Chương
VI
LỊCH SỬ – VĂN HÓA
Từ sau năm 1471 những
lớp cư dân Việt đầu tiên đă đến
sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất B́nh
Định ngày nay,bắt đầu một quá tŕnh giao thoa
và hỗn dung văn hóa.Người Việt mang tới
đất Đại Châu
những truyền thống được tích luỹ hàng
ngh́n năm từ thủa Hùng Vương dựng
nước với nền văn minh Sông Hồng có thời
đă tỏa sáng khắp vùngĐông Nam Châu Á đến
đỉnh cao của văn minh Đại Việt
dưới thời Hồng Đức.Bằng sức lao
động cần cù và sáng tạo,những người
nông dân Việt vốn có nguồn gốc quê hương
ở nhiều vùng khác nhau trên đất Bắc,đă
phải đổ biết bao mồ hôi, công sức, chung
lưng đấu cật cùng nhau xây dựng nên một quê
hương mới.Cũng tại nơi đây,truyền
thống văn hóa Champa với những nét đặc
sắc của vùng đế đô Vijaya đă
được tích hợp với văn hóa Việt,ḥa
quyện vào nhau làm nên một sắc thái văn hóa riêng không
lẫn với bất cứ nơi đâu.
Từ khi các chúa Nguyễn
đẩy mạnh công cuộc khai phá xứ Đàng Trong cho
đến khi triều Nguyễn chính thức đặt ra
tỉnh B́nh Định, tên gọi vùng đất trải
dài từ đèo B́nh Đê đến đèo Cù Mông đă có
nhiều lần biến cải. Phủ Hoài Nhơn với
ba huyện Bồng Sơn,Phù Lỵ và Tuy
Viễn thời Lê Thành Tông được đổi thành
phủ Quy Nhơn năm 1604.Đến 1651 chúa Nguyễn
Phúc Tần cho đổi làm phủ Quy Ninh.Năm1742 Vơ
vương Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên cũ là Quy
Nhơn.Tên B́nh Định xuất hiện lần
đầu tiên vào năm 1799,nhưng khi ấy đó chỉ
là tên gọi thành Quy Nhơn.B́nh Định với tư cách
là một tỉnh độc lập xuất hiện vào
năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Cho đến nay ,sau hơn năm thế kỷ phát
triển, B́nh Định trải qua biết bao sự
đổi thay.Vào thế kỉ XVII – XVIII Quy Nhơn, Cách
Thử từng là những cửa cảng quan trọng
với di tích phố cổ Nước Mặn
được ghi trên các bản đồ hàng hải
quốc tế .Đây cũng đă có thời là một trung tâm văn hóa rực
rỡ của miền Trung… Một truyền thống
lịch sử – văn hóa B́nh Định, một tính cách
con người B́nh Định đă được h́nh
thành. Dấu ấn của quá tŕnh phát
triển đó để lại ở khắp mọi
nới. Những chặng
đường lịch sử và truyền thống văn
hoá B́nh Định được thể hiện trên
mọi mặt của đời sống. Từ
một nếp nhà lá mái,
hương vị mănk ṃi của nước mắm G̣
bồi, một đêm diễn xướng hát Bội,
những môn phái quyền roi cùng truyền thống
thượng vơ đặc sắc .....đến
một ngôi chùa thờ Phật, một mái đ́nh cong cùng
cùng những nơi thờ cúng các vị anh hùng,danh nhân … mà
ta có thể thấy ở bất kỳ nơi đâu trên
đất B́nh Định đều nói lên lịch sử
và văn hóa quê hương. Những di tích
vật chất và tinh thần ấy thật không sao kể
xiết. Ở đây chỉ có thể kể ra
một số di
tích tiêu biểu mả ai có dịp tới B́nh Định
đều mong muốn được tới thăm…
1.Chùa Nhạn Sơn
Trong
số các ngôi chùa khác trong vùng, chùa Nhạn Sơn
không có ǵ đặc biệt về kiến trúc nhưng
lại là một di tích khá điển h́nh cho một
đặc
trưng văn hóa của
B́nh Định .Đó là sự giao kết giữa văn
hóa Champa bản địavới văn hóa Việt là
lớp người đến sau.
Chùa có quy mô nhỏ với cấu trúc kiểu
chữ khẩu, thông thường như bao ngôi chùa làng
của người Việt nhưng lại rất nổi tiếng.Đây là
một trong năm ngôi chùa của tỉnh B́nh Định
được sách Đại Nam nhất thống chí
chép đến ( cùng với các chùa Thạch Cốc,Linh Phong,
Thập Tháp,Long Khánh ). Sự nổi tiếng của chùa
Nhạn Sơn
không phải do bề dày lịch sử hay
kiến trúc độc đáo mà v́ bên trong chính điện
thờ hai pho tượng đá khổng lồ, một
sơn đen ,một sơn đỏ.V́ thế mà nhân dân
địa phương c̣n gọi chùa này là chùa Ông Đen Ông
Đỏ hay chùa Ông Đá.Điều này phù hợp với
điều ghi chép trong sách Đại Nam nhất thống
chí,duy chỉ có tên gọi th́ trong sách này lại ghi là Mạn
Sơn tự (chùa ŕa núi ?) . Sách chép rằng:” Chùa
Mạn Sơn tục gọi
là chùa Ông Đá ,ở thôn Nhạn Tháp huyện Tuy Viễn,
về phía nam thành Chà Bàn.Trong chùa có hai tượng
đá,đứng hai bên nh́n nhau trên viên đá vàng,ḿnh cao
hơn 6 thước,lưng rộng hơn 5 thước,một
pho sơn son,một pho sơn đen,thầy chùa chế áo
xiêm,mũ đai bằng vải vẽh́nh mây rồng
mặc vào,trông như h́nh người c̣n
sống.Tương truyền tượng ấy là
tượng Phật của người Chiêm Thành.cầu
đảo thường ứng nghiệm” (1).
Di tích chùa Nhạn Sơn hiện nay thuộc
địa phận thôn Nam Nhạn Tháp,xă
Nhơn Hậu,huyện An Nhơn,nằm cách huyện
lỵ ( thị trấn B́nh Định cũ ) 6km và thành
phố Quy Nhơn 23km về phía Tây Bắc. Chùa nằm
dưới bóng một cây xoài xanh mướt,tựa
lưng vào núi Long Cốt,trước mặt là một
hồ sen, cảnh trí thật thơ mộng.
Không có tài liệu đích xác nào cho
biết về thời điểm lập chùa. Tất
cả chỉ là truyền thuyết.Theo đó, lúc mới
dựng lên, chùa có tên là Thạch Công tự – sung nghĩa
tự.Nhạn Sơn Linh Tự và Nhạn Sơn tự (
chùa Ông Đá). Một vấn đề đặt ra là
giữa hai pho tượng đá này và ngôi chùa có mối quan
hệ như thế nào với nhau.Có thuyết cho rằng
đó là tượng của đôi bạn chí thân Huỳnh
Tấn Công và Lư Xuân Điền, một người ở Hóa Châu (Huế) c̣n
người kia quê ở Ninh B́nh.Cả hai đều là
bậc anh tài được
vua Trần trọng dụng.Vào thời buổi loạn
lạc,giặc Trung Hoa đe dọa phương
Bắc,quân Chiêm Thành uy hiếp phía Nam, vua Trần cử
mỗi người cầm
quân đi đánh dẹp một phương.Vốn là
người Hóa Châu, Huỳnh
Tấn Công
được cử đi đánh Champa,chẳng may bị
bắt làm tù binh.Họ Huỳnh trở thành gia nô cho một
viên đại thần trong triều đ́nh Champa.Nhờ có
tài xem mạch ,bốc thuốc, có lần Huỳnh Tấn
Công đă chữa cho vị quan nọ khỏi một
căn bệnh hiểm nghèo. Từ đó ông được
sủng ái hết mực.Sau khi dẹp xong giặc Bắc
quay trở về, biết Huỳnh Tấn Công đang
lưu lạc nơi đất Chiêm ,Lư Xuân Điền
quyết chí vào Nam t́m bạn.Cuối cùng họ đă t́m
được nhau. Cảm kích trước t́nh bạn
thủy chung ,vị đại thần
Champa đă đồng ư cho họ Huỳnh cùng bạn
trở về quê hương. Hai người ra về
được ít lâu,v́ thương nhớ,vị quan
người Chiêm đă sai thợ tạc tượng hai ông
để hàng ngày được ngắm nh́n cho thỏa.Sau
này người ta lập chùa thờ hai pho
tượng,đặt tên là Song Nghĩa tự(2).Câu
chuyện hết sức mơ hồ và có những chi
tiết phi lịch sử nhưng thật cảm
động.Gần đây một số phim ảnh, sách báo
khi giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa B́nh
Định cũng kể về sự tích này.Thực ra
đó chỉ là sự phản ánh trí tưởng
tượng của dân gian,giải thích mối quan hệ
Việt – Chiêm trong lịch sử, lư giải hiện
tượng trong chùa Việt có tượng Champa.
Hai pho tượng nay đă được tô
một ông đỏ, một ông đen nhưng vẫn
dễ dàng nhận ra đó là hai pho tượng
được tạc bằng đá sa thạch,một loại h́nh nghệ thuật
đặc trưng của người Chàm. Đây là hai
tượng Môn thần (Dvarapalla), người Việt quen
gọi là Hộ Pháp, mà ta có thể bắt gặp trong các
công tŕnh kiến trúc tôn giáo của người Chàm.Dọc
dải mảnh đất miền Trung, địa bàn
xưa của Vương quốc Champa, nay vẫn c̣n
lại nhiều tượng Môn thần với những
niên đại khác nhau.Nhưng điều đặc
biệt là ở chỗ không đâu có hai pho tượng Môn
thần lớn và sinh động như ở chùa Nhạn
Sơn.
Tượng Môn thần,với
ư nghĩa là người bảo vệ cho Đạo pháp,bao
giờ cũng đứng ơ cửa của một công
tŕnh kiến trúc tôn giáo. Không ai biết hai pho tượng
ở chùa Mạn Sơn hiện nay vốn thuộc công tŕnh
kiến trúc tôn giáo nào,nhưng cứ nh́n
vào hai pho tượng, đặc biệt là khoảng cách
gần, chừng 400m, từ chùa Nhạn Sơn đến
g̣ Tam Tháp, phế tích tháp Chàm cổ có quy mô khá lớn , có
thể đoán định rằng hai tượng Môn
thần vốn là những tác phẩm điêu khắc trong
quần thể kiến trúc tháp. Năm tháng trôi qua,tháp sập đổ,tượng đá
bị vùi cho đến ngày những người dân
Việt t́m thấy.Họ đưa về chùa để thờ
phụng. Dân làng kể rằng, từ mấy
trăm năm về trước dưới đất
bỗng trồi lên hai pho tượng. Những
người ṭ ṃ đến rờ mó nghịch nghợm th́
về nhà mắc chứng nhức đầu. Sợ
quá họ lập đền thờ,lúc
đầu lợp tranh sau mới xây gạch.
Hai pho tượng vốn nguồn
gốc được người Chàm thể hiện trong
tư thế đối xứng nhau cao tới 2,2m, rất
sống động với dáng vẻ thật dữ
dằn.Điều này phù hợp với h́nh tượng
thần giữ cửa. Mặc dù nay
tượng đều đă bị tô sơn nhưng
vẫn có thể nhận ra nét tinh tếtrong nghệ
thuật điêu khắc của các nghệ nhân xưa.
Cách mặc kiểu sampot, hoa văn cánh sen chạy ṿng quanh đai thắt lưng cho thấy rơ ràng phong
cách Tháp Mẫm, phong cách điển h́nh của thế
kỷ XII, XIII của hai pho tượng này.
Thời kỳ hoàng kim của Vương quốc
Champa cùng với nền văn hóa rực rỡ của
họ cũng đă qua đi sau cuộc chinh phạt năm
1471 của Lê Thánh Tông. Đại Việt đă cắm
mốc biên giới
đến núi Thạch Bi (Nơi giáp giới
giữa B́nh Định và Phú Yên). Đất Đại Châu
xưa với kinh đô Vijaya tráng lệ trở thành phủ Hoài Nhơn trong
lănh thổ Đại Việt. Nhiều công tŕnh kiến
trúc như thành quách, dinh thự,đền
đài … cũng biến
mất trong dâu bể của chiến tranh, của thời
gian .Người Việt bắt đầu công cuộc kinh
dinh vùng đất phương Nam, rồi cộng cư,
ḥa đồng với người Chàm bản
địa.Công tŕnh kiến trúc vĩ đạiphía Nam thành
Vijaya bị phá hủy, chỉ c̣n lại phế tích tháp
đổ ( g̣ Tam Tháp ) và nguyên vẹn hai tượng môn
thần đồ sộ. Nh́n vào tư thế tượng
và bệ đá có thể đoán định rằng hai pho
tượng này được tạc bằng đá nguyên khối , v́ thế mà có thể trơ gan cùng
tuế nguyệt. Người Việt đến sinh cơ
lập nghiệp ở chốn này thấy hai pho
tượng đá uy nghi liền xây chùa để thờ
phụng mà chính điện là nơi ngụ của hai pho
tượng đá.Thế rồi từ ư nghĩa là
tượng Môn thần của người Chàm, hai pho
tượng này đă trở thành tượng Phật
của người Việt,được tô
sơn,một ông đỏ, một ông đen, ông đỏ
ở bên phải, ông đen ở bên trái,thành ông Thiện,
ông ác, thành thần giữ cửa giống như trongcác ngôi
chùangười Việt khác. Từ đó h́nh
thành một loại tín ngưỡng hỗn hợp Việt
– Chàm. Đă quét sơn ( theo nghĩa
đen ) người Việt c̣n phết thêm cho hai pho
tượng một “ lớp sơn văn hóa”, dán thêm
ria mép,râu cằm . Âu cũng không có ǵ khó hiểu, đó chính
là một đặc trưng văn hóa Việt
: dễ thích nghi, giỏi tiếp biến. Ngoài
hai tác phẩm điêu khắc đá đặc sắc, có
giá trị lớn về lịch sử và nghệ
thuật,giá trị của di tích chùa Nhạn Sơn c̣n
ở chỗ đây là một điểm giao thoa văn
hóa mà nếu nghiên cứu sâu sẽ c̣n khám phá thêm
những điều vô cùng lư thú.
Pho tượng sơn màu đỏ tay phải
đưa ra vừa tầm ngang với ngực rất
tự nhiên,tay trái vốn cầm một
quả chùy bầu dục, nhưng người Việt
đă chắp thêm một đoạn lên phía trên quả chùy
biến nó thành cây thiết trượng. Hai cổ tay đều đeo ṿng tràng hạt. Hai
cổ chân cũng đeo ṿng tṛn nhưng khác nhau,ṿng tṛn chân phải là h́nh một con rắn,
ṿng tṛn chân trái phía trước chạm nổi lá
đề. Pho tượng sơn màu đen
đứng phía bên trái có tư thế giống như pho
tượng bên phải.
Về trang phục cả hai tượng đều mặc
sampot , dải buông ra phía trước, đuôi vểnh chéo
thành năm nếp vắt lên đùi trái,người ở
trần,đeo chéo một con rắn đầu ló ra
trước ngực,tóc búi cao xung quanh là những sợi dây
buộc chéo, trâm cài phía sau,đầu đội mũ có ŕu
xéo. Cả hai pho tượng đều có miệng lớn,mũi bành rộng lưng găy, ngực hơi
ưỡn ra phía trước. Đặc điểm trên
cho thấy rơ tính chất Nam Á, xét về mặt nhân
chủng học,của hai pho
tượng này. Nhưng giờ đây y phục
của hai pho tượng đều đă được
Việt hóa. Hai vị được mặc áo
đại bào,đầu đội
mũ đằng cho giống với các tượng
thần trong chùa Việt.
Ḍng người đến chùa Nhạn Sơn vẫn
không ngớt như hàng trăm năm nay vẫn thế.
Người ta đến chùa để cầu xin
đức Phật được mọi sự tốt
lành là đặc biệt là niềm tin thiêng liêng ở
sự phù hộ dộ tŕ nơi hai pho tượng đá
này. Cũng mấy ai hiểu rơ giá trị lịch sử và
nghệ thuật đặc sắc của nó, c̣n nhân dân th́
vẫn cứ đến đây, phần nhiều v́ hai pho
tượng đa mà đời này truyền đời kia
rằng rất thiêng, cầu đảo thường
ứng nghiệm.
2.Đền thờ Đào Duy Từ
Những cống hiến lớn lao của Đào
Duy Từ (1572-1634) trên nhiều lĩnh vực (Chính trị
,quân sự,văn học, kiến trúc, sân khấu … ) đă
đưa ông vào các hàng danh nhân trong lịch sử dân
tộc. Tên tuổi và sự nghiệp của
ông được đáng giá cao trong nhiều bộ sách giáo
khoa và công tŕnh chuyên khảo. Trong tâm trí của nhân dân
Đào Duy Từ được coi là nhân tài có công với dân , với nước. Vốn quê gốc
ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn , phủ Tĩnh
Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xă Nguyên B́nh, huyện
Tĩnh Gia ), nhưng nơi Đào Duy Tư bắt
đầu sự nghiệp của ḿnh để rồi
trở thành một nhân vật nổi tiếng lại là
đất Tùng Châu (nay thuộc huyện Hoài Nhơn ,
tỉnh B́nh Định).
Cuộc đời Đào Duy Từ có thể khác
nếu như không có một điều luật bất công
được đặt ra từ thời Lê sẽ
cấm không cho những người làm nghề ca
xướng cùng con cháu họ được đi thi. Cha Đào Duy Từ là Đào Tá Hán làm quản giáp
trong nghề ca hát, coi Nữ nhạc đời Lê Thánh Tông
(1557- 1573), mẹ là Nguyễn Thị Minh, cũng là
người nổi tiếng trong làng chèo bấy giờ.
Chính bởi lư lịch này mà Đào Duy Từ
bị gạch tên, không cho dự kỳ thi hương nhà Lê
tổ chức tại Thanh Hóa. Ông nuốt hận quay
về,ngày đêm nghĩ t́m kế
lập thân, quyết đem tài học của ḿnh thi thố
với đời.
Bấy giờ, sau khi Lê Thánh Tông qua đời
(1447), nhà Lê bị suy yếu rất nhanh.Năm 1527 Mạc
Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê lập ra nhà
Mạc. Năm 1532 Nguyễn Kim khôi phục nhà Lê, nhưng
không bao lâu lại nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ
những người pḥ giúp triều Lê. Để thoát
khỏi ṿng cương tỏa của họ Trịnh,
năm 1558 Nguyễn Hoàng, con trai của Nguyễn Kim, xin vào
làm trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi sau đó kiêm
trấn thủ cả xứ
Quảng Nam. Tại vùng đất mới, để
củng cố và phát triển thế lực, Nguyễn Hoàng
và nhất là Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai kế
vị ông làm Trấn thủ Thuận Quảng, đă
thực hiện chính sách chiêu hiền đăi sĩ. Theo sách
Thực lục th́ Đào Duy Từ “ nghe
tiếng chúa yêu dân, quư học tṛ, hào kiệt đều quy
phục, quyết chí đi theo, bèn một ḿnh vào nam” ( 3 ).
Trên hành tŕnh gian lao để khẳng định
ḿnh, Đào Duy Từ đă ở lại huyện Vũ
Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị) hơn một tháng , mà không ai biết. Lúc ấy chế độdùng người ở
Đàng trong chủ yếu dựa vào tiến cử. Đào Duy Từ cần một người có
địa vị bảo lănh và giới thiệu. Nghe
tiếng đồn về quan khám Lư phủ Hoài Nhơn
Trần Đức Hoà là người mưu trí, hào hiệp
lại t́nh “ nghĩa
đệ” với chúa nên ông đă rời Vũ Xương
đến Hoài nhơn. Nhưng là một
nhười chưa có danh tiếng, Đào Duy Từ không
dễ ǵ gặp được quan Khám Lư ông đă phải
đi đường ṿng. Thoạt
đầu, để thể hiện tài năng, ông xin làm
người ở cho một phú hộ thôn Tùng Châu, vốn
là người có quan hệ thân thiết với Đức
Hoà. Một hôm, nhân phú ông đặt tiệc hội
họp các danh sĩ uống rượu, ngâm thơ mua vui,
Đào duy Từ đă không ngần ngại cùng các danh sĩ
bàn luận cổ kim và kinh sử bách gia,
điều ǵ cũng không hiểu, khiến cả đám
tiệc đều kinh ngạc. Phú ông lấy
làm lạ, đem chuyện nói với khám lư Trần
Đức Hoà. Dức Hoà cho gọi Đào Duy Từ
đến hỏi hang, thấy ông là người học
rộng biết nhiều, đem ḷng yêu quư bèn mời về
dạy học rồi gă con gái cho.
Năm 1627 Trần Đức Hoà
tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Nguyễn Phúc Nguyên.
Hôm đào Duy Từ vào ra mắt, Nguyễn Phúc Nguyên mặc
áo trắng , đi hài xanh đứng ở cửa ngách
chờ, Đào Duy Từ nh́n thấy, đứng lại
không đi. Phúc Nguyên biết ư lặp tức
thay mũ áo chính tề rồi mời triệu vào. Lúc ấy Duy Từ mới rảo bước vào
lạy. Chúa tôi cùng nói chuyện, rất tâm đắc,
Phúc Nguyên nói: “ Khanh sao đến muộn thế !”
rồi lập tức phong Đào Duy Từ làm Nha Nội
tán, Tước Khê Lộc hầu, trong coi việc quân cơ
trong ngoài và cho được tham bàn quốc sự.
Năm 1630 nghe theo lời khuyên của Đào Duy
Từ chúa Nguyễn cho đắp luỹ Trường Dục( Quảng B́nh), công việc hơn
một tháng th́ hoàn thành. Năm 1631 Duy từ lại khuyên
chúa đắp một luỹ khác chạy dài từ cửa
biển Nhật Lệ đến núi Đào Mậu
thuộc Đồng Hới, tục gọi là luỹ
Thầy dài hơn 3000 trượng, cao 1 trượng 5 thước.
Luỹ trường dục và luỹ Thầy là 2 công tŕnh
pḥng thủ lợi hại giúp chúa Nguyễn ngăn chặn
hiệu quả các cuộc xân lấn của quân Trịnh. Sau
này sử nhà Nguyễn gọi luỹ Thầy là”Định
Bắc trường thành” (bức tường thành giữ
yên mặt bắc), gọi là “một nơi hùng vĩ
ngăn cách Bắc Nam”.
Năm 1634 Đào Duy Từ óm
nặng rồi mất, hưởng thọ 63 tuổi.
Chúa Nguyễn thương tiếc măi, truy tặng Hiệp
mưu đồng đức công thần,đặc
tiến trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu
Thái thượng tự khanh lộc khê hầu. Năm Gia
Long thứ tư (1804), xét công trạng các khai quốc công
thần, Đào Duy Từ được xếp vào hạng
Thượng đẳng, cho thờ phụng ở Thái
miếu, năm Gia long thứ 9( 1810)
được liệt thờ ở miếu khai quốc
công thần, năm Minh mệnh thứ 12 (1831) truy phong
đông cát đại học sĩ, Thái sư hoàn quốc
công. Đánh giá về Đào Duy từ, sử nhà Nguyễn
viết: “ Duy Từ có tài lược văn vơ phàm đă
mưu tính trù hoạch ǵ, hễ làm th́ trúng thời cơ,
giúp việc nước có 8 năm mà cơ nghiệp rỡ
ràng, đứng hàng đầu công thần khai quốc” (4)
Đúng như nhận xét của các
sử gia, Đào Duy Từ là một người toàn tài
văn vơ. Sự nghiệp của ông bao
trùm mọi lĩnh vực chính trị, quận sự và
văn hoá.
Với tư cách một nhà chính
trị, Đào duy từ đă giúp chúa Nguyễn đưa
xă hội Đàng Trong từng bước đi vào thể
chế ổn định. Ong khuyên Chúa Nguyễn thi
hành phép duyệt tuyển( duyệt dân
tuyển lính) cứ 6 năm một lần tuyển
lớn, ba năm một lần tuyển nhỏ.
Đến kỳ tuyển sinh tháng Giêng sai các tổng, xă làm
sổ hộ tịch, chia dân ra làm hai loại chính hộ( dân chính cư), khách hộ( dân ngụ
cứ). Mỗi loại lại chia thành các hạng tráng,
quân, dân, lăo, tật, cố, cùng, tuỳ từng đối
tượng mà thu thuế khác nhau. Ong cũng đề nghị chúa Nguyễn cho
tổ chức các kỳ thi để chọn người
tài. Các khoá thi bấy giờ được tiến
hành đồng thời với các kỳ duyệt tuyển
lớn, người nào đỗ th́ cho làm nhiêu học,
miễn thuế sai dư 5 năm hoặc bổ làm việc
ở Tam Kỳ. Là người gần gũi thường
xuyên với chúa Nguyễn lại được tin dùng, ông
đă đề xuất nhiều chính sách có lợi cho
quốc kế dân sinh.
Với tư cách là một nhà quân
sự, Đào duy Từ có những đóng góp xuất
sắc cả trên phương diện thực tiễn và lư
luận. Luỹ Trường Dục và Luỹ
Thầy do ông thiết kế và trực tiếp chỉ
đạo xây dựng đă thực sự phát huy hết
tác dụng trong suốt cuộc chiến tranh Trịnh –
Nguyễn, xứng đáng với tên gọi là “ Định Bắc Trương Thành”,
về lư luận ông có tác phẩm hồ Tướng Khu
cơ, cùng với binh thư yếu lược của
Trần Quốc là hai cuốn binh pháp nổi tiếng của
Việt Nam thời trung đại c̣n lại đến
ngày nay. Thần thái toát ra từ sự
nghiệp quân sự của Đào Duy Từ là ông đă
biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lư
luận và thực tiễn. Lư luận quân sự
của Đào Duy Từ có tham khảo binh pháp Trung Hoa và
kế thừa tinh hoa binh pháp Việt Nam đến lúc
đó, nhưng mặt chủ yếu vẫn là sáng tạo
xuất phát từ thực tiễn Việt Nam thế
kỷ XVI, XVII
Là
một nhà thơ, Đào Duy Từ c̣n để lại cho
đời một tác phẩm có giá trị. Bài
Ngọa Long cương văn gồm 136 câu lục bát từ
lâu được phổ biến rộng răi. Bài
thơ nói về nhân vật Khổng Minh thời Tam quốc
ẩn ḿnh ở núi Ngoạ Long trước khi ra giúp anh em
Lưu Bị, nhưng qua đó bộc lộ rơ ư chí và hoài
băo của Đào Duy Từ muốn đem tài năng của
ḿnh ra để giúp đời. Truyền
rằng khi làm thầy học ở nhà quan Khám Lư Trần
Đức Hoà, Đào duy Từ thường ngâm bài thơ
này. Chính nhờ bài thơ chất
chứa tâm huyết này mà ông đă được
đến với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Sử chép lại rằng, trước lúc tiến
cử ông, Trần Đức Hoà đă đem dâng bài thơ
lên chúa. Chúa xem thấy lạ lập tức cho mời
Đào Duy Từ, bài tư dung văn gồm 336 câu thơ
lục bát xen kẽ 7 bài thơ thể ngũ ngôn, thất
ngôn tứ tuyệt cũng là một án văn hay, ca ngợi
vẽ đẹp thiên nhiên nơi cửa biển Từ Dung
và cảnh sống thanh b́nh của vùng đất
Phương Nam, nơi có chúa hiền tài giỏi. Ngoài ra
tương truyền rằng vở tuồng Sơn Hậu
cũang như các điệu múa Hoa Đăng, Nữ
tướng xuất quân cũng điều do Đào Duy
Từ sáng tác.
Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy
Từ giống như một thiên sử bi hùng. Bị
gạt ra khỏi con đường khoa cử chỉ v́
cha mẹ là nghệ sĩ nhưng Đào Duy Từ không v́
thế mà bi quan yếm thế. Trái lại
dường như trong ông càng nung nấu hơn ư chí
sắt đá phải tự vươn lên để
khẳng định ḿnh. Quyết định đi
về phương Nam, t́m đến với chúa nguyễn
của Đào Duy Từ chắc chắn không chỉ v́ chút
bực dọc nhất thời, mà là cả một tầm
nh́n. Nơi ấy cần đến tài năng thực
sự của ông hơn, tám năm về bên chúa Nguyễn
một khoảng thời gian không dài mà sự nghiệp
Đào Duy Từ được các vua Nguyễn sau này
xếp vào hàng đệ nhất khai quốc công thần. Thế mới biết tài năng khi
được phát hiện và trọng dụng th́ có ích
biết nhường nào. Tất nhiên sự nghiệp
rực rỡ của Đào duy từ không thể tách
rời sự anh minh sáng suốt trong tài dùng người
của Nguyễn Phúc Nguyên và đổi lại, thành công
của ông trong việc biến các ư tưởng của cha
thành hiện thực có phần đóng góp xuất sắc
của Đào Duy Từ. Hai trăm năm sau Nguyễn Hoàng,
người việc đă lập nghiệp tới tận
chót mũi Cà Mâu. Gạt sang bên những hạn chế khó
tránh khỏi của xă hội phong kiến, có thể
tấy sự nghiệp ấy thật lớn lao, trong đó sự xuất hiện đúng
lúc của Đào Duy Từ đă tạo nên một bước
ngoặc lớn.
Sinh ra và lớn lên ở Thanh Hoá nhưng làng Tùng
Châu thuộc xă Hoài thanh ( Hoài Nhơn) là
nơi đă hun đúc thêm tài năng và ư chí của ông, giúp
ông bắt đầu một sự nghiệp lớn. Sau khi ông qua đời chúa Nguyễn cho đưa
thi hàivề mai táng và lập đền thờ tại
đây. Hiện nay trên vùng đất thuộc Tùng Châu
xưa vẫn c̣n một số di tích liên quan đế
Đào Duy Từ .
Di tích lăng mộ Đào Duy Từ nay thuộc
địa phận thôn Phụng Du, xă Hoài Hảo, huyện
Hoài Nhơn. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công
trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ
được xếp hàng đầu, được
cấp 15 mẫu tự điền và 6 người trông coi
phần mộ. Đến năm Minh mệnh 17 (1836),
triều đ́nh lại sai dân sở tại sửa chữa
lăng mộ cho ông. Trải qua thời
gian và chiến tranh, lăng mộ ông
bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần
đây nhất được tiến hành năm 1999.
Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại
thuộc thôn Ngọc Sơn, xă Hoài Thanh tây, huyện Hoài
Nhơn. Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa
đất h́nh chữ T có diện tích 1.616m2 ,
được xây dựng vào năm Tự Đức 12
(1859), đă rải qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có
tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên
có bốn chữ lớn “ Quốc công từ môn” ( cổng
đến thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ,
hai bên đắp phù điêu h́nh hai con dơi cánh
điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn
trụ góc có h́nh rồng uốn lượn. Qua
Tam Quan có sân nhỏ h́nh chữ nhật, kích thước 6,9m
x 7,8m. tiếp đến là b́nh phong
đắp h́nh long mă lưng có hà đồ nỗi trên
mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “
Bách thế bất di” ( Trăm đời không thay đổi).
Ơ hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai
lịch Đào Duy Từ:
Ngọc sơn chung tú Bắc
Bồng lănh
hiển danh
Cách
đều b́nh phong 2,6m về hai bên có hai cột trụ cao
4m, trên đỉnh đắp tượng hạc
đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn
h́nh chữ nhật với kívh thước 15,4m x 14m. qua sân
lớn đến nhà thờ được thiết
kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc
truyền thống ở B́nh Định. Khám thờ bên trong
có bài vị của Đào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh( thân
phụ và thân Mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy
Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từcó ḍng chữ “ Thuỷ tổ khảo nội tán lộc khê
hầu Đào Công, tặng khai quốc công thần,
đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các
đại học sỹ, Thái sư, nhưng thuỷ Trung
Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị
của vợ Đào Duy Từ viết “ Thuỷ tổ
tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân,
Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong
nhà thờ c̣n có đôi câu đối nhưng nay đă
sứt ṃn, mờ không đọc được.
Di tích
nhà thờ Đào Duy Từ tại thôn Cự Tài thuộc xă
Hoài Phú huyện Hoài Nhơn. Sách đại nam Nhất
Thống chí và đồng khánh dư địa chí
đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Đào Duy
từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn( nay là
Hoài Nhơn). Trong chiến ranh nhà thờ này
đă bị sụp đổ. Năm 1978 ḍng họ
đào xin kinh phí của tỉnh Nghĩa B́nh để xây
dựng lại đền thờ trên nền cũ hiện
chỉ c̣n lại hai trụ cổng và tấm đại
tự cũng đề “ Quốc công
từ môn” ( giống như nhà thờ ở thôn Ngọc
Sơn,xă Hoài Thanh tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự
Đức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải
Định thứ 1 (1861). Trong đền
thờ khám thờ là bài vị Đào Duy Từ cũng ghi
giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn.
Ngoài
ra, tại thôn Ngọc Sơn c̣n có lăng
Đào Tá Hán. Truyền rằng khi đă làm quan ở
Thuận Hoá, Đào Duy từ cho đắp mộ phụ
thân rồi tung tin rằng đă
đưa hài cốt cha mẹ vào đây để pḥng
việc trả thù của họ Trịnh ở Đàng
Ngoài. Lăng mộ hiện nằm trên một
quả đồi rộng. Cũng
tại Ngọc sơn hiên có một ngôi chùa nhỏ,
tương truyền là nơi đi tu của bà vợ
cả họ Cao.
Những
di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay,
nằm ở các thôn, xă khác nhau ( lăng
mộ Đào Duy Từ tạu thôn Phụng Du xă Hoài Hảo,
nhà tờ và lăng mộ Đào Tá Hán tại thôn Ngọc
sơn xă Hoài Thanh tâyvà nhà thờ ở thôn Cự Tài xă Hoài
Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng
đất của trại Tùng châu xưa. Đây là những
xă thôn mà hiện nay con cháu Đào Duy Từ c̣n rất
đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự
Tài.
Hàng
năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch là ngày giỗ Đào Duy
Từ con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất
long trọng. Theo quy ước, cứ vào
dịp này coan cháu ḍng tộc điều nghỉ việc
đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp
hương tại lăng mộ Đào Duy Từ ( tôn
Phụng Du) con cháu về hợp mặt và dâng hương
tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng
Đào Duy Từ ở thôn
Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế
lễ chính thức tại đền thờ Đào Duy
Từ ở thôn Cự Tài. Ngoài ngày giỗ chính ( 17 tháng 10),
hàng năm tại các di tích trên c̣n có 5 ngày lễ phụ vào
dịp Đông chí , Chạp mă, Thanh minh, Trung thu và tết
Nguyên đán. Ngày giỗ Đào Duy Từ cũng là ngày con
cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng
vợ của ông. Duy bà vợ cả c̣n có ngày
riêng là 12 thàng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn
Tài lương. Giỗ bà hàng năm( gọi là tiểu
chẩn) chỉ sửa cơm chay, cứ mười
năm ( gọi là trung chẩn) th́ lễ vật có thêm
đôi chim sống, một đôi gà sống cúng xong xô chim gà
ra rồi con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm
(đại chẩn)mới sửa cỗ mặn.
Có đến tận nơi mảnh đất
Tùng Châu xưa mới thấy hết dấu ấn và
ảnh hưởng lớn lao của
Đào duy Từ đối với vùng đất này. Không
chỉ có con cháu họ Đào nơi đây tự hào về
vị tổ tiên của ḿnh mà tất cả mọi
người dân nơi đây đều tự hào về
ông. Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy Từ
đă trở thành niềm tự hào chung
của dân Hoài Nhơn, của nhân dân B́nh Định.
Cuộc hành hương đưa ta trở về mảnh
đất nơi xưa Đào Duy Từ thác làm kẻ
chăn trâu cho phú ông không mấy khó khăn. Từ thị
trấn Bồng Sơn ruổi theo
quốc lộ 1A khoảng 7 km tới cột cây số 1138
rồi rẽ hương tây là sẽ đến các
địa chỉ cần t́m. Cỏ trên
mộ ông luôn ấm hơi người, của con cháu,
của bà con nơi đây, của khách thập
phương. Bởi cuộc đời đầy
những t́nh tiết ly kỳ của ông, bởi tấm ḷng
của ông với vùng đất quê hương thứ hai
này, và bởi sự nghiệp lẫy lừng của ông
với chúa Nguyễn, với nhân dân Đàng Trong vẫn
sẽ c̣n sống măi với thời gian(5)
3. Chùa Thập Tháp
Thập Tháp Di Đà tự hay chùa Thập Tháp là
một trong 5 ngôi chùa của tỉnh B́nh
Địnhđược chép vào sách Đại Nam nhất
thống chí với lời đánh giá “ chùa này cùng chùa linh
phong đều nổi tiếng là danh thắng” (6) Ca dao
đại phương có câu:
An
nhơn có núi ṃ O
Có chùa Thập Tháp có đ̣ Trường Thi.
Chùa Thập Tháp nằm ở phía Bắc thành
đô Bàn, nay thuộc địa phận hôn vạn
thuận, xă nhơn thành huyện An nhơn, cách Thành phố
Quy nhơn 27 km, thị trấn B́nh Định 7km về
phía Tay Bắc và chỉ cách quốc lốA khoảng 100m
về phía tây. Con đường tương đối rộng
nối từ chùa ra quốc lộ I đoạn giữa
Đập Đá và nhơn Thành, nơi có cầu Vạn
Thuận hay c̣n gọi là cầu chùa chính là một đoạn
phế tích bờ Bắc thành Đồ Bàn xưa.
Chùa được xây dựng trên một g̣
tương đối rộng h́nh mai rùa có chu
vi gần 1 km gọi là g̣ Thập Tháp. Tên gọi này bắt
nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có
mười ngọn tháp do người chàm xây để “ yểm hậu” cho thành Vijaya. Sách
đại nam nhật thống chí cũng giải thích”… v́
phía sau có mười ngọn tháp Chiêm Thành nên gọi tên
thế” (7). Chùa quay hướng đông, trước
cổng Tam Quan là một ao sen rộng chừng nữa
mẫu có bờ xây bằng đá ong không bao giờ cạn
nước, xa xa là ngọn Thiên Đỉnh sơn (Núi Ṃ O
)quanh năm lăng đảng sương mây. Phía
nam là thành Đồ Bàn có tháp cánh tiên sừng sững.
Vậy bọc sau lưng,bên trái rồi
lượn về đông là một nhánh sông Quai Vạc,
một chi lưu của sông Kôn. Đất
ấy, cảnh ấy thật sơn thuỷ, thật
hữu t́nh.
Theo các nguồn sử liệu, vào năm ất
tỵ đời chúa Thái Tông Nguyễn Phúc Tần (1665) có
một nhà sư Trung Quốc, họ tạ, huư Nguyên
Thiều, hiệu Hoán Bích và Thọ Tôn, người làng Tŕnh
Hương, huyện Triều Châu, tỉnh Quảng Đông
thuộc ḍng Thiên Lâm
Tế, nhận y bác của tổ đời
thứ 32 đă đến đất này. Ban đầu nhà
sư cho dựng một thảo am (lều cỏ)
để truyền đạo. Mười tám năm sau,
vào năm quư hợi niên hiệu chính Hoà thứ 4 nhà lê (1683),
một ngôi chùa khang trang được hưng công xây
dựng mà ật liệu chính là gạch đá lấy
từ mười ngôi tháp chàm bị đổ(8). Đến năm Tân Mùi niên hiệu chính hoà thứ
12 (1691) chúa Nguyễn phúc Chu Ban cho chùa biển ngạch
đề Thập Tháp Di Đà tự. Lập xong chùa,
theo lệnh chúa, Nguyễn Thiều lănh sứ mệnh
mở mang Phật pháp cho cả xứ Đàng Trong, bèn giao
chùa lại cho bạn đồng môn là hoà thượng
Đạo Nguyên(1656 –1716) cùng đệ tử xuất
sắc là hoà thượng Kỳ Phương(1282 –1744)
trụ tŕ rồi đi nhiều nơi dựng thêm chùa mới
như Phổ Thành, quốc Am ở Thuận Hoá, Giác Duyên
ở Gia Định … Sau đó trở về Trung Quốc
cung thích pháp trượng, pháp khí cùng nhiều kinh phật (
hiện nay tại chùa Thập Tháp vẫn con giữ
được ba bộ kinh cổ do nhà sư mang sang lúc
bấy giờ ). Vị Thiền sư tịch năm 1715,
trở thành tổ thứ 33 ḍng Thiên Lâm Tế chính tôn là
sơ tổ khai sơn Thập Tháp di đà tự.
Đời thứ 34 người kế tục
Sơ tổ là hoà thượng kỳ phương,
đến đời thứ 35 là Hoà thượng Liễu
Triệt (1702- 1764). Vào năm kỷ tỵ
đời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1749) chùa
được trùng tu trên quy mô lớn. Cuối
thế kỷ XVIII, dưới thời trụ tŕ của
Hoà thượng Hạo Nhiên (1712 –1784) và Hữu phỉ (?
– 1799) thuộc đời thứ 36 là lúc phong
trào Tây Sơn bùng nổ. Do nằm kề cận thành
Hoàng Đế nên chùa chịu nhiều ảnh hưởng
của nhiều cơn binh lửa, chứng kiến
những trận đánh quyết liệt giữa quân Tây
Sơn và quân Nguuyễn Anh. Chiến tranh kết thúc, qua các
đời trụ tŕ của hào thượng Huệ
Nhất (1752 –1826) đời thứ 37, Hưng Long (1752 –
1836) đời thứ 38, chùa có được tu sữa
lại. Sách Đại Nam Nhất Thống chí cho biết
vào năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) sư trụ tŕ
chùa Thiên Mụ là Hoà Thượng Hoằng Mật
đứng ra trùng tu, nhưng dấu vết để
lại không đáng kể. Đến
đời hoà thượng Minh Lư (1836 –1889) đời
thứ 39, chùa lại được trùng tu trên quy mô
lớn, kéo dài trong nhiều năm. Chính
điện được nâng cao, cả phần kiến
trúc và nghệ thuật trang trí đều được
hoàn chỉnh. Ba mươi pho tượng lớn
nhỏ được tạo tác ( bên dưới mỗi
pho tượng đều có ghi ḍng chữ “ Giáp tuất
niên ( năm 1874) trụ tŕ Minh Lư Hoà thượng cung
tạo”, các khám thờ cả chính phụ là 6 khám ) cùng
một số hoành phi là trùng tu, ngoài ra Hoà thượng Minh
lư c̣n khắc tấm biển đề “ pháp phái Lâm Tế
chính phổ” chép bài kệ của Hoà thượng Vạn
Phong vào năm 1874, rồi cho dựng bia sắc tứ
Thập Tháp di Đà bi minh(1876) và khắc trên ba năm
bản in kinh phật bằng gỗ… dưới thời
trụ tŕ của tổ đời thứ 40, vào năm
Thành Thái thứ 6 (1894), Hoà thượng Vạn Thành (1865
–1905) đă thuê đúc một quả chuôn lớn
đường kính 0,7m cao 1,5m, nặng 835kg. Tiếp đó
đến đời Hoà thượng Phước Huệ
(1869 –1945) cũng đời thứ 40, công việc tu
sửa vẫn được tiếp tục, đặt
biết vào năm 1924 ngôi phương trượng và Tam
Quan được xây dựng lại. Đến
đời thứ 41 là Hoà Thượng huệ chiểu
(1898 –1965) rồi kế châu ( sinh năm
1921) vẫn diễn ra những tu bổ thường xuyên.
Đến nay, trải qua lịch sử trên 300
năm với 15 vị hoà thượng trụ tŕ thuộc
9 đời, từ ngôi thảo am đơn sơ Thập Tháp
Di Đà tự đă trở Thành một công tŕnh kiến
trúc Phật giáo có qui mô ḥanh tráng. Có thể khẳng
định rằng chùa Thập Tháp bộ sử bằng di
tích nói về quá tŕnh phát triển của phật giáo
Đàng Trong, đặc biệt với B́nh Định ,
đây là ngôi tổ đ́nh của phái Nguyên Thiều. Ngoài ư
nghĩa đó, quần thể kiến trúc điêu khắc
và ṭan bộ cảnh quan chùa Thập Tháp ngày nay c̣n là một
di tích văn hóa có giá trị lớn lao
trên nhiều phương tiện. Chính v́
vậy mà chùa đă được Bộ văn hóa xếp
hạn là Di tích Quốc gia.
Chùa được bao quanh bằng
lớp tường mới xây dựng lại. Tam Quan với hai trụ cao và to, trên đỉnh
đắp tượng sư tử, hai mặt trong ngoài có
đề đôi câu đối. Qua
khỏi cửa Tam Quan ta dể dàng nhận thấy chùa có
kiến trúc kiểu chữ khẩu, bao gồm 4 khu vực
chính. Khu chính diện có diện tích khoảng 400m2 ,
khu phương tượng khỏang 130m2 , khu tây
đường khỏang 120m2 , và khu đông
đường khỏang 150m2 được nối với nhau
bằng một sân rộng bên trong trồng nhiều cây
cảnh.
Chính diện là một kiến trúc
tương đối đồ sộ với kết
cấu gỗ chiếm phần chủ yếu và cũng là
nơi c̣n lưu giữ nhiều dấu ấn của
lần trùng tu năm 1749. Đó là một ṭa nhà
rộng gồm 5 gian có hành lang bao bọc dài 30 mét, rộng
20 mét, ba gian giữa là điện thờ (Đại Hùng
Điện) hai gian phụ hai bên là pḥng chúng tăng,
được ngăn cách với điện thờ và hành
lang trái bớ một vách lụa. Kết cấu bộ
sườn gồm 4 hàng cột con, trong đó có 8 cột
hàng nhất cao 6 mét, 8 cột hàng nh́ cao 5 mét, cột to
một người ôm không xuể… Các đọan tŕnh ( ḥanh) cấu tạo kiểu giá chiêng, hai
đầu chạm hoa cuộn, ở những điểm
đầu kèo, vật kê đồ chạm h́nh rồng cách
điệu, nét tṛn đơn, uốn lượng trang nhă.
Bụng các đọan trính( ḥanh), xuyên(
quá giang), đều chạm hoa văn. Khám thờ chính trong
nội điện đặc dọc theo
hàng cột nhất cao gần 5 mét, mày khám chạm
lưỡng long tranh châu, thờ tam thế phật: Thích Ca,
Di đà, cổ kính, thanh thóat.
Khu phương trượng đă
được cải taọ và nâng cấp vào năm quí sửu, DUY Tân
7(1913), xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, dàn mái
cấu tạo nhiều lớp cao thấp. Đáng chú ư là
bộ sườn gỗ và dàn khám thờ có kỷ thuật
chạm chổ
lắp ráp rất đẹp. Phương trượng chia
làm ba gian, gian giữa là án thờ Ḥa thượng
Phước Huệ (1869 –1945) đời thứ 40 với
bức chân dung ṭan thân, hai bên gian là chổ nghỉ cho khách
tăng.
Khu đông đường ( bên
trái) và Tây đường ( bên phải) đối xứng
nhau. Đông đường do bị hư hại nặng
đă được trùng tư gần như mới ḥan
ṭan vào năm 1967, là nơi tiếp khách và chổ ở
của tăng chúng. Tây đường có lối kiến
trúc gần gióng phương trượng, mái lợp ngói âm
dương, là nơi thờ phụng Sơ tổ khai
sơn ( Nguyên Thiều) cùng chư vị kế thừa và
phật tử quá cố. Chân dung tổ Nguyên Thiều
thờ tại án trước, án sau là chư vị chủ
ch́ kế thừa cùng những người công đức
góp phần xây dựng chùa qua các thời kỳ ( tổng cộng có 20 long vị), hai bên
thờ vong linh thiện nam tín nữ từ nhiều
đời đến nay.
Ngoài bốn hạng mục chính trên, ở khu
vực phía tây c̣n có nhà thánh kiến trúc đơn giản
thờ Cửu Thiênn Huyền Nữ, Quan công, Thập
Điện Diên Vương… Phí đông, gắn liền
với dăy đông đường là nhà trù(
bếp). Khu mộ tháp nằm bên trái chùa bao
gồm 21 bảo tháp nhỏ lớn, mang phong cách kiến
trúc của nhiều thời kỳ khác nhau. Xưa
nhất là tháp đạo Nguyên Thiều Sư (1656 – 1716) và
Minh Giác Kỳ Phương( 1682 – 1716)
Trong chùa đến nay vẫn c̣n
giữ được nhiều di vật quư. Đó là
đôi câu liễn sơn
Thành
một công tŕnh kiến trúc Phật giáo có qui mô ḥanh tráng. Có thể
khẳng định rằng chùa Thập Tháp bộ sử
bằng di tích nói về quá tŕnh phát triển của phật
giáo Đàng Trong, đặc biệt với B́nh Định
, đây là ngôi tổ đ́nh của phái Nguyên Thiều. Ngoài
ư nghĩa đó, quần thể kiến trúc điêu khắc
và ṭan bộ cảnh quan chùa Thập Tháp ngày nay c̣n là một
di tích văn hóa có giá trị lớn lao
trên nhiều phương tiện. Chính v́
vậy mà chùa đă được Bộ văn hóa xếp
hạn là Di tích Quốc gia.
Chùa được bao quanh bằng
lớp tường mới xây dựng lại. Tam Quan với hai trụ cao và to, trên đỉnh
đắp tượng sư tử, hai mặt trong ngoài có
đề đôi câu đối. Qua
khỏi cửa Tam Quan ta dể dàng nhận thấy chùa có
kiến trúc kiểu chữ khẩu, bao gồm 4 khu vực
chính. Khu chính diện có diện tích khoảng 400m2 ,
khu phương tượng khỏang 130m2 , khu tây
đường khỏang 120m2 , và khu đông
đường khỏang 150m2 được nối với nhau
bằng một sân rộng bên trong trồng nhiều cây
cảnh.
Chính diện là một kiến trúc
tương đối đồ sộ với kết
cấu gỗ chiếm phần chủ yếu và cũng là
nơi c̣n lưu giữ nhiều dấu ấn của
lần trùng tu năm 1749. Đó là một ṭa nhà
rộng gồm 5 gian có hành lang bao bọc dài 30 mét, rộng
20 mét, ba gian giữa là điện thờ (Đại Hùng
Điện) hai gian phụ hai bên là pḥng chúng tăng,
được ngăn cách với điện thờ và hành
lang trái bớ một vách lụa. Kết cấu bộ
sườn gồm 4 hàng cột con, trong đó có 8 cột
hàng nhất cao 6 mét, 8 cột hàng nh́ cao 5 mét, cột to
một người ôm không xuể… Các đọan tŕnh ( ḥanh) cấu tạo kiểu giá chiêng, hai
đầu chạm hoa cuộn, ở những điểm
đầu kèo, vật kê đồ chạm h́nh rồng cách
điệu, nét tṛn đơn, uốn lượng trang nhă.
Bụng các đọan trính( ḥanh), xuyên(
quá giang), đều chạm hoa văn. Khám thờ chính trong
nội điện đặc dọc theo hàng cột
nhất cao gần 5 mét, mày khám chạm lưỡng long tranh
châu, thờ tam thế phật: Thích Ca, Di đà, Di Lặc( Đúch bằng đồng, cao
gần 2 mét). Hai khám phụ hai bên có bố cục giống
khám chính nhưng
cấu trúc cũng họa tiết trang trí
đơn giản hơn. Khám bên phải thờ
tượng Phật Quan Am làm bằng đất nung sơn
thép cao 0,9
mét. Ng̣ai ra c̣n có ba khám thờ khác đặc ở hai vách
hông và đối diện với khám chính truớc hành lang.
Nh́n chung chính diện đă qua nhiều
giai đọan trùng tu nên có sự đang xen cũ lẫn
mới. Tuy nhiên về kiểu trúc vẫn tóat
lên vẽ đẹp cổ kính, thanh thóat.
Khu phương trượng đă
được cải taọ và nâng cấp vào năm quí sửu, DUY Tân
7(1913), xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, dàn mái
cấu tạo nhiều lớp cao thấp. Đáng chú ư là
bộ sườn gỗ và dàn khám thờ có kỷ thuật
chạm chổ
lắp ráp rất đẹp. Phương trượng chia
làm ba gian, gian giữa là án thờ Ḥa thượng
Phước Huệ (1869 –1945) đời thứ 40 với
bức chân dung ṭan thân, hai bên gian là chổ nghỉ cho khách
tăng.
Khu đông đường ( bên
trái) và Tây đường ( bên phải) đối xứng
nhau. Đông đường do bị hư hại nặng
đă được trùng tư gần như mới ḥan
ṭan vào năm 1967, là nơi tiếp khách và chổ ở
của tăng chúng. Tây đường có lối kiến
trúc gần gióng phương trượng, mái lợp ngói âm
dương, là nơi thờ phụng Sơ tổ khai
sơn ( Nguyên Thiều) cùng chư vị kế thừa và
phật tử quá cố. Chân dung tổ Nguyên Thiều
thờ tại án trước, án sau là chư vị chủ
ch́ kế thừa cùng những người công đức
góp phần xây dựng chùa qua các thời kỳ ( tổng cộng có 20 long vị), hai bên
thờ vong linh thiện nam tín nữ từ nhiều
đời đến nay.
Ngoài bốn hạng mục chính trên, ở khu
vực phía tây c̣n có nhà thánh kiến trúc đơn giản
thờ Cửu Thiênn Huyền Nữ, Quan công, Thập
Điện Diên Vương… Phí đông, gắn liền
với dăy đông đường là nhà trù(
bếp). Khu mộ tháp nằm bên trái chùa bao
gồm 21 bảo tháp nhỏ lớn, mang phong cách kiến
trúc của nhiều thời kỳ khác nhau. Xưa nhất
là tháp đạo Nguyên Thiều Sư (1656 – 1716) và Minh Giác
Kỳ Phương( 1682 – 1716)
Trong chùa đến nay vẫn c̣n
giữ được nhiều di vật quư. Đó là
đôi câu liễn sơn thếp cao 2,5mét ghi bài ngự
đề của chúa NguyễnPhúc Chu, đạo hiệu
Từ Đế ĐạoNhân cúng cho chùa vào năm Tân Tỵ (1701), hiện để
ở chính điện. Một tấm hoành sơn thếp
kích thước 0,9m x 5mét đề “ Thập
Tháp Di Đà Tự” do hoà thượng Mật hoằng
trụ tŕ chùa Thiên Mụ phụng tạo vào năm Minh
Mệnh nguyên niên(1820) hiện được treo ở
trước chính điện. Ngoài ra c̣n phải kể
đến tấm hoành ghi nội dung bài kệ của Hoà
Thượng Minh Lư cung tạo năm 1874và đặc
biệt trong chùa hiện c̣n lưu trữ được
nhiều tạng kinh khắc gỗ và in giấy. Số tạng kinh gỗ có tới trên
1.500bảng, c̣n kinh giấy bao gồm 389 bộ.
Hơn ba trăm năm tồn tại Thập Tháp
di đà tự đă chứng kiến biết bao sự
kiện lịch sử gắn liên với những
bước ngoặc lớn lao của
đất nước, của dân tộc. Ngày
nay đứng trước tam quan, bên hồ sen lung linh, nh́n
xa xăm ra ngọn núi phía đông ḷng ta trào dâng bao cảm
xúc. Con đường dẫn vào chùa đây đă
từng nhiều trăm năm là bờ bắc thành
Đồ Bàn, đế đô của Vương quốc
Khi phong trào Tây Sơn quật khởi, các lănh
tụ nghĩa quân cũng đă chọn nơi đây làm
đại bản danh trong giai đoạn đầu
với những cuộc xuất quân thần ḱ vào Nam, ra
Bắc. Trong chùa hiện vẫn có lưu giữ
được một số di tích và hiện vật liên
quan đến phong trào tây sơn( xin xem
mục Thành Hoàng Đế trong chương III) .
Sang thời hiện đại,
dưới thời hoà thượng Huệ Chiểu (1898
–1965) chùa Thập Tháp và cá nhân sự trụ tŕ đă có
những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngài
từng là thành viên của mặt trận Liên Việt khu V, từng lănh
đạo giáo hội B́nh Định và phật tử
đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống chế
độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm.
Người đến Thập Tháp Di Đà Tự ngày càng đông
không phải chỉ v́ chùa là một di tích tiêu biểu đă
được xếp hạng di tích lịch sử văn
hoá cấp quốc gia mà c̣n v́ những giá trị văn hoá –
lịch sử đích thực của di tích. Họ
là phật tử, là các nhà nghiên cứu, sử học,
nghệ thuật, tôn giáo và cả khách du lịch, trong
nước có mà nước ngoài cũng có. Từ
nhiều năm nay
chùa đă là trung tâm Phật giáo lớn của
B́nh Định, là một quần thể kiến trúc có quy
mô lớn, là một danh lam có tiếng ở miền trung.
4. Chù Linh Phong
Trên
sường phía Đông Nam núi Bà, nay thuộc địa
phận thôn Phương Phi, xă Cát Tiến, huyện Phù Cát có
một ngôi chùa cổ tên gọi là Linh Phong thiền tự. Trải qua chiến tranh, ngôi chùa đă bị tàn
phá sụp đổ hoàn toàn, nay chỉ c̣n là dấu xưa.
Dẫu rằng như vậy, nhưng sức sống
của một ngôi chùa cổ kinh vẫn c̣n măi trong kư ức
của người dân B́nh Định chua dựa lưng
vào dăy núi Bà hùng vĩ
từ trong nguồn những ḍng suối nhỏ
chảy xuống sân chùa, uốn lượn ṿng quanh rồi
đổ cả xuống một hồ sen phía
trước, chùa cất trên núi nhưng dường như
không cách biệt với đồng bằng. Trèo
lên bất kỳ một tảng đá nào cũng có thể
phóng tầm mặt về phía tây và nam nơi có những cánh
đồng lúa xanh bát ngát. Xa xa về phía
Đông là biển rộng mênh mông. Những ngày
đẹp trời thậm chí có thể nh́n thấy
Đầm Thị Nại rồi xa nữa là thấp thoáng
bán đảo Phương Mai, Thành phố Quy Nhơn. Phong
cảnh chùa thật kỳ thú. Đúng như lời
nhận xét của sách Đại nam Nhật Thống chí: “
chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát,
lưng dựa vào núi cao, mặt trông ra đầm Biển
cạn ( tức đầm Thị Nại), sung quanh có
nước suối lượn quanh phong cảnh thật
đẹp”(9). Cũng theo sách này, vào năm chính hoà thứ
11 nhà Lê(1702), lúc ấy ở Đàng Trong chúa Nguyễn phúc
Chu (1691 –1725) đang trị v́, có một người tên
gọi Lê Ban đến đây tu hành. Ngôi chùa
đầu tiên lợp bằng cỏ tranh được
đặt tên là Dũng Tuyền. Nhà
sư sống ở trên núi quanh năm, hiếm khi xuống
dưới đồng bằng. Dân gian
truyền tụng rằng nhà sư sống rất thanh
bần, dùng vỏ cây làm quần áo, thỉnh thoảng
mới quảy một gánh củi xuống chân núi, nơi có
ngă ba đường thường có người qua
lại, để đó rồi về. Người
địa phương cần củi th́ đem gạo
muối đến đó để đổi. Ngày hôm sau nhà sư mới quay lại lấy
gạo muối nhưng không bao giờ quan tâm đến
sự thiếu đủ, ít nhiều. Dân
trong vùbg gọi nhà sư là Ong Núi. Cũng bởi
vậy mà ngôi chùa
này trong dân gian c̣n có tên là chùa Ong Núi. Cùng
với việc tu luyện Phật pháp, nhà sư c̣n t́m
hiểu được tính cỏ cây trên núi, chế ra
những thứ linh dược. Mỗi
khi trong vùng có dịch bệnh, thầy chùa lại đem
thuốc xuống cứu chữa đặt biệt nhà
sư không bao giờ lấy tiền thuốc hay công ơn
chữa bệnh.
Tiếng
đồn đến tai chúa, năm 1733 Nguyễn Phúc Chu
xuống chiếu ban cho Ong Núi pháp hiệu Tĩnh giác
Thiện Tŕ Đại Lăo Thiền Sư, cho xây dựng chùa
đổ tên là Linh Phong (10). Đến thời Vơ
Vương Nguyễn phúc Kháot (1738 –1765) nhà sư lại
một lần nữa nhà chúa ban cho áo cà sa
có ṿng ngọc móc vàng. Nhưng chẵn bao lâu
sau, chính quyền vơ vương bị quyên thần
Trương Phúc loan thao túng. Có người bảo
rằng do trong nước sinh loạn, nhà sư bỏ
đi không biết về đâu. Nhưng
cũng có người nói rằng Ông Núi vẫn tu luyện
ở chùa linh phong cho đến cuối đời rồi
viên tịch tại bảo tháp, truyền rằng đó chính
là mộ phần của ông.
Người
phá thạch khai sơn, dự chùa đă khuất nhưng
danh tiếng của chùa Linh phong mỗi ngày được lan xa. Có truyền thuyết kể rằng vào
năm Minh Mạng thứ bảy (1826) vị Hoàng
Đế thứ hai của Triều Nguyễn bị
lầm trọng bệnh, Thái y viện đă chịu bó tay.
Bỗng một đêm nhà vua nằm mơ thấy một
nhà sư ḿnh mặc vơ cây, một tay
cầm quạt mo, một tay bưng chén thuốc đi
đến vua nằm. Dâng thuốc cho vua
uống xong, nhà sư biến mất. Tỉnh dậy
thấy bệnh t́nh thuyên giảm rồi khỏi hẳn,
nhà vua lấy làm lạ đem chuyện giấc mơ của
ḿnh kể lại cho các đinh thần. Có
vị đại thần rành tỏ sự tích. Ong Núi nói rằng h́nh dạng nhà sư vua thấy
trong mơ chính là Đại Lăo Thiên sư, người
đă từng trụ tŕ chùa Linh phong. Nghe xong câu
chuyện, Minh Mạng liên xuống chiếu cấp
Nén bạc để trùng tu lại
chùa(11). Câu chuyện không rơ
thực hư thế nào nhưng việc vua minh Mạng
cấp tiền cho chùa là có thật. Sách Đại Nam
nhất thồng chí do Quốc sử quán Triều Nguyễn
biên soạn, trong mục nói về chùa Linh phong có
đoạn chép rằng: “ vào năm Minh Mạng thứ 10
(1829) cho lấy bạc kho để tùng tu” (12). Cho dù
truyền thuyết kể trên không hẳn là có thật và
đượm màu sắc hoan đường, nhưng
đoạn ghi chép chính xác trong sử sách nhà Nguyễn cho
thấy đến thế kỷ XIX chùa Linh Phong vẫn là
một thắng tích quan trọng được triều
đ́nh nhà Nguyễn dành cho sự quan tâm đặc
biệt.
Cảnh trí thanh tao, không gian tỉnh
mịch của chùa linh Phong đă in dấu ấn của
biết bao tài tử văn nhân. Trên vách tường
chùa hiện coà lưu lại những bài thơ tức
cảnh, gửi gắm tâm sự của nhiều thi nhân,
trong đó có Đào Tấn. Năm 1885 với biết bao
giằng xé trong tâm can, cị cũng đă đến
nơi đây tĩnh trí, t́m lại sự thanh thản
của tâm hồn, sống ẩn dật nơi cử
thiền gần một năm trời.
Ơ sườn núi phía Đông có một hang
đá rộng ăn sâu vào rong núi. Dân
địa phương truyền rằng trong hang có
những phiếm đá xếp tự nhiên thành các vật
dụng giống như bàn, ghế và các đồ dùng khác. Đây là nơi Ong Núi đă từng sống và tu
luyện. Người ta c̣n kể rằng khi c̣n sinh
thời nhà sư có nuôi hai con cọp mun, tuy h́nh hài hung
dữ nhưng tính t́nh rất hiền lành, chúng không ăn
thịt mà chỉ ăn trái cây. Hang đá
giờ đây đă bị những bụi cây gai um tùm
lấp mật cửa, không ai dám vào. Chùa Linh
phong vốn đă nổi tiếng là linh thiêng, với hang
đá bí ẩn này và những truyền tích ly kỳ lại
càng thêm huyền bí.
Từ xưa đến nay,
người đến văn cảnh chùa không phải ít
nhưng họ đến với nhiều mục đích
khác nhau. Nhưng có lẽ đến
với chùa Linh Phong ai cũng sẽ cảm thấy như
ḷng thanh thản hơn. Thật đúng như một
thi sĩ đă gởi gắm nổi niềm vào hai câu
thơkết cho một bài thơ đề trên vách chùa:
“
Những
người phiền năo, trường danh lợi
đến đó thời ḷng
cũng giải khuây”
chùa toạ lạc chốn
sơn lâm nhưng đường đi tới lại không
khó. Du khách đi đường bộ có thể theo
quốc lộ 1A đến ngă ba cầu An Hành thuộc
địa phận xă Cát Tân ( Phù Cát), rồi rẽ vào
tỉnh lộ 635 nhằm thẳng hướng Đông
đến địa phận thôn Phương Phi, gặp
bất cứ ai cũng sẽ được chỉ đường
lên chùa. Trước khi tới chùa, cũng trên
trục lộ này tại thôn Trường Thạnh có
một di tích tây sơn quan trọng mà khách tham quan không nên
bỏ qua. Đó là Tân phủ Càn Dương. C̣n đi theo đường thuỷ th́ du khách có
thể cập bờ ờ Cách Thử rồi leo bộ lên
chùa. Cách Thử xưa vốn là hải tấn, một trung
tân thương mại, tàu bè qua lại buôn bán tấp
nập Chùa Linh Phong là một di tích, một danh lam hấp
dẫn mọi khách thập phương
5. Chùa Hàm Long
Chùa
Hàm Long nay thuộc địa phận thôn thuận Nghi, xă
Nhơn B́nh thành phố quy Nhơn, bên sường núi Hàm Long
(13).
Núi này nằm ngay trên tỉnh lộ 639 (nguyên
trước là một đoạn quốc lộ 1), cách
thành phố quy Nhơn 15 km về phía đông bắc và cách
thị trán Tuy phước 3 km về phía
Hàm
Long là một dăy độc sơn không lớn lắm
nhưng khá nổi tiếng, được sách Đại
Nam Nhất thống Chí chép đến (14). Núi
cao 92 m gồm 5 cụm nối liền nhau, uống
lượn như rồng cuộn. Phía
Bắc và Đông Bắc là sông Hà Thanh uốn lượn,
phía Tây và Tây
Xưa đến núi có ngôi
đền cổ gọi là đền Hàm Long, nhưng
đă bị phá huỷ từ lâu (15). Dưới
đền là một ngôi cổ tự thường gọi
là chùa Hang HAY Thiền Thất Giang Long, cũng gọi là chùa
Hàm Long. Người lập ra Thiền Thất Giang
long là nhà sư Thiệt Đăng, tự là Chánh Trí
hiệu là Bảo Quang vào quảng cuối thế kỷ
XVII, chùa này cũng đă bị phá huỷ từ lâu, nay
chỉ c̣n là nền móng cũ. Ngôi chùa hiện nay tên chữ
là Sơn, chủ yếu bằng xi măng cốt thép,
gỗ rất ít.
Trong chính điện bài trí đơn giản, chính giữa
là tượng Thích Ca hai bên có tượng phật bà Quan Am
và Thánh Mẫu, hai phía tả hữu có tượng ông
Thiện, ông ác cùng trống, chuông, khánh. Hậu tẩm
thờ bài vị các vị sư trụ tŕ cùng tăng ni. Bên phải vườn chùa là tháp mộ các
vị tổ kế tục nhau trụ tŕ và tượng
Phật Bà Quan Am trong tư thế đứng trang trọng
trên đài sen cao khoảng 3 mét có mái che. Thời
gian và những biến động đă làm cho dấu tích
của ngôi chùa cổ hầu như không c̣n ǵ. Tượng thờ hiện nay mới
được thỉnh về trong thời kỳ chiến
tranh chống Mỹ, c̣n số tượng cổ th́ đă
phân tán hết, hoặc tới những ngôi chùa khác, hoặc
tại nhà riêng của một số gia đ́nh phật
tử. C̣n chăng là đôi câu liễn,
một số bài vị của các tổ trụ tŕ.
Nếu như giá trị kiến trúc điêu
khắc của chùa Hàm Long không thật cao th́ trái lại, giá
trị lịch sử của quần thể cụm núi Hàm
Long –chùa Hàm Long lại rất đặc sắc.
Núi Hàm Long là một điểm cao
phía Đông của thành Hoàng Đế, một vị trí
pḥng thủ hết sức quan trọng. V́ thế nhà
Tây Sơn đă cho đóng đồn trên núi này gọi là
Đồn Uc Sơn(16). Một năm sau
khi Quang Trung mất, năm quư sửu 1793, Nguyễn Anh
đem quân đánh Quy Nhơn trận chiến đă diển
ra ác liệt trên núi Hàm Long
giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Anh. Sách Đại Nam
nhật thống chí chép về sự kiện này như sau: “ năm Quư Sửu đầu đời trung
hưng, đại binh tiến đánh Quy Nhơn, quân
giặc đắp đồn bảo để chống
cự, nhà vua bí mật sai Tôn Thất Hội và Nguyễn
Văn Thành lẻn qua sông Kỳ Sơn đánh vào mặt sau
của giặc, Vũ Văn Lượng đánh vào mặt
trước núi, giặc phải thua to tức là núi này( núi
Hàm Long)” (17). Sách Đại
Vào cuối thế kỷ XIX ,
năm At Dậu (1885), núi Hàm Long lại chứng kiến
trận phục kích quân Pháp
của nghĩa quân Cần Vương B́nh Định
do Đào Doăn Địch chỉ huy (19). Trong
kháng chiến chống thực dân Pháp chùa Hàm Long trở thành
cơ sở bí mật của tổ chức Đảng
địa phương. Sau hiệp định Geneve
(1954) chùa được dùng làm trụ sởcủa Uy ban
liên hiệp đ́nh chiến liên khu V, nơi nghỉ và làm
việc của phái đoàn Trung ương do đồng chí
Phạm Văn Đồng là trưởng đoàn về
triển khai hiệp định tại B́nh Định.
Năm 1957 Mỹ – diệm thi hành chính sách “ tố cộng, diết cộng” nhằm phá
vỡ các cơ sở Đảng , dập tắt phong trào
cách mạng trên toàn Miền Nam, chùa Hàm longvăn là địa
điểm liên lạc, gặp gỡ của các
đồng chí cán bộ cách mạng địa
phương, từ đây đă đưa ra những
nghị quyết quan trọng dẫn dắt cuộc
đấu tranh của nhân dân đánh bại âm mưu thâm
độc của kẻ thù. Nhờ vào sự che chở
đùm bọc của nhà chùa, của những nhà sư
giầu ḷng yêu nước mà cơ sở Đảng,
cơ sở cách mạng địa phương vẫn
được bảo tồn và đứng vững qua
những năm tháng thử thách gay go ác liệt nhất
của cách mạng miền
Núi hàm long, chùa Hàm Long, ngót hai thế kỷ, đă
chứng kiến biết bao sự kiện gắn liền
với vận mệnh chung của
đất nước, của dân tộc. Núi ấy, chùa
đây dù nay đă có nhiều thay đổi th́ vẫn măi
măi là chứng tích của những năm tháng hào hùng trong
cuộc trường chinh v́ độc lập tự do
của toàn dân tộc.
Ngày nay vào dịp đầu năm, ngày rằm,
mùng một hàng tháng, ngày Phật đản rằm tháng
tư, lễ Vu Lan rằm tháng bẩy, Phật tử, và
đông đảo nhân dân, đến lể Phật,
đến dự hội rất đông, không chỉ bao
gồm người Nhơn B́nh mà cả khắp mọi
nơi trong huyện, trong tỉnh. Sẽ có ư
nghĩa hơn nhiều nếu mọi người
đến đây ai cũng biết rơ về những
sự kiện lịch sử liên quan đến ngọn núi
này, đến ngôi chùa này.
6. Chùa Long Khánh
Long Khánh là một ngôi chùa lớn
nằm ở trung tâm Thành phố Quy Nhơn. Ghi chép về
ngôi chùa này, sách Đại Nam nhật chí viết như sau:
“ Chùa Long Khánh nằm ở phía tây cửa biển Thị
Nại, trong động cát ở thôn Cẩm Thượng
huyện Tuy Phước, mặt trông ra đầm Ngư
ki, do Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường dựng
từ năm Gia Long thứ 6” (20)
Làng
cẩm Thượng trước đây nay là đất
của phường Lê Hồng Phong , Lê lợi,
Trần Phú và một phần của phường Trần
Hưng Đạo. Khuôn viên chùa hiện nay thuộc
phường Lê
lợi Thành phố Quy Nhơn.
Nằm
ở vị trí trung tâm thành phố, chùa Long Khánh là một
rtong những trung tâm phật giáo lớn của B́nh
Định, là nơi sinh hoạt lễ bái của giới
tăng ni phật tử và là điểm tham quan du lịch
hấp dẫn cho du khách gần xa khi có dịp đến
với Thành phố biển quy Nhơn.
Chùa
được kiến trúc theo h́nh chữ “
Khẩu” phía trước có chánh điện gồm
thượng điện và hậu điện. Phần
thượng điện thờ Phật Adiđà và Quan âm
Chuẩn đề, hậu điện thờ Phật
tổ Thích ca. hai bên có Đông pḥng và Tây pḥng. Hai dăy này là
chỗ dành riêng chi tăng ni. Phía sau là Tổ đ́nh, thờ các vị khai
sơn phá thạch.
Kiến
trúc nguyên thủy của chùa không c̣n nữa. Ngôi
chùa hiện nay về cơ bản được xây
dựng lại vào năm 1956 và hoàn thiện vào năm 1972.
phong cách kiến trúc này mang dáng dấp
kiểu chùa của cư dân miền Nam Trung Hoa. Về giá
trị kiến trúc, chùa Lonh Khánh không có ǵ độc đáo,
nhưng với lịch sử h́nh thành và phát triển
của Quy nhơn, chùa Long Khánh có một vị trí khá
đặc biệt.
Minh
văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn Lịch
sử chùa Long Khánh hiện được lưu giữ
tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn Vĩnh Khánh
phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ đời
thờ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là Nguyễn Trinh
Tường khởi dựng. Quả chuông
được đúc vào năm Gia Long thứ 4, tức
năm 1805. Điều này tương
đối phù hợp với ghi chép trong Đại
Cũng theo các tài liệu Phật giáo, thiền sư
Đức Sơn đến lập ra ngôi Tổ đ́nh
Long khánh của ḍng Lâm Tế, vùng đất này c̣n mang
địa danh Quy Ninh. Đối chiếu
với lịch sử, địa danh này tồn tại
trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến
năm 1742 (21). Trong chùa, ngoài quả chuông, c̣n có một
hiện vật cổ được các sư tăng cho là
bảo vật của
Như trên đă nói, Hoà thượng
Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ
1651 đến 1742. Trong khoảng
thời gian này chỉ có một năm At Mùi là năm 1715.
như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng
muộn nhất là năm 1715, thời điển Hoà
thượng Đức Sơn cho đúc chiến khánh,
chứ không phải năm 1807 như Đại Nam nhất
thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường không
phải là người kiến lập chùa mà chỉ là
người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào
năm 1805. về hệ phái Hoà thượng Nguyễn
Trinh Tường thuộc đời 38 của ḍng Lâm
Tế và nếu Hoà thượng Đức Sơn là Tổ
thứ nhất th́ ông là đời thứ 4 của Tổ
đ́nh Long Khánh.
Từ
đây, có thể kết lụân rằng chùa Long Khánh
được xây dựng trên đất làng Vĩnh Khánh
phủ Quy Ninh vào khoản năm 1715. giữa thế
kỷ XVIII phủ Quy Ninh đổi thành Quy Nhơn,
đến cuối thế kỷ 19 làng Vĩnh Khánh
đổi thành làng Cẩm Thượng thuộc huyện
Tuy Phước, phủ Quy Nhơn đổi thành tỉnh
B́nh Định. Các tác giả Đại Nam nhất
thống chí đă ghép chùa Long Khánh vào địa danh cuối
cùng này.
Mặc dù đă qua bao lần trùng tu,
tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch
sử – văn hoá có giá trị. Đó là một trong hai
ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở B́nh
Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không
thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch,
sâu lắng và tôn kính như đi vào của thế giới
hư vô cực lạc.
7. Căn cứ Truông Mây
Chiều chiều
én liệng Truông Mây
Cảm
thương chàng Lía bị vây trong thành.
Câu ca
đượm buồn nhưng nói lên được
nhiều điều, cuộc khởi nghĩa của chàng
Lía, căn cứ truông Mây và tấm ḷng người dân B́nh
Định đối với chàng Lía và phong trào đấu
tranh chống chế độ cai
trị hà khắc của chúa nguyễn do chàng lănh
đạo.
Căn
cứ Truông Mây nay thuộc địa phận xóm Ba, thôn Phú
Thuận, xă An Đức, huyện Hoài An, tỉnh B́nh
Định, cách huyện lỵ khoảng 3km. Từ thị
trấn Tăng Bạt Hổ đi lên khoảng 1km, tới
ngă ba Gia đức rồi theo con đường
đất nhỏ đi về phía Tây Bắc khoảng 1km
tới sông Kim Sơn. Bên kia sông là di tích căn cứ Truông
Mây.
Bước
sang nửa sua thế kỷ XVIII xă hội Đàng trong lâm
vào t́nh trạng khủng hoảng trầm
trọngước lúc ngọn lửa chiến tranh nông dân
Tây Sơn bùng cháy, ở đàng trong đă nổ ra một
số phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân
dân chống chúa Nguyễn, trong đó tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa do chàng Lía lănh đạo.
Không thấy chính sử, cả đương
thời và về sau, ghi chép về cuộc khởi nghĩa
này. Tuy nhiên, sự tích về cuộc
khởi nghĩa, về thủ lĩnh Lía th́ vẫn
được ghi nhớ và truyền tụng phổ
biến trong dân gian qua bài vè chàng Lía và nhiều chuyện
kể khác.
Lía
vốn xuất thân trong một gia đ́nh nông dân nghèo
khổ, cha là người huyện Phù Ly, mẹ là
người thôn Phú Lạc ấp Kiên Thành, huyện Tuy
Viễn (nay thuộc xă B́nh Thạnh huyện Tây Sơn)
cũng thuộc phủ Quy Nhơn, Phú Lạc, quê ngoại
của Lía cũng là quê ngoại của các thủ lĩnh
Tây Sơn. Cha Lía mất sớm,ợe
đưa Lía về quê ngoạ nuôi dưỡng. Gia cảnh bần hàn chàng phải đi ở
chăn trâu cho một phú hộ trong vùng, chịu sự hành
hạ, đánh đập rất khổ cực, v́ thế
mà chàng sớm có tinh thần quật khởi. Lía là người có sức khoẻ, tính t́nh khí
khái, ngang tàng lại thông minh nhanh nhẹn, giỏi vơ
nghệ. Câu chuyện lư giải bước khởi
đầu của cuộc khởi nghĩa thật
đơn giản. Chuyện kể rằng, có một
lần, do không chịu được cảnh một tên
lính triều đ́nh cậy thế ức hiếp dân làng. Lía đă đánh chết hắn. Quan trên cho lính về vây bắt. Lía cơng mẹ vượt qua mấy ṿng vây chạy
lên núi, ở đây chàng gặp một toán cướp.
Tài nghệ và tính cách khẳng khái của Lía
đă cảm hoá được bọn chúng. Chàng
được tôn làm chủ trại, bèn sai sửa thành
Uất Tŕ của người Chiêm Thành làm sơn trại,
hàng ngày đem quân xuống núi cướp của nhà giàu chia
cho nhà nghèo. Nhân dân hoan hỉ c̣n bọn quan
lại địa chủ th́ căm tức.
Sau khi người mẹ qua đời, Lía t́m cách
đưa hài cốt mẹ về quê, táng ở Ḥn Sưng,
phia sbắc sông Kôn. Buồn ḷng, Lía t́m
đến Phù Ly thăm mộ cha rồi bỏ đi ngao du
đây đó. Đến Truông Mây thấy
địa thế hiểm yếu Lía dừng chân ngắm
cảnh. Bấy giờ nơi đây có một toán
cướp do Hồ và Nhẫn cầm đầu mà nhân dân
quen gọi là cha Hồ, chú Nhẫn. Cũng như lần
trước, tài ba vơ nghệ, chí khí và ḷng dũng cảm
của Lía đă làm thay đổi toán cướp này. Lía trở thành thủ lĩnh của một phong
trào mà mục đích hoạt động đă hoàn toàn
đổi khác. Cảnh chặn
đường cướp giật đă chấm dứt.
Thay vào đó là chủ trương
cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo. Phong trào ngày
càng phát triển thu hút đông đảo
nông dân tham gia. Tiếng tăm nghĩa quân lan
rộng khắp trong vùng. Truông Mây được xây
dựng thành một căn cứ vững chắc, là
đại bản doanh của nghĩa quân (20).
Có lần chúa Nguyễn có tổ
chức thi vơ tại thành Quy Nhơn để chọn
người tài cầm quân đánh Trịnh. Lía cùng cha
Hồ chú Nhẫn cải trang xuống núi thi tài.
Trước cảnh quan giám khảo tham ô hối lộ
bắt những sĩ tử nộp tiền đút lót, chàng
bất b́nh trở về căn cứ Truông Mây, tập
hợp binh sĩ đốt phá trường thi, giết
quan giám khảo. Tuần phủ Quy Nhơn cho
cho quân truy kích nhưng đến Trường Mây th́ bị
chặn đứng. Một đêm, Lía đem theo một ít quân tinh nhuệ bí mật theo
đường núi xuống phủ thành Quy Nhơn rồi
nhân lúc trời tối lính canh lơ là, phóng lửa
đốt các dinh thự, doanh trại, Tuần phủ Quy
Nhơn bị chém đầu, vợ bị bắt mang
đi.
Được tin Quy Nhơn có biến, quan cai trị dinh Quảng
Biết không thể thắng
được nghĩa quân bằng vũ lực, viên quan
tuần phủ mới bèn dùng mưu kế. Ḍ biết
được ái thiếp của quan cựu tuần
phủ bị Lía bắt về lấy làm vợ liền t́m kiếm
người thân của thị đưa vào hàng ngũ nghĩa
quân, rồi dụ dỗ, thuyết phục thị làm
nội ứng. Một hôm Lía mở tiệc
khao quân, vợ Lía bí mật bỏ thuốc mê vào
rượu rồi ép các nghĩa sĩ uống say, trong
đó có cả Lía. Thị dùng dây
thừng trói chặt Lía vào một tấm phản sau đó
mở cửa thành chạy về Quy Nhơn báo tin. Quân
Nguyễn kéo đến tàn sát nghĩa quân. Lía
giật ḿnh tỉnh dậy thấy bị trói bèn hiểu ra
tất cả rồi nổi giận vùng dậy mang cả
tấm phản trên ḿnh thoát ra khỏi ṿng vây chạy lên núi.
Quân Nguyễn không đuổi bắt
được liền phá hủy thành lũy rồi rút quân
về. Lía buồn ḷng phẫn uất nên đă tự
sát.
Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng
h́nh ảnh chàng Lía dũng cảm, khí phách hiên ngang, không
chịu khuất phục trước áp bức
cường quyền, yêu thương người nghèo
khổ cùng các nghĩa binh do chàng lănh đạo th́ vẫn
sống măi trong ḷng dân B́nh Định, trong ḷng những
người bị áp bức.
Trở lại căn cứ Truông Mây nay vẫn c̣n
một số dấu tích về cuộc khởi nghĩa.
Truông Mây là một đoạn đường chạy
giữa ḥn Núi Một và sông Kim Sơn từ phía Bắc thôn
Phú Thuận đến phía Nam thôn Vĩnh Hoà, xă An
Đức, huyện Hoài An. Xưa kia đây là con
đường độc đạo lên nguồn Kim
Sơn, bên sườn núi mây mọc thành rừng, khung
cảnh hoang vắng, đi lại rất khó khăn nên
mới có tên là Truông Mây. Các dấu tích về
cuộc khởi nghĩa c̣n lại đến ngày nay
tập trung ở dưới chân và bên sườn ḥn Núi
Một.
Mộ ông Lía là di tích gắn liền với
truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi Lía tự
vẫn, với ḷng ngưỡng mộ và ghi nhớ công lao của chàng nhân dân đă xây dựng
một ngôi mộ khang trang. Ngôi mộ hiện nay-mà nhân dân
gọi là mộ ông Lía-có quy mô khá lớn, gồm hai lớp
tường thành: thành ngoại và thành nội. Hai lớp thành có h́nh dáng giống nhau. Mặt trước xây vuông quay mặt về
Đông, mặt sau xây h́nh bán nguyệt dựa lưng vào núi.
Lớp thành ngoại có chiều dài 30m, chiều rộng 25m
xây bằng đá núi xếp chồng lên nhau với nhiều
kích cỡ khác nhau, cao 1,4m, rộng 1,5m, phía trước có
cửa ra vào rộng 2,0m. Lớp thành nội nằm cân
đối trong lớp thành ngoại, mặt trước
cũng có cửa ra vào, dài 7,0m, rộng 5,0m, cao 1,0m,
được xây cẩn thận hơn bao gồm 3
lớp đá ong được cắt vuông vức với
kích thước 0,5m x 0,3m x 0,2m. Nhân dân cho biết
trước kia giữa thành nội có
một tấm bia đá khắc chữ Hán nhưng đă
bị bọn đào trộm vàng phá huỷ mất. Bên ngoài ngôi mộ phía
Di tích
Bờ lũy ở ngay phía sau ngôi mộ, là dấu tích
một bờ lũy xây bằng đá, chạy dài dẫn
đến sườn núi, di tích hiện c̣n dài 50m, rộng
0,8m. Hai bên bờ lũy, dọc theo
sườn nủiaỉ rác c̣n có những bờ kè xây
bằng đá, cao 1,0m, dài 3,0m. Nhân dân cho
biết trước đây lũy khá đồ sộ
nhưng đă bị dân phá vỡ lấy đá về xây
nhà.
Di tích Miếu mục đồng
nằm ở phía Bắc ngôi mộ. Miếu
được xây (đúng hơn là xếp) bằng đá
núi với chiều dài 12m, chiều rộng 10m, tường
cao 1,0m đến 1,5m. Miếu quay
hướng Đông có hai lối vào hai bên, vách phía Tây
dựa vào núi. Dân gian truyền rằng
ngày xưa đây là vị trí trại chỉ huy, nơi
ở của các thủ lĩnh nghĩa quân. Không hiểu v́ sao lại có tên là miếu mục
đồng (?).
Bằng ấy dấu tích vật
chất về một phong trào cách nay đă hơn hai
thế kỷ cũng đă là đáng quư. Tuy nhiên, những dấu tích c̣n ít ỏi nó đang
ngày một mai một thêm. V́ Truông Mây
ở nơi hẻo lánh nên việc bảo vệ di tích
gặp rất nhiều khó khăn. Nhân
dân lấy đá làm nhà, đặt các di tích trước nguy
cơ bị phá hoại, ấy là chưa kể bọn t́m
vàng vẫn lăm le đào trộm mộ.
Đến thăm di tích Truông Mây hôm
nay dù không c̣n cảnh quá hoang vắng điêu tàn v́ đă có
một số bà con lên xây dựng nhà dựng cửa, nhưng
ḷng ta vẫn không khỏi bùi ngùi. Trên
nấm mộ người thủ lĩnh nghĩa quân
năm xưa, cái cảm giác lạnh lẽo tràn ngập ḷng
ta. Thắp một nén hương lên mộ
người xưa mà ḷng thầm mong rằng một ngày
không xa nữa những di tích lịch sử này sẽ
được đầu tư bảo tồn và cải
tạo, để ngày càng có nhiều người
đến đây, để thêm những bàn tay
làm ấm hơn vầng cỏ trên mộ người
nghĩa sĩ.
8. Mộ Đào Tấn
Trong
số các danh nhân văn hoá B́nh Định, Đào Tấn
hiện lên như một ngôi sao sáng chói. Ong là
một nhà thơ, nhà soạn tuồng, một nghệ nhân
xuất sắc của Việt
Đào Tấn (1945-1907), tên đầy đủ
là Đào Tăng Tấn (21), tự là Chỉ Thúc, hiệu là
Tô Giang, Mai Tăng, Mộng Mai thuộc ḍng dơi Lộc Khê
hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời
chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng
trong đầu thế kỷ XVII. Ong người làng Vinh
Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy
Phước. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà
Thị Loan. Ngay từ thuở nhỏ ông
đă nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ. Năm 22 tuổi Đào Tấn là một trong
số mười tám người đỗ cử nhân khoa
thi hương Đinh Măo (1867) tại trường thi B́nh
Định (bao gồm sĩ tử từ Quảng Ngăi
tới Khánh Hoà). Bốn năm sau, vào năm Tự
Đức thứ 24 (1871), ông được bổ quan
rồi thăng tiến rất nhanh: Tri phủ Quảng
Trạch (Quảng B́nh) (1874), Phủ doăn Thừa Thiên (1882). Ông thường cùng Tự Đức bàn luận
văn chương, vua tôi rất tâm đắc. Những năm này triều đ́nh Nguyễn
ươn hèn liên tiếp nhượng bộ, mà thực
chất là từng bước dâng đất nước
cho thực dân Pháp. Là người nặng tư
tưởng trung quân, Đào Tấn dường như đứng
ngoài cuộc kháng chiến của toàn dân đang sôi sục
khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhưng mặt khác, ông lại
là người yêu nước, thấy nước nhà lâm
nguy mà không cứu, tự thấy hỗ thẹn với
chính ḿnh. Ông viện cớ cha mẹ yếu xin từ quan về
phụng dưỡng nhưng không được chấp
nhận. Măi khi cha mất ông mới
được phép về quê. Cuộc binh biến
ở kinh thành Huế ngày 22 tháng 5 năm At Dậu (1885)
của phái chủ chiến do Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Huyết đứng đầu thất bại,
vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương
đă thổi bùng ngọn lửa cứu nước. Ở
B́nh Định phong trào Cần Vương do Mai Xuân
Thưởng lănh đạo phát triển mạnh mẽ,
nhưng Đào Tấn vẫn đứng ngoài cuộc,
từ chối lời mời tham gia phong troà của
nghĩa quân, rồi chốn chạy đến chùa Linh Phong
(Phù Cát) ở ẩn. Đồng Khánh lên ngôi,
vốn là chỗ cố tri, lập tức cho mời ông
tiếp tục tham chính. Đào Tấn trở lại
triều đ́nh nhậm chức, trải thăng tới
Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An
– Hà Tĩnh) năm 1889, Công Bộ Thương thư (1897)…
Năm 1904 v́ chống tên việt gian Nguyễn Thân, ông bị cách chức rồi lui về
quê nhà ở ẩn. Ba năm sau (1907), ông
mất, thọ 62 tuổi.
Cuộc đời chính trị
của Đào Tấn, cứ nh́n vào các chức vụ mà ông
đă trải qua, các tước vị mà ông đă
đạt được, có thể nói là hanh thông. Nhưng đặt trong hoàn cảnh đất
nước thời kỳ này th́ thái độ ứng xử
quả có nhiều điều đáng chế trách, dù
vẫn biết ông là người yêu nước, là vị
quan nổi tiếng liêm khiết, là nhà nho thanh bạch
giản dị. Tuy nhiên, cái làm nên một
danh nhân Đào Tấn không phải là sự nghiệp chính
trị, là những thành đạt chốn quan
trường, mà là sự nghiệp văn hoá của ông.
Nói đến Đào Tấn là nói đến
những cống hiến lớn lao
của ông đối với nghệ thuật tuồng. Sân khấu tuồng đă có ở Việt
Cũng không thể không nhắc
đến một Đào Tấn văn sĩ. Thơ ông được nhiều nhà nho
đương thời khen ngợi. Những tác
phẩm của ông gồm Mộng Mai thi tồn, Mộng mai
từ lục, Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai văn
sao, đều viết bằng chữ Hán, trong đó về
thơ có tới hàng trăm bài, nhiều bài có giá trị.
Mặc dù không giống nhiều sĩ phu bấy
giờ, trước sự ươn hèn của vua tôi nhà
Nguyễn, đă đứng về phía nhân dân hoặc
phất cờ cùng nhân dân chống Pháp nhưng trước
sau Đào Tấn vẫn là một người yêu
nước. Điều này thấy rơ qua thơ văn
của ông, đặc biệt qua nội dung các vở tuồng
do ông sáng tác. Tuồng Đào Tấn nêu cao những tấm
gương nhân nghĩa, ḷng yêu nước, thương
dân, sẵn sàng hy sinh v́ đại nghĩa, đồng
thời lên án mạnh mẽ bọn
người xu nịnh, bọn quan lại hèn nhát. Dường như trong mỗi vở tuồng
Đào Tấn đều gởi gấm vào đó cả
nỗi ḷng ḿnh.
Những năm cuối đời,
Đầo Tấn về quê sống ẩn dật. Xa
lánh chốn quan trường nhưng ông vẫn miệt mài
sáng tạo nhằm cống hiến nhiều hơn nữa
cho nghệ thuật tuồng. Ông lo trước về
“hậu sự” của ḿnh, chọn núi Hoàng Mai làm nơi an
nghỉ ngàn thu. Ông mất, người
nhà theo ư nguyện của ông đă an táng
ông tại nơi đây.
Núi Hoàng Mai (Huỳnh Mai), hay c̣n gọi là núi Đá
Vàng, Mai Sơn, nay thuộc thôn Hoàng Mai xă Phước
Nghĩa, huyện Tuy Phước. Từ huyện lỵ
theo trục lộ về hướng Tây Bắc khoảng
1km là tới núi Huỳnh Mai. Mộ Đào Tấn nằm
trên lưng chừng núi, ngoảnh mặt về
hướng
Năm 1994, trước t́nh h́nh ngôi mộ bị
xuống cấp nghiêm trọng sau bao năm dăi dầu
nắng mưa lại hầu như không được tu
bổ ǵ Sở VHTT, UBND huyện Tuy Phước, UBND xă
Phước Nghĩa, nhà hát tuồng Đào Tấn đă
tiến hành trùng tu di tích lịch sử quan trọng này. Về cơ bản việc trùng tu tôn tạo là
dựa trên nguyên gốc, phần gia cố thêm chỉ
nhằm chống xói ṃn và làm bậc từ dưới
đường lên đến mộ để nhân dân, khách
du lịch lên thăm viếng được dễ dàng.
Mộ xây h́nh chữ nhật dài 3m, rộng 2m, có
bờ xung quanh cao 0,8m, trong đổ đất. Phía
trước mộ có bia đề ngày
lập mộ, trước nữa là bức b́nh phong làm
tiền án. Phía ngoài mộ là một ṿng tường bao dài
10m, rộng 6m, trước có trụ cổng đề
đôi câu đối của Hà Đ́nh tướng công,
lưng có b́nh phong kiểu cuốn thư, hai bên cổng và
hai bên cuốn thư là h́nh bốn con sấu
được tạo dáng đuôi vểnh lên trên. Nơi
đây xưa là cả một rừng hoa, dưới là ḍng
sông Tranh quanh năm nước chảy, xa xa là bốn
ngọn tháp Bánh Ít, phong cảnh ấy, kiến trúc mộ
phần ấy toát lên cái tính cách cương trực,
cuộc sống thanh bạch, tâm hồn thi sĩ, nghệ
sĩ của con người Đào Tấn.
Trong các di tích kỷ niệm về
Đào Tấn ở quê hương ông chỉ có ngôi mộ
là c̣n nguyên vẹn. Sau đợt trùng tu
năm 1994 ngôi mộ trở nên bề thế và vững chăi
hơn. Trước đây việc chăm nom ngôi
mộ hoàn toàn do con cháu trong ḍng họ đảm nhiệm. Ngày nay các em học sinh trường tiểu
học và trung học cơ sở Phước Nghĩa
tự nguyện nhận trách nhiệm bảo vệ,
tiếp tục tôn tạo, trồng thêm nhiều cây cảnh
làm cho khu di tích ngày một thêm xanh tươi.
Công lao và những đóng góp
của Đào Tấn đối với nền văn hoá
dân tộc từ lâu đă được khẳng
định. Nhân 150 năm ngày sinh của Đào Tấn,
Tỉnh ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc tỉnh
B́nh Định đă long trọng tổ chức kỷ
niệm tại quê hương ông. Càng ngày khách
tới thăm viếng mộ Đào Tấn càng đông.
Họ là những văn nghệ sĩ, những
người yêu thích nghệ thuật tuồng, là đông
đảo nhân dân, ở B́nh Định, ở khắp
mọi miền đất nước đến đây
để tưởng niệm, để tri ân
người đă có công lớn trong việc kế thừa
và phát triển nền văn hoá dân tộc.
9. Đ́nh làng Vinh Thạnh
Làng
Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy
phước, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20km về
phía Bắc. Từ thị trấn Tuy Phước theo con
đường 19 cấp phối hướng về phía
tháp Bánh Ít khoảng 2km là tới làng. Đó
chính là quê hương của danh sĩ – nhà soạn
tuồng xuất sắc thời cận đại Đào
Tấn. Đ́nh làng Vinh Thạnh là nơi cha con Đào
Tấn được dân làng thờ phụng như
những thành hoàng.
Cả tỉnh B́nh Định hiện nay hầu
như chỉ c̣n sót lại một ngôi đ́nh của
người Việt, đó là đ́nh Vinh Thạnh. Cũng
đặc biệt như thế, Vinh Thạnh là làng duy
nhất trong tỉnh đến nay vẫn giữ
được cổng làng với bốn chữ Hán “Vinh
Thanh lư môn” (cổng làng Vinh Thạnh). Di tích ngôi đ́nh
hiện c̣n đến ngày nay mới được xây
dựng lại vào năm 1948, c̣n ngôi đ́nh cũ, nghe dân
gian kể lại, có quy mô lớn hơn, kiến trúc theo kiểu cổ lợp ngói âm dương
th́ đă bị phá hủy trong thời kỳ đầu
kháng chiến chống Pháp.
Ngôi đ́nh mới được kiến trúc trên
b́nh đồ h́nh chữ nhật, phía trước trổ
tam quan trông ra đường liên xă, các mặt khác tiếp giáp với nhà
dân. Hai đầu nhà đều xây trụ h́nh vuông, trên
đề đôi câu đố, hai trụ giữa bo tṛn chạm nổi h́nh rồng quấn
quanh, đầu chúc xuống đuôi vểnh lên, bên trên là
một dăy lan can được thiết kế theo kiểu
ô hộc. Chính giữa là h́nh cuốn thư
đắp đổi đề ba chữ “Vinh Thạnh
đ́nh”. Đ́nh được thiết kế hai lớp
mái, bốn góc uốn cong, cuối góc mái là những lan can đằng (giả rồng),
đỉnh mái bên trên thể hiện h́nh lưỡng long
chầu nguyệt (các chi tiết này đă bị đập
vỡ). Phía trong hai bên cửa chính là phù điêu đắp
nổi tượng ông Thiện, ông Ac, trong nhà sát
tường là ba bục thờ, Đ́nh dài 12m, rộng 4m.
Trong ba bục thờ th́ bục giữa
đề chữ “thần”, một bên đặt thần
vị Đào Đức Ngạc – cha của Đào Tấn,
một bên đặt thần vị Đào Tấn. Thần
vị Đào Tấn là một tấm bia đá
được lập năm Mậu Thân Duy Tân thứ hai
(1908), một năm sau khi ông qua đời. Nguyên văn chữ
Hán như sau: “Duy Tân nhị niên Mậu Thân nhị nguyệt
cát nhật. Hoàn triều cáo thụ Vinh lộc đại
phu Trụ quốc Thái tử Thiếu bảo Hiệp
biện đại học sĩ lănh Công bộ
thượng thư sung Cơ mật
viện đại thần Vinh phong tử tước trí
chính Đào công hủy Văn thần thần vị. Bản thông phụng tự”. Như
vậy ngay sau khi mất, Đào Tấn đă
được tôn vinh như một vị thần của
cả làng, được cả làng thờ cúng.
Hiện nay, khi điều tra về thần hoàng làng Vinh
Thạnh, trong nhân dân có nhiều ư kiến khác nhau,
người th́ bảo là Đào Đức Ngạc cha
của Đào Tấn, người th́ nói là chính Đào
Tấn. Thực ra nếu căn cứ vào vị trí các khám
thờ trong đ́nh th́ cha con Đào Tấn có lẻ chỉ là những
“hậu thành hoàng” của làng, tuy nhiên thành hoàng đầu
tiên của làng là ai đến nay không ai rơ.
Trong cuộc đời sáu mươi hai năm
của Đào Tấn (1485-1907) có ba quăng thời gian ông
sống nhiều năm tại quê nhà (23). Lần
thứ nhất bắt đầu từ khi ông cất
tiếng chào đời đến khi ông làm quan.
Lần thứ hai là khi ông xin từ quan về chịu tang
cha và phụng dưỡng mẹ già. Và
lần thứ ba là những năm tháng cuối cùng của
cuộc đời khi ông bị cách chức. Như vậy cuộc đời Đào Tấn
gắn bó nhiều với mảnh đấy chôn nhau
cắt rốn. Chính tại đây tài
năng văn học nghệ thuật của Đào
Tấn được nẩy nở, nuôi dưỡng.
Năm 18 tuổi ông đă hoàn thành vở
tuồng Tân dă đồn được vua Tự
Đức hết lời khen ngợi. Tiếp
đó Học bộ đ́nh-một trường đào
tạo nghệ sĩ tuồng đươcj thành lập.
Tiếng trống chầu ngày đêm rộn ră ở làng Vinh
Thạnh, rồi lan ra cả huyện, cả tỉnh,
biến B́nh Định trở thành trung tâm của nghệ
thuật hát bội, mà cho đến nay có lẽ trên
khắp cả nước không nơi đâu người
dân lại mê bộ môn nghệ thuật này như
người B́nh Định. Tài năng ấy, công lao
ấy, cùng với cốt cách thanh cao khiến ông khi sinh
thời đă được mọi người kính
trọng, ngưỡng mộ, lúc mất được
thờ ở đ́nh làng. Trước kia ở Vinh Thạnh
có ít nhất ba địa điểm thờ Đào
Tấn. Ngoài đ́nh làng, tại nhà ông con cháu (24) cũng
lập miếu thờ, dân làng cũng lập đền
thờ riêng, trên đề bốn chữ “Đào Công
bảo từ”. Hàng năm đến ngày
giỗ ông, con cháu họ tộc, dân làng cử hành tế
lễ rất long trọng. Tại đ́nh làng
thường tổ chức hát hội, diễn lại các
vở tuồng của ông, có khi kéo dài vài ba đêm mới
kết thúc, thu hút không chỉ dân sở
tại mà cả nhiều làng xă khác tham gia. Gần đây,
sau một thời gian bị mai một v́ nhiều lư do, những sinh hoạt văn hoá trên đang
được phục hồi. Chỉ tiếc rằng
miếu thờ, đền thờ ông đều đă
bị phá hủy do chủ trương tiêu thổ kháng
chiến ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, nay vẫn chưa
được dựng lại, c̣n đ́nh làng, nhiều
đồ thờ cũng đă thất lạc. May thay
tại từ đường họ Đào thôn Vinh
Thạnh vẫn c̣n được giữ nguyên vẹn 18
sắc phong của Đào Tấn trong các năm Tự
Đức 24 (1871), 27 (1874), 28 (1875), 29 (1876), 31 (1878), 33
(1880), 34 (1882), 36 (1883), Đồng Khánh 2 (1887), 3 (1888), Thành
Thái 1 (1884), 6 (1894), 8 (1896), 9 (1897), 10 (1898), 11 (1899), 14 (1902).
Chắc chắn rằng trong một thời gian
không xa đ́nh làng Vinh Thạnh sẽ được tu
bổ, không chỉ đây là ngôi đ́nh của người
Việt độc nhất vô nhị ở B́nh Định
c̣n lại đến ngày nay, mà c̣n là một di tích gắn
liền với danh nhân Đào Tấn. Ngôi đ́nh đó, cùng
với từ đường họ Đào, lăng mộ
của ông và rộng ra là cả mảnh đất làng Vinh
Thạnh trở thành một quần thể di tích phần
nào nói lên được cuộc đời sự
nghiệp của một nhà văn hoá lớn, trở thành
điểm hành hương của những người yêu
thích nghệ thuật tuồng, những người tâm
huyết với nền văn hoá dân tộc, cũng là
nơi để mọ người Việt Nam đến
tỏ ḷng tri ân đối với công lao người
xưa.
Chú thích chương VI
(1) Đại
(2) Quách tấn:
Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 254.
(3) Quốc sử quán
triều Nguyễn: Đại
(4) Quốc sử quán
triều Nguyễn: Đại
(5) Theo
các sách Đại Nam nhất thống chí, tập III, tr.
51-52; Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I,
tr. 90-95. Xem thêm Nguyễn T́nh: Đào Duy Từ trong ḷng dân
Hoài Hảo. Luận văn tốt nghiệp
khoa lịch sử Đại học tổng hợp Hà
Nội khoá 31, Hà Nội, 1991.
(6) (7)
Đại
(8)
Hiện nay trong khu vực chùa Thập Tháp vẫn c̣n dấu
vết nền tháp cổ, rải rác là những mảnh
gạch vụn, đá vỡ kích thước khác nhau. Sau
mấy trăm năm chùa đă qua nhiều lần trùng tu
nhưng vật liệu vẫn hoàn toàn bằng gạch Chàm.
Ngoài ra dấu tích Chùa c̣n phải kể
đến là ba giếng nước h́nh vuông xây bằng
đá ong mỗi cạnh 2m, sau này được nhà chùa
sửa lại sử dụng.
(9) (10)
(12) Đại
(11) Quách
Tấn: Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn,
tr. 266.
(13) Núi
này, c̣n có tên gọi khác là núi Càn úc (Đại
(14)
Đại
(15) Sách
Đại
(16)
Dấu tích đồn lũy của quân Tây Sơn ở khu
vực núi Hàm Long hiện chưa pháp hiện
được. Truyền thuyết địa phương
th́ nói rằng quân Tây Sơn đóng ở trong hang (phía trên
miếu Hàm Long) và ở G̣ Chợ (đă bị san ủi làm
sân vận động Trường úc). Phía trước G̣
Chợ, bên kia Cầu Ván, có địa
danh Bàn Cờ, tương truyền là nơi vua chúa nhóm
họp đánh cờ người. Dân
địa phươngc̣n cho biết ở chỗ Cầu
ván xưa có hai khẩu đại bác cỡ lớn với
rất nhiều đạt gang. Cũng
tương truyền G̣ Chợ là nơi xưa quan Tây
Sơn tổ chức vui chơi và hội họp.
(17)
Đại
(18)
Đại
(19)
Nguyễn Doăn Địch (1833-1885) quê làng Tùng Giản
huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định, đă
từng làm quan nhà Nguyễn, năm 1885 hưởng ứng
chiếu Cần Vương tập hợp lực lượng
kháng chiến ở B́nh Định, chẳng may bị
bệnh nặng, trước khi mất giao quyền
chỉ huy nghĩa quân cho Mai Xuân Thưởng. (Xem thêm
phần viết về lăng mộ Mai Xuân Thưởng).
(20)
Đại
(21)
Đại
(22)
Ở núi Bà có một hang sâu xuyên qua núi, dân địa
phương cũng gọi là hang chàng Lía. Từ cửa hang
phía Tây Nam ở thôn An Đức, xă Cát Trinh đến
cửa phía Đông Bắc thuộc thôn Trung Từ, xă Cát
Khánh ước chừng dài đến hơn 10km. V́ hang sâu,
hiểm hóc không mấy người dám vào nên đă có
biết bao câu chuyện thêu dệt nên những sự tích ly
kỳ làm cho hang càng thêm huyền bí. Cách hang không xa, trên
địa phận thôn Phong An có một
cái truông mọc nhiều cây may nên cũng được
gọi là Truông Mây. Có người cho rằng đấy
chính là Truông Mây mà Lía đă cùng cha Hồ chú Nhẫn đă
dùng làm căn cứ khởi nghĩa chống lại chúa
Nguyễn. (Xem Quách Tấn: Nước non B́nh Định,
sách đă dẫn, tr. 297). Tuy nhiên, ngoài truyền thuyết,
hang Lía và Truông Mây ở Phù Cát không co dấu tích ǵ khác.
(23) Theo
Gia phả họ Đào ở làng Vĩnh Phúc Thịnh, xă
Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước tỉnh B́nh
Định. Sách Quốc triều hương khoa lục
(NXB thành phố HCM, 1993) cũng chép là Đào đăng
Tấn.
(24)
Năm 18 tuổi Đào Tấn đă có vở Tân dă
được đánh giá cao. Đáng tiếc
đến nay có một số vở đă thất lạc.
Trong số các vở tuồng của ông c̣n truyền
lại đáng chú ư là vở Vạn Bửu tŕnh
tường gồm tới 120 quyển mà ông cùng Vũ
Đ́nh Thưởng, Ngô Quư Đồng soạn ṛng ră 4
năm trời mới xong. Nét đặc biệt của
bộ tuồng này ở chỗ “nhân vật” ở đây
lại là các vị thuốc bắc, ngôn ngữ, cử
chỉ, hành động đều dựa theo tính
dược mà phô diễn.
(25)
Về tiểu sử Đào Duy Tấn xin xem ở mục
viết về di tích mộ ông.
(26)
Đào Tấn có năm người con trai đều
rất hiển đạt, có tiếng trong làng văn.
THAY LỜI KẾT LUẬN
B́nh
định là mảnh đất mà thiên nhiên luôn là nguồn
hứng khởi của thi ca, là nơi có truyền thống
lịch sử oai hùng với bề dày văn hoá vô cùng phong
phú và đặc sắc. Những danh lam thắng cảnh và
di tích được tŕnh bày trong tập sách này thực ra
mới chỉ là một phác thảo sơ lược,
chưa thể nói là đă lột tả đầy
đủ diện mạo một địa phương mà
mỗi một tạo tác của thiên nhiên đều có
thể xem là một thắng cảnh, mỗi một làng
quê, một góc phố dường như đều
chứa trong ḿnh biết bao những điều bí ẩn
của lịch sử. Để hiểu sâu sắc về
B́nh Định, ngoài tập sách này c̣n có những công tŕnh
chuyên khảo về địa lư tự nhiên, lchj sử,
văn hoá và kinh tế sẽ lần lượt
được xuất bản.
Người xưa có câu “địa
linh sinh nhân kiệt”. Đất B́nh Định không
“linh”, núi sông B́nh Định không “thiêng” sao có thể sinh ra
những người con anh kiệt như Nguyễn
Huệ-Quang Trung, một anh hùng dân tộc đă làm rạng
danh non sông đất Việt và chiến tích oai hùng
được ghi lại trên khắp mọi miền
đất nước? Rồi nữa, trong
lịch sử B́nh Định đă có biết bao
người vốn quê hương không phải ở
đây nhưng nhờ vùng đất này dung dưỡng tài
năng, hun đúc ư chí để rồi làm nên những
sự nghiệp lớn mang tầm vóc quốc gia.
Đó là nét hết sức đặc biệt của B́nh Định.
Nhưng do giới hạn không gian hành chính, tập sách
chỉ tŕnh bày những sự kiện ấy, nhân vật
ấy thông qua các di tích liên quan trên đất B́nh
Định hiện nay. Nhưng chỉ
chừng ấy thôi cũng đă nói lên được
nhiều điều. Những di tích bấy lâu yên
lặng mặt cho thời gian huỷ hoại thành những
phế tích hoang tàn, để cho rêu phong phủ kín qua
từng năm tháng, cảnh trí thiên nhiên tưởng như
vô tư trầm lắng trước mọi đổi thay
của thời cuộc th́ nay tất cả đều
đang thất tỉnh hồi sinh. Sự
nghiệp đổi mới của cả nước và
ở B́nh Định đang thổi một luồng sinh
khí mói đưa chúng vào hoà nhập với cuộc sống
hôm nay. Những thắng cảnh đang
được tôn tạo, những di tích đang
được trùng tu. Giờ đây, khi
nói về danh thắng và di tích không chỉ để hoài
niệm và ngợi ca mà hơn thế, c̣n là để
nhắc nhở những thế hệ hôm nay và mai sau
hiểu roc hơn về nét đẹp của B́nh Định,
làm cho bè bạn gần xa thêm yêu mến thiên nhiên, truyền
thống lịch sử – văn hoá và con người B́nh
Định. Đấy là ước vọng cao nhất
của người viết tập sách này.
chánh điện
gồm thượng điện và hậu điện.
Phần thượng điện thờ Phật Adiđà và
Quan âm Chuẩn đề, hậu điện thờ
Phật tổ Thích ca. hai bên có Đông pḥng và Tây pḥng. Hai dăy
này là chỗ dành riêng chi tăng ni. Phía sau là Tổ đ́nh, thờ các vị khai
sơn phá thạch.
Kiến trúc nguyên thủy của chùa
không c̣n nữa. Ngôi chùa hiện nay về
cơ bản được xây dựng lại vào năm
1956 và hoàn thiện vào năm 1972. phong
cách kiến trúc này mang dáng dấp kiểu chùa của cư
dân miền Nam Trung Hoa. Về giá trị kiến trúc, chùa Lonh
Khánh không có ǵ độc đáo, nhưng với lịch
sử h́nh thành và phát triển của Quy nhơn, chùa Long
Khánh có một vị trí khá đặc biệt.
Minh văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn
Lịch sử chùa Long Khánh hiện được lưu
giữ tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn
Vĩnh Khánh phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ
đời thờ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là
Nguyễn Trinh Tường khởi dựng. Quả
chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 4,
tức năm 1805. Điều này
tương đối phù hợp với ghi chép trong
Đại
Cũng theo các tài liệu
Phật giáo, thiền sư Đức Sơn đến
lập ra ngôi Tổ đ́nh Long khánh của ḍng Lâm Tế,
vùng đất này c̣n mang địa danh Quy Ninh. Đối chiếu với lịch sử,
địa danh này tồn tại trong khoảng thời gian từ
năm 1651 đến năm 1742 (21). Trong chùa, ngoài
quả chuông, c̣n có một hiện vật cổ
được các sư tăng cho là bảo vật của
Như trên đă nói, Hoà thượng
Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ
1651 đến 1742. Trong khoảng
thời gian này chỉ có một năm At Mùi là năm 1715.
như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng
muộn nhất là năm 1715, thời điển Hoà
thượng Đức Sơn cho đúc chiến khánh,
chứ không phải năm 1807 như Đại Nam nhất
thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường không
phải là người kiến lập chùa mà chỉ là
người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào
năm 1805. về hệ phái Hoà thượng Nguyễn
Trinh Tường thuộc đời 38 của ḍng Lâm
Tế và nếu Hoà thượng Đức Sơn là Tổ
thứ nhất th́ ông là đời thứ 4 của Tổ
đ́nh Long Khánh.
Từ đây, có thể kết
lụân rằng chùa Long Khánh được xây dựng trên
đất làng Vĩnh Khánh phủ Quy Ninh vào khoản năm
1715. giữa thế kỷ XVIII phủ Quy Ninh
đổi thành Quy Nhơn, đến cuối thế
kỷ 19 làng Vĩnh Khánh đổi thành làng Cẩm
Thượng thuộc huyện Tuy Phước, phủ Quy
Nhơn đổi thành tỉnh B́nh Định. Các tác
giả Đại Nam nhất thống chí đă ghép chùa Long
Khánh vào địa danh cuối cùng này.
Mặc dù đă qua bao lần trùng tu,
tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch
sử – văn hoá có giá trị. Đó là một trong hai
ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở B́nh
Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không
thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch,
sâu lắng và tôn kính như đi vào của thế giới
hư vô cực lạc.
7. Căn cứ
Truông Mây
Chiều chiều
én liệng Truông Mây
Cảm
thương chàng Lía bị vây trong thành.
Câu ca
đượm buồn nhưng nói lên được
nhiều điều, cuộc khởi nghĩa của chàng
Lía, căn cứ truông Mây và tấm ḷng người dân B́nh
Định đối với chàng Lía và phong trào đấu
tranh chống chế độ cai
trị hà khắc của chúa nguyễn do chàng lănh
đạo.
Căn
cứ Truông Mây nay thuộc địa phận xóm Ba, thôn Phú
Thuận, xă An Đức, huyện Hoài An, tỉnh B́nh
Định, cách huyện lỵ khoảng 3km. Từ thị
trấn Tăng Bạt Hổ đi lên khoảng 1km, tới
ngă ba Gia đức rồi theo con đường
đất nhỏ đi về phía Tây Bắc khoảng 1km
tới sông Kim Sơn. Bên kia sông là di tích căn cứ Truông
Mây.
Bước
sang nửa sua thế kỷ XVIII xă hội Đàng trong lâm
vào t́nh trạng khủng hoảng trầm
trọngước lúc ngọn lửa chiến tranh nông dân
Tây Sơn bùng cháy, ở đàng trong đă nổ ra một
số phong trào đấu tranh của các tầng lớp
nhân dân chống chúa Nguyễn, trong đó tiêu biểu là
cuộc khởi nghĩa do chàng Lía lănh đạo.
Không thấy chính sử, cả đương
thời và về sau, ghi chép về cuộc khởi nghĩa
này. Tuy nhiên, sự tích về cuộc
khởi nghĩa, về thủ lĩnh Lía th́ vẫn
được ghi nhớ và truyền tụng phổ
biến trong dân gian qua bài vè chàng Lía và nhiều chuyện
kể khác.
Lía
vốn xuất thân trong một gia đ́nh nông dân nghèo
khổ, cha là người huyện Phù Ly, mẹ là
người thôn Phú Lạc ấp Kiên Thành, huyện Tuy
Viễn (nay thuộc xă B́nh Thạnh huyện Tây Sơn)
cũng thuộc phủ Quy Nhơn, Phú Lạc, quê ngoại
của Lía cũng là quê ngoại của các thủ lĩnh
Tây Sơn. Cha Lía mất sớm,ợe
đưa Lía về quê ngoạ nuôi dưỡng. Gia cảnh bần hàn chàng phải đi ở
chăn trâu cho một phú hộ trong vùng, chịu sự hành
hạ, đánh đập rất khổ cực, v́ thế
mà chàng sớm có tinh thần quật khởi. Lía là người có sức khoẻ, tính t́nh khí
khái, ngang tàng lại thông minh nhanh nhẹn, giỏi vơ
nghệ. Câu chuyện lư giải bước khởi
đầu của cuộc khởi nghĩa thật
đơn giản. Chuyện kể rằng, có một
lần, do không chịu được cảnh một tên
lính triều đ́nh cậy thế ức hiếp dân làng. Lía đă đánh chết hắn. Quan trên cho lính về vây bắt. Lía cơng mẹ vượt qua mấy ṿng vây chạy
lên núi, ở đây chàng gặp một toán cướp.
Tài nghệ và tính cách khẳng khái của Lía
đă cảm hoá được bọn chúng. Chàng
được tôn làm chủ trại, bèn sai sửa thành
Uất Tŕ của người Chiêm Thành làm sơn trại,
hàng ngày đem quân xuống núi cướp của nhà giàu chia
cho nhà nghèo. Nhân dân hoan hỉ c̣n bọn quan
lại địa chủ th́ căm tức.
Sau khi người mẹ qua đời, Lía t́m cách
đưa hài cốt mẹ về quê, táng ở Ḥn Sưng,
phia sbắc sông Kôn. Buồn ḷng, Lía t́m
đến Phù Ly thăm mộ cha rồi bỏ đi ngao du
đây đó. Đến Truông Mây thấy
địa thế hiểm yếu Lía dừng chân ngắm
cảnh. Bấy giờ nơi đây có một toán
cướp do Hồ và Nhẫn cầm đầu mà nhân dân
quen gọi là cha Hồ, chú Nhẫn. Cũng như lần
trước, tài ba vơ nghệ, chí khí và ḷng dũng cảm
của Lía đă làm thay đổi toán cướp này. Lía trở thành thủ lĩnh của một phong
trào mà mục đích hoạt động đă hoàn toàn
đổi khác. Cảnh chặn
đường cướp giật đă chấm dứt.
Thay vào đó là chủ trương
cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo. Phong trào ngày
càng phát triển thu hút đông đảo
nông dân tham gia. Tiếng tăm nghĩa quân lan
rộng khắp trong vùng. Truông Mây được xây
dựng thành một căn cứ vững chắc, là
đại bản doanh của nghĩa quân (20).
Có lần chúa Nguyễn có tổ
chức thi vơ tại thành Quy Nhơn để chọn
người tài cầm quân đánh Trịnh. Lía cùng cha
Hồ chú Nhẫn cải trang xuống núi thi tài. Trước
cảnh quan giám khảo tham ô hối lộ bắt những
sĩ tử nộp tiền đút lót, chàng bất b́nh
trở về căn cứ Truông Mây, tập hợp binh
sĩ đốt phá trường thi, giết quan giám
khảo. Tuần phủ Quy Nhơn cho cho quân
truy kích nhưng đến Trường Mây th́ bị
chặn đứng. Một đêm, Lía đem theo một ít quân tinh nhuệ bí mật theo
đường núi xuống phủ thành Quy Nhơn rồi
nhân lúc trời tối lính canh lơ là, phóng lửa
đốt các dinh thự, doanh trại, Tuần phủ Quy
Nhơn bị chém đầu, vợ bị bắt mang
đi.
Được tin Quy Nhơn có biến, quan cai trị dinh Quảng Nam cho quân cứu
viện, đồng thời cử người về
triều đ́nh Phú Xuân cấp báo. Chúa
Nguyễn phái đại binh tinh nhuệ vào đàn áp. Trước t́nh h́nh đó, Lía cho quân đắp
thêm thành lũy, củng cố vững chắc căn
cứ Truông Mây. Cuộc chiến
đấu kéo dài suốt mấy năm trời mà quân
Nguyễn không sao đàn áp được, buộc phải
rút lui.
Biết không thể thắng
được nghĩa quân bằng vũ lực, viên quan
tuần phủ mới bèn dùng mưu kế. Ḍ biết
được ái thiếp của quan cựu tuần
phủ bị Lía bắt về lấy làm vợ liền t́m kiếm
người thân của thị đưa vào hàng ngũ
nghĩa quân, rồi dụ dỗ, thuyết phục thị
làm nội ứng. Một hôm Lía mở
tiệc khao quân, vợ Lía bí mật bỏ thuốc mê vào
rượu rồi ép các nghĩa sĩ uống say, trong
đó có cả Lía. Thị dùng dây
thừng trói chặt Lía vào một tấm phản sau đó
mở cửa thành chạy về Quy Nhơn báo tin. Quân
Nguyễn kéo đến tàn sát nghĩa quân. Lía
giật ḿnh tỉnh dậy thấy bị trói bèn hiểu ra
tất cả rồi nổi giận vùng dậy mang cả
tấm phản trên ḿnh thoát ra khỏi ṿng vây chạy lên núi.
Quân Nguyễn không đuổi bắt
được liền phá hủy thành lũy rồi rút quân
về. Lía buồn ḷng phẫn uất nên đă tự
sát.
Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng
h́nh ảnh chàng Lía dũng cảm, khí phách hiên ngang, không
chịu khuất phục trước áp bức
cường quyền, yêu thương người nghèo
khổ cùng các nghĩa binh do chàng lănh đạo th́ vẫn
sống măi trong ḷng dân B́nh Định, trong ḷng những
người bị áp bức.
Trở lại căn cứ Truông Mây nay vẫn c̣n
một số dấu tích về cuộc khởi nghĩa.
Truông Mây là một đoạn đường chạy
giữa ḥn Núi Một và sông Kim Sơn từ phía Bắc thôn
Phú Thuận đến phía Nam thôn Vĩnh Hoà, xă An
Đức, huyện Hoài An. Xưa kia đây là con
đường độc đạo lên nguồn Kim
Sơn, bên sườn núi mây mọc thành rừng, khung
cảnh hoang vắng, đi lại rất khó khăn nên
mới có tên là Truông Mây. Các dấu tích về
cuộc khởi nghĩa c̣n lại đến ngày nay
tập trung ở dưới chân và bên sườn ḥn Núi
Một.
Mộ ông Lía là di tích gắn liền với
truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi Lía tự
vẫn, với ḷng ngưỡng mộ và ghi nhớ công lao của chàng nhân dân đă xây dựng
một ngôi mộ khang trang. Ngôi mộ hiện nay-mà nhân dân
gọi là mộ ông Lía-có quy mô khá lớn, gồm hai lớp
tường thành: thành ngoại và thành nội. Hai lớp thành có h́nh dáng giống nhau. Mặt trước xây vuông quay mặt về
Đông, mặt sau xây h́nh bán nguyệt dựa lưng vào núi.
Lớp thành ngoại có chiều dài 30m, chiều rộng 25m
xây bằng đá núi xếp chồng lên nhau với nhiều
kích cỡ khác nhau, cao 1,4m, rộng 1,5m, phía trước có
cửa ra vào rộng 2,0m. Lớp thành nội nằm cân
đối trong lớp thành ngoại, mặt trước
cũng có cửa ra vào, dài 7,0m, rộng 5,0m, cao 1,0m,
được xây cẩn thận hơn bao gồm 3
lớp đá ong được cắt vuông vức với
kích thước 0,5m x 0,3m x 0,2m. Nhân dân cho biết
trước kia giữa thành nội có
một tấm bia đá khắc chữ Hán nhưng đă
bị bọn đào trộm vàng phá huỷ mất. Bên ngoài ngôi mộ phía
Di tích Bờ lũy ở ngay phía sau ngôi mộ, là
dấu tích một bờ lũy xây bằng đá, chạy
dài dẫn đến sườn núi, di tích hiện c̣n dài
50m, rộng 0,8m. Hai bên bờ lũy, dọc theo
sườn nủiaỉ rác c̣n có những bờ kè xây
bằng đá, cao 1,0m, dài 3,0m. Nhân dân cho
biết trước đây lũy khá đồ sộ
nhưng đă bị dân phá vỡ lấy đá về xây
nhà.
Di tích Miếu mục đồng
nằm ở phía Bắc ngôi mộ. Miếu
được xây (đúng hơn là xếp) bằng đá
núi với chiều dài 12m, chiều rộng 10m, tường
cao 1,0m đến 1,5m. Miếu quay
hướng Đông có hai lối vào hai bên, vách phía Tây
dựa vào núi. Dân gian truyền rằng
ngày xưa đây là vị trí trại chỉ huy, nơi
ở của các thủ lĩnh nghĩa quân. Không hiểu v́ sao lại có tên là miếu mục
đồng (?).
Bằng ấy dấu tích vật
chất về một phong trào cách nay đă hơn hai
thế kỷ cũng đă là đáng quư. Tuy nhiên, những dấu tích c̣n ít ỏi nó đang
ngày một mai một thêm. V́ Truông Mây
ở nơi hẻo lánh nên việc bảo vệ di tích
gặp rất nhiều khó khăn. Nhân
dân lấy đá làm nhà, đặt các di tích trước nguy
cơ bị phá hoại, ấy là chưa kể bọn t́m
vàng vẫn lăm le đào trộm mộ.
Đến thăm di tích Truông Mây hôm
nay dù không c̣n cảnh quá hoang vắng điêu tàn v́ đă có
một số bà con lên xây dựng nhà dựng cửa,
nhưng ḷng ta vẫn không khỏi bùi ngùi. Trên nấm mộ người thủ lĩnh
nghĩa quân năm xưa, cái cảm giác lạnh lẽo tràn
ngập ḷng ta. Thắp một nén hương lên
mộ người xưa mà ḷng thầm mong rằng một
ngày không xa nữa những di tích lịch sử này sẽ
được đầu tư bảo tồn và cải
tạo, để ngày càng có nhiều người
đến đây, để thêm những bàn tay
làm ấm hơn vầng cỏ trên mộ người
nghĩa sĩ.
8. Mộ Đào Tấn
Trong
số các danh nhân văn hoá B́nh Định, Đào Tấn
hiện lên như một ngôi sao sáng chói. Ong là
một nhà thơ, nhà soạn tuồng, một nghệ nhân
xuất sắc của Việt
Đào Tấn (1945-1907), tên đầy đủ
là Đào Tăng Tấn (21), tự là Chỉ Thúc, hiệu là
Tô Giang, Mai Tăng, Mộng Mai thuộc ḍng dơi Lộc Khê
hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời
chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng
trong đầu thế kỷ XVII. Ong người làng Vinh
Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy
Phước. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà
Thị Loan. Ngay từ thuở nhỏ ông
đă nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ. Năm 22 tuổi Đào Tấn là một trong
số mười tám người đỗ cử nhân khoa
thi hương Đinh Măo (1867) tại trường thi B́nh
Định (bao gồm sĩ tử từ Quảng Ngăi
tới Khánh Hoà). Bốn năm sau, vào năm Tự
Đức thứ 24 (1871), ông được bổ quan
rồi thăng tiến rất nhanh: Tri phủ Quảng
Trạch (Quảng B́nh) (1874), Phủ doăn Thừa Thiên (1882). Ông thường cùng Tự Đức bàn luận
văn chương, vua tôi rất tâm đắc. Những năm này triều đ́nh Nguyễn
ươn hèn liên tiếp nhượng bộ, mà thực
chất là từng bước dâng đất nước
cho thực dân Pháp. Là người nặng tư
tưởng trung quân, Đào Tấn dường như
đứng ngoài cuộc kháng chiến của toàn dân đang
sôi sục khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhưng mặt khác,
ông lại là người yêu nước, thấy
nước nhà lâm nguy mà không cứu, tự thấy hỗ
thẹn với chính ḿnh. Ông viện cớ cha mẹ yếu
xin từ quan
về phụng dưỡng nhưng không
được chấp nhận. Măi khi cha
mất ông mới được phép về quê. Cuộc
binh biến ở kinh thành Huế ngày 22 tháng 5 năm At
Dậu (1885) của phái chủ chiến do Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Huyết đứng đầu
thất bại, vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu
Cần Vương đă thổi bùng ngọn lửa
cứu nước. Ở B́nh Định phong trào Cần
Vương do Mai Xuân Thưởng lănh đạo phát
triển mạnh mẽ, nhưng Đào Tấn vẫn
đứng ngoài cuộc, từ chối lời mời tham
gia phong troà của nghĩa quân, rồi chốn chạy
đến chùa Linh Phong (Phù Cát) ở ẩn. Đồng
Khánh lên ngôi, vốn là chỗ cố tri, lập tức cho
mời ông tiếp tục tham chính. Đào Tấn
trở lại triều đ́nh nhậm chức, trải
thăng tới Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) năm 1889, Công Bộ
Thương thư (1897)… Năm 1904 v́ chống tên việt
gian Nguyễn Thân, ông bị cách chức
rồi lui về quê nhà ở ẩn. Ba năm
sau (1907), ông mất, thọ 62 tuổi.
Cuộc đời chính trị
của Đào Tấn, cứ nh́n vào các chức vụ mà ông
đă trải qua, các tước vị mà ông đă
đạt được, có thể nói là hanh thông. Nhưng đặt trong hoàn cảnh đất
nước thời kỳ này th́ thái độ ứng
xử quả có nhiều điều đáng chế trách, dù
vẫn biết ông là người yêu nước, là vị
quan nổi tiếng liêm khiết, là nhà nho thanh bạch
giản dị. Tuy nhiên, cái làm nên một
danh nhân Đào Tấn không phải là sự nghiệp chính
trị, là những thành đạt chốn quan
trường, mà là sự nghiệp văn hoá của ông.
Nói đến Đào Tấn là nói đến những
cống hiến lớn lao của ông
đối với nghệ thuật tuồng. Sân
khấu tuồng đă có ở Việt
Cũng không thể không nhắc
đến một Đào Tấn văn sĩ. Thơ ông được nhiều nhà nho
đương thời khen ngợi. Những tác
phẩm của ông gồm Mộng Mai thi tồn, Mộng mai
từ lục, Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai văn
sao, đều viết bằng chữ Hán, trong đó về
thơ có tới hàng trăm bài, nhiều bài có giá trị.
Mặc dù không giống nhiều sĩ phu bấy
giờ, trước sự ươn hèn của vua tôi nhà
Nguyễn, đă đứng về phía nhân dân hoặc
phất cờ cùng nhân dân chống Pháp nhưng trước
sau Đào Tấn vẫn là một người yêu
nước. Điều này thấy rơ qua thơ văn
của ông, đặc biệt qua nội dung các vở
tuồng do ông sáng tác. Tuồng Đào Tấn nêu cao những
tấm gương nhân nghĩa, ḷng yêu nước,
thương dân, sẵn sàng hy sinh v́ đại nghĩa,
đồng thời lên án mạnh mẽ
bọn người xu nịnh, bọn quan lại hèn nhát. Dường như trong mỗi vở tuồng
Đào Tấn đều gởi gấm vào đó cả
nỗi ḷng ḿnh.
Những năm cuối đời,
Đầo Tấn về quê sống ẩn dật. Xa
lánh chốn quan trường nhưng ông vẫn miệt mài
sáng tạo nhằm cống hiến nhiều hơn nữa
cho nghệ thuật tuồng. Ông lo trước về “hậu
sự” của ḿnh, chọn núi Hoàng Mai làm nơi an nghỉ
ngàn thu. Ông mất, người nhà theo ư nguyện của ông đă an táng ông
tại nơi đây.
Núi Hoàng Mai (Huỳnh Mai), hay c̣n gọi là núi Đá
Vàng, Mai Sơn, nay thuộc thôn Hoàng Mai xă Phước
Nghĩa, huyện Tuy Phước. Từ huyện lỵ
theo trục lộ về hướng Tây Bắc khoảng
1km là tới núi Huỳnh Mai. Mộ Đào Tấn nằm
trên lưng chừng núi, ngoảnh mặt về hướng
Năm 1994, trước t́nh h́nh ngôi mộ bị
xuống cấp nghiêm trọng sau bao năm dăi dầu
nắng mưa lại hầu như không được tu
bổ ǵ Sở VHTT, UBND huyện Tuy Phước, UBND xă
Phước Nghĩa, nhà hát tuồng Đào Tấn đă
tiến hành trùng tu di tích lịch sử quan trọng này. Về cơ bản việc trùng tu tôn tạo là
dựa trên nguyên gốc, phần gia cố thêm chỉ
nhằm chống xói ṃn và làm bậc từ dưới
đường lên đến mộ để nhân dân, khách
du lịch lên thăm viếng được dễ dàng.
Mộ xây h́nh chữ nhật dài 3m, rộng 2m, có
bờ xung quanh cao 0,8m, trong đổ đất. Phía
trước mộ có bia đề ngày
lập mộ, trước nữa là bức b́nh phong làm
tiền án. Phía ngoài mộ là một ṿng tường bao dài
10m, rộng 6m, trước có trụ cổng đề
đôi câu đối của Hà Đ́nh tướng công,
lưng có b́nh phong kiểu cuốn thư, hai bên cổng và
hai bên cuốn thư là h́nh bốn con sấu
được tạo dáng đuôi vểnh lên trên. Nơi
đây xưa là cả một rừng hoa, dưới là ḍng
sông Tranh quanh năm nước chảy, xa xa là bốn
ngọn tháp Bánh Ít, phong cảnh ấy, kiến trúc mộ
phần ấy toát lên cái tính cách cương trực,
cuộc sống thanh bạch, tâm hồn thi sĩ, nghệ
sĩ của con người Đào Tấn.
Trong các di tích kỷ niệm về
Đào Tấn ở quê hương ông chỉ có ngôi mộ là
c̣n nguyên vẹn. Sau đợt trùng tu
năm 1994 ngôi mộ trở nên bề thế và vững chăi
hơn. Trước đây việc chăm nom ngôi
mộ hoàn toàn do con cháu trong ḍng họ đảm nhiệm. Ngày nay các em học sinh trường tiểu
học và trung học cơ sở Phước Nghĩa
tự nguyện nhận trách nhiệm bảo vệ,
tiếp tục tôn tạo, trồng thêm nhiều cây cảnh
làm cho khu di tích ngày một thêm xanh tươi.
Công lao và những đóng góp
của Đào Tấn đối với nền văn hoá
dân tộc từ lâu đă được khẳng
định. Nhân 150 năm ngày sinh của Đào Tấn, Tỉnh
ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc tỉnh B́nh
Định đă long trọng tổ chức kỷ
niệm tại quê hương ông. Càng ngày khách
tới thăm viếng mộ Đào Tấn càng đông.
Họ là những văn nghệ sĩ, những
người yêu thích nghệ thuật tuồng, là đông
đảo nhân dân, ở B́nh Định, ở khắp
mọi miền đất nước đến đây
để tưởng niệm, để tri ân
người đă có công lớn trong việc kế thừa
và phát triển nền văn hoá dân tộc.
9. Đ́nh làng Vinh Thạnh
Làng
Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy
phước, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20km về
phía Bắc. Từ thị trấn Tuy Phước theo con
đường 19 cấp phối hướng về phía
tháp Bánh Ít khoảng 2km là tới làng. Đó
chính là quê hương của danh sĩ – nhà soạn
tuồng xuất sắc thời cận đại Đào
Tấn. Đ́nh làng Vinh Thạnh là nơi cha con Đào
Tấn được dân làng thờ phụng như
những thành hoàng.
Cả tỉnh B́nh Định hiện nay hầu
như chỉ c̣n sót lại một ngôi đ́nh của
người Việt, đó là đ́nh Vinh Thạnh. Cũng
đặc biệt như thế, Vinh Thạnh là làng duy
nhất trong tỉnh đến nay vẫn giữ
được cổng làng với bốn chữ Hán “Vinh
Thanh lư môn” (cổng làng Vinh Thạnh). Di tích ngôi đ́nh
hiện c̣n đến ngày nay mới được xây
dựng lại vào năm 1948, c̣n ngôi đ́nh cũ, nghe dân
gian kể lại, có quy mô lớn hơn, kiến trúc theo kiểu cổ lợp ngói âm dương
th́ đă bị phá hủy trong thời kỳ đầu
kháng chiến chống Pháp.
Ngôi đ́nh mới được kiến trúc trên
b́nh đồ h́nh chữ nhật, phía trước trổ
tam quan trông ra đường liên xă, các mặt khác tiếp giáp với nhà
dân. Hai đầu nhà đều xây trụ h́nh vuông, trên
đề đôi câu đố, hai trụ giữa bo tṛn chạm nổi h́nh rồng quấn
quanh, đầu chúc xuống đuôi vểnh lên, bên trên là
một dăy lan can được thiết kế theo kiểu
ô hộc. Chính giữa là h́nh cuốn thư
đắp đổi đề ba chữ “Vinh Thạnh
đ́nh”. Đ́nh được thiết kế hai lớp
mái, bốn góc uốn cong, cuối góc mái là những lan can đằng (giả rồng),
đỉnh mái bên trên thể hiện h́nh lưỡng long
chầu nguyệt (các chi tiết này đă bị đập
vỡ). Phía trong hai bên cửa chính là phù điêu đắp
nổi tượng ông Thiện, ông Ac, trong nhà sát tường
là ba bục thờ, Đ́nh dài 12m, rộng 4m.
Trong ba bục thờ th́ bục giữa
đề chữ “thần”, một bên đặt thần
vị Đào Đức Ngạc – cha của Đào Tấn,
một bên đặt thần vị Đào Tấn. Thần
vị Đào Tấn là một tấm bia đá
được lập năm Mậu Thân Duy Tân thứ hai
(1908), một năm sau khi ông qua đời. Nguyên văn
chữ Hán như sau: “Duy Tân nhị niên Mậu Thân nhị
nguyệt cát nhật. Hoàn triều cáo thụ Vinh lộc
đại phu Trụ quốc Thái tử Thiếu bảo
Hiệp biện đại học sĩ lănh Công bộ
thượng thư sung Cơ mật
viện đại thần Vinh phong tử tước trí
chính Đào công hủy Văn thần thần vị. Bản thông phụng tự”. Như
vậy ngay sau khi mất, Đào Tấn đă
được tôn vinh như một vị thần của
cả làng, được cả làng thờ cúng.
Hiện nay, khi điều tra về thần hoàng làng Vinh
Thạnh, trong nhân dân có nhiều ư kiến khác nhau,
người th́ bảo là Đào Đức Ngạc cha
của Đào Tấn, người th́ nói là chính Đào
Tấn. Thực ra nếu căn cứ vào vị trí các khám
thờ trong đ́nh th́ cha con Đào Tấn có lẻ chỉ là những
“hậu thành hoàng” của làng, tuy nhiên thành hoàng đầu
tiên của làng là ai đến nay không ai rơ.
Trong cuộc đời sáu mươi hai năm
của Đào Tấn (1485-1907) có ba quăng thời gian ông
sống nhiều năm tại quê nhà (23). Lần
thứ nhất bắt đầu từ khi ông cất
tiếng chào đời đến khi ông làm quan.
Lần thứ hai là khi ông xin từ quan về chịu tang
cha và phụng dưỡng mẹ già. Và
lần thứ ba là những năm tháng cuối cùng của
cuộc đời khi ông bị cách chức. Như vậy cuộc đời Đào Tấn
gắn bó nhiều với mảnh đấy chôn nhau
cắt rốn. Chính tại đây tài
năng văn học nghệ thuật của Đào
Tấn được nẩy nở, nuôi dưỡng.
Năm 18 tuổi ông đă hoàn thành vở
tuồng Tân dă đồn được vua Tự
Đức hết lời khen ngợi. Tiếp
đó Học bộ đ́nh-một trường đào
tạo nghệ sĩ tuồng đươcj thành lập.
Tiếng trống chầu ngày đêm rộn ră ở làng Vinh
Thạnh, rồi lan ra cả huyện, cả tỉnh,
biến B́nh Định trở thành trung tâm của nghệ
thuật hát bội, mà cho đến nay có lẽ trên
khắp cả nước không nơi đâu người
dân lại mê bộ môn nghệ thuật này như
người B́nh Định. Tài năng ấy, công lao
ấy, cùng với cốt cách thanh cao khiến ông khi sinh
thời đă được mọi người kính
trọng, ngưỡng mộ, lúc mất được
thờ ở đ́nh làng. Trước kia ở Vinh Thạnh
có ít nhất ba địa điểm thờ Đào
Tấn. Ngoài đ́nh làng, tại nhà ông con cháu (24) cũng
lập miếu thờ, dân làng cũng lập đền
thờ riêng, trên đề bốn chữ “Đào Công
bảo từ”. Hàng năm đến ngày
giỗ ông, con cháu họ tộc, dân làng cử hành tế
lễ rất long trọng. Tại đ́nh làng
thường tổ chức hát hội, diễn lại các
vở tuồng của ông, có khi kéo dài vài ba đêm mới
kết thúc, thu hút không chỉ dân sở
tại mà cả nhiều làng xă khác tham gia. Gần đây,
sau một thời gian bị mai một v́ nhiều lư do, những sinh hoạt văn hoá trên đang
được phục hồi. Chỉ tiếc rằng
miếu thờ, đền thờ ông đều đă
bị phá hủy do chủ trương tiêu thổ kháng
chiến ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, nay vẫn chưa
được dựng lại, c̣n đ́nh làng, nhiều đồ
thờ cũng đă thất lạc. May thay tại từ
đường họ Đào thôn Vinh Thạnh vẫn c̣n
được giữ nguyên vẹn 18 sắc phong của
Đào Tấn trong các năm Tự Đức 24 (1871), 27
(1874), 28 (1875), 29 (1876), 31 (1878), 33 (1880), 34 (1882), 36 (1883),
Đồng Khánh 2 (1887), 3 (1888), Thành Thái 1 (1884), 6 (1894), 8
(1896), 9 (1897), 10 (1898), 11 (1899), 14 (1902).
Chắc chắn rằng trong một thời gian
không xa đ́nh làng Vinh Thạnh sẽ được tu
bổ, không chỉ đây là ngôi đ́nh của người
Việt độc nhất vô nhị ở B́nh Định
c̣n lại đến ngày nay, mà c̣n là một di tích gắn
liền với danh nhân Đào Tấn. Ngôi đ́nh đó, cùng
với từ đường họ Đào, lăng mộ
của ông và rộng ra là cả mảnh đất làng Vinh
Thạnh trở thành một quần thể di tích phần
nào nói lên được cuộc đời sự
nghiệp của một nhà văn hoá lớn, trở thành
điểm hành hương của những người yêu
thích nghệ thuật tuồng, những người tâm
huyết với nền văn hoá dân tộc, cũng là
nơi để mọ người Việt Nam đến
tỏ ḷng tri ân đối với công lao người
xưa.
Chú thích chương VI
(1) Đại
(2) Quách tấn:
Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 254.
(3) Quốc sử
quán triều Nguyễn: Đại
(4) Quốc sử
quán triều Nguyễn: Đại
(5) Theo các sách
Đại Nam nhất thống chí, tập III, tr. 51-52;
Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, tr.
90-95. Xem thêm Nguyễn T́nh: Đào Duy Từ trong ḷng dân Hoài
Hảo. Luận văn tốt nghiệp khoa
lịch sử Đại học tổng hợp Hà Nội
khoá 31, Hà Nội, 1991.
(6) (7) Đại
(8) Hiện nay trong
khu vực chùa Thập Tháp vẫn c̣n dấu vết nền
tháp cổ, rải rác là những mảnh gạch vụn,
đá vỡ kích thước khác nhau. Sau mấy trăm
năm chùa đă qua nhiều lần trùng tu nhưng vật
liệu vẫn hoàn toàn bằng gạch Chàm. Ngoài
ra dấu tích Chùa c̣n phải kể đến là ba giếng
nước h́nh vuông xây bằng đá ong mỗi cạnh 2m,
sau này được nhà chùa sửa lại sử dụng.
(9) (10) (12)
Đại
(11) Quách Tấn:
Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 266.
(13) Núi này, c̣n có tên
gọi khác là núi Càn úc (Đại
(14) Đại
(15) Sách Đại
(16) Dấu tích
đồn lũy của quân Tây Sơn ở khu vực núi
Hàm Long hiện chưa pháp hiện được.
Truyền thuyết địa phương th́ nói rằng
quân Tây Sơn đóng ở trong hang (phía trên miếu Hàm Long)
và ở G̣ Chợ (đă bị san ủi làm sân vận
động Trường úc). Phía trước G̣ Chợ, bên kia Cầu Ván, có địa danh Bàn Cờ,
tương truyền là nơi vua chúa nhóm họp đánh
cờ người. Dân địa
phươngc̣n cho biết ở chỗ Cầu ván xưa có
hai khẩu đại bác cỡ lớn với rất
nhiều đạt gang. Cũng
tương truyền G̣ Chợ là nơi xưa quan Tây
Sơn tổ chức vui chơi và hội họp.
(17) Đại
(18) Đại
(19) Nguyễn Doăn
Địch (1833-1885) quê làng Tùng Giản huyện Tuy
Phước tỉnh B́nh Định, đă từng làm quan
nhà Nguyễn, năm 1885 hưởng ứng chiếu
Cần Vương tập hợp lực lượng kháng
chiến ở B́nh Định, chẳng may bị bệnh
nặng, trước khi mất giao quyền chỉ huy
nghĩa quân cho Mai Xuân Thưởng. (Xem thêm phần viết
về lăng mộ Mai Xuân Thưởng).
(20) Đại Nam
Nhất Thống chí, Sách đa dẫn tr.19
(21) Đại Nam
Nhất Thống chí, Sách đa dẫn tr.17
(22) Ở núi Bà có
một hang xâu xuyên qua núi, dân địa phương cũng
gọi là hang Chàng Lía. Từ của hang phía tây
(23) Theo Gia phả
họ Đào ở làng Vĩnh Phúc Thịnh, xă Phước
Nghĩa, huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định.
Sách Quốc triều hương khoa lục (NXB thành phố
HCM, 1993) cũng chép là Đào đăng Tấn.
(24) Năm 18
tuổi Đào Tấn đă có vở Tân dă được
đánh giá cao. Đáng tiếc đến nay có
một số vở đă thất lạc. Trong số
các vở tuồng của ông c̣n truyền lại đáng chú
ư là vở Vạn Bửu tŕnh tường gồm tới
120 quyển mà ông cùng Vũ Đ́nh Thưởng, Ngô Quư
Đồng soạn ṛng ră 4 năm trời mới xong. Nét
đặc biệt của bộ tuồng này ở chỗ
“nhân vật” ở đây lại là các vị thuốc
bắc, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động
đều dựa theo tính dược mà phô diễn.
(25) Về tiểu
sử Đào Duy Tấn xin xem ở mục viết về
di tích mộ ông.
(26) Đào Tấn
có năm người con trai đều rất hiển
đạt, có tiếng trong làng văn.
THAY LỜI KẾT LUẬN
B́nh
định là mảnh đất mà thiên nhiên luôn là nguồn
hứng khởi của thi ca, là nơi có truyền thống
lịch sử oai hùng với bề dày văn hoá vô cùng phong
phú và đặc sắc. Những danh lam thắng cảnh và
di tích được tŕnh bày trong tập sách này thực ra
mới chỉ là một phác thảo sơ lược,
chưa thể nói là đă lột tả đầy
đủ diện mạo một địa phương mà
mỗi một tạo tác của thiên nhiên đều có
thể xem là một thắng cảnh, mỗi một làng
quê, một góc phố dường như đều
chứa trong ḿnh biết bao những điều bí ẩn
của lịch sử. Để hiểu sâu sắc về
B́nh Định, ngoài tập sách này c̣n có những công tŕnh
chuyên khảo về địa lư tự nhiên, lchj sử,
văn hoá và kinh tế sẽ lần lượt
được xuất bản.
Người xưa có câu “địa
linh sinh nhân kiệt”. Đất B́nh Định không
“linh”, núi sông B́nh Định không “thiêng” sao có thể sinh ra
những người con anh kiệt như Nguyễn
Huệ-Quang Trung, một anh hùng dân tộc đă làm rạng
danh non sông đất Việt và chiến tích oai hùng
được ghi lại trên khắp mọi miền
đất nước? Rồi nữa, trong
lịch sử B́nh Định đă có biết bao
người vốn quê hương không phải ở
đây nhưng nhờ vùng đất này dung dưỡng tài
năng, hun đúc ư chí để rồi làm nên những
sự nghiệp lớn mang tầm vóc quốc gia.
Đó là nét hết sức đặc biệt của B́nh Định.
Nhưng do giới hạn không gian hành chính, tập sách
chỉ tŕnh bày những sự kiện ấy, nhân vật
ấy thông qua các di tích liên quan trên đất B́nh
Định hiện nay. Nhưng chỉ
chừng ấy thôi cũng đă nói lên được
nhiều điều. Những di tích bấy lâu yên
lặng mặt cho thời gian huỷ hoại thành những
phế tích hoang tàn, để cho rêu phong phủ kín qua
từng năm tháng, cảnh trí thiên nhiên tưởng như
vô tư trầm lắng trước mọi đổi thay
của thời cuộc th́ nay tất cả đều
đang thất tỉnh hồi sinh. Sự
nghiệp đổi mới của cả nước và
ở B́nh Định đang thổi một luồng sinh
khí mói đưa chúng vào hoà nhập với cuộc sống
hôm nay. Những thắng cảnh đang
được tôn tạo, những di tích đang
được trùng tu. Giờ đây, khi
nói về danh thắng và di tích không chỉ để hoài
niệm và ngợi ca mà hơn thế, c̣n là để
nhắc nhở những thế hệ hôm nay và mai sau
hiểu roc hơn về nét đẹp của B́nh
Định, làm cho bè bạn gần xa thêm yêu mến thiên
nhiên, truyền thống lịch sử – văn hoá và con
người B́nh Định. Đấy là ước
vọng cao nhất của người viết tập sách
này.