TỰA

 

            Năm 1985, tôi trực tiếp nghiên cứu toàn bộ Địa bạ triều Nguyễn gồm 10.044 tập. Sau khi làm xong 6 tỉnh Nam Kỳ chỉ với 484 tập, tôi ngạc nhiên thấy số địa bạ dành cho B́nh Định  - một tỉnh trung b́nh trong 30 tỉnh lúc lập Địa bạ - nhiều tới 1.222 tập! Nghiên cứu kỹ rồi sắp xếp lại, hoá ra B́nh Định có 2 bộ Địa bạ: một bộ lập năm 1815 khi c̣n là trấn và một bộ lập năm 1839 khi đă đổi thành tỉnh. Theo phương pháp định lượng và so sánh, tôi lên các bảng thống kê chi tiết từng thôn/ấp. Có thế mới hiểu được phép quân điền đem thi hành tại B́nh Định năm 1839 - lần duy nhất trong lịch sử chế độ sở hữu ruộng đất của nước ta.

            Năm 1992, Viện Khoa học Xă hội Việt Nam mời tôi báo cáo về phép quân điền tại B́nh Định nhân dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Viện Viễn đông Bác Cổ Pháp, v́ cả hai Viện đánh giá là công tŕnh có giá trị đặc biệt để t́m hiểu chế độ ruộng đất nói riêng và nên văn minh Việt Nam nói chung.

            Năm 1996, sách Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn gồm 3 tập cộng 1.352 trang được ấn hành và được học giả trong cũng như ngoài nước đánh giá là có đóng góp tích cực.

            Năm 1998, nhân dịcp kỷ niệm 100 năm xây dựng Thành phố Quy Nhơn, tôi được hân hạnh báo cáo về Phép quân điền tại B́nh Định trước sự hiện diện của Quư vị lănh đạo cao nhất tỉnh nhà. Tôi kết luận đại khái: Trên 160  năm trôi qua, bao nhiêu chế độ đă đổi thay, nhưng tâm thức  "chia ruộng nhường cơm xẻ áo cho nhau" của nhân dân B́nh Định vẫn c̣n thấm thía. Nên chăng bảo lưu nếp văn hoá đạo lư đó, để nêu một tấm gương chung cho cả nước.

            Cuối năm 1999, tôi được đề nghị viết một tập trong công tŕnh Địa chí tỉnh B́nh Định về đề tài Địa bạ và phép quân điền xưa. Đay là một vinh dự, song cũng là một trách nhiệm: phải viết lại đề tài sao cho vừa khoa học vừa mang tính phổ biến thích hợp  cho một công tŕnh Địa phương chí  lớn.

            Đề tài nghiên cứu Địa bạ và phép quân điền xưa tại B́nh Định  nay vừa hoàn tất trong khả năng hạn chế, song thực hiện với tất cả tấm ḷng kính phục đất nước và con người B́nh Định. Mong rằng học giả và độc giả trong cũng như ngoài B́nh Định chỉ bảo cho những sai nhầm và thiếu sót, để tôi được học hỏi thêm. Xin chân thành cảm tạ.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 1-1-2002

Nguyễn Đ́nh Đầu

 

 

PHÀM LỆ

 

I

CÁCH GHI DIỆN TÍCH

 

            Ghi diện tích bằng mầu sào thước tấc, th́ dùng con số và cách nhau bằng một dấu chấm (.). Thí dụ:

            216 mẫu 7 sào 14 thước 3 tấc

                   5 phân 9 ly 7 sào 6 hốt   216.7................. 14.3.5.9.7.6

            4 sào 7 tấc ...........................................................  0.4.           0.7

            2 mầu 3 thước ......................................................  2.0            3.0

            1200 mẫu........................................................... 1200.0.        0.0

            Đường thiên lư ...................................................  1.354           tầm 4 thước

            Ao nuôi cá 125 khẩu .........................................  125 khẩu

            Văn Thánh miếu 1 sở ......................................... 1 sở

            Rừng chằm, g̣ đ̣i, mộ địa 3 khoảnh .................  3 khoảnh

 

II

BIỂU ĐO RUỘNG ĐẤT ĐƯƠNG THỜI

            Đo đong cân đếm của ta xưa là vấn đề khó phức tạp, v́ mỗi nơi, mỗi lúc một khác (1). Chúng tôi lập biểu sau đây để t́m hiểu các đơn vị đo lường dùng trong địa bạ  thu thuế theo định chuẩn từ đầu triều Nguyễn. Việt Nam lúc ấy có 3 thứ thước:

[ (1) Nguyễn Đ́nh Đầu, Góp phần nghiên cứu vấn đề đo, đong, cân, đếm của Việt Nam xưa. Tạp chí Nghiên Cứu Kinh Tế - Hà Nội. Số 105 (10/1978) và số 106 (12/1978). Các trang 65-77, 40-49.]

            Thước mộc (mộc xích) đổi ra hệ mét dài      0m 424

            Thước ruộng (điền xích) đổi ra hệ mét dài  0m 4664

            Thước may (phùng xích) đổi ra hệ mét dài  0m 636

BIỂU ĐO DIỆN TÍCH BẰNG THƯỚC RUỘNG 0 m 4664

 

Tên đơn vị

Ruộng bằng

Mỗi cạnh

Đổi ra hệ mét (m2)

Mẫu (mẫu)

Sao (cao)

Thước (xích)

Tấc (thốn)

Phân

 

Ly

Hào

Hốt

Ty

 

Miếng (khẩu)

Than

Ghế, ô, khâu

Gang

 

10 sào

15 thước

10 tấc

10 phân

10 ly

 

10 hào

10 hốt

 10 ly

 

 

9 than

25 ghế

1 thước vuông

150 th x 150 th

  15 th x 150 th

    1 th x 150 th

  1 tấc x 150 th

   1 ph x 150 th

 

    1 ly x 150 th

 1 hào x 150 th

  1 hốt x 150 th

    1 ty x 150 th

 

  15 th x 15 th

    5 th x 5 th

    1 th x 1 th

  5 tấc x 5 tấc

 

4894,4016

489,44016

32,639344

3,2639344

0,3263934

 

0,032639

0,003263

0,000326

0,000032

 

48,944016

5,438224

0,127528.96

0,054382.24

 

 

            Trong phần thứ nhất của biểu trên , chỉ có mẫu là vuông cạnh, c̣n sào, thước, tấc là h́nh chữ nhật. Trong phần hai, khẩu, than, ghế, gang đều vuông (xem h́nh vẽ kèm đây).

 

BIỂU ĐO CHIỀU DÀI BẰNG THƯỚC MỘC

 

                        Thước                          0 m 424

                        Tầm, bằng 5 thuớc        2 m 12

                        Trượng, bằng 2 tầm      4 m 24

            Năm 1897. Thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa lần I ở Việt Nam. Toàn quyền  Đông Dương quyết định cho một thước ta bằng  0m40 (không phân biệt mốc xích, điền xích hay phùng xích, 1 mẫu bằng 3.600 m2, 1 hộc bằng 60 lít và một lạng bằng 37 gram 783.125)

 

[H́nh vẽ]

 

Năm 1930, khi điều tra ruộng đất để biên soạn sách Kinh tế Nông nghiệp ở Đông Dương (1), Yves Henry đă phải dùng 3 thứ đơn vị diện tích ruộng đất khác nhau:

            - Mẫu ở Bắc Kỳ rộng 3.600m2

                - Mẫu ở Trung Kỳ rộng 4.970m2

            -Mẫu Tây tức hécta ở Nam Kỳ rộng 10.000m2

[ (1) Yves Henry, Economie Agricole de L/Indochine, Hà Nội, 1932.Các trang 118.210]

Có lẽ mẫu ở Bắc Kỳ là theo quyết định của toàn quyền năm 1897. Mẫu ở Trung Kỳ vẫn giữ nguyên thước định chuẩn từ trươc thời Pháp, trung b́nh là 4.970m2. Henry đă điều tra thấy mẫu của một số làng trong tỉnh Quảng Nam rộng 4.865m2, và mẫu của số làng trong tỉnh Quảng Ngăi rộng tới 7.000m2. Khi ấy, sở Địa Chính chưa đo đạc xong các tỉnh Bắc Kỳ và mới bắt đầu tiến hành ở Trung Kỳ. C̣n Nam Kỳ, việc chuyển đổi từ mẫu ta sang hécta (10.000m2) đă hoàn thành. Cho nên Henry cho rằng các biểu so sánh sở đất và sở chủ của 3 Kỳ chỉ có giá trị tương đối.

            C̣n mẫu trong sưu tập Đại bạ của cả nước thiết lập từ 1805 đến 1836, rộng 4.894m2 4016, v́ triều Nguyễn đă lấy 1 cái thước có từ thời Lê để định chuẩn và làm ra một  quan điền xích (0 m 1664) làm kích thước đo ruộng đất chung cho toàn quốc (1).

III

CÁCH GHI TÊN ĐẤT

Các đơn vị  tỉnh, phủ, huyện, tổng, thuộc, sẽ đặt trước tên. Thí dụ:

                        Tỉnh  B́nh Định.

                        Phủ Hoài Nhơn.

                        Huyên Đông Xuân.

                        Tổng Trung Tĩnh.

                        Thuộc Hà Bạc.

Các đơn vị hành chính cơ sở như ,thôn,phường,ấp,điếm,hộ,trại... th́ đặt sau tên, để việc tra cứu theo mẫu tự la tinh cho dễ. Thí dụ :

                        Tân Khai thôn

                        Hanh Thông  

                        Tân Lộc phường

                        B́nh Thuyên ấp.

Tên đất dù gồm mấy chữ cũng viết hoa hết. Thí dụ :

                        Tân Định  thôn.

                        Tây Sơn Nhất thôn.

                        Xuân Thới Đông thôn.

     

Hầu hết địa danh hành chính ghi bằng chữ Hán để lấy ư nghĩa tốt đẹp (mỹ tự ). C̣n tên xóm hay miệt (trong địa bạ ghi chung là xứ), th́ thường dùng chữ nôm. Thí dụ :

Nước Ngọt phụ luỹ khách hộ ấp.

                        Đá Lữa xứ.

                        Đồng Giữa Cây Me xứ.

 

IV

CÁCH GHI CÁC LOẠI HẠNG RUỘNG ĐẤT

 

Có những loại hạng ruộng đất có thể dịch nôm mà không gây ngộ nhận, như :

Thảo điền                    : ruộng cỏ, ruộng thấp hay ruộng sâu.

Sơn điền                      : ruộng núi, ruộng g̣ hay ruộng cao.

Diêm điền                   : ruộng muối.

Tang căn thổ               : đất trồng dâu ( nuôi tằm).

Giá thổ                        : đất trồng mía (làm đường).

Phù viên thổ                : đất vườn trồng trầu không.

Viên lang thổ              : đất vườn trồng cau.

Vu đậu thổ                  : đất trồng khoai đậu.

Ba tiêu thổ                  : đất trồng chuối.

Thanh trúc thổ            : đất trồng tre nứa.

Da diệp thổ                 : đất trồng dừa lá.

Viên tiêu thổ               : đất vườn trồng tiêu.

Thổ trạch                    : đất vừa để ở vừa để trồng trọt linh tinh. Dân cư thổ đất để nhân dân ở (chỉ có vườn cảnh nhỏ).

Mộ địa hay thổ mộ    : đất nghĩa trang.

Lâm tẩu                      : rừng chằm, bưng chằm, rừng sát.

Lâm lộc                       : rừng già gần chân núi đồi. 

Thổ phụ                       : đất g̣ nổng.

C̣n nhiều loại hạng ruộng đất phải giữ  nguyên danh xưng, để tránh sự hiểu nhầm, v́ mỗi loại hạng có qui chế pháp lư hoặc mức thuế khác nhau. Thí dụ :

QUAN ĐIỀN, QUAN THỔ, QUAN VIÊN THỔ, QUAN XĂ THỔ ...

CÔNG ĐIỀN, CÔNG THỔ, CÔNG THẢO ĐIỀN, CÔNG SƠN ĐIỀN...

BỔN THỔ ĐIỀN, BỔN THÔN THỔ.

TỊCH ĐIỀN, TIÊN NÔNG ĐÀN THỔ, THẦN TỪ THỔ, PHẬT TỪ

THỔ, XĂ TẮC ĐÀN THỔ, THÀNH HOÀNG MIẾU THỔ ...

ĐỒN BẢO THỔ, THỊ TỨ THỔ ...

Hai loại đất dân cư thổthổ trạch, nếu dịch nôm, cũng dễ lẫn nhau. Nêu để nguyên danh xưng.

V

CÁCH PHIÊN ÂM ĐỊA DANH

            Tuỳ theo địa phương:

            Chắc c̣n nhiều sơ sót, tuy chúng tôi đă phiên âm theo tập quán địa phương như: B́nh Định, Quy Nhơn, An Chiểu, Huỳnh Giản, B́nh Thạnh, Phước Điền, Thời Hoà, Hiệp An, Tấn Phát, v.v...

 

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

 

1. Tên riêng:                                       2. Tên các loại ruộng đất:

AN NHƠN                              AN                  Công điền                                

B̀NH HÀ                                BH                   Công thổ                                  CT

B̀NH KHÊ                              BK                   Dân cư thổ                               DCT

BỒNG SƠN                            BS                   Dân cư thổ trạch                       DCTT

ĐỊNH SƠN                             ĐS                   Diện tích                                   DT

HÀ BẠC                                  HB                   Diện tích thực canh       DTTC

HOÀI NHƠN                          HN                  Quan điền                                

PHÚ PHONG                          PP                    Quan thổ                                  QT

PHÙ CÁT                                PC                   Quan viên lang thổ        QVLT

PHÙ LY                                  PL                    Toàn diện tích               TDT

PHÙ MỸ                                 PM                  Tư điền                                   

SƠN ĐIỀN                                                 Tư thổ                          TT

THỜI ĐÔN                                                Tam Bảo Điền              TBĐ

THỜI HOÀ                             TH                   Thảo quản điền             TQĐ

THỜI TÚ                                 TT                    Trang Trại Điền                        TTĐ

TRUNG AN                            TA                   3- Các chữ khác:

TRUNG B̀NH                        TB                  

TRUNG ĐỊNH                        TĐh                 Chính hộ                                   c.h (ch)

TRUNG TĨNH             TrT                  cho nơi khác                 cnk

TUY HÀ                                  TyH                 diêm tiêu                                   dt

TUY PHƯỚC                          TP                    địa bạ                                       đb

TUY VIỄN                              TV                   Đông                                        Đ

VÂN DƯƠNG                        VD                   khách hộ                                  k.h (kh)

VĨNH THỊNH                         VT                   lưu hoang                                 lh

VƠNG NHI                             VN

mất địa bạ                                mđb                 thuộc                                        thc

phụ luỹ                         pl                     Thượng                                    Th

phường                         ph                    tổng                                          tg

tây                                            T                      Trung                           Tr

thôn                                          th                     tứ chánh                                   tc

                                                                        ương thổ                                   ưt

 

Dẫn nhập

     Đến triều Nguyễn, nước Việt Nam mới có sự thống nhất lâu dài và rộng lớn về mặt hành chính, suốt từ Lạng Sơn tới Hà Tiên.

Công cuộc đạc điền và lập địa bạ cho khoảng 16.000 xă thôn toàn quốc phải tiến hành suốt 31 năm (1805-1836) mới xong. Các số địa bạ gôm lại thành 10.044 tập, được lưu giữ cẩn thận trong Tàng thư lâu ở nội thành Huế. Địa bạ xá định quyền sở hữu trên từng thước đất và tượng trưng cho cương thổ thiêng liêng " bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu" , nên đươcnhà nước xưa tran trọng bảo quản.

Số 10.044 tập điạ bạ chia ra :

- Bắc Bộ         mang kư hiệu DB có 4.296 tập.

- Trung Bộ      mang kư hiệu DT có 5.264 tập.

- Nam Bộ        mang kư hiệu DN có    484 tập.

Riêng B́nh Định  - một tỉnh cỡ trung b́nh  - mang kư hiệu DT1 có tới 1.222 tập (tức gần 3 lần Nam Kỳ lục tỉnh  và gần 1/4 cả 12 tỉnh Bắc Kỳ). Hầu như vô lư.

Chúng ta biết rằng địa bạ chỉ làm một lần đẩ xác lập quyền sở hữu và ranh giới, c̣n điền th́ làm hằng năm để tính thuế. Bộ 10.044 tập là địa bạ chứ khong phải điền bạ. Vậy tại sao B́nh Định có số địa bạ nhiều đến thế? Nghiên cứu kỹ và lên phiếu từng sổ một, chúng ta mới thấy khắp nơi chỉ làm địa bạ 1 lần, riêng B́nh Định lập đại bạ 2 lần: một lần năm 1815 và một lần năm 1839 tức là vào lúc thi hành phép quân điền ở tỉnh này. Do đó, số sổ địa bạ gần như gấp đôi số thôn ấp.

 

PHÉP QUÂN ĐIỀN Ở B̀NH ĐỊNH

 

             Sau khi tính kỹ, triều đ́nh cho thi hành phép quân điền ở B́nh Định. Ch́nh sử ghi là tháng 11 năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Vơ Xuân Cẩn, lănh tổng đốc B́nh phú , đề nghị: "một hạt B́nh Định, công điền chỉ có trên 5 ngh́n mẫu mă mà ruộng tư điền trên 7 vạn 1 ngh́n mẫu. Tư điền thường bị bọn hào phú  chiếm cả, người nghèo không nhờ cậy ǵ. Xin lượng xét định qui chế, phàm tư điền dịnh hạn cho 5 mẫu, ngoài ra làm công điền cả, chia cấp cho b́nh dân để làm lương điền, khẩu phần điền giúp cho (tất cả) sinh sống (1). Minh Mạng tỏ ư dè đặt : "Đời xưa chia ruộng cho dân làm ăn sinh sống, khiến cho có của b́nh thường, có ḷng b́nh thường, thực là ư tốt. Nhưng ngày nay ngày xưa sự đời khác nhau, phép tỉnh điền (2) đă bỏ ở đời Tần, trải qua Hán-Đường-Tống về sau, vẫn không làm lại được. Tóm lại là v́ đời khác việc khác, có làm cũng không được; huống chi tư điền là sản nghiệp đời đời, năm tháng đă lâu, số sách dă thành, nay vô cớ cắt lấy của riêng, vốn liếng làm ăn khó nhọc của người ta, chắc sẽ không làm cho ai được yên ḷng. Mà một phen thay đổi như thế, sợ chưa thấy lợi, đă thấy thêm nhiễu sự triền miên. Việc ấy thực không thẻ làm được".

Việc quân điền ở B́nh Định đành bỏ đấy. Nhưng năm sau,  Xuân Cẩn được gọi về kinh giữ chức thượng thư bộ H́nh kiêm quản Viện Đô Sát. V́ hiểu rơ t́nh h́nh quá bất công về ruộng đất ở B́nh Định, Xuân Cẩn tiếp tực ráo riết vận động. Minh Mạng "ngại là khó làm,ngần ngừ chưa quyết. Đến nay bộ Hộ tâu là có thể làm được, bèn sai 6 bộ họp bàn". Sáu bộ bàn kỹ rồi đề nghị phếp yiến hành : " Những thôn nào có công điền ngang hoặc nhiều hơn tư điền th́ không cần cắt lấy. Những thôn có tư điền nhiều hơn công điền, th́ công điền cứ để nguyên quân cấp như cũ, c̣n tư điền th́ cắt lấy một nữa (cho vào công điền). Gián hoặc dẫn đinh nào không có ruộng đất, hoặc có đất mà không có ruộng, cùng là số người nhiều mà ruộng ít, th́ nhằm chỗ cận tiện (ở thôn gần đấy) trích lấy công điền hay trang trại điền mà cấp cho họ. Như vậy binh dân đều được lợi cả". Bầy giờ Minh Mạng mới nghe theo và quyết ư làm.

[ (1) Quốc sử quan triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính bin (ĐNTL). Viện sử học phiên dịch. NXB Khoa Học X hội. H Nội, 1963-1978. tập XX, tr.258.

(2) Ruộng chia theo h́nh chữ  tỉnh thành chín phần]

Tháng 7 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thượng thư Vơ Xuân Cẩn và tham tri bộ Hộ là Doăn Uẩn lên đường đi B́nh Định thi hành phép quân điền như vua quan đă suy tính và rạch ra đường hướng phương cách. Trước khi đi, Vơ Xuân Cẩn tŕnh bày: "Ruộng trong hạt ấy, thế không thể  nhất thiết chia đều được. Ấp nào may được số ruộng hơi nhiều th́ đến kỳ quân cấp, tuân theo qui chế, chia hạng cấp suốt lượt. Ấp nào ruộng hơi ít , th́ trước hết cấp lương điền cho lính c̣n thừa mới  cho cấp khẩu phần. Ấp nào ruộng rất ít , th́ chỉ cấp ruộng lương lính thôi. Tựu trung, ấp nào ở xa cách không có công điền hay trang trại, th́ xin nhắm vào những ấp có nhiều công điền ở gần cạnh, trích lấy vài mẫu hoặc ruộng trong số cũ, hoặc ruộng mới cắt lấy, hoặc công điền bỏ hoang mới trưng lại, chia cấp cho làm công điền. C̣n như tư điền, dù là ruộng công thần, thế tộc, cũng đều cắt lấy một nửa". Minh Mạng đều nghe theo và lưu ư: "Duy có ruộng của khai quốc công thần là Đào Duy Từ để lại làm ruônghj hương hoả, nếu cắt lấy th́ chuẩn trả cho mỗi mẫu 50 quan tiền, giao cho con cháu là Đào Duy Nhẫm để sắm sửa việc thờ cúng".

Sau khi tới B́nh Định, Vơ Xuân Cẩn dâng sớ về triều, nói: "Đă cho đ̣i tổng lư và các phú hộ đến hiểu dụ  về đại ư việc quân điền, chúng đều vui vẻ thoả thuận". Minh Mạng dè dặt cho ư kiến: "Lẽ thường xưa nay, những binh dân không có ruộng, nay bỗng có ruộng th́ vui mừng là lẽ cố nhiên. C̣n như những kẻ bị cắt ruộng của ḿnh đem cho người khác, mà cũng vui mừng thoả thuận , th́ h́nh như chưa phải xuất phát từ ḷng chân thành. Ư hẳn ư trời tựa nước nhà, đă mở bảo từ trong bụng họ chăng?". Minh Mạng  lại sai cấp thêm bạc làm lộ phí cho cả đoàn kinh phái (như Cẩn trước được cấp 10 lượng, nay cấp thêm 40 lượng ...) và tăng thêm nhân viên làm sổ sách, v́ thấy việc quân điền ở B́nh Định thật là quan trọng. Toàn tỉnh B́nh Định có 678 thôn ấp, trừ 30 thôn ấp có công tư điền ngang nhau, 1 ấp xiêu tán, 2 ấp không giản (gọi) lính, c̣n số thôn ấp cần chia ruộng là 645.

Chỉ 3 tháng sau, tức đến tháng 10, đoàn khâm phái Vơ Xuân Cẩn trở về kinh, tŕnh: "Việc quân điền ở B́nh Định đă hoàn thành". Minh Mạng vui mừng trọng thưởng cho cả đoàn. Riêng Vơ Xuân Cẩn đựơc coi  "là người đầu tiên kiến nghị việc này" nên được thưởng thăng cấp "trác dị". Nhân dịp, Minh Mạng dụ với nội các rằng: "Làm vua cai trị dân, lấy việc thi ân huệ cho dân làm bụng nghĩ, há nỡ để một người không có nơi ăn chốn ở. Xét việc bao chiếm ruộng đất là thói quen đă lâu, bọn cường hào độc chiếm mối lợi, th́ kẻ cùng dân không trông vào đâu mà sống được. Cái tệ này ở B́nh Định lại càng quá lắm ... Cônbg việc (quân điền) bề bộn, thế mà mới có mấy tháng đă được xong xuôi, không phải là dân t́nh đều biết vui việc nên vui, lợi việc nên lợi mà được như vậy ư ?". rồi Minh Mạng truyền dụ cho những ai có tư điền bị sung công một nửa th́ cứ tiếp tục cày cấy, sang năm mới phải chuyển vào công điền để quân cấp cho mọi người cày cấy nộp thuế".

            Về thuế má ở B́nh Định , Minh Mạng hỏi thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên cho biết là sau quân điền tăng hay giảm. Phiên thưa: "hạt ấy trong sổ cũ, công 6-7 ngh́n mẫu, tư điền hơn 9 vạn mẫu. Nay lấy một nửa tư điền làm công điền đáng phải được trên dưới 4 vạn mẫu. Nói về đại lược so ra th́ thuế điền ít đi, thuế đinh nhiều ra.từ  trước đến giờ, các tỉnh trở vào nam, mức thuế công điền ngang bằng tư điền, duy có thuế quan điền th́ cao hơn công điền. Nay quan điền đă chuyển làm công điền th́ ngạch tuy có tăng, nhưng số thuế thu nhập lại kém đi. Dân sở tại trước kia thuế thân người có công điền cao hơn người không có công điền, nay  đem chia công điền th́ dân trong sổ ai cũng có ruộng, cho nên số thuế bị giảm, nhưng số dân đinh lại tăng lên". (Với tư liệu thu thập tại B́nh Định , Souvignet đă cung cấp thêm thông tin : khi ấy B́nh Định có 5.200 mẫu công điền và trên 71.400 mẫu tư điền của kẻ giàu có, c̣n người nghèo th́ khôngc ó đất cắm dùi, và trong số lính tráng, chỉ có 5.500 người có lương điền , c̣n 9.500 người không có) (1). Minh mạng nói: "phép quân điền là muốn chia lợi cho dân , chứ thuế hôm nay hơn hay kém đi không phải là điều đáng so tính". Rồi Minh Mạng lại thêm: "hôm vừa rồi ty Tam pháp tâu là dân hạt ấy có gởi đơn kín đến  kinh khiếu nại, thế mà trước đây Vơ Xuân Cẩn nói dân gian hết thảy đều vui vẻ, thoả măn, thực cũng chưa được đúng. Có điều công việc buổi đầu, kẻ tiểu dân bo thiết với những cái lợi hại riêng, điều đó cũng là thường t́nh, bất tất phải xét kư. Triều đ́nh làm việc, làm thế nào cho mọi người đều vừa ḷng được cả ư ?" (2).

[ (1) RP Souvignet, Aperu historique sur le partage des rizires de B́nh Định en rizires commuunes et en rizires particulires. Trong  Revue Indocchinoise,  1er trimestre 1900.pp. 596-598. in lại ở cuối sách trong phần phụ lục.

(2) ĐNTL, sđd, tr.259-261 ]

Tháng 12 năm canh tư  (1840), Minh Mạng băng hà, Thiệu Trị lên nối ngôi. Mới được vài tháng, tức tháng 2 năm tân sửu (1841), từ B́nh Định gởi về kinh  "trước sau hơn 300 lá đơn, xă dân tranh kiện lẫn nhau, đại để kêu ca về phần ruộng rộng hẹp nhiều ít". Tổng đốc B́nh Định  là Đặng Văn Thiêm đề  nghị nên chia lại ruộng và làm lại sổ địa bạ lại lần nữa. Thiệu Trị không nghe, dụ rằng: "Việc quân điền là việc lớn, cốt để làm cho dân ai cũng có tài sản, người giàu người nghèo cũng giúp lẫn nhau. Thực là phép hay của muôn đời. Nay bọn hương hào lư dịch thay đổi thêm bớt, chiếm lấy tiện lợi một ḿnh , làm cho dân nghèo hèn yếu không nhờ vào đâu được , th́ tuy là chia đều mà vẫn không đều, không phải là ư ban đầu đặt ra pháp chế . Lời nghĩ xin của Đặng văn Thiêm tưởng cũng không phải là không có chủ kiến. Nhưng làm việc chính trị, quư ở chỗ có thể thống. Chia từng đoạn, tách làm đôi, vị tất đă hay cả, toàn cấp cho cùng một xứ, vị tất đă dỡ cả. Phải khéo trù tính mà làm, bỏ cái không hay để đến cái hay là được rồi. Vả lại, bắt đầu sửa sang, công việc bận nhiều, có một vài kẻ không ra ǵ, thừa cơ gây ra mối tệ, thế tất nhiên là không tránh khỏi. Bây giờ nên tuỳ nghi châm chước, bỏ nhưng sự ǵ quá lắm ma thôi, hà tất phải thay đổi hết cả, làm cho rối ren, lại thêm náo động phiền nhiên nhiễn một lần nữa" (1). Thiệu Trị bèn sai hai quan khoa đạo có tiếng "hiền năng công chính" là Đặng Quốc Lang và Mai khắc Mẫn đến B́nh Định "hội đồng" làm việc cùng khám xét và giải quyết các khiếu tố

            Đặng Văn Thiêm lại đề nghị về kinh : "Số tư điền, những thữa linh tinh không đầy 1 sào trở xuống, cộng tất cả được hơn 60 mẫu, xin miễn cho khỏi phải cắt ra từng phần nhỏ để quân cấp". Thiệu Trị lại hỏi ư kiến Phạm Thế Hiển và Nguyễn Trạch, họ thưa : "Dân trong hạt đă xin được tuỳ tiện, sổ sách cứ theo như cũ. Nếu đem số ruộng ấy giao cho bọn địa chủ, th́ sổ điền không khỏi một phen thay đổi. Thành ra thêm việc. Vả lại, số ruộng thừa lẻ, không những có thế mà thôi, nếu theo lời xin th́ ngoài 300 lá đơn ấy lại c̣n đơn khác tới tấp khiếu nại, phiền nhiễu không biết thế nào kể". Thiệu Trị cho là phải rồi nói : "Triều đ́nh đối với dân, không có ngại tiếc ǵ, song nếu làm lại sổ sách, không khỏi có bận rộn, cầu cho thôi hẳn việc tranh nhau mối tranh giành vẫn không thôi, không phải là làm cho dân bớt tốn phí vậy. Ruộng đất lấy sổ sách làm nhất định, đem chia ra mà quân cấp lại phải" (2).

 

[ (1) ĐNTL, sđd, tập, XXIII, tr.107-108

(2) ĐNTL, như trên.]

Đặng Quốc Lang và Mai Khắc Mẫn đến nơi hội đồng với các quan đầu tỉnh giải quyết mọi sự tranh chấp. "Đầu tiên trích ra những vụ nhỏ không gây thiện hại ǵ nhiều lắm, phê bác đơn đi. C̣n th́ đều lấy lời hiểu bảo, tuỳ việc phân xử, dân mới thôi không tranh kiện nhau nữa được" . Xong việc về kinh, Lang và Mẫn được Thiệu Trị khen là "lo được gọn việc".

            Tháng 9 năm ất vị (1848), Thiệu Trịbăng hà, Tự  Đức kế nghiệp. Đến tháng giêng năm Tự  Đức thứ 5 (1852), thượng thư bộ H́nh là Đặng Văn Thiêm (nguyên tổng đốc B́nh Định) trở về kinh sau khi đi thanh tra và giải quyết các vụ lợi hại của quan quân và dân chúnh trong địa hạt B́nh Định. Tự  Đức hỏi t́nh h́nh công điền  tự điền nơi ấy thế nào. Thiêm tŕnh :"Lối trước,quân điền,trong 10 mẫu lấy 5 mẫu làm công điền, 5 mẫu làm tư điền. Lâu nay công điền chỗ nào tốt thời cường hào chiếm lấy, hoặc có đám nào lẻ loi lại bị hương lư bao choán, c̣n dân thời chỉ đựơc ruộng xấu mà thôi. Nên thần khiến sửa lại bờ bạn phân minh, để làm cho dân được lợi " (1)

            Tháng 2 cùng năm, Tự  Đức hỏi thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên t́nh h́nh công điền tư điền các tỉnh thế nào. Phiên thưa: "Thừa Thiên, Quảng Trị, th́ công điền nhiều hơn tư điền. Quảng B́nh công tư ngang nhau. Các hạt khác th́ tư điền nhiều hơn mà công điền ít hơn, B́nh Đinh lại càng ít hơn. Cho nên năm trước, Vơ Xuân Cẩn xin chiết lấy năm phần  mười tư điền làm công điền để quân cấp cho binh dân, cốt cho dân có chỗ trông nhờ ". Tự Đức lại hỏi về thuế lệ. Phiên thưa: "Từ  Hà Tĩnh trở ra bắc (tức Đàng Ngoài, NĐĐ), thuế công điền nặng hơn thuế tư điền; từ Quảng B́nh trở vào nam (tức Đàng Trong), thuế công tư điền bằng nhau ". Tự Đức nói: "Ích cho công quỹ không được mấy. Vả triết lấy ruộng tư  xung làm ruộng công, các tỉnh không làm, chỉ làm ở B́nh Định , th́ không khỏi thiệt riêng, muốn trả lại hết th́ thế nào " ?. Phiên thưa: "Thêm bớt không được mấy, lại sinh bận rộn về làm sổ sách ".

            Tự Đức vẫn c̣n băn khoăn, c̣n "muốn ra lệnh cho bộ Hộ, bộ Binh hội bàn nên làm thế nào cho quân dân hai đàng đều có lợi. Hà Duy Phiên (bộ Hộ) và Trương Đăng Quế (bộ Binh) cố xin vẫn để như cũ, vua mới nghe lời" (2).

 

[ (1) ĐNTL, tập XXVII, tr.333-334

(2) ĐNTL, tập XXVII, tr.336 ]

 

II

CÁC ĐỊNH LỆ QUÂN CẤP CÔNG ĐIỀN CÔNG THỔ

            Công điền công thổ và các định lệ quân cấp cho toàn thể dân chúng trong nước là một chế độ sở hữu rất đặc biệt ở Việt Nam xưa. Chế độ này mỗi thời mỗi thay đổi. Sau đây ta chỉ  nghiên cứu chế độ đó dươí triều Nguyễn, chủ yếu ở những ǵ liên quan đến phép quân điền ở B́nh Định.

1.  Định lệ quân cấp công điền công thổ dưới thời Gia Long và Minh Mạng.

            Tháng tư năm kỷ mùi (1804), Gia Long nói với đ́nh thần: "Phép quân điền buổi quốc sơ đă có định chế, từ Tây Sơn, đồ bản sổ sách đều mất bỏ, quan danh không chính, đồ hiệu không minh, những bịn hào hữu tự  ư lấn cướp, dân gian phần nhiều có cái nạn không đều".(1)

            Nay chia khẩu phần chia cho toàn xă dân  theo 28 thứ bậc đại khái như sau:

. Trên nhất phẩm được          .................................. 18 phần.

. Chánh và ṭng cửu phẩm được .............................. 8 phần.   

. Con côi, goá phụ được ............................................................ 3 phần.

 

Tháng giêng năm Mậu Dần (1818), Gia Long định lại lương bổng quan chức chia ra 17 bậc, đại khái lương bổng hàng năm như sau (viết tắt: quan tiền là q, phương gạo là pg, quan tiền để may áo xuân là qax).

. Chánh nhất phẩm                    600q      600pg      70qax

            . Ṭng nhất phẩm                                  360q      360pg      60qax

            . ............................................................................................................

            . Chánh tam phẩm                    120q     120q        20qax

            . Ṭng tam phẩm                        90q       90pg      16qax

 

[ (1) ĐNTL, sđd,tập III, tr.186-188. Những đoạn trích dưới đây cũng vậy.]

            . ............................................................................................................

            . Ṭng ngũ phẩm                         30q        30pg       8qax

            . Chánh lục phẩm                        25q        25pg       7qax

            . ............................................................................................................

            . Chánh, ṭng cửu phẩm                16q       16pg       4qax

            . Hậu bổ                                         22q       22pg      

            . Binh, dịch, thợ, lại, vị nhập lưu  12q       12pg

            Tháng 10 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), bỏ lệ chia khẩu phần công điền (theo định lệ năm 1804 trên đây) cho quan chức đă có lương bổng (theo định lệ năm 1818 trên đây), lư do: "nay người làm quan đă có lương bổng triều đ́nh, mà lại c̣n chia cái lợi công điền với binh dân nơi thôn ấp, th́ theo lẻ phải, tuởng chưa được thoản đáng. Xin những công điền ở các hạt (tại xă thôn), th́ chỉ căn cứ vào sổ binh-dân-lại-dịch chưa được trả lương mà chiếu cố châm chước, định mức quân cấp ... Duy có những quan viên hưu trí, hưu dưỡng không có lương bổng trông cậy được, chuẩn cho đều theo như cũ,quân cấp ruộng cho" (1).

            Tháng 6 năm sau (1840), lại thay đổi định lệ đó, v́ lư do: "Năm trước bộ Hộ bàn cho xă dân các hạt quan cấp công điền, ... (xă dân đều được chia) ... C̣n quan viên, không cứ phẩm chức cao thấp (đều không được dựlấy lẽ là người đă có bổng lộc không nên chia lợi với người không lợi. Duy điền thổ của dân gian, mỗi xă khác nhau,cũng có ruộng đất công tư xen nhau, cũng có xă toàn là công điền công thổ, cho nên các xă thôn không có tư điền tư thổ, từ trước đến giờ, quan lại bingh dân đều làm nhà vườn ở nơi công điền công thổ đă thành cơ chỉ. Nếu quan chức mà nhất khái đ́nh cấp, th́ vợ con ở nhà quê không có tấc đất nào mà ở )". Cho nên nay định lại: "lương điền của lính cứ theo như cũ (năm 1836 định: lính Cẩm y, Giáo dưỡng, Thuỷ sư ... được 8 khẩu phần công điền và 9 sào lương điền; lính cơ ngũ quân, lính vệ địa phương ... được 7 khẩu phần công điền và 8 sào lương điền; lính trạm ... được 7 khẩu phần công điền và 7 sào lương điền; lính thuộc binh, ngự hộ ... được 7 khẩu phần công điền như cũ, không có lương điền). C̣n bao nhiêu điền thổ th́ bất cứ quan lại, binh thợ, dân thực nạp biệt nạp, không kể phẩm trật trên dưới, chia cho mỗi người được 1 khẩu phần. Lăo nhiêu, phế tật được 1/2 khẩu phần. Cô nhi, quả phụ được 1/3 khẩu phần. Trong ấy, bất quan hay dân đă trót làm nhà ở vào nơi công điền công thổ, th́ tính số mẫu sào, khấu trừ vào số khẩu phần đang được chia. Nếu chỗ đất ở không bằng số khẩu phần, th́ sẽ tính cấp thêm, nếu chỗ ở quá số khẩu phần, th́ số quá ấy phải nộp thuế gấp đôi, lấy một nửa nộp nhà nước, một nửa cho dân. Thôn xă không được thấy người ta đă thành cơ chỉ (làm nhà cửa rồi), mà bảo rằng đó nguyên là cong điền cong thổ, lấy lại đem quân cấp” (1)

[ (1) ĐNTL, sđd, tập XXI, trang 221]

            Theo lư thuyết, cách quân phân công điền công thổ cho quan-quân-dân-lăo tật và cô nhi quả phụ như thế thật là nhân đạo và công bằng hợp lư. Tuy nhiên vẫn c̣n xảy ra các vụ tranh kiện lấn chiếm và cường hào thao túng. Lấn chiếm và thao túng th́ ở thời đại nào hay chế độ nào mà chẳng có. Có lẽ, về mặt này, triều Nguyễn đă giảm thiểu tới mức thấp nhất.

5. Số dân và quan dân ở B́nh Định.

            Việt Nam không làm sổ dân số, song lại có sổ đinh tức là đinh bạ. Định chỉ tính nam giới từ 17-18 đến 55-60 tuổi tuỳ theo triệu đại định đoạt. Muốn có sổ dân – cả na phụ lăo ấu -, thường người ta phải nhân lên gấp 5 hay 10 lần, nghĩa là một con số rất phỏng ước. Đinh ở B́nh Định.

            Năm 1819 có 33.300 suất (2)

            Năm 1829 có 39.965 suất (3)

            Năm 1839 có 45.000 suất, phỏng ước

            Năm 1847 có 52.110 suất (4)

            Lập đinh bạ thường phải thông qua một kỳ duyệt tuyển (duyệt dân tuyển lính) khá chu đáo và kỹ lưỡng. Trước hết mỗi xă thôn làm một sổ tuyển ghi “tất cả nhân số các hạng trong xă, như chức sắc, khoa mục, ty lại, binh, đinh, tráng hạng, cho đến người già yếu, trốn, chết, tiểu nhiêu (lùn dưới ba thước – tức 1,26m), xiêu tán mới về, đến tuổi tục thêm, ngụ cư, đều chia hạng liệt kê. Lư trưởng khai kết, cai tổng xét thực. Làm thành 3 bản giáp, ất, bính y như nhau” (1). Thông thường, năm 5 thi hành phép duyệt tuyển 1 lần. Mỗi tỉnh đặt một trường duyệt tuyển. Đúng ngày hẹn , lư trưởng phải đem toàn bộ dân ghi trong sổ lên tŕnh diện, trừ người chết hay quan viên vắng mặt v́ công vụ ở xa. Quan khâm khâm mạng cho gọi tên từng người để tuyển lính và “xét vẻ mặt cùng tật tính nặng nhẹ để làm cac hạng lăo nhiêu, lăo hạng, lăo tật; như người lùn bé không đầy 3 thước, xét thực th́ để làm hạng tiểu nhiêu. Những hạng lăo nhiêu, nhiêu tật, tiểu nhiêu đều miễn trừ binh đao thuế lệ, lăo hạng và tàn tật th́ chịu một nửa”.

            Triều đ́nh đă quy định tuyển lính như sau: “Trừ tỉnh Quảng B́nh trở vào nam đến B́nh Thuận , 3 dân đinh kén lấy một” (2). B́nh Định nằm trong trường hợp này. Như đă nói trên, ta phỏng ước B́nh Định năm 1839 có 45.000 suất đinh, mà 1 phần 3 phải ṭng quân, th́ số lính lấy ở B́nh Định tối đa là 15.000 suất. Con số này ăn khớp với tư liệu của Souvignet đưa ra trên đây.

            Như vậy, lương điền dành cho 15.000 binh linh sgốc B́nh Định sẽ lên tới 12.000 mẫu. Số này phải lấy trong tổng diện tích công điền khi ấy là trên 40.000 mẫu. Công điền c̣n lại 28.000 mẫu, chia ra khẩu phần quân phân cho 45.000 suất đinh và khoản 10.000 phần nữa (10.000 lăo nhiêu, phé tật được 1/2 phần và  15.000 cô nhi quả phụ được 1/3 phần). Trung b́nh mỗi khẩu phần ở B́nh Định được 5 sào ruộng công. Đó thực là một mối lợi đáng kể thời bấy giờ.

            C̣n về quan lại cai trị  B́nh Định xưa, chúng ta có mấy tư liêu  như sau: Tháng giêng năm Gia Long thứ 2 (1803), “vua cho rằn ở B́nh DỊnh trước kia đặt danh sắc quan lại qúa nhiều, bèn chuẩn định cho 2 ty xá lại ở dinh 50 người, tịch sĩ 15 người. Sở thuộc có 1 phủ (Quy Nhơn), 3 huyện (Phù Ly, Tuy Viến, Bồng Sơn), 9 tổng và thuộc. Ở phủ đặt khám lư, chánh đề đốc, đề lănh, phủ kư lục, mỗi chức 1 người. Ở huyện đặt cai huyện, kư huyện, đều 1 người, chánh lại, trực sai đều 15 người. Ở tổng đặt cai tổng 1 người, phó tổng 1 người

1) ĐNTL, sđd, tập VIII, tr.190-195.

2) Đại Nam điển lệ toat yếu, Nguyễn Sĩ Gic dịch. Đại học Luật khoa Si Gịn XB. Si Gịn 1962, tr.445

Ở thuộc đặt cai thuộc một người, kư thuộc 1 người. C̣n bao nhiêu th́ bài hết” (1)

Đến tháng 12 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), đinh lại ngạch ty Phiên và ty Niết ở các tỉnh. Tại B́nh Định, ty Phiên có 3 bát phẩm thư lại, 6 cửu phẩm thư lại, 30 vị nhập lưu thư lại, ty Niết có 2 bát phẩm thư lại, 3 cửu phẩm thư lại, 20 vị nhập lưu thư lại (2)

            Tháng 12 năm Tự Đức thứ 21 (1868) , bớt số quan viên ở B́nh Định,  “bỏ  bơt 4 hậu bổ, để lại số hiện đặt; ở ty Phiên: thông phán, kinh dịch đều 1 người, 3 bát phẩm, 5 cửu phẩm, 27 vị nhập lưu. Ty Chiêm hậu: 1 chiêm hậu sinh, 2 vị nhập lưu. Ty lương y: 1 y sinh, 6 y thuộc. Một tự thừa ở Lễ sinh hiệu, 10 lễ sinh ... Phủ Hoài Nhân (nơi nhiều việc): 1 lại mục, 5 thong lại. Phủ An Nhân (nơi nhiều việc vừa)1 lại mục, 4 thông lại. Ba huyện Tuy Phước, Phù Cát (nơi nhiều việc vừa), Phù Mỹ (nơi ít việc), mỗi huyện 1 lại mục, 3 thông lại. Công tất cả là 130 lại mục” (3). Đó là chưa kể tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, đốc học, tri phủ, tri huyện ... và các chức quan vơ cùng binh lính.

            Quan chức văn vơ và binh lính tới làm việc quan ở B́nh Định đều là người ngoài tỉnh, có lẽ chỉ trừ một số lại mục cấp thấp, lính lệ ở phủ huyện và lính trạm là người địa phương. Tất cả đều đựoc hưởng lương bổng cho công quĩ nhà nước.

            Số quan chức văn vơ quê B́nh Định đương thời có bao nhiêu, chúng ta chưa kiểm kê được chính xác. Trong sách Thống chí về tỉnh B́nh Định chỉ kể tên mấy vị quan nổi tiếng như Vơ Văn Trừ  người huyện Bồng Sơn, lê Đại Cương phủ Quy Nhơn, Hoàng Chiến huyện Phù Mỹ, Trần Quang Chung huyện Tuy Phước, Lê Đ́nh Lư huyện Phù Mỹ, Vơ Văn Hiệu và Ngô Tùng Nho cùng huyện Tuy Viễn, Nguyễn Văn Điểm huyện Bồng Sơn, đều có công với nước (1). Số quan chức chắc không nhiều lắm, v́ đến năm Tự Đức thứ 5 (1852) mới mở thi Hương ở trường B́nh Định, mà khoa cử thường là cửa ngơ dẫn vào hoạn lộ (2).

Nhưng theo một bản sách tuyển lính tháng 5 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), ta thấy lần duỵet tuyển này có 6.646 người B́nh Định  được tuyển vào quân đội. Thường th́ trên dưới 500 người  cùng quê được dồn vào một vệ, hay trên dưới 50 người dồn vào một đội (3). Số binh lính được tuyển vào quân đội đều được hưởng lương bổng nhà nước cấp phát (mỗi tháng trong thời gian trực ban được 1 quan và 1 phương gạo), ngoài ra c̣n được lương điền  và 1 phần công điền ở quê nhà. Xem thế đủ biết chính sách “ngụ binh ư nông”(gửi lính ở nghề nông) được thi hành rất khôn khéo: người lính khi công tác trong quân ngũ có cơm ăn áo mặc, vợ con ở nhà có ruộng nương sinh sống.

III

LỊCH SỬ  NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ QUÂN ĐIỀN

Ở B̀NH ĐỊNH.

 

            Phép quân điền là một sự kiện độc đáo của Việt Nam trong suốt quá tŕnh diễn biến chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta. Nhà Hồ đă thi hành phép hạn điền (không ai được quá 10 mẫu). Nhà Lê định lệ quân cấp công điền. Nhà Nguyễn triệt để tăng cường phép dinh điền (với Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Tiền Hải thuôc Bắc Hà) và phép đồn điền (với Nguyễn Tri Phương khắp nam Kỳ ). Sách sử cảu ta đôi khi có nhăc đến phép tỉnh điền, nhưng đó chỉ là chuyện đời Hạ-Thương-Chu bên Trung Quốc.

            Phép quân điền có thể nói là biến cố “cải cách ruông đất” vô tiền khoáng hậu, chỉ xảy ra một lần, ở B́nh Định, hồi 1839. Vơ Xuân Cẩn được cả vua quan triều đ́nh Huế coi là người đầu tiên kiến nghị việc quân điền. Vậy ta nên biết thêm về Vơ Xuân Cẩn, đặc biệt ở những ǵ liên quan đến vấn đề này.

[ (1) Quốc sử qun Đại Nam nhất thống chí - Tỉnh B́nh Định.

Tu trai Nguyễn Tạo dịch - Nha Văn Hố XB. Si Gịn 1964. TR.98-99.

(2) Cao Xun Dục. Quốc triều hương khoa lục. Nguyễn Thuư Nga, Nguyễn Thị Lm dịch. Cao Tự Thanh hiệu đính v giới thiệu. Nxb. TP. HCM 1993. Tr.83

(3) ĐNTL, Sđd, tập XVIII, tr.157-165.]

Vơ Xuân Cẩn sinh năm 1772, “người huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng B́nh (1). Lúc nhỏ rất chăm học, rồi dậu cống sĩ (tú tài hoặc cử nhân), ở ẩn suốt thời Tây Sơn. Năm đầu Gia Long (1802) được bổ vào Viện Hàng Lâm. Năm 1803 làm tham hiệp trấn Hưng Hoá, rồi làm cai bạ B́nh Định. Năm đầu Minh Mạng (1820), làm hiệp trấn Sơn Nam, sau về kinh làm tả tham  tri bộ H́nh. Năm 1824, làm hiệp trấn Nghệ An, rồi v́ một lỗi nhỏ, bị giáng làm tuyên phủ phủ Hoài Đức (gần Hà Nội), chuyển làm H́nh tả Bắc Thành hữu tham tri bộ Lại. Sau thăng thượng thư bộ Công. Năm 1833, làm tổng đốc B́nh Phú. Năm 1838 đề nghị phép quân điền ở B́nh Định.lúc này Vơ Xuân Cẩn đă 66 tuổi, rất chín chắn, đă 36 năm kinh nghiệm làm quan tại triều ở cả 3 bộ H́nh-Lại- Công và làm việc cai trị tại nhiều tỉnh từ Đàng Trong tới Đàng Ngoài, đặc biệt làm tổng đốc B́nh Phú (B́nh Định – Phú Yên) được 5 năm. Năm 1839, được vời vè kinh làm thượng thư bộ H́nh kiêm quản Viện Đô Sát và làm tổng tài  bộ sử Thực Lục.

            Là quan đầu triều nhưng Vơ Xuân Cẩn vẫn kiên tŕ xin lập phép quân điền tại B́nh Định. Minh Mạng bèn sai cả 6 bộ họp bàn, đưa ra các nguyên tắc cụ thể để thi hành phép quân điền. Vua quan đều nhất trí, khi đă cân nhắc kỹ lưỡng cả về đạo lư lẫn thực tiễn. Sau đó Minh Mạng mới sai Vơ Xuân Cẩn “cùng với tham tri bộ Hộ là Doăn Uẩn đến B̀nh Định thi hành phép quân điền”.

            Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Vơ Xuân Cẩn được thăng thự Đông các đại học sĩ  (chánh nhất phẩm), vẫn giữ bộ H́nh, rồi gia hàm Thái tử Thái bảo (trên nhất phẩm). Mặc dầu đă 70 tuổi, xin hưu, nhưng Thiệu Trị không cho.

            Năm Tự Đức thứ nhất (1848), Vơ Xuân Cẩn dang sớ xin bổ dụng con cháu Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, lê Chất (những người đă bị án oan uổng). Tự Đức nghe theo lời cương trực. Năm 1853, Vơ Xuân Cẩn khi ấy đă 81 tuổi, xin về hưu, sau 50 năm phục vụ dưới 4 đời vua triều Nguyễn. Bốn tháng sau, ông qua đời tại quê nhà; đàu làng ông, vua cho đề bia đá “Tứ triều nguyên lăo”(ông lăo có đức lớn của bốn triều).

[ (1) Quốc sử qun triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện. Viện sử học VN chủ tŕ dịch thuật. Nxb Thuận Hố, 1993. Tập. Tr.224-229]

            Quân điền ở B́nh Định quả là sự nghiệp “trác dị” của Vơ Xuân Cẩn, xong cũng là công tŕnh tập thể của vua quan – những người lănh đạo đương thời. Quân điền ở B́nh Định coi như ổn định từ 1840 đến 1945, mặc dầu có phải sửa sai, đôi chỗ c̣n kiện cáo tranh tụng. Sau đay là mấy giai đoạn nghiên cứu “phép quân điền” ấy.

 

1. Năm 1900, trong tập san Revue Indochinoise, giáo sĩ­ Souvignet viết bài “Đại cương lịch sử về việc chia ruộng ở B́nh Định thành công điền và tưu điền” (1). Có lẽ, với tài liệu thu thập được từ toà sứ hoặc dinh tổng đốc B́nh Định, Souvignet  đă có thêm số liệu khá chính xác  để so sánh t́nh h́nh điền thổ năm 1839 với năm 1900, đồng thời cũng phên b́nh biến cố quân điền do “lănh tổng đốc ” (Vơ Xuân Cẩn) đă thực hiện.

 

            Souvignet đă ghi được khá cụ thể : 1839 ... “tỉnh B́nh Định có 5.200 mẫu công điền so với 71.400 mẫu tư điền. Đó là sở hữu của kẻ giàu, c̣n người nghèo th́ không có chỗ đất cắm dùi. Trong số binh lính, chỉ có 5.500 người có lương điền, c̣n 9.500 người khong có ǵ”. Hồi 1900, “B́nhĐỊnh có 81.690 mẫu ruộng nộp thuế hằng năm 24.449 quan 3 tiền và 67.225 hộc 7 thăng thóc”. Như vậy quan 61 năm (1839 –1900), ruộng ở B́nh Định chỉ tăng 5.090 mẫu ! Quả là quá ít so với sự gia tăng dân số: năm 1839 có 450.000 người  (số phỏng tính)so  với năm 1895 có 800.000 người (số do Souvignet đưa ra).

 

            Năm 1930, nhà nông học Yves Henry cho ấn hành thiên điều tra đồ sộ về t́nh h́nh ruộng đất và nông nghiệp  ở Đông Dương. Ông đă lên được các bản thống kê phân tích công điền với tư điền từng tỉnh. Riêng B́nh Định có 36,44% ruộng là công điền so với Phú yên chỉ có 8,27% và quảng Trị có tới  98,72%. Song ông không nói v́ sao có sự khác biệt và không đă động ǵ đến vấn đề quân điền ở B́nh Định năm 1839(2).

 

            Năm 1936, Pierre Gổuu viết luận án tiến sỹ địa lư nhân văn rất đặc sắc về “nông dân ở Bắc Kỳ”, và năm 1939, Vũ Văn Hiền ấn hành luận án tiến sỹ luật khoa về “Sở hữu xă thôn ở BắcKỳ ”. Tất nhiên hai tác giả này đều không nói ǵ đến phép quân điền ở B́nh Định hồi 1839 (1).

            2. Năm 1951, Nguyễn Thiệu lâu viết một thiên khảo luận khá quan trọng đăng trong tập san Viện Viễn Đông Bác cỏ Pháp (BEFEO) với nhan đề  “cải cách ruộng đát hồi 1839 tại B́nh Định”(2). Đây là một công tŕnh nghiên cứu đứng đắn, khoa học, xong tác giả tự nhận  “không thông hiểu chữ nho để học sử  Thực Lục, đọc hồ sơ lưu trữ tại Nội các Huế gồm các sớ tâu hoặc các cuộc tranh luận của quan chức và cả những thổ địa bạ cũ của thôn ấp B́nh Định nữa”. Tác giả chỉ sử dụng sách Quốc triều chính biên toát yếu của Bộ Học, triều đ́nh Huế cho ấn hành hồi 1925. NHư vậy, tư liệu c̣n khá hạn chế, và, v́ thế. Có thể dẫn tới những nhận định phiến diện hoặc sai lạc.

            Do đó, Nguyễn Thiệu Lâu "mong rằng, ngày nào đó, sẽ có một gia sư trở lại đề tài (quân điền) này và dành cho nó một công tŕnh triển khai xứng đáng hơn".

            Cũng năm 1951, Vũ Quốc Thúc cho xuất bản luận án thạc sỹ luật khoa về "Kinh tế nông thiôn Việt Nam", song không nói ǵ đến quân điền năm 1839 ở B́nh Định, v́ đây không phải đề tài có liên quan (3)

            Năm 1968, thạc sỹ sử học Nguyễn Thế Anh cho ấn hành cuốn "Kinh tế và xă hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn". Tác giả có nắhc đến vụ "trích lấy một nửa tư điền sung công mà không bồi thường cho chủ ruộng" tại B́nh Định hồi 1839. Song tác giả không chủ ư đi sâu vào vụ này, nên chỉ nói lướt qua và trích dẫn Quốc triều chánh biên thôi (4).

3. Cuối năm 1992, đánh dấu việc nghiên cứu lại phép quân điền ở B́nh Định. Trong buổi trao đổi giữa các giáo sư Léon Vandermeersch giám đốc viện Viễn Đông Bác cổ Pháp  với một số nhà khoa học Việt Nam tại trụ sở Liên hiệp cac Hội Khoa học và Kỹ thuật Tp. HCM vào mùa hè năm 1989, chúng tôi đă đưa ra giới thiệu công tŕnh của ḿnh về "Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn".Lúc ấy, chúng tôi đă hoàn tất phần Lục tỉnh Nam Kỳ và thâu thập đủ dữ kiện để hoàn thành 13 tỉnh Miền Trung. Giáo sư  Vandermeersch đă đề nghị cho in bản tóm tắt phần Nam Kỳ Lục tỉnh vào tập san của Viện (1) và lấy Địa bạ tỉnh B́nh Định làm một trong những đè tài nghiên cứu kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Viện.

            Cuối năm 1992, trong cuộc Hội thảo quốc tế về văn hoá Việt Nam, tại Hà Nội, để kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, giáo sư  Phan Huy Lê  đă "Phân tích các bản địa bạ của Kiên Mỹ, b́nh Định" (trước và sau quân điền), và chúng tôi đă tŕnh bày vấn đề Quân điền tại B́nh Định hồi 1839 (3).

            Vậy là trên 40 năm sau mới có người đáp ứng sự mong mỏi chính đáng của nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu.

            Nay chúng tôi xin mạo muội giới thiệu với quư học giả và bạn đọc tập Nghiên cứu địa bạ B́nh Định này, với tất cả những sai lầm và thiếu sót (chẳng hạn chưa dịch được trọn vẹn 1.222 quyển địa bạ) v́ những hạn chế của khả năng. Theo tinh thần Nguyễn Thiệu Lâu, chúng tôi cũng cầu "mong rằng, ngày nào đó, sẽ có một (hoặc nhiều) sử gia trở lại đề tài quân điền nàyvà dành cho nó những công tŕnh triển khai xứng đáng" với một vùng "địa linh nhân kiện" từng là địa bàn cho kinh đô Chà Bàn và Trương Ương Hoàng Đế, với những anh hùng áo vải từng dẹp quân Xiêm ở miền Nam và đại phá quân Thanh ơ miền Bắc.

[ (1) Nguyễn Đ́nh Đầu. Remarques sur les registres cadastraux des six provinces de la Cochinchine. Bulletin de l' EFEO, tome LXXVIII. Paris 1991, pp.275-285.

(2) Phan L Huy. Analyse des cadastres de Kim Mỹ (B́nh Định) - Nguyễn Đ́nh Đầu. Partage des rizie`res publiques et registres prive'es a`B́nh Định au cours de l'anne'e 1839. Đều in trong le village traditionnel au Việt Nam/The traditional village in VietNam. H Nội, 1993]