng và chính quyền trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Thời kỳ từ năm 1975 lại nay (nhất là kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới sau năm 1986) Đảng và Nhà nước ta đă ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng đối với vùng núi, vùng dân tộc thiểu số. Đó là các Nghị quyết có tầm chiến lược.
- Nghị quyết 22 - NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 “Về một số chủ trương chính
(Chú thích:18 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng tại ĐHĐB toàn quốc lần thứ IV. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1977 (trang 164).)
sách lớn phát triển kinh tế - xă hội miền núi”.
- Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đă thể chế hóa Nghị quyết của Đảng, ban hành Quyết định 72, ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế- xă hội miền núi”.
- Nghị quyết 11 - CP, ngày 20/3/1993 của chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy UBDT và MN (Nghị định này vào ngày 13/8/1998 có một số thay đổi).
- Chương tŕnh 135/1998/QĐ/TTg ngày 31/7/1998 “Về chương tŕnh phát triển kinh tế - xă hội các xă đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa”...
Sau những Nghị quyết, Quyết định, Nghị định, chương tŕnh đó..., bộ mặt vùng núi, vùng dân tộc thiểu số đă có những thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực. Đồng bào các dân tộc thiểu số ngày một tin tưởng hơn vào sự lănh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta.
Ở tỉnh B́nh Định nhằm giúp cho công tác dân tộc đạt được kết quả cao nhất, BCH tỉnh Đảng bộ kể từ sau năm 1975 đến nay đă có sự quan tâm lớn đối với vùng núi và vùng dân tộc. Trên cơ sở đường lối chung của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tỉnh B́nh Định đă ban hành nhiều quyết định, nhiều chỉ thị, nghị quyết (nghị quyết 23 của Ban thường vụ Tỉnh ủy khóa VIII...) đối với công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới.Tại các huyện miền núi, vùng cao của tỉnh như huyện Vân Canh, huyện Vĩnh Thạnh, huyện An Lăo bộ máy lănh đạo Đảng, chính quyền không ngừng được kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực lănh đạo, quản lư. Qua các kỳ Đại hội Đảng của các huyện, các địa phương đă sáng suốt lựa chọn được những đại biểu có đủ tài, đức và uy tín đứng ra gánh vác nhiệm vụ. Đó chính là những người con ưu tú của các dân tộc Chăm, Bana, Hrê ở B́nh Định trưởng thành trong đấu tranh cách mạng và xây dựng chế độ xă hội mới.19 Ở các xă vùng núi, vùng dân tộc thiểu số bộ máy lănh đạo Đảng và chính quyền đă được tăng cường về mọi mặt. Chính nhờ sự quan tâm và cố gắng đó mà việc quản lư Nhà nước ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh B́nh Định ngày một chặt chẽ, đưa lại những kết quả về mọi mặt. Thời kỳ từ 1975 đến nay đối với công tác dân tộc và miền núi, tỉnh B́nh Định đă có một bộ máy
(Chú thích:19 Lịch sử các huyện Đảng bộ, Danh sách các Đại biểu huyện Đảng bộ Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lăo.)
chuyên trách, tham mưu cho tổ chức Đảng và chính quyền địa phương, đó là ban Dân tộc và Miền núi trực thuộc Tỉnh ủy. Kể từ khi thành lập đến nay, Ban dân tộc và Miền núi tỉnh B́nh Định đă không ngừng lớn mạnh, làm tốt công tác tham mưu, thực hiện tốt công tác quản lư Nhà nước về chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh.
--------------------------------------------------------------