TỰA
Năm
1985, tôi trực tiếp nghiên cứu toàn bộ Địa
bạ triều Nguyễn gồm 10.044 tập. Sau khi làm xong
6 tỉnh Nam Kỳ chỉ với 484 tập, tôi ngạc
nhiên thấy số địa bạ dành cho B́nh
Định - một tỉnh
trung b́nh trong 30 tỉnh lúc lập Địa bạ -
nhiều tới 1.222 tập! Nghiên cứu kỹ rồi
sắp xếp lại, hoá ra B́nh Định có 2 bộ
Địa bạ: một bộ lập năm 1815 khi c̣n là trấn
và một bộ lập năm 1839 khi đă đổi thành tỉnh.
Theo phương pháp định lượng và so sánh, tôi lên
các bảng thống kê chi tiết từng thôn/ấp. Có thế mới hiểu được phép quân
điền đem thi hành tại B́nh Định năm
1839 - lần duy nhất trong lịch sử chế
độ sở hữu ruộng đất của
nước ta.
Năm
1992, Viện Khoa học Xă hội Việt Nam mời tôi báo
cáo về phép quân điền tại B́nh Định nhân
dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Viện Viễn
đông Bác Cổ Pháp, v́ cả hai Viện đánh giá là công
tŕnh có giá trị đặc biệt để t́m hiểu
chế độ ruộng đất nói riêng và nên văn
minh Việt Nam nói chung.
Năm
1996, sách Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn
gồm 3 tập cộng 1.352 trang được ấn hành
và được học giả trong cũng như ngoài
nước đánh giá là có đóng góp tích cực.
Năm
1998, nhân dịcp kỷ niệm 100 năm xây dựng Thành
phố Quy Nhơn, tôi được hân hạnh báo cáo
về Phép quân điền tại B́nh Định
trước sự hiện diện của Quư vị lănh
đạo cao nhất tỉnh nhà. Tôi kết luận
đại khái: Trên 160 năm
trôi qua, bao nhiêu chế độ đă đổi thay,
nhưng tâm thức "chia
ruộng nhường cơm xẻ áo cho nhau" của
nhân dân B́nh Định vẫn c̣n thấm thía. Nên chăng
bảo lưu nếp văn hoá đạo lư đó,
để nêu một tấm gương chung
cho cả nước.
Cuối
năm 1999, tôi được đề nghị viết
một tập trong công tŕnh Địa chí tỉnh B́nh
Định về đề tài Địa bạ và phép
quân điền xưa. Đay là một vinh dự, song
cũng là một trách nhiệm: phải viết lại
đề tài sao cho vừa khoa học vừa mang tính
phổ biến thích hợp cho một công tŕnh Địa
phương chí lớn.
Đề
tài nghiên cứu Địa bạ và phép quân điền
xưa tại B́nh Định nay vừa hoàn tất trong khả
năng hạn chế, song thực hiện với tất
cả tấm ḷng kính phục đất nước và
con người B́nh Định. Mong rằng học
giả và độc giả trong cũng như ngoài B́nh
Định chỉ bảo cho những sai nhầm và
thiếu sót, để tôi được học hỏi
thêm. Xin chân thành cảm tạ.
TP. Hồ Chí
Minh, ngày
Nguyễn
Đ́nh Đầu
PHÀM LỆ
I
CÁCH GHI DIỆN TÍCH
Ghi diện tích bằng mầu sào thước
tấc, th́ dùng con số và cách nhau bằng một dấu
chấm (.). Thí dụ:
216
mẫu 7 sào 14 thước 3 tấc
5 phân 9 ly
7 sào 6 hốt 216.7................. 14.3.5.9.7.6
4 sào 7 tấc ........................................................... 0.4. 0.7
2 mầu 3 thước ...................................................... 2.0 3.0
1200 mẫu...........................................................
1200.0. 0.0
Đường thiên lư ................................................... 1.354 tầm
4 thước
Ao nuôi cá 125 khẩu ......................................... 125 khẩu
Văn Thánh miếu 1 sở
......................................... 1
sở
Rừng chằm, g̣ đ̣i, mộ địa 3 khoảnh ................. 3 khoảnh
II
BIỂU
ĐO RUỘNG ĐẤT ĐƯƠNG THỜI
Đo
đong cân đếm của ta xưa là vấn đề
khó phức tạp, v́ mỗi nơi, mỗi lúc một khác (1).
Chúng tôi lập biểu sau đây để t́m hiểu các
đơn vị đo lường dùng trong địa bạ và thu
thuế theo định chuẩn từ đầu triều
Nguyễn. Việt
[ (1)
Nguyễn Đ́nh Đầu, Góp phần nghiên cứu
vấn đề đo, đong, cân, đếm của
Việt
Thước
mộc (mộc xích) đổi ra hệ mét dài 0m 424
Thước
ruộng (điền xích) đổi ra hệ mét dài 0m 4664
Thước
may (phùng xích) đổi ra hệ mét dài 0m 636
BIỂU ĐO
DIỆN TÍCH BẰNG THƯỚC RUỘNG 0 m 4664
|
Tên
đơn vị |
Ruộng
bằng |
Mỗi
cạnh |
Đổi ra hệ mét (m2) |
|
Mẫu (mẫu) Sao (cao) Thước
(xích) Tấc
(thốn) Phân Ly Hào Hốt Ty Miếng (khẩu) Than Ghế, ô, khâu Gang |
10 sào 15 thước 10 tấc 10 phân 10 ly 10 hào 10 hốt 10 ly 9 than 25 ghế 1 thước vuông |
150 th x 150 th 15 th x 150 th 1 th x 150 th 1 tấc x 150
th 1 ph x 150 th 1 ly x 150 th 1 hào x 150 th 1 hốt x 150
th 1 ty x 150 th 15 th x 15 th 5 th x 5 th 1 th x 1 th 5 tấc x 5
tấc |
4894,4016 489,44016 32,639344 3,2639344 0,3263934 0,032639 0,003263 0,000326 0,000032 48,944016 5,438224 0,127528.96 0,054382.24 |
Trong
phần thứ nhất của biểu trên ,
chỉ có mẫu là vuông cạnh, c̣n sào, thước,
tấc là h́nh chữ nhật. Trong phần hai, khẩu, than,
ghế, gang đều vuông (xem h́nh vẽ kèm đây).
BIỂU ĐO
CHIỀU DÀI BẰNG THƯỚC MỘC
Thước 0 m 424
Tầm,
bằng 5 thuớc 2 m 12
Trượng,
bằng 2 tầm 4 m 24
Năm 1897. Thực dân Pháp
thực hiện chính sách khai thác thuộc địa lần
I ở Việt
[H́nh
vẽ]
Năm 1930, khi
điều tra ruộng đất để biên soạn
sách Kinh tế Nông nghiệp ở Đông Dương (1),
Yves Henry đă phải dùng 3 thứ đơn vị
diện tích ruộng đất khác nhau:
-
Mẫu ở Bắc Kỳ rộng 3.600m2
-
Mẫu ở Trung Kỳ rộng 4.970m2
-Mẫu
Tây tức hécta ở Nam Kỳ rộng 10.000m2
[ (1) Yves Henry, Economie Agricole de L/Indochine, Hà
Nội, 1932.Các trang 118.210]
Có lẽ mẫu ở Bắc Kỳ
là theo quyết định của toàn quyền năm 1897. Mẫu
ở Trung Kỳ vẫn giữ nguyên thước
định chuẩn từ trươc thời Pháp, trung
b́nh là 4.970m2. Henry đă điều tra thấy
mẫu của một số làng trong tỉnh Quảng Nam
rộng 4.865m2, và mẫu của số làng trong
tỉnh Quảng Ngăi rộng tới 7.000m2. Khi
ấy, sở Địa Chính chưa đo đạc xong
các tỉnh Bắc Kỳ và mới bắt đầu
tiến hành ở Trung Kỳ. C̣n Nam Kỳ, việc
chuyển đổi từ mẫu ta sang hécta (10.000m2)
đă hoàn thành. Cho nên Henry cho rằng các biểu so sánh
sở đất và sở chủ của 3 Kỳ chỉ có
giá trị tương đối.
C̣n mẫu trong
sưu tập Đại bạ của cả nước
thiết lập từ 1805 đến 1836, rộng 4.894m2
4016, v́ triều Nguyễn đă lấy 1 cái thước
có từ thời Lê để định chuẩn và làm ra
một quan điền xích (0
m 1664) làm kích thước đo ruộng đất chung cho
toàn quốc (1).
III
CÁCH GHI TÊN ĐẤT
Các đơn vị tỉnh, phủ, huyện,
tổng, thuộc, sẽ đặt trước tên. Thí
dụ:
Tỉnh B́nh Định.
Phủ Hoài
Nhơn.
Huyên Đông
Xuân.
Tổng Trung Tĩnh.
Thuộc Hà Bạc.
Các đơn vị hành
chính cơ sở như xă,thôn,phường,ấp,điếm,hộ,trại...
th́ đặt sau tên, để việc tra cứu theo
mẫu tự la tinh cho dễ. Thí dụ :
Tân
Khai thôn
Hanh Thông xă
Tân Lộc phường
B́nh Thuyên ấp.
Tên đất dù gồm mấy chữ cũng
viết hoa hết. Thí dụ :
Tân
Định thôn.
Tây Sơn Nhất thôn.
Xuân Thới Đông thôn.
Hầu
hết địa danh hành chính ghi bằng chữ Hán
để lấy ư nghĩa tốt đẹp (mỹ tự ). C̣n tên xóm hay miệt (trong
địa bạ ghi chung là xứ), th́
thường dùng chữ nôm. Thí dụ :
Nước Ngọt phụ luỹ khách
hộ ấp.
Đá Lữa xứ.
Đồng Giữa Cây Me xứ.
IV
CÁCH
GHI CÁC LOẠI HẠNG RUỘNG ĐẤT
Có những loại hạng
ruộng đất có thể dịch nôm mà không gây ngộ
nhận, như :
Thảo điền : ruộng cỏ,
ruộng thấp hay ruộng sâu.
Sơn điền : ruộng núi,
ruộng g̣ hay ruộng cao.
Diêm điền : ruộng muối.
Tang căn thổ :
đất trồng dâu ( nuôi tằm).
Giá thổ : đất
trồng mía (làm đường).
Phù viên thổ :
đất vườn trồng trầu không.
Viên lang
thổ : đất vườn trồng cau.
Vu đậu thổ : đất trồng
khoai đậu.
Ba tiêu thổ :
đất trồng chuối.
Thanh trúc thổ : đất trồng tre
nứa.
Da diệp thổ :
đất trồng dừa lá.
Viên tiêu thổ :
đất vườn trồng tiêu.
Thổ
trạch : đất vừa để
ở vừa để trồng trọt linh tinh. Dân cư thổ đất để nhân dân
ở (chỉ có vườn cảnh nhỏ).
Mộ
địa hay thổ mộ : đất nghĩa trang.
Lâm tẩu : rừng chằm,
bưng chằm, rừng sát.
Lâm lộc : rừng già
gần chân núi đồi.
Thổ phụ :
đất g̣ nổng.
C̣n nhiều
loại hạng ruộng đất phải giữ nguyên danh xưng, để
tránh sự hiểu nhầm, v́ mỗi loại hạng có qui
chế pháp lư hoặc mức thuế khác nhau. Thí dụ :
QUAN ĐIỀN, QUAN THỔ, QUAN
VIÊN THỔ, QUAN XĂ THỔ ...
CÔNG ĐIỀN, CÔNG THỔ, CÔNG
THẢO ĐIỀN, CÔNG SƠN ĐIỀN...
BỔN
THỔ ĐIỀN, BỔN THÔN THỔ.
TỊCH
ĐIỀN, TIÊN NÔNG ĐÀN THỔ, THẦN TỪ THỔ,
PHẬT TỪ
THỔ, XĂ
TẮC ĐÀN THỔ, THÀNH HOÀNG MIẾU THỔ
...
ĐỒN
BẢO THỔ, THỊ TỨ THỔ ...
Hai
loại đất dân cư thổ và thổ
trạch, nếu dịch nôm, cũng dễ lẫn nhau.
Nêu để nguyên danh xưng.
V
CÁCH PHIÊN ÂM
ĐỊA DANH
Tuỳ
theo địa phương:
Chắc
c̣n nhiều sơ sót, tuy chúng tôi đă phiên âm theo tập quán
địa phương như: B́nh Định, Quy Nhơn,
An Chiểu, Huỳnh Giản, B́nh Thạnh, Phước
Điền, Thời Hoà, Hiệp An, Tấn Phát, v.v...
NHỮNG
CHỮ VIẾT TẮT
1. Tên riêng: 2. Tên các loại ruộng
đất:
AN NHƠN AN Công
điền CĐ
B̀NH HÀ BH Công thổ CT
B̀NH KHÊ BK Dân cư thổ DCT
BỒNG
SƠN BS Dân cư thổ
trạch DCTT
ĐỊNH
SƠN ĐS Diện tích DT
HÀ BẠC HB Diện tích thực
canh DTTC
HOÀI NHƠN HN Quan điền QĐ
PHÚ PHONG PP Quan thổ QT
PHÙ CÁT PC Quan viên lang
thổ QVLT
PHÙ LY PL Toàn diện tích TDT
PHÙ MỸ PM Tư điền TĐ
SƠN
ĐIỀN SĐ Tư thổ TT
THỜI
ĐÔN TĐ Tam Bảo Điền TBĐ
THỜI HOÀ TH Thảo quản
điền TQĐ
THỜI TÚ TT Trang Trại
Điền TTĐ
TRUNG AN TA 3- Các chữ khác:
TRUNG B̀NH TB
TRUNG ĐỊNH TĐh Chính hộ c.h (ch)
TRUNG TĨNH TrT cho
nơi khác cnk
TUY HÀ TyH diêm tiêu dt
TUY
PHƯỚC TP địa
bạ đb
TUY VIỄN TV Đông Đ
VÂN
DƯƠNG VD khách hộ k.h (kh)
VĨNH
VƠNG NHI VN
mất
địa bạ mđb thuộc thc
phụ
luỹ pl Thượng Th
phường ph tổng tg
tây T Trung Tr
thôn th tứ chánh tc
ương thổ ưt
Dẫn nhập
Đến triều Nguyễn, nước Việt
Công
cuộc đạc điền và lập địa bạ
cho khoảng 16.000 xă thôn toàn quốc phải tiến hành
suốt 31 năm (1805-1836) mới xong. Các số
địa bạ gôm lại thành 10.044 tập,
được lưu giữ cẩn thận trong Tàng thư lâu ở nội thành Huế.
Địa bạ xá định quyền sở hữu trên
từng thước đất và tượng trưng cho
cương thổ thiêng liêng " bao
nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu" , nên
đươcnhà nước xưa tran trọng bảo
quản.
Số 10.044
tập điạ bạ chia ra :
- Bắc
Bộ mang kư hiệu DB
có 4.296 tập.
- Trung
Bộ mang kư hiệu DT có
5.264 tập.
-
Riêng B́nh
Định - một tỉnh
cỡ trung b́nh - mang kư hiệu
DT1 có tới 1.222 tập (tức gần 3 lần Nam Kỳ
lục tỉnh và gần 1/4
cả 12 tỉnh Bắc Kỳ). Hầu
như vô lư.
Chúng
ta biết rằng địa bạ chỉ làm một
lần đẩ xác lập quyền sở hữu và ranh
giới, c̣n điền th́ làm hằng năm
để tính thuế. Bộ 10.044
tập là địa bạ chứ khong phải điền
bạ. Vậy tại sao B́nh Định
có số địa bạ nhiều đến thế?
Nghiên cứu kỹ và lên phiếu từng sổ một,
chúng ta mới thấy khắp nơi chỉ làm địa
bạ 1 lần, riêng B́nh Định lập đại
bạ 2 lần: một lần năm 1815 và một lần
năm 1839 tức là vào lúc thi hành phép quân điền
ở tỉnh này. Do đó, số sổ địa bạ
gần như gấp đôi số thôn ấp.
PHÉP
QUÂN ĐIỀN Ở B̀NH ĐỊNH
Sau khi tính kỹ, triều đ́nh
cho thi hành phép quân điền ở B́nh Định. Ch́nh
sử ghi là tháng 11 năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Vơ Xuân
Cẩn, lănh tổng đốc B́nh phú , đề nghị:
"một hạt B́nh Định, công điền chỉ
có trên 5 ngh́n mẫu mă mà ruộng tư điền trên 7
vạn 1 ngh́n mẫu. Tư điền thường bị
bọn hào phú
chiếm cả, người nghèo không nhờ
cậy ǵ. Xin lượng xét định qui chế, phàm
tư điền dịnh hạn cho 5 mẫu, ngoài ra làm công
điền cả, chia cấp cho b́nh dân để làm lương
điền, khẩu phần điền giúp cho (tất
cả) sinh sống (1). Minh Mạng tỏ ư dè đặt : "Đời xưa chia
ruộng cho dân làm ăn sinh sống, khiến cho có của
b́nh thường, có ḷng b́nh thường, thực là ư
tốt. Nhưng ngày nay ngày xưa sự
đời khác nhau, phép tỉnh điền (2)
đă bỏ ở đời Tần, trải qua
Hán-Đường-Tống về sau, vẫn không làm
lại được. Tóm lại là v́ đời khác
việc khác, có làm cũng không được; huống chi
tư điền là sản nghiệp đời
đời, năm tháng đă lâu, số sách dă thành, nay vô
cớ cắt lấy của riêng, vốn liếng làm ăn
khó nhọc của người ta, chắc sẽ không làm cho
ai được yên ḷng. Mà một phen thay
đổi như thế, sợ chưa thấy lợi,
đă thấy thêm nhiễu sự triền miên. Việc ấy thực không thẻ làm
được".
Việc quân điền ở B́nh Định
đành bỏ đấy. Nhưng năm sau, Vơ Xuân Cẩn
được gọi về kinh giữ chức
thượng thư bộ H́nh kiêm quản Viện Đô
Sát. V́ hiểu rơ t́nh h́nh quá bất công về
ruộng đất ở B́nh Định, Xuân Cẩn
tiếp tực ráo riết vận động. Minh
Mạng "ngại là khó làm,ngần
ngừ chưa quyết. Đến nay bộ
Hộ tâu là có thể làm được, bèn sai 6 bộ
họp bàn". Sáu bộ bàn kỹ rồi đề
nghị phếp yiến hành : "
Những thôn nào có công điền ngang hoặc nhiều
hơn tư điền th́ không cần cắt lấy. Những thôn có tư điền nhiều hơn
công điền, th́ công điền cứ để nguyên
quân cấp như cũ, c̣n tư điền th́ cắt
lấy một nữa (cho vào công điền). Gián hoặc dẫn đinh nào không có ruộng
đất, hoặc có đất mà không có ruộng, cùng là
số người nhiều mà ruộng ít, th́ nhằm
chỗ cận tiện (ở thôn gần đấy) trích
lấy công điền hay trang trại điền mà
cấp cho họ. Như vậy binh dân
đều được lợi cả". Bầy
giờ Minh Mạng mới nghe theo và
quyết ư làm.
[ (1)
Quốc sử quan triều Nguyễn, Đại
(2) Ruộng chia theo h́nh chữ tỉnh
thành chín phần]
Tháng 7 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thượng thư Vơ Xuân Cẩn và tham tri bộ Hộ là Doăn Uẩn lên đường đi B́nh Định thi hành phép quân điền như vua quan đă suy tính và rạch ra đường hướng phương cách. Trước khi đi, Vơ Xuân Cẩn tŕnh bày: "Ruộng trong hạt ấy, thế không thể nhất thiết chia đều được. Ấp nào may được số ruộng hơi nhiều th́ đến kỳ quân cấp, tuân theo qui chế, chia hạng cấp suốt lượt. Ấp nào ruộng hơi ít , th́ trước hết cấp lương điền cho lính c̣n thừa mới cho cấp khẩu phần. Ấp nào ruộng rất ít , th́ chỉ cấp ruộng lương lính thôi. Tựu trung, ấp nào ở xa cách không có công điền hay trang trại, th́ xin nhắm vào những ấp có nhiều công điền ở gần cạnh, trích lấy vài mẫu hoặc ruộng trong số cũ, hoặc ruộng mới cắt lấy, hoặc công điền bỏ hoang mới trưng lại, chia cấp cho làm công điền. C̣n như tư điền, dù là ruộng công thần, thế tộc, cũng đều cắt lấy một nửa". Minh Mạng đều nghe theo và lưu ư: "Duy có ruộng của khai quốc công thần là Đào Duy Từ để lại làm ruônghj hương hoả, nếu cắt lấy th́ chuẩn trả cho mỗi mẫu 50 quan tiền, giao cho con cháu là Đào Duy Nhẫm để sắm sửa việc thờ cúng".
Sau khi tới B́nh Định, Vơ Xuân Cẩn dâng sớ về triều, nói: "Đă cho đ̣i tổng lư và các phú hộ đến hiểu dụ về đại ư việc quân điền, chúng đều vui vẻ thoả thuận". Minh Mạng dè dặt cho ư kiến: "Lẽ thường xưa nay, những binh dân không có ruộng, nay bỗng có ruộng th́ vui mừng là lẽ cố nhiên. C̣n như những kẻ bị cắt ruộng của ḿnh đem cho người khác, mà cũng vui mừng thoả thuận , th́ h́nh như chưa phải xuất phát từ ḷng chân thành. Ư hẳn ư trời tựa nước nhà, đă mở bảo từ trong bụng họ chăng?". Minh Mạng lại sai cấp thêm bạc làm lộ phí cho cả đoàn kinh phái (như Cẩn trước được cấp 10 lượng, nay cấp thêm 40 lượng ...) và tăng thêm nhân viên làm sổ sách, v́ thấy việc quân điền ở B́nh Định thật là quan trọng. Toàn tỉnh B́nh Định có 678 thôn ấp, trừ 30 thôn ấp có công tư điền ngang nhau, 1 ấp xiêu tán, 2 ấp không giản (gọi) lính, c̣n số thôn ấp cần chia ruộng là 645.
Chỉ 3 tháng sau, tức đến tháng 10,
đoàn khâm phái Vơ Xuân Cẩn trở về kinh, tŕnh:
"Việc quân điền ở B́nh Định đă hoàn
thành". Minh Mạng vui mừng trọng
thưởng cho cả đoàn. Riêng Vơ Xuân Cẩn
đựơc coi
"là người đầu tiên kiến
nghị việc này" nên được thưởng
thăng cấp "trác dị". Nhân dịp, Minh Mạng
dụ với nội các rằng: "Làm vua cai trị dân,
lấy việc thi ân huệ cho dân làm bụng nghĩ, há
nỡ để một người không có nơi ăn
chốn ở. Xét việc bao chiếm ruộng đất
là thói quen đă lâu, bọn cường hào độc
chiếm mối lợi, th́ kẻ cùng dân không trông vào đâu
mà sống được. Cái tệ này ở B́nh
Định lại càng quá lắm ... Cônbg việc (quân
điền) bề bộn, thế mà mới có mấy tháng
đă được xong xuôi, không phải là dân t́nh
đều biết vui việc nên vui, lợi việc nên
lợi mà được như vậy ư
?". rồi Minh Mạng truyền
dụ cho những ai có tư điền bị sung công
một nửa th́ cứ tiếp tục cày cấy, sang
năm mới phải chuyển vào công điền để
quân cấp cho mọi người cày cấy nộp
thuế".
Về thuế má ở B́nh Định , Minh Mạng hỏi
thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên cho biết là
sau quân điền tăng hay giảm. Phiên thưa:
"hạt ấy trong sổ cũ, công 6-7 ngh́n mẫu, tư
điền hơn 9 vạn mẫu. Nay lấy
một nửa tư điền làm công điền đáng
phải được trên dưới 4 vạn mẫu.
Nói về đại lược so ra th́
thuế điền ít đi, thuế đinh nhiều ra.
V́ từ
trước đến giờ, các tỉnh
trở vào nam, mức thuế công điền ngang bằng
tư điền, duy có thuế quan điền th́ cao
hơn công điền. Nay quan điền đă chuyển
làm công điền th́ ngạch tuy có tăng, nhưng số
thuế thu nhập lại kém đi. Dân
sở tại trước kia thuế thân người có
công điền cao hơn người không có công
điền, nay
đem chia công điền th́ dân trong sổ ai
cũng có ruộng, cho nên số thuế bị giảm,
nhưng số dân đinh lại tăng lên". (Với
tư liệu thu thập tại B́nh Định , Souvignet
đă cung cấp thêm thông tin : khi ấy B́nh Định có
5.200 mẫu công điền và trên 71.400 mẫu tư
điền của kẻ giàu có, c̣n người nghèo th́
khôngc ó đất cắm dùi, và trong số lính tráng, chỉ
có 5.500 người có lương điền , c̣n 9.500
người không có) (1). Minh mạng nói:
"phép quân điền là muốn chia lợi cho dân , chứ thuế hôm nay hơn hay kém đi
không phải là điều đáng so tính". Rồi Minh
Mạng lại thêm: "hôm vừa rồi ty Tam pháp tâu là dân
hạt ấy có gởi đơn kín đến kinh khiếu nại, thế mà
trước đây Vơ Xuân Cẩn nói dân gian hết thảy
đều vui vẻ, thoả măn, thực cũng chưa
được đúng. Có điều công việc buổi
đầu, kẻ tiểu dân bo thiết
với những cái lợi hại riêng, điều đó
cũng là thường t́nh, bất tất phải xét kư.
Triều đ́nh làm việc, làm thế nào cho mọi
người đều vừa ḷng được cả ư ?" (2).
[ (1) RP Souvignet, Aperu historique sur le partage des rizires de
B́nh Định en rizires commuunes et en rizires particulires.
Trong Revue Indocchinoise, 1er trimestre 1900.pp. 596-598. in lại
ở cuối sách trong phần phụ lục.
(2) ĐNTL, sđd, tr.259-261 ]
Tháng 12 năm canh tư (1840), Minh Mạng băng hà,
Thiệu Trị lên nối ngôi. Mới được vài
tháng, tức tháng 2 năm tân sửu (1841), từ B́nh Định
gởi về kinh
"trước sau hơn 300 lá đơn, xă dân tranh
kiện lẫn nhau, đại để kêu ca về
phần ruộng rộng hẹp nhiều ít". Tổng
đốc B́nh Định là
Đặng Văn Thiêm đề
nghị nên chia lại ruộng và làm lại sổ
địa bạ lại lần nữa. Thiệu Trị
không nghe, dụ rằng: "Việc quân điền là
việc lớn, cốt để làm cho dân ai cũng có tài
sản, người giàu người nghèo cũng giúp
lẫn nhau. Thực là phép hay của muôn đời. Nay
bọn hương hào lư dịch thay đổi thêm bớt,
chiếm lấy tiện lợi một ḿnh , làm cho dân nghèo
hèn yếu không nhờ vào đâu được , th́ tuy là
chia đều mà vẫn không đều, không phải là ư
ban đầu đặt ra pháp chế . Lời nghĩ xin
của Đặng văn Thiêm tưởng cũng không
phải là không có chủ kiến. Nhưng làm việc chính
trị, quư ở chỗ có thể thống. Chia từng
đoạn, tách làm đôi, vị tất đă hay cả,
toàn cấp cho cùng một xứ, vị tất đă dỡ
cả. Phải khéo trù tính mà làm, bỏ cái không hay để
đến cái hay là được rồi. Vả lại,
bắt đầu sửa sang, công việc bận nhiều,
có một vài kẻ không ra ǵ, thừa cơ gây ra mối
tệ, thế tất nhiên là không tránh khỏi. Bây giờ
nên tuỳ nghi châm chước, bỏ nhưng sự ǵ quá
lắm ma thôi, hà tất phải thay đổi hết
cả, làm cho rối ren, lại thêm náo động phiền
nhiên nhiễn một lần nữa" (1).
Thiệu Trị bèn sai hai quan khoa đạo có tiếng
"hiền năng công chính" là Đặng Quốc Lang
và Mai khắc Mẫn đến B́nh Định "hội
đồng" làm việc cùng khám xét và giải quyết
các khiếu tố
Đặng Văn
Thiêm lại đề nghị về kinh : "Số tư
điền, những thữa linh tinh không đầy 1 sào
trở xuống, cộng tất cả được
hơn 60 mẫu, xin miễn cho khỏi phải cắt ra
từng phần nhỏ để quân cấp". Thiệu
Trị lại hỏi ư kiến Phạm Thế Hiển và
Nguyễn Trạch, họ thưa : "Dân trong hạt
đă xin được tuỳ tiện, sổ sách cứ
theo như cũ. Nếu đem số ruộng ấy giao
cho bọn địa chủ, th́ sổ điền không khỏi
một phen thay đổi. Thành ra thêm việc. Vả
lại, số ruộng thừa lẻ, không những có
thế mà thôi, nếu theo lời xin th́ ngoài 300 lá đơn
ấy lại c̣n đơn khác tới tấp khiếu
nại, phiền nhiễu không biết thế nào
kể". Thiệu Trị cho là phải rồi nói :
"Triều đ́nh đối với dân, không có ngại
tiếc ǵ, song nếu làm lại sổ sách, không khỏi có
bận rộn, cầu cho thôi hẳn việc tranh nhau
mối tranh giành vẫn không thôi, không phải là làm cho dân
bớt tốn phí vậy. Ruộng đất lấy
sổ sách làm nhất định, đem chia ra mà quân
cấp lại phải" (2).
[ (1) ĐNTL,
sđd, tập, XXIII, tr.107-108
(2) ĐNTL,
như trên.]
Đặng Quốc Lang và Mai Khắc
Mẫn đến nơi hội đồng với các quan
đầu tỉnh giải quyết mọi sự tranh
chấp. "Đầu tiên trích ra những vụ nhỏ
không gây thiện hại ǵ nhiều lắm, phê bác đơn
đi. C̣n th́ đều lấy lời hiểu bảo,
tuỳ việc phân xử, dân mới thôi không tranh kiện
nhau nữa được" . Xong việc về kinh, Lang
và Mẫn được Thiệu Trị khen là "lo
được gọn việc".
Tháng 9 năm ất
vị (1848), Thiệu Trịbăng hà, Tự Đức kế nghiệp.
Đến tháng giêng năm Tự
Đức thứ 5 (1852), thượng thư bộ H́nh
là Đặng Văn Thiêm (nguyên tổng đốc B́nh
Định) trở về kinh sau khi đi thanh tra và
giải quyết các vụ lợi hại của quan quân và
dân chúnh trong địa hạt B́nh Định. Tự Đức hỏi t́nh h́nh công
điền tự điền
nơi ấy thế nào. Thiêm tŕnh :"Lối
trước,quân điền,trong 10 mẫu lấy 5 mẫu
làm công điền, 5 mẫu làm tư điền. Lâu nay công
điền chỗ nào tốt thời cường hào
chiếm lấy, hoặc có đám nào lẻ loi lại
bị hương lư bao choán, c̣n dân thời chỉ
đựơc ruộng xấu mà thôi. Nên thần khiến
sửa lại bờ bạn phân minh, để làm cho dân
được lợi " (1)
Tháng 2 cùng năm,
Tự Đức hỏi
thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên t́nh h́nh công
điền tư điền các tỉnh thế nào. Phiên thưa:
"Thừa Thiên, Quảng Trị, th́ công điền
nhiều hơn tư điền. Quảng B́nh công tư
ngang nhau. Các hạt khác th́ tư điền nhiều hơn
mà công điền ít hơn, B́nh Đinh lại càng ít hơn.
Cho nên năm trước, Vơ Xuân Cẩn xin chiết lấy
năm phần mười
tư điền làm công điền để quân cấp
cho binh dân, cốt cho dân có chỗ trông nhờ ". Tự
Đức lại hỏi về thuế lệ. Phiên
thưa: "Từ Hà Tĩnh
trở ra bắc (tức Đàng Ngoài, NĐĐ), thuế
công điền nặng hơn thuế tư điền;
từ Quảng B́nh trở vào nam (tức Đàng Trong),
thuế công tư điền bằng nhau ". Tự Đức
nói: "Ích cho công quỹ không được mấy.
Vả triết lấy ruộng tư xung làm ruộng công, các tỉnh
không làm, chỉ làm ở B́nh Định , th́ không khỏi
thiệt riêng, muốn trả lại hết th́ thế nào
" ?. Phiên thưa: "Thêm bớt không được
mấy, lại sinh bận rộn về làm sổ sách
".
Tự Đức
vẫn c̣n băn khoăn, c̣n "muốn ra lệnh cho
bộ Hộ, bộ Binh hội bàn nên làm thế nào cho quân
dân hai đàng đều có lợi. Hà Duy Phiên (bộ Hộ)
và Trương Đăng Quế (bộ Binh) cố xin
vẫn để như cũ, vua mới nghe lời" (2).
[ (1) ĐNTL,
tập XXVII, tr.333-334
(2) ĐNTL,
tập XXVII, tr.336 ]
II
CÁC ĐỊNH LỆ QUÂN CẤP CÔNG
ĐIỀN CÔNG THỔ
Công điền công
thổ và các định lệ quân cấp cho toàn thể dân
chúng trong nước là một chế độ sở
hữu rất đặc biệt ở Việt Nam xưa.
Chế độ này mỗi thời mỗi thay đổi.
Sau đây ta chỉ nghiên
cứu chế độ đó dươí triều
Nguyễn, chủ yếu ở những ǵ liên quan
đến phép quân điền ở B́nh Định.
1.
Định lệ quân cấp công điền công
thổ dưới thời Gia Long và Minh Mạng.
Tháng tư năm kỷ mùi
(1804), Gia Long nói với đ́nh thần: "Phép quân
điền buổi quốc sơ đă có định
chế, từ Tây Sơn, đồ bản sổ sách
đều mất bỏ, quan danh không chính, đồ
hiệu không minh, những bịn hào hữu tự ư lấn cướp, dân gian
phần nhiều có cái nạn không đều".(1)
Nay chia khẩu
phần chia cho toàn xă dân theo 28
thứ bậc đại khái như sau:
. Trên nhất phẩm
được .................................. 18 phần.
. Chánh và ṭng cửu phẩm
được .............................. 8
phần.
. Con côi, goá phụ
được ............................................................ 3
phần.
Tháng giêng năm Mậu Dần
(1818), Gia Long định lại lương bổng quan
chức chia ra 17 bậc, đại khái lương bổng
hàng năm như sau (viết tắt: quan tiền là q,
phương gạo là pg, quan tiền để may áo xuân là
qax).
. Chánh nhất phẩm 600q 600pg 70qax
. Ṭng nhất
phẩm 360q
360pg 60qax
.
............................................................................................................
.
Chánh tam phẩm
120q 120q 20qax
.
Ṭng tam phẩm
90q 90pg 16qax
[ (1) ĐNTL, sđd,tập III,
tr.186-188. Những đoạn trích dưới đây
cũng vậy.]
.
............................................................................................................
.
Ṭng ngũ phẩm
30q 30pg 8qax
.
Chánh lục phẩm 25q 25pg 7qax
.
............................................................................................................
.
Chánh, ṭng cửu phẩm
16q 16pg
4qax
.
Hậu bổ
22q 22pg
.
Binh, dịch, thợ, lại, vị nhập lưu 12q
12pg
Tháng
10 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), bỏ lệ chia
khẩu phần công điền (theo định lệ
năm 1804 trên đây) cho quan chức đă có lương
bổng (theo định lệ năm 1818 trên đây), lư do:
"nay người làm quan đă có lương bổng
triều đ́nh, mà lại c̣n chia cái lợi công điền
với binh dân nơi thôn ấp, th́ theo lẻ phải,
tuởng chưa được thoản đáng. Xin
những công điền ở các hạt (tại xă thôn), th́
chỉ căn cứ vào sổ binh-dân-lại-dịch
chưa được trả lương mà chiếu
cố châm chước, định mức quân cấp ...
Duy có những quan viên hưu trí, hưu dưỡng không có
lương bổng trông cậy được, chuẩn
cho đều theo như cũ,quân cấp ruộng cho" (1).
Tháng
6 năm sau (1840), lại thay đổi định lệ
đó, v́ lư do: "Năm trước bộ Hộ bàn cho xă
dân các hạt quan cấp công điền, ... (xă dân
đều được chia) ... C̣n quan viên, không cứ
phẩm chức cao thấp (đều không được
dựlấy lẽ là người đă có bổng lộc
không nên chia lợi với người không lợi. Duy
điền thổ của dân gian, mỗi xă khác nhau,cũng
có ruộng đất công tư xen nhau, cũng có xă toàn là
công điền công thổ, cho nên các xă thôn không có tư
điền tư thổ, từ trước đến
giờ, quan lại bingh dân đều làm nhà vườn
ở nơi công điền công thổ đă thành cơ
chỉ. Nếu quan chức mà nhất khái đ́nh cấp,
th́ vợ con ở nhà quê không có tấc đất nào mà
ở )". Cho nên nay định lại: "lương
điền của lính cứ theo như cũ (năm 1836
định: lính Cẩm y, Giáo dưỡng, Thuỷ sư
... được 8 khẩu phần công điền và 9 sào
lương điền; lính cơ ngũ quân, lính vệ
địa phương ... được 7 khẩu
phần công điền và 8 sào lương điền; lính
trạm ... được 7 khẩu phần công
điền và 7 sào lương điền; lính thuộc
binh, ngự hộ ... được 7 khẩu phần công
điền như cũ, không có lương điền).
C̣n bao nhiêu điền thổ th́ bất cứ quan lại,
binh thợ, dân thực nạp biệt nạp, không kể
phẩm trật trên dưới, chia cho mỗi người
được 1 khẩu phần. Lăo nhiêu, phế tật
được 1/2 khẩu phần. Cô nhi, quả phụ
được 1/3 khẩu phần. Trong ấy, bất quan
hay dân đă trót làm nhà ở vào nơi công điền công
thổ, th́ tính số mẫu sào, khấu trừ vào số
khẩu phần đang được chia. Nếu chỗ
đất ở không bằng số khẩu phần, th́
sẽ tính cấp thêm, nếu chỗ ở quá số
khẩu phần, th́ số quá ấy phải nộp
thuế gấp đôi, lấy một nửa nộp nhà
nước, một nửa cho dân. Thôn xă không
được thấy người ta đă thành cơ
chỉ (làm nhà cửa rồi), mà bảo rằng đó nguyên
là cong điền cong thổ, lấy lại đem quân
cấp” (1)
[ (1)
ĐNTL, sđd, tập XXI, trang 221]
Theo lư thuyết, cách
quân phân công điền công thổ cho quan-quân-dân-lăo tật
và cô nhi quả phụ như thế thật là nhân
đạo và công bằng hợp lư. Tuy nhiên vẫn c̣n
xảy ra các vụ tranh kiện lấn chiếm và
cường hào thao túng. Lấn chiếm và thao túng th́ ở
thời đại nào hay chế độ nào mà chẳng
có. Có lẽ, về mặt này, triều Nguyễn đă
giảm thiểu tới mức thấp nhất.
5. Số dân và quan dân ở B́nh Định.
Việt Nam không làm
sổ dân số, song lại có sổ đinh tức là
đinh bạ. Định chỉ tính nam giới từ
17-18 đến 55-60 tuổi tuỳ theo triệu đại
định đoạt. Muốn có sổ dân – cả na
phụ lăo ấu -, thường người ta phải nhân
lên gấp 5 hay 10 lần, nghĩa là một con số
rất phỏng ước. Đinh ở B́nh Định.
Năm 1819 có 33.300
suất (2)
Năm 1829 có 39.965
suất (3)
Năm 1839 có 45.000 suất, phỏng
ước
Năm 1847 có 52.110
suất (4)
Lập đinh
bạ thường phải thông qua một kỳ duyệt
tuyển (duyệt dân tuyển lính) khá chu đáo và kỹ
lưỡng. Trước hết mỗi xă thôn làm một
sổ tuyển ghi “tất cả nhân số các hạng trong
xă, như chức sắc, khoa mục, ty lại, binh,
đinh, tráng hạng, cho đến người già yếu,
trốn, chết, tiểu nhiêu (lùn dưới ba
thước – tức 1,26m), xiêu tán mới về,
đến tuổi tục thêm, ngụ cư, đều
chia hạng liệt kê. Lư trưởng khai kết, cai
tổng xét thực. Làm thành 3 bản giáp, ất, bính y
như nhau” (1). Thông thường, năm 5 thi
hành phép duyệt tuyển 1 lần. Mỗi tỉnh
đặt một trường duyệt tuyển.
Đúng ngày hẹn , lư trưởng phải đem toàn
bộ dân ghi trong sổ lên tŕnh diện, trừ
người chết hay quan viên vắng mặt v́ công vụ
ở xa. Quan khâm khâm mạng cho gọi tên từng
người để tuyển lính và “xét vẻ mặt cùng
tật tính nặng nhẹ để làm cac hạng lăo nhiêu,
lăo hạng, lăo tật; như người lùn bé không
đầy 3 thước, xét thực th́ để làm
hạng tiểu nhiêu. Những hạng lăo nhiêu, nhiêu tật,
tiểu nhiêu đều miễn trừ binh đao thuế
lệ, lăo hạng và tàn tật th́ chịu một nửa”.
Triều đ́nh
đă quy định tuyển lính như sau: “Trừ
tỉnh Quảng B́nh trở vào nam đến B́nh Thuận ,
3 dân đinh kén lấy một” (2). B́nh
Định nằm trong trường hợp này. Như
đă nói trên, ta phỏng ước B́nh Định năm
1839 có 45.000 suất đinh, mà 1 phần 3 phải ṭng quân,
th́ số lính lấy ở B́nh Định tối đa là
15.000 suất. Con số này ăn khớp với tư
liệu của Souvignet đưa ra trên đây.
Như vậy,
lương điền dành cho 15.000 binh linh sgốc B́nh
Định sẽ lên tới 12.000 mẫu. Số này
phải lấy trong tổng diện tích công điền khi
ấy là trên 40.000 mẫu. Công điền c̣n lại 28.000
mẫu, chia ra khẩu phần quân phân cho 45.000 suất
đinh và khoản 10.000 phần nữa (10.000 lăo nhiêu, phé
tật được 1/2 phần và 15.000 cô nhi quả phụ
được 1/3 phần). Trung b́nh mỗi khẩu
phần ở B́nh Định được 5 sào ruộng
công. Đó thực là một mối lợi đáng kể
thời bấy giờ.
C̣n về quan
lại cai trị B́nh
Định xưa, chúng ta có mấy tư liêu như sau: Tháng giêng năm Gia Long
thứ 2 (1803), “vua cho rằn ở B́nh DỊnh trước
kia đặt danh sắc quan lại qúa nhiều, bèn
chuẩn định cho 2 ty xá lại ở dinh 50
người, tịch sĩ 15 người. Sở thuộc
có 1 phủ (Quy Nhơn), 3 huyện (Phù Ly, Tuy Viến,
Bồng Sơn), 9 tổng và thuộc. Ở phủ
đặt khám lư, chánh đề đốc, đề lănh,
phủ kư lục, mỗi chức 1 người. Ở
huyện đặt cai huyện, kư huyện, đều 1
người, chánh lại, trực sai đều 15
người. Ở tổng đặt cai tổng 1 người,
phó tổng 1 người
1) ĐNTL, sđd, tập VIII,
tr.190-195.
2) Đại Nam điển lệ
toat yếu, Nguyễn Sĩ Gic dịch. Đại học
Luật khoa Si Gịn XB. Si Gịn 1962, tr.445
Ở thuộc đặt cai thuộc một
người, kư thuộc 1 người. C̣n bao nhiêu th́ bài
hết” (1)
Đến tháng 12 năm Minh Mạng thứ
20 (1839), đinh lại ngạch ty Phiên và ty Niết ở
các tỉnh. Tại B́nh Định, ty Phiên có 3 bát phẩm
thư lại, 6 cửu phẩm thư lại, 30 vị
nhập lưu thư lại, ty Niết có 2 bát phẩm
thư lại, 3 cửu phẩm thư lại, 20 vị
nhập lưu thư lại (2)
Tháng 12 năm Tự Đức
thứ 21 (1868) , bớt số quan viên ở B́nh
Định, “bỏ bơt 4 hậu bổ, để
lại số hiện đặt; ở ty Phiên: thông phán,
kinh dịch đều 1 người, 3 bát phẩm, 5
cửu phẩm, 27 vị nhập lưu. Ty Chiêm hậu: 1
chiêm hậu sinh, 2 vị nhập lưu. Ty lương y: 1 y
sinh, 6 y thuộc. Một tự thừa ở Lễ sinh
hiệu, 10 lễ sinh ... Phủ Hoài Nhân (nơi nhiều
việc): 1 lại mục, 5 thong lại. Phủ An Nhân
(nơi nhiều việc vừa)1 lại mục, 4 thông
lại. Ba huyện Tuy Phước, Phù Cát (nơi nhiều
việc vừa), Phù Mỹ (nơi ít việc), mỗi
huyện 1 lại mục, 3 thông lại. Công tất cả
là 130 lại mục” (3). Đó là chưa
kể tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án
sát, đốc học, tri phủ, tri huyện ... và các
chức quan vơ cùng binh lính.
Quan chức văn
vơ và binh lính tới làm việc quan ở B́nh Định
đều là người ngoài tỉnh, có lẽ chỉ
trừ một số lại mục cấp thấp, lính
lệ ở phủ huyện và lính trạm là người
địa phương. Tất cả đều
đựoc hưởng lương bổng cho công quĩ
nhà nước.
Số quan chức
văn vơ quê B́nh Định đương thời có bao
nhiêu, chúng ta chưa kiểm kê được chính xác. Trong
sách Thống chí về tỉnh B́nh Định chỉ
kể tên mấy vị quan nổi tiếng như Vơ Văn
Trừ người huyện
Bồng Sơn, lê Đại Cương phủ Quy Nhơn,
Hoàng Chiến huyện Phù Mỹ, Trần Quang Chung huyện
Tuy Phước, Lê Đ́nh Lư huyện Phù Mỹ, Vơ Văn
Hiệu và Ngô Tùng Nho cùng huyện Tuy Viễn, Nguyễn
Văn Điểm huyện Bồng Sơn, đều có
công với nước (1). Số quan chức
chắc không nhiều lắm, v́ đến năm Tự
Đức thứ 5 (1852) mới mở thi Hương
ở trường B́nh Định, mà khoa cử thường
là cửa ngơ dẫn vào hoạn lộ (2).
Nhưng theo một bản sách
tuyển lính tháng 5 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), ta
thấy lần duỵet tuyển này có 6.646 người B́nh
Định được
tuyển vào quân đội. Thường th́ trên dưới
500 người cùng quê
được dồn vào một vệ, hay trên dưới
50 người dồn vào một đội (3).
Số binh lính được tuyển vào quân đội
đều được hưởng lương bổng
nhà nước cấp phát (mỗi tháng trong thời gian
trực ban được 1 quan và 1 phương gạo),
ngoài ra c̣n được lương điền và 1 phần công điền ở
quê nhà. Xem thế đủ biết chính sách “ngụ binh
ư nông”(gửi lính ở nghề nông) được
thi hành rất khôn khéo: người lính khi công tác trong quân
ngũ có cơm ăn áo mặc, vợ con ở nhà có
ruộng nương sinh sống.
III
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ QUÂN
ĐIỀN
Ở B̀NH ĐỊNH.
Phép quân
điền là một sự kiện độc đáo
của Việt Nam trong suốt quá tŕnh diễn biến
chế độ sở hữu ruộng đất ở
nước ta. Nhà Hồ đă thi hành phép hạn
điền (không ai được quá 10 mẫu). Nhà Lê
định lệ quân cấp công điền. Nhà
Nguyễn triệt để tăng cường phép dinh
điền (với Nguyễn Công Trứ ở Kim
Sơn, Tiền Hải thuôc Bắc Hà) và phép đồn
điền (với Nguyễn Tri Phương khắp nam
Kỳ ). Sách sử cảu ta đôi khi có nhăc đến
phép tỉnh điền, nhưng đó chỉ là
chuyện đời Hạ-Thương-Chu bên Trung Quốc.
Phép quân điền
có thể nói là biến cố “cải cách ruông đất”
vô tiền khoáng hậu, chỉ xảy ra một lần,
ở B́nh Định, hồi 1839. Vơ Xuân Cẩn được
cả vua quan triều đ́nh Huế coi là người
đầu tiên kiến nghị việc quân điền.
Vậy ta nên biết thêm về Vơ Xuân Cẩn, đặc
biệt ở những ǵ liên quan đến vấn
đề này.
[ (1) Quốc
sử qun Đại Nam nhất thống chí - Tỉnh
B́nh Định.
Tu trai
Nguyễn Tạo dịch - Nha Văn Hố XB. Si Gịn
1964. TR.98-99.
(2) Cao Xun
Dục. Quốc triều hương khoa lục. Nguyễn
Thuư Nga, Nguyễn Thị Lm dịch. Cao Tự Thanh hiệu
đính v giới thiệu. Nxb. TP. HCM 1993. Tr.83
(3) ĐNTL,
Sđd, tập XVIII, tr.157-165.]
Vơ Xuân Cẩn sinh năm 1772,
“người huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng B́nh
(1). Lúc nhỏ rất chăm học, rồi
dậu cống sĩ (tú tài hoặc cử nhân), ở
ẩn suốt thời Tây Sơn. Năm đầu Gia Long
(1802) được bổ vào Viện Hàng Lâm. Năm 1803 làm
tham hiệp trấn Hưng Hoá, rồi làm cai bạ B́nh
Định. Năm đầu Minh Mạng (1820), làm hiệp
trấn Sơn Nam, sau về kinh làm tả tham tri bộ H́nh. Năm 1824, làm
hiệp trấn Nghệ An, rồi v́ một lỗi
nhỏ, bị giáng làm tuyên phủ phủ Hoài Đức
(gần Hà Nội), chuyển làm H́nh tả Bắc Thành
hữu tham tri bộ Lại. Sau thăng thượng
thư bộ Công. Năm 1833, làm tổng đốc B́nh Phú.
Năm 1838 đề nghị phép quân điền ở B́nh
Định.lúc này Vơ Xuân Cẩn đă 66 tuổi, rất chín
chắn, đă 36 năm kinh nghiệm làm quan tại
triều ở cả 3 bộ H́nh-Lại- Công và làm việc
cai trị tại nhiều tỉnh từ Đàng Trong
tới Đàng Ngoài, đặc biệt làm tổng
đốc B́nh Phú (B́nh Định – Phú Yên) được 5
năm. Năm 1839, được vời vè kinh làm
thượng thư bộ H́nh kiêm quản Viện Đô Sát
và làm tổng tài bộ sử
Thực Lục.
Là quan đầu
triều nhưng Vơ Xuân Cẩn vẫn kiên tŕ xin lập phép
quân điền tại B́nh Định. Minh Mạng bèn sai
cả 6 bộ họp bàn, đưa ra các nguyên tắc
cụ thể để thi hành phép quân điền. Vua quan
đều nhất trí, khi đă cân nhắc kỹ
lưỡng cả về đạo lư lẫn thực
tiễn. Sau đó Minh Mạng mới sai Vơ Xuân Cẩn “cùng
với tham tri bộ Hộ là Doăn Uẩn đến B̀nh
Định thi hành phép quân điền”.
Năm Thiệu
Trị thứ nhất (1841), Vơ Xuân Cẩn được
thăng thự Đông các đại học sĩ (chánh nhất phẩm), vẫn giữ
bộ H́nh, rồi gia hàm Thái tử Thái bảo (trên nhất
phẩm). Mặc dầu đă 70 tuổi, xin hưu,
nhưng Thiệu Trị không cho.
Năm Tự
Đức thứ nhất (1848), Vơ Xuân Cẩn dang sớ xin
bổ dụng con cháu Nguyễn Văn Thành, Lê Văn
Duyệt, lê Chất (những người đă bị án
oan uổng). Tự Đức nghe theo lời cương
trực. Năm 1853, Vơ Xuân Cẩn khi ấy đă 81
tuổi, xin về hưu, sau 50 năm phục vụ
dưới 4 đời vua triều Nguyễn. Bốn tháng
sau, ông qua đời tại quê nhà; đàu làng ông, vua cho
đề bia đá “Tứ triều nguyên lăo”(ông lăo có
đức lớn của bốn triều).
[ (1) Quốc sử qun triều Nguyễn, Đại
Nam liệt truyện. Viện sử học VN chủ tŕ
dịch thuật. Nxb Thuận Hố, 1993. Tập. Tr.224-229]
Quân điền
ở B́nh Định quả là sự nghiệp “trác dị”
của Vơ Xuân Cẩn, xong cũng là công tŕnh tập thể
của vua quan – những người lănh đạo
đương thời. Quân điền ở B́nh
Định coi như ổn định từ 1840
đến 1945, mặc dầu có phải sửa sai, đôi
chỗ c̣n kiện cáo tranh tụng. Sau đay là mấy giai
đoạn nghiên cứu “phép quân điền” ấy.
1. Năm 1900, trong tập san
Revue Indochinoise, giáo
sĩ Souvignet viết bài “Đại cương lịch
sử về việc chia ruộng ở B́nh Định
thành công điền và tưu điền” (1).
Có lẽ, với tài liệu thu thập được
từ toà sứ hoặc dinh tổng đốc B́nh
Định, Souvignet đă có
thêm số liệu khá chính xác
để so sánh t́nh h́nh điền thổ năm 1839
với năm 1900, đồng thời cũng phên b́nh
biến cố quân điền do “lănh tổng đốc
” (Vơ Xuân Cẩn) đă thực hiện.
Souvignet đă ghi
được khá cụ thể : 1839 ... “tỉnh B́nh
Định có 5.200 mẫu công điền so với 71.400
mẫu tư điền. Đó là sở hữu của
kẻ giàu, c̣n người nghèo th́ không có chỗ đất
cắm dùi. Trong số binh lính, chỉ có 5.500 người có
lương điền, c̣n 9.500 người khong có ǵ”.
Hồi 1900, “B́nhĐỊnh có 81.690 mẫu ruộng nộp
thuế hằng năm 24.449 quan 3 tiền và 67.225 hộc 7
thăng thóc”. Như vậy quan 61 năm (1839 –1900), ruộng
ở B́nh Định chỉ tăng 5.090 mẫu ! Quả là
quá ít so với sự gia tăng dân số: năm 1839 có
450.000 người (số
phỏng tính)so với năm
1895 có 800.000 người (số do Souvignet đưa ra).
Năm 1930, nhà nông
học Yves Henry cho ấn hành thiên điều tra đồ
sộ về t́nh h́nh ruộng đất và nông
nghiệp ở Đông
Dương. Ông đă lên được các bản thống
kê phân tích công điền với tư điền từng
tỉnh. Riêng B́nh Định có 36,44% ruộng là công
điền so với Phú yên chỉ có 8,27% và quảng
Trị có tới 98,72%. Song ông
không nói v́ sao có sự khác biệt và không đă động
ǵ đến vấn đề quân điền ở B́nh
Định năm 1839(2).
Năm 1936, Pierre Gổuu
viết luận án tiến sỹ địa lư nhân văn
rất đặc sắc về “nông dân ở Bắc
Kỳ”, và năm 1939, Vũ Văn Hiền ấn hành
luận án tiến sỹ luật khoa về “Sở
hữu xă thôn ở BắcKỳ ”. Tất nhiên hai tác
giả này đều không nói ǵ đến phép quân
điền ở B́nh Định hồi 1839 (1).
2. Năm 1951, Nguyễn Thiệu lâu viết một
thiên khảo luận khá quan trọng đăng trong
tập san Viện Viễn Đông Bác cỏ Pháp (BEFEO)
với nhan đề “cải
cách ruộng đát hồi 1839 tại B́nh Định”(2).
Đây là một công tŕnh nghiên cứu đứng
đắn, khoa học, xong tác giả tự nhận “không thông hiểu chữ nho
để học sử Thực
Lục, đọc hồ sơ lưu trữ tại
Nội các Huế gồm các sớ tâu hoặc các cuộc
tranh luận của quan chức và cả những thổ
địa bạ cũ của thôn ấp B́nh Định
nữa”. Tác giả chỉ sử dụng sách Quốc
triều chính biên toát yếu của Bộ Học, triều
đ́nh Huế cho ấn hành hồi 1925. NHư vậy,
tư liệu c̣n khá hạn chế, và, v́ thế. Có thể
dẫn tới những nhận định phiến
diện hoặc sai lạc.
Do đó, Nguyễn
Thiệu Lâu "mong rằng, ngày nào đó, sẽ có một
gia sư trở lại đề tài (quân điền) này và
dành cho nó một công tŕnh triển khai xứng đáng
hơn".
Cũng năm 1951,
Vũ Quốc Thúc cho xuất bản luận án thạc
sỹ luật khoa về "Kinh tế nông thiôn Việt
Nam", song không nói ǵ đến quân điền năm
1839 ở B́nh Định, v́ đây không phải đề
tài có liên quan (3)
Năm 1968, thạc
sỹ sử học Nguyễn Thế Anh cho ấn hành
cuốn "Kinh tế và xă hội Việt Nam
dưới các vua triều Nguyễn". Tác giả có
nắhc đến vụ "trích lấy một nửa
tư điền sung công mà không bồi thường cho
chủ ruộng" tại B́nh Định hồi 1839. Song
tác giả không chủ ư đi sâu vào vụ này, nên chỉ nói
lướt qua và trích dẫn Quốc triều chánh biên thôi
(4).
3. Cuối năm 1992, đánh
dấu việc nghiên cứu lại phép quân điền
ở B́nh Định. Trong buổi trao đổi giữa các giáo sư Léon
Vandermeersch giám đốc viện Viễn Đông Bác cổ
Pháp với một số nhà
khoa học Việt Nam tại trụ sở Liên hiệp cac
Hội Khoa học và Kỹ thuật Tp. HCM vào mùa hè năm
1989, chúng tôi đă đưa ra giới thiệu công tŕnh
của ḿnh về "Nghiên cứu địa bạ
triều Nguyễn".Lúc ấy, chúng tôi đă hoàn tất
phần Lục tỉnh Nam Kỳ và thâu thập đủ
dữ kiện để hoàn thành 13 tỉnh Miền Trung.
Giáo sư Vandermeersch đă
đề nghị cho in bản tóm tắt phần Nam Kỳ
Lục tỉnh vào tập san của Viện (1)
và lấy Địa bạ tỉnh B́nh Định làm
một trong những đè tài nghiên cứu kỷ niệm 90
năm ngày thành lập Viện.
Cuối năm 1992,
trong cuộc Hội thảo quốc tế về văn hoá
Việt Nam, tại Hà Nội, để kỷ niệm 90
năm ngày thành lập Viện Viễn Đông Bác cổ
Pháp, giáo sư Phan Huy Lê đă "Phân tích các bản
địa bạ của Kiên Mỹ, b́nh Định"
(trước và sau quân điền), và chúng tôi đă tŕnh bày
vấn đề Quân điền tại B́nh Định
hồi 1839 (3).
Vậy là trên 40 năm sau mới có
người đáp ứng sự mong mỏi chính đáng
của nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu.
Nay chúng tôi xin
mạo muội giới thiệu với quư học giả
và bạn đọc tập Nghiên cứu địa
bạ B́nh Định này, với tất cả những
sai lầm và thiếu sót (chẳng hạn chưa dịch
được trọn vẹn 1.222 quyển địa
bạ) v́ những hạn chế của khả năng.
Theo tinh thần Nguyễn Thiệu Lâu, chúng tôi cũng
cầu "mong rằng, ngày nào đó, sẽ có một
(hoặc nhiều) sử gia trở lại đề tài
quân điền nàyvà dành cho nó những công tŕnh triển khai
xứng đáng" với một vùng "địa linh
nhân kiện" từng là địa bàn cho kinh đô Chà Bàn
và Trương Ương Hoàng Đế, với những
anh hùng áo vải từng dẹp quân Xiêm ở miền Nam và
đại phá quân Thanh ơ miền Bắc.
[ (1) Nguyễn Đ́nh Đầu. Remarques
sur les registres cadastraux des six provinces de la Cochinchine. Bulletin
de l' EFEO, tome LXXVIII. Paris 1991, pp.275-285.
(2) Phan L Huy. Analyse des cadastres de Kim Mỹ (B́nh
Định) - Nguyễn Đ́nh Đầu. Partage des
rizie`res publiques et registres prive'es a`B́nh Định au cours de
l'anne'e 1839. Đều
in trong le village traditionnel au Việt Nam/The traditional village in