Chương  VI

LỊCH SỬ – VĂN HÓA

 

       Từ sau năm 1471 những lớp cư dân Việt đầu tiên đă đến sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất B́nh Định ngày nay,bắt đầu một quá tŕnh giao thoa và hỗn dung văn hóa.Người Việt mang tới đất Đại  Châu những truyền thống được tích luỹ hàng ngh́n năm từ thủa Hùng Vương dựng nước với nền văn minh Sông Hồng có thời đă tỏa sáng khắp vùngĐông Nam Châu Á đến đỉnh cao của văn minh Đại Việt dưới thời Hồng Đức.Bằng sức lao động cần cù và sáng tạo,những người nông dân Việt vốn có nguồn gốc quê hương ở nhiều vùng khác nhau trên đất Bắc,đă phải đổ biết bao mồ hôi, công sức, chung lưng đấu cật cùng nhau xây dựng nên một quê hương mới.Cũng tại nơi đây,truyền thống văn hóa Champa với những nét đặc sắc của vùng đế đô Vijaya đă được tích hợp với văn hóa Việt,ḥa quyện vào nhau làm nên một sắc thái văn hóa riêng không lẫn với bất cứ nơi đâu.

       Từ khi các chúa Nguyễn đẩy mạnh công cuộc khai phá xứ Đàng Trong cho đến khi triều Nguyễn chính thức đặt ra tỉnh B́nh Định, tên gọi vùng đất trải dài từ đèo B́nh Đê đến đèo Cù Mông đă có nhiều lần biến cải. Phủ Hoài Nhơn với ba huyện Bồng Sơn,Phù Lỵ và Tuy Viễn thời Lê Thành Tông được đổi thành phủ Quy Nhơn năm 1604.Đến 1651 chúa Nguyễn Phúc Tần cho đổi làm phủ Quy Ninh.Năm1742 Vơ vương Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên cũ là Quy Nhơn.Tên B́nh Định xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1799,nhưng khi ấy đó chỉ là tên gọi thành Quy Nhơn.B́nh Định với tư cách là một tỉnh độc lập xuất hiện vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Cho đến nay ,sau hơn năm thế kỷ phát triển, B́nh Định trải qua biết bao sự đổi thay.Vào thế kỉ XVII – XVIII Quy Nhơn, Cách Thử từng là những cửa cảng quan trọng với di tích phố cổ Nước Mặn được ghi trên các bản đồ hàng hải quốc tế .Đây cũng đă có thời  là một trung tâm văn hóa rực rỡ của miền Trung… Một truyền thống lịch sử – văn hóa B́nh Định, một tính cách con người B́nh Định đă được h́nh thành. Dấu ấn của quá tŕnh phát triển đó để lại ở khắp mọi nới. Những chặng đường lịch sử và truyền thống văn hoá B́nh Định được thể hiện trên mọi mặt của đời sống. Từ một  nếp nhà lá mái, hương vị mănk ṃi của nước mắm G̣ bồi, một đêm diễn xướng hát Bội, những môn phái quyền roi cùng truyền thống thượng vơ đặc sắc .....đến một ngôi chùa thờ Phật, một mái đ́nh cong cùng cùng những nơi thờ cúng các vị anh hùng,danh nhân … mà ta có thể thấy ở bất kỳ nơi đâu trên đất B́nh Định đều nói lên lịch sử và văn hóa quê hương. Những di tích vật chất và tinh thần ấy thật không sao kể xiết. Ở đây chỉ có thể kể ra một số  di tích tiêu biểu mả ai có dịp tới B́nh Định đều mong muốn được tới thăm…

 

1.Chùa Nhạn Sơn

  

   Trong  số các ngôi chùa khác trong vùng, chùa Nhạn Sơn không có ǵ đặc biệt về kiến trúc nhưng lại là một di tích khá điển h́nh cho một đặc

trưng văn hóa của B́nh Định .Đó là sự giao kết giữa văn hóa Champa bản địavới văn hóa Việt là lớp người đến sau.

   Chùa có quy mô nhỏ với cấu trúc kiểu chữ khẩu, thông thường như bao ngôi chùa làng của người Việt nhưng lại  rất nổi tiếng.Đây là một trong năm ngôi chùa của tỉnh B́nh Định được sách Đại Nam nhất thống chí chép đến ( cùng với các chùa Thạch Cốc,Linh Phong, Thập Tháp,Long Khánh ). Sự nổi tiếng của chùa Nhạn Sơn  không phải do bề dày lịch sử hay kiến trúc độc đáo mà v́ bên trong chính điện thờ hai pho tượng đá khổng lồ, một sơn đen ,một sơn đỏ.V́ thế mà nhân dân địa phương c̣n gọi chùa này là chùa Ông Đen Ông Đỏ hay chùa Ông Đá.Điều này phù hợp với điều ghi chép trong sách Đại Nam nhất thống chí,duy chỉ có tên gọi th́ trong sách này lại ghi là Mạn Sơn tự (chùa ŕa núi ?) . Sách chép rằng:” Chùa Mạn Sơn  tục gọi là chùa Ông Đá ,ở thôn Nhạn Tháp huyện Tuy Viễn, về phía nam thành Chà Bàn.Trong chùa có hai tượng đá,đứng hai bên nh́n nhau trên viên đá vàng,ḿnh cao hơn 6 thước,lưng rộng hơn 5 thước,một pho sơn son,một pho sơn đen,thầy chùa chế áo xiêm,mũ đai bằng vải vẽh́nh mây rồng mặc vào,trông như h́nh người c̣n sống.Tương truyền tượng ấy là tượng Phật của người Chiêm Thành.cầu đảo thường ứng nghiệm” (1).

   Di tích chùa Nhạn Sơn hiện nay thuộc địa phận thôn Nam Nhạn Tháp,xă Nhơn Hậu,huyện An Nhơn,nằm cách huyện lỵ ( thị trấn B́nh Định cũ ) 6km và thành phố Quy Nhơn 23km về phía Tây Bắc. Chùa nằm dưới bóng một cây xoài xanh mướt,tựa lưng vào núi Long Cốt,trước mặt là một hồ sen, cảnh trí thật thơ mộng.

   Không có tài liệu đích xác nào cho biết về thời điểm lập chùa. Tất cả chỉ là truyền thuyết.Theo đó, lúc mới dựng lên, chùa có tên là Thạch Công tự – sung nghĩa tự.Nhạn Sơn Linh Tự và Nhạn Sơn tự ( chùa Ông Đá). Một vấn đề đặt ra là giữa hai pho tượng đá này và ngôi chùa có mối quan hệ như thế nào với nhau.Có thuyết cho rằng đó là tượng của đôi bạn chí thân Huỳnh Tấn Công và Lư Xuân Điền, một người  ở Hóa Châu (Huế) c̣n người kia quê ở Ninh B́nh.Cả hai đều là bậc anh tài  được vua Trần trọng dụng.Vào thời buổi loạn lạc,giặc Trung Hoa đe dọa phương Bắc,quân Chiêm Thành uy hiếp phía Nam, vua Trần cử mỗi người  cầm quân đi đánh dẹp một phương.Vốn là người Hóa Châu, Huỳnh  Tấn  Công được cử đi đánh Champa,chẳng may bị bắt làm tù binh.Họ Huỳnh trở thành gia nô cho một viên đại thần trong triều đ́nh Champa.Nhờ có tài xem mạch ,bốc thuốc, có lần Huỳnh Tấn Công đă chữa cho vị quan nọ khỏi một căn bệnh hiểm nghèo. Từ đó ông được sủng ái hết mực.Sau khi dẹp xong giặc Bắc quay trở về, biết Huỳnh Tấn Công đang lưu lạc nơi đất Chiêm ,Lư Xuân Điền quyết chí vào Nam t́m bạn.Cuối cùng họ đă t́m được nhau. Cảm kích trước t́nh bạn thủy chung ,vị đại thần Champa đă đồng ư cho họ Huỳnh cùng bạn trở về quê hương. Hai người ra về được ít lâu,v́ thương nhớ,vị quan người Chiêm đă sai thợ tạc tượng hai ông để hàng ngày được ngắm nh́n cho thỏa.Sau này người ta lập chùa thờ hai pho tượng,đặt tên là Song Nghĩa tự(2).Câu chuyện hết sức mơ hồ và có những chi tiết phi lịch sử nhưng thật cảm động.Gần đây một số phim ảnh, sách báo khi giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa B́nh Định cũng kể về sự tích này.Thực ra đó chỉ là sự phản ánh trí tưởng tượng của dân gian,giải thích mối quan hệ Việt – Chiêm trong lịch sử, lư giải hiện tượng trong chùa Việt có tượng Champa.

   Hai pho tượng nay đă được tô một ông đỏ, một ông đen nhưng vẫn dễ dàng nhận ra đó là hai pho tượng được tạc bằng đá sa thạch,một loại h́nh nghệ thuật đặc trưng của người Chàm. Đây là hai tượng Môn thần (Dvarapalla), người Việt quen gọi là Hộ Pháp, mà ta có thể bắt gặp trong các công tŕnh kiến trúc tôn giáo của người Chàm.Dọc dải mảnh đất  miền Trung, địa bàn xưa của Vương quốc Champa, nay vẫn c̣n lại nhiều tượng Môn thần với những niên đại khác nhau.Nhưng điều đặc biệt là ở chỗ không đâu có hai pho tượng Môn thần lớn và sinh động như ở chùa Nhạn Sơn.

   Tượng Môn thần,với ư nghĩa là người bảo vệ cho Đạo pháp,bao giờ cũng đứng ơ cửa của một công tŕnh kiến trúc tôn giáo. Không ai biết hai pho tượng ở chùa Mạn Sơn hiện nay vốn thuộc công tŕnh kiến trúc tôn giáo nào,nhưng cứ nh́n vào hai pho tượng, đặc biệt là khoảng cách gần, chừng 400m, từ chùa Nhạn Sơn đến g̣ Tam Tháp, phế tích tháp Chàm cổ có quy mô khá lớn , có thể đoán định rằng hai tượng Môn thần vốn là những tác phẩm điêu khắc trong quần thể kiến trúc tháp. Năm tháng trôi qua,tháp sập đổ,tượng đá bị vùi cho đến ngày những người dân Việt t́m thấy.Họ đưa về chùa để thờ phụng. Dân làng kể rằng, từ mấy trăm năm về trước dưới đất bỗng trồi lên hai pho tượng. Những người ṭ ṃ đến rờ mó nghịch nghợm th́ về nhà mắc chứng nhức đầu. Sợ quá họ lập đền thờ,lúc đầu lợp tranh sau mới xây gạch.

   Hai pho tượng vốn nguồn gốc được người Chàm thể hiện trong tư thế đối xứng nhau cao tới 2,2m, rất sống động với dáng vẻ thật dữ dằn.Điều này phù hợp với h́nh tượng thần giữ cửa. Mặc dù nay tượng đều đă bị tô sơn nhưng vẫn có thể nhận ra nét tinh tếtrong nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân xưa. Cách mặc kiểu sampot, hoa văn cánh sen chạy ṿng quanh đai thắt lưng cho thấy rơ ràng phong cách Tháp Mẫm, phong cách điển h́nh của thế kỷ XII, XIII của hai pho tượng này.

   Thời kỳ hoàng kim của Vương quốc Champa cùng với nền văn hóa rực rỡ của họ cũng đă qua đi sau cuộc chinh phạt năm 1471 của Lê Thánh Tông. Đại Việt đă cắm mốc biên giới  đến núi Thạch Bi (Nơi giáp giới giữa B́nh Định và Phú Yên). Đất Đại Châu xưa với kinh đô Vijaya tráng lệ trở  thành phủ Hoài Nhơn trong lănh thổ Đại Việt. Nhiều công tŕnh kiến trúc như thành quách, dinh thự,đền đài …  cũng biến mất trong dâu bể của chiến tranh, của thời gian .Người Việt bắt đầu công cuộc kinh dinh vùng đất phương Nam, rồi cộng cư, ḥa đồng với người Chàm bản địa.Công tŕnh kiến trúc vĩ đạiphía Nam thành Vijaya bị phá hủy, chỉ c̣n lại phế tích tháp đổ ( g̣ Tam Tháp ) và nguyên vẹn hai tượng môn thần đồ sộ. Nh́n vào tư thế tượng và bệ đá có thể đoán định rằng hai pho tượng này được tạc bằng đá nguyên khối , v́ thế mà có thể trơ gan cùng tuế nguyệt. Người Việt đến sinh cơ lập nghiệp ở chốn này thấy hai pho tượng đá uy nghi liền xây chùa để thờ phụng mà chính điện là nơi ngụ của hai pho tượng đá.Thế rồi từ ư nghĩa là tượng Môn thần của người Chàm, hai pho tượng này đă trở thành tượng Phật của người Việt,được tô sơn,một ông đỏ, một ông đen, ông đỏ ở bên phải, ông đen ở bên trái,thành ông Thiện, ông ác, thành thần giữ cửa giống như trongcác ngôi chùangười Việt khác. Từ đó h́nh thành một loại tín ngưỡng hỗn hợp Việt – Chàm. Đă quét sơn ( theo nghĩa đen ) người Việt c̣n phết thêm cho hai pho tượng một “ lớp sơn văn hóa”, dán thêm ria mép,râu cằm . Âu cũng không có ǵ khó hiểu, đó chính là một đặc trưng văn hóa Việt : dễ thích nghi, giỏi tiếp biến. Ngoài hai tác phẩm điêu khắc đá đặc sắc, có giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật,giá trị của di tích chùa Nhạn Sơn c̣n ở chỗ đây là một điểm giao thoa văn hóa mà nếu nghiên cứu sâu sẽ c̣n khám phá thêm những điều vô cùng lư thú. 

   Pho tượng sơn màu đỏ tay phải đưa ra vừa tầm ngang với ngực rất tự nhiên,tay trái vốn cầm một quả chùy bầu dục, nhưng người Việt đă chắp thêm một đoạn lên phía trên quả chùy biến nó thành cây thiết trượng. Hai cổ tay đều đeo ṿng tràng hạt. Hai cổ chân cũng đeo ṿng tṛn nhưng khác nhau,ṿng tṛn chân phải là h́nh một con rắn, ṿng tṛn chân trái phía trước chạm nổi lá đề. Pho tượng sơn màu đen đứng phía bên trái có tư thế giống như pho tượng bên phải. Tay cầm thiết trượng, cổ tay đeo tràng hạt, hai cổ chân chống hai con rắn,bệ tượng tṛn chạy xung quanh là những ṿng tràng hạt. Điều đáng tiếc là tay phải đă bị găy hiện được đắp bằng xi măng.

   Về trang phục cả hai  tượng đều mặc sampot , dải buông ra phía trước, đuôi vểnh chéo thành năm nếp vắt lên đùi trái,người ở trần,đeo chéo một con rắn đầu ló ra trước ngực,tóc búi cao xung quanh là những sợi dây buộc chéo, trâm cài phía sau,đầu đội mũ có ŕu xéo. Cả hai pho tượng đều có miệng lớn,mũi bành rộng lưng găy, ngực hơi ưỡn ra phía trước. Đặc điểm trên cho thấy rơ tính chất Nam Á, xét về mặt nhân chủng học,của hai pho tượng này. Nhưng giờ đây y phục của hai pho tượng đều đă được Việt hóa. Hai vị được mặc áo đại bào,đầu đội mũ đằng cho giống với các tượng thần trong chùa Việt.

   Ḍng người đến chùa Nhạn Sơn  vẫn không ngớt như hàng trăm năm nay vẫn thế. Người ta đến chùa để cầu xin đức Phật được mọi sự tốt lành là đặc biệt là niềm tin thiêng liêng ở sự phù hộ dộ tŕ nơi hai pho tượng đá này. Cũng mấy ai hiểu rơ giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc của nó, c̣n nhân dân th́ vẫn cứ đến đây, phần nhiều v́ hai pho tượng đa mà đời này truyền đời kia rằng rất thiêng, cầu đảo thường ứng nghiệm.

 

2.Đền thờ Đào Duy Từ

              

   Những cống hiến lớn lao của Đào Duy Từ (1572-1634) trên nhiều lĩnh vực (Chính trị ,quân sự,văn học, kiến trúc, sân khấu … ) đă đưa ông vào các hàng danh nhân trong lịch sử dân tộc. Tên tuổi và sự nghiệp của ông được đáng giá cao trong nhiều bộ sách giáo khoa và công tŕnh chuyên khảo. Trong tâm trí của nhân dân Đào Duy Từ được coi là nhân tài có công với dân , với nước. Vốn quê gốc ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn , phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xă Nguyên B́nh, huyện Tĩnh Gia ), nhưng nơi Đào Duy Tư bắt đầu sự nghiệp của ḿnh để rồi trở thành một nhân vật nổi tiếng lại là đất Tùng Châu (nay thuộc huyện Hoài Nhơn , tỉnh B́nh Định).

   Cuộc đời Đào Duy Từ có thể khác nếu như không có một điều luật bất công được đặt ra từ thời Lê sẽ cấm không cho những người làm nghề ca xướng cùng con cháu họ được đi thi. Cha Đào Duy Từ là Đào Tá Hán làm quản giáp trong nghề ca hát, coi Nữ nhạc đời Lê Thánh Tông (1557- 1573), mẹ là Nguyễn Thị Minh, cũng là người nổi tiếng trong làng chèo bấy giờ. Chính bởi lư lịch này mà Đào Duy Từ bị gạch tên, không cho dự kỳ thi hương nhà Lê tổ chức tại Thanh Hóa. Ông nuốt hận quay về,ngày đêm nghĩ t́m kế lập thân, quyết đem tài học của ḿnh thi thố với đời.

   Bấy giờ, sau khi Lê Thánh Tông qua đời (1447), nhà Lê bị suy yếu rất nhanh.Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi của nhà Lê lập ra nhà Mạc. Năm 1532 Nguyễn Kim khôi phục nhà Lê, nhưng không bao lâu lại nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ những người pḥ giúp triều Lê. Để thoát khỏi ṿng cương tỏa của họ Trịnh, năm 1558 Nguyễn Hoàng, con trai của Nguyễn Kim, xin vào làm trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi sau đó kiêm trấn thủ  cả xứ Quảng Nam. Tại vùng đất mới, để củng cố và phát triển thế lực, Nguyễn Hoàng và nhất là Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai kế vị ông làm Trấn thủ Thuận Quảng, đă thực hiện chính sách chiêu hiền đăi sĩ. Theo sách Thực lục th́ Đào Duy Từ “ nghe tiếng chúa yêu dân, quư học tṛ, hào kiệt đều quy phục, quyết chí đi theo, bèn một ḿnh vào nam”  ( 3 ).

   Trên hành tŕnh gian lao để khẳng định ḿnh, Đào Duy Từ đă ở lại huyện Vũ Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) hơn một tháng , mà không ai biết. Lúc ấy chế độdùng người ở Đàng trong chủ yếu dựa vào tiến cử. Đào Duy Từ cần một người có địa vị bảo lănh và giới thiệu. Nghe tiếng đồn về quan khám Lư phủ Hoài Nhơn Trần Đức Hoà là người mưu trí, hào hiệp lại  t́nh “ nghĩa đệ” với chúa nên ông đă rời Vũ Xương đến Hoài nhơn. Nhưng là một nhười chưa có danh tiếng, Đào Duy Từ không dễ ǵ gặp được quan Khám Lư ông đă phải đi đường ṿng. Thoạt đầu, để thể hiện tài năng, ông xin làm người ở cho một phú hộ thôn Tùng Châu, vốn là người có quan hệ thân thiết với Đức Hoà. Một hôm, nhân phú ông đặt tiệc hội họp các danh sĩ uống rượu, ngâm thơ mua vui, Đào duy Từ đă không ngần ngại cùng các danh sĩ bàn luận cổ kim và kinh sử bách gia, điều ǵ cũng không hiểu, khiến cả đám tiệc đều kinh ngạc. Phú ông lấy làm lạ, đem chuyện nói với khám lư Trần Đức Hoà. Dức Hoà cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi hang, thấy ông là người học rộng biết nhiều, đem ḷng yêu quư bèn mời về dạy học rồi gă con gái cho.

   Năm 1627 Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Hôm đào Duy Từ vào ra mắt, Nguyễn Phúc Nguyên mặc áo trắng , đi hài xanh đứng ở cửa ngách chờ, Đào Duy Từ nh́n thấy, đứng lại không đi. Phúc Nguyên biết ư lặp tức thay mũ áo chính tề rồi mời triệu vào. Lúc ấy Duy Từ mới rảo bước vào lạy. Chúa tôi cùng nói chuyện, rất tâm đắc, Phúc Nguyên nói: “ Khanh sao đến muộn thế !” rồi lập tức phong Đào Duy Từ làm Nha Nội tán, Tước Khê Lộc hầu, trong coi việc quân cơ trong ngoài và cho được tham bàn quốc sự.

   Năm 1630 nghe theo lời khuyên của Đào Duy Từ chúa Nguyễn cho đắp luỹ Trường Dục( Quảng B́nh), công việc hơn một tháng th́ hoàn thành. Năm 1631 Duy từ lại khuyên chúa đắp một luỹ khác chạy dài từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đào Mậu thuộc Đồng Hới, tục gọi là luỹ Thầy dài hơn 3000 trượng, cao 1 trượng 5 thước. Luỹ trường dục và luỹ Thầy là 2 công tŕnh pḥng thủ lợi hại giúp chúa Nguyễn ngăn chặn hiệu quả các cuộc xân lấn của quân Trịnh. Sau này sử nhà Nguyễn gọi luỹ Thầy là”Định Bắc trường thành” (bức tường thành giữ yên mặt bắc), gọi là “một nơi hùng vĩ ngăn cách Bắc Nam”.

   Năm 1634 Đào Duy Từ óm nặng rồi mất, hưởng thọ 63 tuổi. Chúa Nguyễn thương tiếc măi, truy tặng Hiệp mưu đồng đức công thần,đặc tiến trụ quốc kim tử Vinh lộc đại phu Thái thượng tự khanh lộc khê hầu. Năm Gia Long thứ tư (1804), xét công trạng các khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp vào hạng Thượng đẳng, cho thờ phụng ở Thái miếu, năm Gia long thứ 9( 1810) được liệt thờ ở miếu khai quốc công thần, năm Minh mệnh thứ 12 (1831) truy phong đông cát đại học sĩ, Thái sư hoàn quốc công. Đánh giá về Đào Duy từ, sử nhà Nguyễn viết: “ Duy Từ có tài lược văn vơ phàm đă mưu tính trù hoạch ǵ, hễ làm th́ trúng thời cơ, giúp việc nước có 8 năm mà cơ nghiệp rỡ ràng, đứng hàng đầu công thần khai quốc” (4)

   Đúng như nhận xét của các sử gia, Đào Duy Từ là một người toàn tài văn vơ. Sự nghiệp của ông bao trùm mọi lĩnh vực chính trị, quận sự và văn hoá.

   Với tư cách một nhà chính trị, Đào duy từ đă giúp chúa Nguyễn đưa xă hội Đàng Trong từng bước đi vào thể chế ổn định. Ong khuyên Chúa Nguyễn thi hành phép duyệt tuyển( duyệt dân tuyển lính) cứ 6 năm một lần tuyển lớn, ba năm một lần tuyển nhỏ. Đến kỳ tuyển sinh tháng Giêng sai các tổng, xă làm sổ hộ tịch, chia dân ra làm hai loại chính hộ( dân chính cư), khách hộ( dân ngụ cứ). Mỗi loại lại chia thành các hạng tráng, quân, dân, lăo, tật, cố, cùng, tuỳ từng đối tượng mà thu thuế khác nhau. Ong cũng đề nghị chúa Nguyễn cho tổ chức các kỳ thi để chọn người tài. Các khoá thi bấy giờ được tiến hành đồng thời với các kỳ duyệt tuyển lớn, người nào đỗ th́ cho làm nhiêu học, miễn thuế sai dư 5 năm hoặc bổ làm việc ở Tam Kỳ. Là người gần gũi thường xuyên với chúa Nguyễn lại được tin dùng, ông đă đề xuất nhiều chính sách có lợi cho quốc kế dân sinh.

   Với tư cách là một nhà quân sự, Đào duy Từ có những đóng góp xuất sắc cả trên phương diện thực tiễn và lư luận. Luỹ Trường Dục và Luỹ Thầy do ông thiết kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng đă thực sự phát huy hết tác dụng trong suốt cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, xứng đáng với tên gọi là “ Định Bắc Trương Thành”, về lư luận ông có tác phẩm hồ Tướng Khu cơ, cùng với binh thư yếu lược của Trần Quốc là hai cuốn binh pháp nổi tiếng của Việt Nam thời trung đại c̣n lại đến ngày nay. Thần thái toát ra từ sự nghiệp quân sự của Đào Duy Từ là ông đă biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lư luận và thực tiễn. Lư luận quân sự của Đào Duy Từ có tham khảo binh pháp Trung Hoa và kế thừa tinh hoa binh pháp Việt Nam đến lúc đó, nhưng mặt chủ yếu vẫn là sáng tạo xuất phát từ thực tiễn Việt Nam thế kỷ XVI, XVII

Là một nhà thơ, Đào Duy Từ c̣n để lại cho đời một tác phẩm có giá trị. Bài Ngọa Long cương văn gồm 136 câu lục bát từ lâu được phổ biến rộng răi. Bài thơ nói về nhân vật Khổng Minh thời Tam quốc ẩn ḿnh ở núi Ngoạ Long trước khi ra giúp anh em Lưu Bị, nhưng qua đó bộc lộ rơ ư chí và hoài băo của Đào Duy Từ muốn đem tài năng của ḿnh ra để giúp đời. Truyền rằng khi làm thầy học ở nhà quan Khám Lư Trần Đức Hoà, Đào duy Từ thường ngâm bài thơ này. Chính nhờ bài thơ chất chứa tâm huyết này mà ông đă được đến với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Sử chép lại rằng, trước lúc tiến cử ông, Trần Đức Hoà đă đem dâng bài thơ lên chúa. Chúa xem thấy lạ lập tức cho mời Đào Duy Từ, bài tư dung văn gồm 336 câu thơ lục bát xen kẽ 7 bài thơ thể ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt cũng là một án văn hay, ca ngợi vẽ đẹp thiên nhiên nơi cửa biển Từ Dung và cảnh sống thanh b́nh của vùng đất Phương Nam, nơi có chúa hiền tài giỏi. Ngoài ra tương truyền rằng vở tuồng Sơn Hậu cũang như các điệu múa Hoa Đăng, Nữ tướng xuất quân cũng điều do Đào Duy Từ sáng tác.

   Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy Từ giống như một thiên sử bi hùng. Bị gạt ra khỏi con đường khoa cử chỉ v́ cha mẹ là nghệ sĩ nhưng Đào Duy Từ không v́ thế mà bi quan yếm thế. Trái lại dường như trong ông càng nung nấu hơn ư chí sắt đá phải tự vươn lên để khẳng định ḿnh. Quyết định đi về phương Nam, t́m đến với chúa nguyễn của Đào Duy Từ chắc chắn không chỉ v́ chút bực dọc nhất thời, mà là cả một tầm nh́n. Nơi ấy cần đến tài năng thực sự của ông hơn, tám năm về bên chúa Nguyễn một khoảng thời gian không dài mà sự nghiệp Đào Duy Từ được các vua Nguyễn sau này xếp vào hàng đệ nhất khai quốc công thần. Thế mới biết tài năng khi được phát hiện và trọng dụng th́ có ích biết nhường nào. Tất nhiên sự nghiệp rực rỡ của Đào duy từ không thể tách rời sự anh minh sáng suốt trong tài dùng người của Nguyễn Phúc Nguyên và đổi lại, thành công của ông trong việc biến các ư tưởng của cha thành hiện thực có phần đóng góp xuất sắc của Đào Duy Từ. Hai trăm năm sau Nguyễn Hoàng, người việc đă lập nghiệp tới tận chót mũi Cà Mâu. Gạt sang bên những hạn chế khó tránh khỏi của xă hội phong kiến, có thể tấy sự nghiệp ấy thật lớn lao, trong đó sự xuất hiện đúng lúc của Đào Duy Từ đă tạo nên một bước ngoặc lớn.

   Sinh ra và lớn lên ở Thanh Hoá nhưng làng Tùng Châu thuộc xă Hoài thanh ( Hoài Nhơn) là nơi đă hun đúc thêm tài năng và ư chí của ông, giúp ông bắt đầu một sự nghiệp lớn. Sau khi ông qua đời chúa Nguyễn cho đưa thi hàivề mai táng và lập đền thờ tại đây. Hiện nay trên vùng đất thuộc Tùng Châu xưa vẫn c̣n một số di tích liên quan đế Đào Duy Từ .

   Di tích lăng mộ Đào Duy Từ nay thuộc địa phận thôn Phụng Du, xă Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và 6 người trông coi phần mộ. Đến năm Minh mệnh 17 (1836), triều đ́nh lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ ông bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất được tiến hành năm 1999.

   Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại thuộc thôn Ngọc Sơn, xă Hoài Thanh tây, huyện Hoài Nhơn. Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất h́nh chữ T có diện tích 1.616m2 , được xây dựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đă rải qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốn chữ lớn “ Quốc công từ môn” ( cổng đến thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, hai bên đắp phù điêu h́nh hai con dơi cánh điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc có h́nh rồng uốn lượn. Qua Tam Quan có sân nhỏ h́nh chữ nhật, kích thước 6,9m x 7,8m. tiếp đến là b́nh phong đắp h́nh long mă lưng có hà đồ nỗi trên mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “ Bách thế bất di” ( Trăm đời không thay đổi). Ơ hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ:

Ngọc sơn chung tú Bắc

Bồng lănh hiển danh Nam

   Cách đều b́nh phong 2,6m về hai bên có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắp tượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn h́nh chữ nhật với kívh thước 15,4m x 14m. qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở B́nh Định. Khám thờ bên trong có bài vị của Đào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh( thân phụ và thân Mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từcó ḍng chữ “ Thuỷ tổ khảo nội tán lộc khê hầu Đào Công, tặng khai quốc công thần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sỹ, Thái sư, nhưng thuỷ Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị của vợ Đào Duy Từ viết “ Thuỷ tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ c̣n có đôi câu đối nhưng nay đă sứt ṃn, mờ không đọc được.

   Di tích nhà thờ Đào Duy Từ tại thôn Cự Tài thuộc xă Hoài Phú huyện Hoài Nhơn. Sách đại nam Nhất Thống chí và đồng khánh dư địa chí đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Đào Duy từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn( nay là Hoài Nhơn). Trong chiến ranh nhà thờ này đă bị sụp đổ. Năm 1978 ḍng họ đào xin kinh phí của tỉnh Nghĩa B́nh để xây dựng lại đền thờ trên nền cũ hiện chỉ c̣n lại hai trụ cổng và tấm đại tự cũng đề “ Quốc công từ môn” ( giống như nhà thờ ở thôn Ngọc Sơn,xă Hoài Thanh tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự Đức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải Định thứ 1 (1861). Trong đền thờ khám thờ là bài vị Đào Duy Từ cũng ghi giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn.

   Ngoài ra, tại thôn Ngọc Sơn c̣n có lăng Đào Tá Hán. Truyền rằng khi đă làm quan ở Thuận Hoá, Đào Duy từ cho đắp mộ phụ thân rồi tung tin rằng đă đưa hài cốt cha mẹ vào đây để pḥng việc trả thù của họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lăng mộ hiện nằm trên một quả đồi rộng. Cũng tại Ngọc sơn hiên có một ngôi chùa nhỏ, tương truyền là nơi đi tu của bà vợ cả họ Cao.

   Những di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay, nằm ở các thôn, xă khác nhau ( lăng mộ Đào Duy Từ tạu thôn Phụng Du xă Hoài Hảo, nhà tờ và lăng mộ Đào Tá Hán tại thôn Ngọc sơn xă Hoài Thanh tâyvà nhà thờ ở thôn Cự Tài xă Hoài Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng đất của trại Tùng châu xưa. Đây là những xă thôn mà hiện nay con cháu Đào Duy Từ c̣n rất đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự Tài.

   Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch là ngày giỗ Đào Duy Từ con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất long trọng. Theo quy ước, cứ vào dịp này coan cháu ḍng tộc điều nghỉ việc đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp hương tại lăng mộ Đào Duy Từ ( tôn Phụng Du) con cháu về hợp mặt và dâng hương tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng Đào Duy Từ  ở thôn Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế lễ chính thức tại đền thờ Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài. Ngoài ngày giỗ chính ( 17 tháng 10), hàng năm tại các di tích trên c̣n có 5 ngày lễ phụ vào dịp Đông chí , Chạp mă, Thanh minh, Trung thu và tết Nguyên đán. Ngày giỗ Đào Duy Từ cũng là ngày con cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng vợ của ông. Duy bà vợ cả c̣n có ngày riêng là 12 thàng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn Tài lương. Giỗ bà hàng năm( gọi là tiểu chẩn) chỉ sửa cơm chay, cứ mười năm ( gọi là trung chẩn) th́ lễ vật có thêm đôi chim sống, một đôi gà sống cúng xong xô chim gà ra rồi con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm (đại chẩn)mới sửa cỗ mặn.

   Có đến tận nơi mảnh đất Tùng Châu xưa mới thấy hết dấu ấn và ảnh hưởng lớn lao của Đào duy Từ đối với vùng đất này. Không chỉ có con cháu họ Đào nơi đây tự hào về vị tổ tiên của ḿnh mà tất cả mọi người dân nơi đây đều tự hào về ông. Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy Từ đă trở thành niềm tự hào chung của dân Hoài Nhơn, của nhân dân B́nh Định. Cuộc hành hương đưa ta trở về mảnh đất nơi xưa Đào Duy Từ thác làm kẻ chăn trâu cho phú ông không mấy khó khăn. Từ thị trấn Bồng Sơn ruổi theo quốc lộ 1A khoảng 7 km tới cột cây số 1138 rồi rẽ hương tây là sẽ đến các địa chỉ cần t́m. Cỏ trên mộ ông luôn ấm hơi người, của con cháu, của bà con nơi đây, của khách thập phương. Bởi cuộc đời đầy những t́nh tiết ly kỳ của ông, bởi tấm ḷng của ông với vùng đất quê hương thứ hai này, và bởi sự nghiệp lẫy lừng của ông với chúa Nguyễn, với nhân dân Đàng Trong vẫn sẽ c̣n sống măi với thời gian(5)

 

3. Chùa Thập Tháp

 

   Thập Tháp Di Đà tự hay chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh B́nh Địnhđược chép vào sách Đại Nam nhất thống chí với lời đánh giá “ chùa này cùng chùa linh phong đều nổi tiếng là danh thắng” (6) Ca dao đại phương có câu:

   An nhơn có núi ṃ O

   Có chùa Thập Tháp có đ̣ Trường Thi.

   Chùa Thập Tháp nằm ở phía Bắc thành đô Bàn, nay thuộc địa phận hôn vạn thuận, xă nhơn thành huyện An nhơn, cách Thành phố Quy nhơn 27 km, thị trấn B́nh Định 7km về phía Tay Bắc và chỉ cách quốc lốA khoảng 100m về phía tây. Con đường tương đối rộng nối từ chùa ra quốc lộ I đoạn giữa Đập Đá và nhơn Thành, nơi có cầu Vạn Thuận hay c̣n gọi là cầu chùa chính là một đoạn phế tích bờ Bắc thành Đồ Bàn xưa.

   Chùa được xây dựng trên một g̣ tương đối rộng h́nh mai rùa có chu vi gần 1 km gọi là g̣ Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có mười ngọn tháp do người chàm xây để “ yểm hậu” cho thành Vijaya. Sách đại nam nhật thống chí cũng giải thích”… v́ phía sau có mười ngọn tháp Chiêm Thành nên gọi tên thế” (7). Chùa quay hướng đông, trước cổng Tam Quan là một ao sen rộng chừng nữa mẫu có bờ xây bằng đá ong không bao giờ cạn nước, xa xa là ngọn Thiên Đỉnh sơn (Núi Ṃ O )quanh năm lăng đảng sương mây. Phía nam là thành Đồ Bàn có tháp cánh tiên sừng sững. Vậy bọc sau lưng,bên trái rồi lượn về đông là một nhánh sông Quai Vạc, một chi lưu của sông Kôn. Đất ấy, cảnh ấy thật sơn thuỷ, thật hữu t́nh.

   Theo các nguồn sử liệu, vào năm ất tỵ đời chúa Thái Tông Nguyễn Phúc Tần (1665) có một nhà sư Trung Quốc, họ tạ, huư Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích và Thọ Tôn, người làng Tŕnh Hương, huyện Triều Châu, tỉnh Quảng Đông thuộc ḍng Thiên Lâm  Tế, nhận y bác của tổ đời thứ 32 đă đến đất này. Ban đầu nhà sư cho dựng một thảo am (lều cỏ) để truyền đạo. Mười tám năm sau, vào năm quư hợi niên hiệu chính Hoà thứ 4 nhà lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựng mà ật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp chàm bị đổ(8). Đến năm Tân Mùi niên hiệu chính hoà thứ 12 (1691) chúa Nguyễn phúc Chu Ban cho chùa biển ngạch đề Thập Tháp Di Đà tự. Lập xong chùa, theo lệnh chúa, Nguyễn Thiều lănh sứ mệnh mở mang Phật pháp cho cả xứ Đàng Trong, bèn giao chùa lại cho bạn đồng môn là hoà thượng Đạo Nguyên(1656 –1716) cùng đệ tử xuất sắc là hoà thượng Kỳ Phương(1282 –1744) trụ tŕ rồi đi nhiều nơi dựng thêm chùa mới như Phổ Thành, quốc Am ở Thuận Hoá, Giác Duyên ở Gia Định … Sau đó trở về Trung Quốc cung thích pháp trượng, pháp khí cùng nhiều kinh phật ( hiện nay tại chùa Thập Tháp vẫn con giữ được ba bộ kinh cổ do nhà sư mang sang lúc bấy giờ ). Vị Thiền sư tịch năm  1715, trở thành tổ thứ 33 ḍng Thiên Lâm Tế chính tôn là sơ tổ khai sơn Thập Tháp di đà tự.

   Đời thứ 34 người kế tục Sơ tổ là hoà thượng kỳ phương, đến đời thứ 35 là Hoà thượng Liễu Triệt (1702- 1764). Vào năm kỷ tỵ đời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1749) chùa được trùng tu trên quy mô lớn. Cuối thế kỷ XVIII, dưới thời trụ tŕ của Hoà thượng Hạo Nhiên (1712 –1784) và Hữu phỉ (? – 1799) thuộc đời thứ 36 là lúc phong trào Tây Sơn bùng nổ. Do nằm kề cận thành Hoàng Đế nên chùa chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều cơn binh lửa, chứng kiến những trận đánh quyết liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguuyễn Anh. Chiến tranh kết thúc, qua các đời trụ tŕ của hào thượng Huệ Nhất (1752 –1826) đời thứ 37, Hưng Long (1752 – 1836) đời thứ 38, chùa có được tu sữa lại. Sách Đại Nam Nhất Thống chí cho biết vào năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) sư trụ tŕ chùa Thiên Mụ là Hoà Thượng Hoằng Mật đứng ra trùng tu, nhưng dấu vết để lại không đáng kể. Đến đời hoà thượng Minh Lư (1836 –1889) đời thứ 39, chùa lại được trùng tu trên quy mô lớn, kéo dài trong nhiều năm. Chính điện được nâng cao, cả phần kiến trúc và nghệ thuật trang trí đều được hoàn chỉnh. Ba mươi pho tượng lớn nhỏ được tạo tác ( bên dưới mỗi pho tượng đều có ghi ḍng chữ “ Giáp tuất niên ( năm 1874) trụ tŕ Minh Lư Hoà thượng cung tạo”, các khám thờ cả chính phụ là 6 khám ) cùng một số hoành phi là trùng tu, ngoài ra Hoà thượng Minh lư c̣n khắc tấm biển đề “ pháp phái Lâm Tế chính phổ” chép bài kệ của Hoà thượng Vạn Phong vào năm 1874, rồi cho dựng bia sắc tứ Thập Tháp di Đà bi minh(1876) và khắc trên ba năm bản in kinh phật bằng gỗ… dưới thời trụ tŕ của tổ đời thứ 40, vào năm Thành Thái thứ 6 (1894), Hoà thượng Vạn Thành (1865 –1905) đă thuê đúc một quả chuôn lớn đường kính 0,7m cao 1,5m, nặng 835kg. Tiếp đó đến đời Hoà thượng Phước Huệ (1869 –1945) cũng đời thứ 40, công việc tu sửa vẫn được tiếp tục, đặt biết vào năm 1924 ngôi phương trượng và Tam Quan được xây dựng lại. Đến đời thứ 41 là Hoà Thượng huệ chiểu (1898 –1965) rồi kế châu ( sinh năm 1921) vẫn diễn ra những tu bổ thường xuyên.

   Đến nay, trải qua lịch sử trên 300 năm với 15 vị hoà thượng trụ tŕ thuộc 9 đời, từ ngôi thảo am đơn sơ Thập Tháp Di Đà tự đă trở Thành một công tŕnh kiến trúc Phật giáo có qui mô ḥanh tráng. Có thể khẳng định rằng chùa Thập Tháp bộ sử bằng di tích nói về quá tŕnh phát triển của phật giáo Đàng Trong, đặc biệt với B́nh Định , đây là ngôi tổ đ́nh của phái Nguyên Thiều. Ngoài ư nghĩa đó, quần thể kiến trúc điêu khắc và ṭan bộ cảnh quan chùa Thập Tháp ngày nay c̣n là một di tích văn hóa có giá trị lớn lao trên nhiều phương tiện. Chính v́ vậy mà chùa đă được Bộ văn hóa xếp hạn là Di tích Quốc gia.

   Chùa được bao quanh bằng lớp tường mới xây dựng lại. Tam Quan với hai trụ cao và to, trên đỉnh đắp tượng sư tử, hai mặt trong ngoài có đề đôi câu đối. Qua khỏi cửa Tam Quan ta dể dàng nhận thấy chùa có kiến trúc kiểu chữ khẩu, bao gồm 4 khu vực chính. Khu chính diện có diện tích khoảng 400m2 , khu phương tượng khỏang 130m2 , khu tây đường khỏang 120m2 , và khu đông đường khỏang 150m2  được nối với nhau bằng một sân rộng bên trong trồng nhiều cây cảnh.

   Chính diện là một kiến trúc tương đối đồ sộ với kết cấu gỗ chiếm phần chủ yếu và cũng là nơi c̣n lưu giữ nhiều dấu ấn của lần trùng tu năm 1749. Đó là một ṭa nhà rộng gồm 5 gian có hành lang bao bọc dài 30 mét, rộng 20 mét, ba gian giữa là điện thờ (Đại Hùng Điện) hai gian phụ hai bên là pḥng chúng tăng, được ngăn cách với điện thờ và hành lang trái bớ một vách lụa. Kết cấu bộ sườn gồm 4 hàng cột con, trong đó có 8 cột hàng nhất cao 6 mét, 8 cột hàng nh́ cao 5 mét, cột to một người ôm không xuể… Các đọan tŕnh ( ḥanh) cấu tạo kiểu giá chiêng, hai đầu chạm hoa cuộn, ở những điểm đầu kèo, vật kê đồ chạm h́nh rồng cách điệu, nét tṛn đơn, uốn lượng trang nhă. Bụng các đọan trính( ḥanh), xuyên( quá giang), đều chạm hoa văn. Khám thờ chính trong nội điện đặc dọc theo hàng cột nhất cao gần 5 mét, mày khám chạm lưỡng long tranh châu, thờ tam thế phật: Thích Ca, Di đà, cổ kính, thanh thóat.

   Khu phương trượng đă được cải taọ và nâng cấp  vào năm quí sửu, DUY Tân 7(1913), xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, dàn mái cấu tạo nhiều lớp cao thấp. Đáng chú ư là bộ sườn gỗ và dàn khám thờ có kỷ thuật chạm  chổ lắp ráp rất đẹp. Phương trượng chia làm ba gian, gian giữa là án thờ Ḥa thượng Phước Huệ (1869 –1945) đời thứ 40 với bức chân dung ṭan thân, hai bên gian là chổ nghỉ cho khách tăng.

   Khu đông đường ( bên trái) và Tây đường ( bên phải) đối xứng nhau. Đông đường do bị hư hại nặng đă được trùng tư gần như mới ḥan ṭan vào năm 1967, là nơi tiếp khách và chổ ở của tăng chúng. Tây đường có lối kiến trúc gần gióng phương trượng, mái lợp ngói âm dương, là nơi thờ phụng Sơ tổ khai sơn ( Nguyên Thiều) cùng chư vị kế thừa và phật tử quá cố. Chân dung tổ Nguyên Thiều thờ tại án trước, án sau là chư vị chủ ch́ kế thừa cùng những người công đức góp phần xây dựng chùa qua các thời kỳ ( tổng cộng có 20 long vị), hai bên thờ vong linh thiện nam tín nữ từ nhiều đời đến nay.

   Ngoài bốn hạng mục chính trên, ở khu vực phía tây c̣n có nhà thánh kiến trúc đơn giản thờ Cửu Thiênn Huyền Nữ, Quan công, Thập Điện Diên Vương… Phí đông, gắn liền với dăy đông đường là nhà trù( bếp). Khu mộ tháp nằm bên trái chùa bao gồm 21 bảo tháp nhỏ lớn, mang phong cách kiến trúc của nhiều thời kỳ khác nhau. Xưa nhất là tháp đạo Nguyên Thiều Sư (1656 – 1716) và Minh Giác Kỳ Phương( 1682 – 1716)

   Trong chùa đến nay vẫn c̣n giữ được nhiều di vật quư. Đó là đôi câu liễn sơn

Thành một công tŕnh kiến trúc Phật giáo có qui mô ḥanh tráng. Có thể khẳng định rằng chùa Thập Tháp bộ sử bằng di tích nói về quá tŕnh phát triển của phật giáo Đàng Trong, đặc biệt với B́nh Định , đây là ngôi tổ đ́nh của phái Nguyên Thiều. Ngoài ư nghĩa đó, quần thể kiến trúc điêu khắc và ṭan bộ cảnh quan chùa Thập Tháp ngày nay c̣n là một di tích văn hóa có giá trị lớn lao trên nhiều phương tiện. Chính v́ vậy mà chùa đă được Bộ văn hóa xếp hạn là Di tích Quốc gia.

   Chùa được bao quanh bằng lớp tường mới xây dựng lại. Tam Quan với hai trụ cao và to, trên đỉnh đắp tượng sư tử, hai mặt trong ngoài có đề đôi câu đối. Qua khỏi cửa Tam Quan ta dể dàng nhận thấy chùa có kiến trúc kiểu chữ khẩu, bao gồm 4 khu vực chính. Khu chính diện có diện tích khoảng 400m2 , khu phương tượng khỏang 130m2 , khu tây đường khỏang 120m2 , và khu đông đường khỏang 150m2  được nối với nhau bằng một sân rộng bên trong trồng nhiều cây cảnh.

   Chính diện là một kiến trúc tương đối đồ sộ với kết cấu gỗ chiếm phần chủ yếu và cũng là nơi c̣n lưu giữ nhiều dấu ấn của lần trùng tu năm 1749. Đó là một ṭa nhà rộng gồm 5 gian có hành lang bao bọc dài 30 mét, rộng 20 mét, ba gian giữa là điện thờ (Đại Hùng Điện) hai gian phụ hai bên là pḥng chúng tăng, được ngăn cách với điện thờ và hành lang trái bớ một vách lụa. Kết cấu bộ sườn gồm 4 hàng cột con, trong đó có 8 cột hàng nhất cao 6 mét, 8 cột hàng nh́ cao 5 mét, cột to một người ôm không xuể… Các đọan tŕnh ( ḥanh) cấu tạo kiểu giá chiêng, hai đầu chạm hoa cuộn, ở những điểm đầu kèo, vật kê đồ chạm h́nh rồng cách điệu, nét tṛn đơn, uốn lượng trang nhă. Bụng các đọan trính( ḥanh), xuyên( quá giang), đều chạm hoa văn. Khám thờ chính trong nội điện đặc dọc theo hàng cột nhất cao gần 5 mét, mày khám chạm lưỡng long tranh châu, thờ tam thế phật: Thích Ca, Di đà, Di Lặc( Đúch bằng đồng, cao gần 2 mét). Hai khám phụ hai bên có bố cục giống khám chính nhưng  cấu trúc cũng họa tiết trang trí đơn giản hơn. Khám bên phải thờ tượng Phật Quan Am làm bằng đất nung sơn thép  cao 0,9 mét. Ng̣ai ra c̣n có ba khám thờ khác đặc ở hai vách hông và đối diện với khám chính truớc hành lang. Nh́n chung chính diện đă qua nhiều giai đọan trùng tu nên có sự đang xen cũ lẫn mới. Tuy nhiên về kiểu trúc vẫn tóat lên vẽ đẹp cổ kính, thanh thóat.

   Khu phương trượng đă được cải taọ và nâng cấp  vào năm quí sửu, DUY Tân 7(1913), xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, dàn mái cấu tạo nhiều lớp cao thấp. Đáng chú ư là bộ sườn gỗ và dàn khám thờ có kỷ thuật chạm  chổ lắp ráp rất đẹp. Phương trượng chia làm ba gian, gian giữa là án thờ Ḥa thượng Phước Huệ (1869 –1945) đời thứ 40 với bức chân dung ṭan thân, hai bên gian là chổ nghỉ cho khách tăng.

   Khu đông đường ( bên trái) và Tây đường ( bên phải) đối xứng nhau. Đông đường do bị hư hại nặng đă được trùng tư gần như mới ḥan ṭan vào năm 1967, là nơi tiếp khách và chổ ở của tăng chúng. Tây đường có lối kiến trúc gần gióng phương trượng, mái lợp ngói âm dương, là nơi thờ phụng Sơ tổ khai sơn ( Nguyên Thiều) cùng chư vị kế thừa và phật tử quá cố. Chân dung tổ Nguyên Thiều thờ tại án trước, án sau là chư vị chủ ch́ kế thừa cùng những người công đức góp phần xây dựng chùa qua các thời kỳ ( tổng cộng có 20 long vị), hai bên thờ vong linh thiện nam tín nữ từ nhiều đời đến nay.

   Ngoài bốn hạng mục chính trên, ở khu vực phía tây c̣n có nhà thánh kiến trúc đơn giản thờ Cửu Thiênn Huyền Nữ, Quan công, Thập Điện Diên Vương… Phí đông, gắn liền với dăy đông đường là nhà trù( bếp). Khu mộ tháp nằm bên trái chùa bao gồm 21 bảo tháp nhỏ lớn, mang phong cách kiến trúc của nhiều thời kỳ khác nhau. Xưa nhất là tháp đạo Nguyên Thiều Sư (1656 – 1716) và Minh Giác Kỳ Phương( 1682 – 1716)

   Trong chùa đến nay vẫn c̣n giữ được nhiều di vật quư. Đó là đôi câu liễn sơn thếp cao 2,5mét ghi bài ngự đề của chúa NguyễnPhúc Chu, đạo hiệu Từ Đế ĐạoNhân cúng cho chùa vào năm Tân  Tỵ (1701), hiện để ở chính điện. Một tấm hoành sơn thếp kích thước 0,9m x 5mét đề “ Thập Tháp Di Đà Tự” do hoà thượng Mật hoằng trụ tŕ chùa Thiên Mụ phụng tạo vào năm Minh Mệnh nguyên niên(1820) hiện được treo ở trước chính điện. Ngoài ra c̣n phải kể đến tấm hoành ghi nội dung bài kệ của Hoà Thượng Minh Lư cung tạo năm 1874và đặc biệt trong chùa hiện c̣n lưu trữ được nhiều tạng kinh khắc gỗ và in giấy. Số tạng kinh gỗ có tới trên 1.500bảng, c̣n kinh giấy bao gồm 389 bộ.

   Hơn ba trăm năm tồn tại Thập Tháp di đà tự đă chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử gắn liên với những bước ngoặc lớn lao của đất nước, của dân tộc. Ngày nay đứng trước tam quan, bên hồ sen lung linh, nh́n xa xăm ra ngọn núi phía đông ḷng ta trào dâng bao cảm xúc. Con đường dẫn vào chùa đây đă từng nhiều trăm năm là bờ bắc thành Đồ Bàn, đế đô của Vương quốc Chăm Pa một thời hùng mạnh. Nào đâu bệ ngọc, nào đâu thêm vàng, nào đâu những cung điện nguy nga. Chỉ c̣n lại xa xa mạng phía tay nam ngọn tháp Cánh Tiên sừng sững gợi liên tưởng về một kinh đô tráng lệ xa xưa. Rồi hai trăm năm sau cuộc viễn chinh của Lê Thánh tông, khi hoà thượng Nguyên Thiều đến đây dựng thảo am, xây chùa hoằng đạo, công cuộc mở mang vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn cũng đă được hơn một trăm năm. Bên thành xưa những lưu dân Việt cặm cụi vỡ hoang, đào nương, đắp đập xây dựng cuộc đời mới. Trên hành tŕnh gian nan ấy những người Việt tha hương không tránh khỏi cái cảm giác chông chênh. Chính cửa phật đă làm cho họ vững tin hơn. Và đă có không biết bao nhiêu người bước qua mái Tam quan chùa Thập Tháp đặng t́m một chổ dựa tinh thần.

   Khi phong trào Tây Sơn quật khởi, các lănh tụ nghĩa quân cũng đă chọn nơi đây làm đại bản danh trong giai đoạn đầu với những cuộc xuất quân thần ḱ vào Nam, ra Bắc. Trong chùa hiện vẫn có lưu giữ được một số di tích và hiện vật liên quan đến phong trào tây sơn( xin xem mục Thành Hoàng Đế trong chương III) .

   Sang thời hiện đại, dưới thời hoà thượng Huệ Chiểu (1898 –1965) chùa Thập Tháp và cá nhân sự trụ tŕ đă có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngài từng là thành viên của mặt trận Liên  Việt khu V, từng lănh đạo giáo hội B́nh Định và phật tử đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm.

   Người đến Thập Tháp Di  Đà Tự ngày càng đông không phải chỉ v́ chùa là một di tích tiêu biểu đă được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia mà c̣n v́ những giá trị văn hoá – lịch sử đích thực của di tích. Họ là phật tử, là các nhà nghiên cứu, sử học, nghệ thuật, tôn giáo và cả khách du lịch, trong nước có mà nước ngoài cũng có. Từ nhiều năm nay  chùa đă là trung tâm Phật giáo lớn của B́nh Định, là một quần thể kiến trúc có quy mô lớn, là một danh lam có tiếng ở miền trung.

 

4. Chù Linh Phong

 

Trên sường phía Đông Nam núi Bà, nay thuộc địa phận thôn Phương Phi, xă Cát Tiến, huyện Phù Cát có một ngôi chùa cổ tên gọi là Linh Phong thiền tự. Trải qua chiến tranh, ngôi chùa đă bị tàn phá sụp đổ hoàn toàn, nay chỉ c̣n là dấu xưa. Dẫu rằng như vậy, nhưng sức sống của một ngôi chùa cổ kinh vẫn c̣n măi trong kư ức của người dân B́nh Định chua dựa lưng vào dăy núi Bà hùng   từ trong nguồn những ḍng suối nhỏ chảy xuống sân chùa, uốn lượn ṿng quanh rồi đổ cả xuống một hồ sen phía trước, chùa cất trên núi nhưng dường như không cách biệt với đồng bằng. Trèo lên bất kỳ một tảng đá nào cũng có thể phóng tầm mặt về phía tây và nam nơi có những cánh đồng lúa xanh bát ngát. Xa xa về phía Đông là biển rộng mênh mông. Những ngày đẹp trời thậm chí có thể nh́n thấy Đầm Thị Nại rồi xa nữa là thấp thoáng bán đảo Phương Mai, Thành phố Quy Nhơn. Phong cảnh chùa thật kỳ thú. Đúng như lời nhận xét của sách Đại nam Nhật Thống chí: “ chùa Linh Phong ở thôn Phương Phi, huyện Phù Cát, lưng dựa vào núi cao, mặt trông ra đầm Biển cạn ( tức đầm Thị Nại), sung quanh có nước suối lượn quanh phong cảnh thật đẹp”(9). Cũng theo sách này, vào năm chính hoà thứ 11 nhà Lê(1702), lúc ấy ở Đàng Trong chúa Nguyễn phúc Chu (1691 –1725) đang trị v́, có một người tên gọi Lê Ban đến đây tu hành. Ngôi chùa đầu tiên lợp bằng cỏ tranh được đặt tên là Dũng Tuyền. Nhà sư sống ở trên núi quanh năm, hiếm khi xuống dưới đồng bằng. Dân gian truyền tụng rằng nhà sư sống rất thanh bần, dùng vỏ cây làm quần áo, thỉnh thoảng mới quảy một gánh củi xuống chân núi, nơi có ngă ba đường thường có người qua lại, để đó rồi về. Người địa phương cần củi th́ đem gạo muối đến đó để đổi. Ngày hôm sau nhà sư mới quay lại lấy gạo muối nhưng không bao giờ quan tâm đến sự thiếu đủ, ít nhiều. Dân trong vùbg gọi nhà sư là Ong Núi. Cũng bởi vậy mà ngôi chùa  này trong dân gian c̣n có tên là chùa Ong Núi. Cùng với việc tu luyện Phật pháp, nhà sư c̣n t́m hiểu được tính cỏ cây trên núi, chế ra những thứ linh dược. Mỗi khi trong vùng có dịch bệnh, thầy chùa lại đem thuốc xuống cứu chữa đặt biệt nhà sư không bao giờ lấy tiền thuốc hay công ơn chữa bệnh.

Tiếng đồn đến tai chúa, năm 1733 Nguyễn Phúc Chu xuống chiếu ban cho Ong Núi pháp hiệu Tĩnh giác Thiện Tŕ Đại Lăo Thiền Sư, cho xây dựng chùa đổ tên là Linh Phong (10). Đến thời Vơ Vương Nguyễn phúc Kháot (1738 –1765) nhà sư lại một lần nữa nhà chúa ban cho áo cà sa có ṿng ngọc móc vàng. Nhưng chẵn bao lâu sau, chính quyền vơ vương bị quyên thần Trương Phúc loan thao túng. Có người bảo rằng do trong nước sinh loạn, nhà sư bỏ đi không biết về đâu. Nhưng cũng có người nói rằng Ông Núi vẫn tu luyện ở chùa linh phong cho đến cuối đời rồi viên tịch tại bảo tháp, truyền rằng đó chính là mộ phần của ông.

Người phá thạch khai sơn, dự chùa đă khuất nhưng danh tiếng của chùa Linh phong mỗi ngày được lan xa. Có truyền thuyết kể rằng vào năm Minh Mạng thứ bảy (1826) vị Hoàng Đế thứ hai của Triều Nguyễn bị lầm trọng bệnh, Thái y viện đă chịu bó tay. Bỗng một đêm nhà vua nằm mơ thấy một nhà sư ḿnh mặc vơ cây, một tay cầm quạt mo, một tay bưng chén thuốc đi đến vua nằm. Dâng thuốc cho vua uống xong, nhà sư biến mất. Tỉnh dậy thấy bệnh t́nh thuyên giảm rồi khỏi hẳn, nhà vua lấy làm lạ đem chuyện giấc   của ḿnh kể lại cho các đinh thần. Có vị đại thần rành tỏ sự tích. Ong Núi nói rằng h́nh dạng nhà sư vua thấy trong mơ chính là Đại Lăo Thiên sư, người đă từng trụ tŕ chùa Linh phong. Nghe xong câu chuyện, Minh Mạng liên xuống chiếu cấp

 Nén bạc để trùng tu lại chùa(11). Câu chuyện không rơ thực hư thế nào nhưng việc vua minh Mạng cấp tiền cho chùa là có thật. Sách Đại Nam nhất thồng chí do Quốc sử quán Triều Nguyễn biên soạn, trong mục nói về chùa Linh phong có đoạn chép rằng: “ vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829) cho lấy bạc kho để tùng tu” (12). Cho dù truyền thuyết kể trên không hẳn là có thật và đượm màu sắc hoan đường, nhưng đoạn ghi chép chính xác trong sử sách nhà Nguyễn cho thấy đến thế kỷ XIX chùa Linh Phong vẫn là một thắng tích quan trọng được triều đ́nh nhà Nguyễn dành cho sự quan tâm đặc biệt.

   Cảnh trí thanh tao, không gian tỉnh mịch của chùa linh Phong đă in dấu ấn của biết bao tài tử văn nhân. Trên vách tường chùa hiện coà lưu lại những bài thơ tức cảnh, gửi gắm tâm sự của nhiều thi nhân, trong đó có Đào Tấn. Năm 1885 với biết bao giằng xé trong tâm can, cị cũng đă đến nơi đây tĩnh trí, t́m lại sự thanh thản của tâm hồn, sống ẩn dật nơi cử thiền gần một năm trời.

   Ơ sườn núi phía Đông có một hang đá rộng ăn sâu vào rong núi. Dân địa phương truyền rằng trong hang có những phiếm đá xếp tự nhiên thành các vật dụng giống như bàn, ghế và các đồ dùng khác. Đây là nơi Ong Núi đă từng sống và tu luyện. Người ta c̣n kể rằng khi c̣n sinh thời nhà sư có nuôi hai con cọp mun, tuy h́nh hài hung dữ nhưng tính t́nh rất hiền lành, chúng không ăn thịt mà chỉ ăn trái cây. Hang đá giờ đây đă bị những bụi cây gai um tùm lấp mật cửa, không ai dám vào. Chùa Linh phong vốn đă nổi tiếng là linh thiêng, với hang đá bí ẩn này và những truyền tích ly kỳ lại càng thêm huyền bí.

   Từ xưa đến nay, người đến văn cảnh chùa không phải ít nhưng họ đến với nhiều mục đích khác nhau. Nhưng có lẽ đến với chùa Linh Phong ai cũng sẽ cảm thấy như ḷng thanh thản hơn. Thật đúng như một thi sĩ đă gởi gắm nổi niềm vào hai câu thơkết cho một bài thơ đề trên vách chùa:

“ Những người phiền năo, trường danh lợi

đến đó thời ḷng cũng giải khuây”

   chùa toạ lạc chốn sơn lâm nhưng đường đi tới lại không khó. Du khách đi đường bộ có thể theo quốc lộ 1A đến ngă ba cầu An Hành thuộc địa phận xă Cát Tân ( Phù Cát), rồi rẽ vào tỉnh lộ 635 nhằm thẳng hướng Đông đến địa phận thôn Phương Phi, gặp bất cứ ai cũng sẽ được chỉ đường lên chùa. Trước khi tới chùa, cũng trên trục lộ này tại thôn Trường Thạnh có một di tích tây sơn quan trọng mà khách tham quan không nên bỏ qua. Đó là Tân phủ Càn Dương. C̣n đi theo đường thuỷ th́ du khách có thể cập bờ ờ Cách Thử rồi leo bộ lên chùa. Cách Thử xưa vốn là hải tấn, một trung tân thương mại, tàu bè qua lại buôn bán tấp nập Chùa Linh Phong là một di tích, một danh lam hấp dẫn mọi khách thập phương

 

5. Chùa Hàm Long

 

Chùa Hàm Long nay thuộc địa phận thôn thuận Nghi, xă Nhơn B́nh thành phố quy Nhơn, bên sường núi Hàm Long (13). Núi này nằm ngay trên tỉnh lộ 639 (nguyên trước là một đoạn quốc lộ 1), cách thành phố quy Nhơn 15 km về phía đông bắc và cách thị trán Tuy phước 3 km về phía Nam. Từ trung tâm thành phố Quy Nhơn theo Ql 19 tới ngac ba Chợ Dinh rồi rẽ tỉnh lộ là tới khu di tích này

Hàm Long là một dăy độc sơn không lớn lắm nhưng khá nổi tiếng, được sách Đại Nam Nhất thống Chí chép đến (14). Núi cao 92 m gồm 5 cụm nối liền nhau, uống lượn như rồng cuộn. Phía Bắc và Đông Bắc là sông Hà Thanh uốn lượn, phía Tây và Tây Nam là tỉnh lộ. Mặc Bắc  Đông Bắc trải ra thành các g̣ cao rộng răi. Trong núi có hang sâu và rộng có thể chứa được nhiều người. Từ trên núi cao nh́n ra bốn phía là cả một vùng non nước hữu t́nh.

   Xưa đến núi có ngôi đền cổ gọi là đền Hàm Long, nhưng đă bị phá huỷ từ lâu (15). Dưới đền là một ngôi cổ tự thường gọi là chùa Hang HAY Thiền Thất Giang Long, cũng gọi là chùa Hàm Long. Người lập ra Thiền Thất Giang long là nhà sư Thiệt Đăng, tự là Chánh Trí hiệu là Bảo Quang vào quảng cuối thế kỷ XVII, chùa này cũng đă bị phá huỷ từ lâu, nay chỉ c̣n là nền móng cũ. Ngôi chùa hiện nay tên chữ là Sơn, chủ yếu bằng xi măng cốt thép, gỗ rất  ít. Trong chính điện bài trí đơn giản, chính giữa là tượng Thích Ca hai bên có tượng phật bà Quan Am và Thánh Mẫu, hai phía tả hữu có tượng ông Thiện, ông ác cùng trống, chuông, khánh. Hậu tẩm thờ bài vị các vị sư trụ tŕ cùng tăng ni. Bên phải vườn chùa là tháp mộ các vị tổ kế tục nhau trụ tŕ và tượng Phật Bà Quan Am trong tư thế đứng trang trọng trên đài sen cao khoảng 3 mét có mái che. Thời gian và những biến động đă làm cho dấu tích của ngôi chùa cổ hầu như không c̣n ǵ. Tượng thờ hiện nay mới được thỉnh về trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, c̣n số tượng cổ th́ đă phân tán hết, hoặc tới những ngôi chùa khác, hoặc tại nhà riêng của một số gia đ́nh phật tử. C̣n chăng là đôi câu liễn, một số bài vị của các tổ trụ tŕ.

   Nếu như giá trị kiến trúc điêu khắc của chùa Hàm Long không thật cao th́ trái lại, giá trị lịch sử của quần thể cụm núi Hàm Long –chùa Hàm Long lại rất đặc sắc.

   Núi Hàm Long là một điểm cao phía Đông của thành Hoàng Đế, một vị trí pḥng thủ hết sức quan trọng. V́ thế nhà Tây Sơn đă cho đóng đồn trên núi này gọi là Đồn Uc Sơn(16). Một năm sau khi Quang Trung mất, năm quư sửu 1793, Nguyễn Anh đem quân đánh Quy Nhơn trận chiến đă diển ra ác  liệt trên núi Hàm Long giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Anh. Sách Đại Nam nhật thống chí chép về sự kiện này như sau: “ năm Quư Sửu đầu đời trung hưng, đại binh tiến đánh Quy Nhơn, quân giặc đắp đồn bảo để chống cự, nhà vua bí mật sai Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Thành lẻn qua sông Kỳ Sơn đánh vào mặt sau của giặc, Vũ Văn Lượng đánh vào mặt trước núi, giặc phải thua to tức là núi này( núi Hàm Long)” (17). Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cũng chép đại khái như thế(18).

   Vào cuối thế kỷ XIX , năm At Dậu (1885), núi Hàm Long lại chứng kiến trận phục kích quân Pháp  của nghĩa quân Cần Vương B́nh Định do Đào Doăn Địch chỉ huy (19). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp chùa Hàm Long trở thành cơ sở bí mật của tổ chức Đảng địa phương. Sau hiệp định Geneve (1954) chùa được dùng làm trụ sởcủa Uy ban liên hiệp đ́nh chiến liên khu V, nơi nghỉ và làm việc của phái đoàn Trung ương do đồng chí Phạm Văn Đồng là trưởng đoàn về triển khai hiệp định tại B́nh Định.

   Năm 1957 Mỹ – diệm thi hành chính sách “ tố cộng, diết cộng” nhằm phá vỡ các cơ sở Đảng , dập tắt phong trào cách mạng trên toàn Miền Nam, chùa Hàm longvăn là địa điểm liên lạc, gặp gỡ của các đồng chí cán bộ cách mạng địa phương, từ đây đă đưa ra những nghị quyết quan trọng dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân đánh bại âm mưu thâm độc của kẻ thù. Nhờ vào sự che chở đùm bọc của nhà chùa, của những nhà sư giầu ḷng yêu nước mà cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng địa phương vẫn được bảo tồn và đứng vững qua những năm tháng thử thách gay go ác liệt nhất của cách mạng miền Nam. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào hồi quyết liệt, chùa Hàm long vẫn tiếp tục là nơi liên lạc, đi về của cán bộ, lực lượng vũ trang khu Đông hoạt động sâu trongḷng địch. Năm 1968 trong cuộc tổng tiến công nỗi dậy tết Mậu Thân, với vị trí hiểm yếu ở sát ngay thị xă, chùa Hàm Long là một trong những điểm tập kết biểu t́nh của đồng bào Tuy Phước trong phong trào đấu tranh thập nhị. Mùa xuân năm 1975 bộ đội chủ lực  C.30 đă cùng phối hợp với du kích xă Nhơn B́nh tập kích đồn địch trên núi Hàm long, diệt 29 tên, phá huỷ 3 pháo 105mm. Lá cờ cách mạng tung bay trên núi Hàm long, trên mảnh đất Nhơn B́nh – B́nh định hoàn toàn giải phóng.

   Núi hàm long, chùa Hàm Long, ngót hai thế kỷ, đă chứng kiến biết bao sự kiện gắn liền với vận mệnh chung của đất nước, của dân tộc. Núi ấy, chùa đây dù nay đă có nhiều thay đổi th́ vẫn măi măi là chứng tích của những năm tháng hào hùng trong cuộc trường chinh v́ độc lập tự do của toàn dân tộc.

   Ngày nay vào dịp đầu năm, ngày rằm, mùng một hàng tháng, ngày Phật đản rằm tháng tư, lễ Vu Lan rằm tháng bẩy, Phật tử, và đông đảo nhân dân, đến lể Phật, đến dự hội rất đông, không chỉ bao gồm người Nhơn B́nh mà cả khắp mọi nơi trong huyện, trong tỉnh. Sẽ có ư nghĩa hơn nhiều nếu mọi người đến đây ai cũng biết rơ về những sự kiện lịch sử liên quan đến ngọn núi này, đến ngôi chùa này.

 

6. Chùa Long Khánh

 

Long  Khánh là một ngôi chùa lớn nằm ở trung tâm Thành phố Quy Nhơn. Ghi chép về ngôi chùa này, sách Đại Nam nhật chí viết như sau: “ Chùa Long Khánh nằm ở phía tây cửa biển Thị Nại, trong động cát ở thôn Cẩm Thượng huyện Tuy Phước, mặt trông ra đầm Ngư ki, do Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường dựng từ năm Gia Long thứ 6” (20)

Làng cẩm Thượng trước đây nay là đất của phường Lê Hồng Phong , Lê lợi, Trần Phú và một phần của phường Trần Hưng Đạo. Khuôn viên chùa hiện nay thuộc phường   lợi Thành phố Quy Nhơn.

Nằm ở vị trí trung tâm thành phố, chùa Long Khánh là một rtong những trung tâm phật giáo lớn của B́nh Định, là nơi sinh hoạt lễ bái của giới tăng ni phật tử và là điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho du khách gần xa khi có dịp đến với Thành phố biển quy Nhơn.

Chùa được kiến trúc theo h́nh chữ “ Khẩu” phía trước có chánh điện gồm thượng điện và hậu điện. Phần thượng điện thờ Phật Adiđà và Quan âm Chuẩn đề, hậu điện thờ Phật tổ Thích ca. hai bên có Đông pḥng và Tây pḥng. Hai dăy này là chỗ dành riêng chi tăng ni. Phía sau là Tổ đ́nh, thờ các vị khai sơn phá thạch.

Kiến trúc nguyên thủy của chùa không c̣n nữa. Ngôi chùa hiện nay về cơ bản được xây dựng lại vào năm 1956 và hoàn thiện vào năm 1972. phong cách kiến trúc này mang dáng dấp kiểu chùa của cư dân miền Nam Trung Hoa. Về giá trị kiến trúc, chùa Lonh Khánh không có ǵ độc đáo, nhưng với lịch sử h́nh thành và phát triển của Quy nhơn, chùa Long Khánh có một vị trí khá đặc biệt.

Minh văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn Lịch sử chùa Long Khánh hiện được lưu giữ tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn Vĩnh Khánh phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ đời thờ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là Nguyễn Trinh Tường khởi dựng. Quả chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 4, tức năm 1805. Điều này tương đối phù hợp với ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí. Nhưng theo các nguồn tài liệu Phật giáo khác th́ người có công khởi dựng chùa Long Khánh là thiền sư Đức Sơn. Thần vị của hoà thượng này hiện được thờ tại Tổ đ́nh. Ông là Tổ thức 35 của ḍng Lâm Tế Chánh tông, sinh năm Kỷ Mùi, viên tịch ngỳ 2 tháng Chạp năm Tân Dậu.

Cũng theo các tài liệu Phật giáo, thiền sư Đức Sơn đến lập ra ngôi Tổ đ́nh Long khánh của ḍng Lâm Tế, vùng đất này c̣n mang địa danh Quy Ninh. Đối chiếu với lịch sử, địa danh này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1742 (21). Trong chùa, ngoài quả chuông, c̣n có một hiện vật cổ được các sư tăng cho là bảo vật của

   Như trên đă nói, Hoà thượng Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ 1651 đến 1742. Trong khoảng thời gian này chỉ có một năm At Mùi là năm 1715. như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng muộn nhất là năm 1715, thời điển Hoà thượng Đức Sơn cho đúc chiến khánh, chứ không phải năm 1807 như Đại Nam nhất thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường không phải là người kiến lập chùa mà chỉ là người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào năm 1805. về hệ phái Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường thuộc đời 38 của ḍng Lâm Tế và nếu Hoà thượng Đức Sơn là Tổ thứ nhất th́ ông là đời thứ 4 của Tổ đ́nh Long Khánh.

Từ đây, có thể kết lụân rằng chùa Long Khánh được xây dựng trên đất làng Vĩnh Khánh phủ Quy Ninh vào khoản năm 1715. giữa thế kỷ XVIII phủ Quy Ninh đổi thành Quy Nhơn, đến cuối thế kỷ 19 làng Vĩnh Khánh đổi thành làng Cẩm Thượng thuộc huyện Tuy Phước, phủ Quy Nhơn đổi thành tỉnh B́nh Định. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí đă ghép chùa Long Khánh vào địa danh cuối cùng này.

   Mặc dù đă qua bao lần trùng tu, tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch sử – văn hoá có giá trị. Đó là một trong hai ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở B́nh Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch, sâu lắng và tôn kính như đi vào của thế giới hư vô cực lạc.

7. Căn cứ Truông Mây

Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chàng Lía bị vây trong thành.

   Câu ca đượm buồn nhưng nói lên được nhiều điều, cuộc khởi nghĩa của chàng Lía, căn cứ truông Mây và tấm ḷng người dân B́nh Định đối với chàng Lía và phong trào đấu tranh chống chế độ cai trị hà khắc của chúa nguyễn do chàng lănh đạo.

   Căn cứ Truông Mây nay thuộc địa phận xóm Ba, thôn Phú Thuận, xă An Đức, huyện Hoài An, tỉnh B́nh Định, cách huyện lỵ khoảng 3km. Từ thị trấn Tăng Bạt Hổ đi lên khoảng 1km, tới ngă ba Gia đức rồi theo con đường đất nhỏ đi về phía Tây Bắc khoảng 1km tới sông Kim Sơn. Bên kia sông là di tích căn cứ Truông Mây.

   Bước sang nửa sua thế kỷ XVIII xă hội Đàng trong lâm vào t́nh trạng khủng hoảng trầm trọngước lúc ngọn lửa chiến tranh nông dân Tây Sơn bùng cháy, ở đàng trong đă nổ ra một số phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống chúa Nguyễn, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do chàng Lía lănh đạo.

   Không thấy chính sử, cả đương thời và về sau, ghi chép về cuộc khởi nghĩa này. Tuy nhiên, sự tích về cuộc khởi nghĩa, về thủ lĩnh Lía th́ vẫn được ghi nhớ và truyền tụng phổ biến trong dân gian qua bài vè chàng Lía và nhiều chuyện kể khác.

   Lía vốn xuất thân trong một gia đ́nh nông dân nghèo khổ, cha là người huyện Phù Ly, mẹ là người thôn Phú Lạc ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn (nay thuộc xă B́nh Thạnh huyện Tây Sơn) cũng thuộc phủ Quy Nhơn, Phú Lạc, quê ngoại của Lía cũng là quê ngoại của các thủ lĩnh Tây Sơn. Cha Lía mất sớm,ợe đưa Lía về quê ngoạ nuôi dưỡng. Gia cảnh bần hàn chàng phải đi ở chăn trâu cho một phú hộ trong vùng, chịu sự hành hạ, đánh đập rất khổ cực, v́ thế mà chàng sớm có tinh thần quật khởi. Lía là người có sức khoẻ, tính t́nh khí khái, ngang tàng lại thông minh nhanh nhẹn, giỏi vơ nghệ. Câu chuyện lư giải bước khởi đầu của cuộc khởi nghĩa thật đơn giản. Chuyện kể rằng, có một lần, do không chịu được cảnh một tên lính triều đ́nh cậy thế ức hiếp dân làng. Lía đă đánh chết hắn. Quan trên cho lính về vây bắt. Lía cơng mẹ vượt qua mấy ṿng vây chạy lên núi, ở đây chàng gặp một toán cướp. Tài nghệ và tính cách khẳng khái của Lía đă cảm hoá được bọn chúng. Chàng được tôn làm chủ trại, bèn sai sửa thành Uất Tŕ của người Chiêm Thành làm sơn trại, hàng ngày đem quân xuống núi cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Nhân dân hoan hỉ c̣n bọn quan lại địa chủ th́ căm tức.

   Sau khi người mẹ qua đời, Lía t́m cách đưa hài cốt mẹ về quê, táng ở Ḥn Sưng, phia sbắc sông Kôn. Buồn ḷng, Lía t́m đến Phù Ly thăm mộ cha rồi bỏ đi ngao du đây đó. Đến Truông Mây thấy địa thế hiểm yếu Lía dừng chân ngắm cảnh. Bấy giờ nơi đây có một toán cướp do Hồ và Nhẫn cầm đầu mà nhân dân quen gọi là cha Hồ, chú Nhẫn. Cũng như lần trước, tài ba vơ nghệ, chí khí và ḷng dũng cảm của Lía đă làm thay đổi toán cướp này. Lía trở thành thủ lĩnh của một phong trào mà mục đích hoạt động đă hoàn toàn đổi khác. Cảnh chặn đường cướp giật đă chấm dứt. Thay vào đó là chủ trương cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo. Phong trào ngày càng phát triển thu hút đông đảo nông dân tham gia. Tiếng tăm nghĩa quân lan rộng khắp trong vùng. Truông Mây được xây dựng thành một căn cứ vững chắc, là đại bản doanh của nghĩa quân (20).

 Có lần chúa Nguyễn có tổ chức thi vơ tại thành Quy Nhơn để chọn người tài cầm quân đánh Trịnh. Lía cùng cha Hồ chú Nhẫn cải trang xuống núi thi tài. Trước cảnh quan giám khảo tham ô hối lộ bắt những sĩ tử nộp tiền đút lót, chàng bất b́nh trở về căn cứ Truông Mây, tập hợp binh sĩ đốt phá trường thi, giết quan giám khảo. Tuần phủ Quy Nhơn cho cho quân truy kích nhưng đến Trường Mây th́ bị chặn đứng. Một đêm, Lía đem theo một ít quân tinh nhuệ bí mật theo đường núi xuống phủ thành Quy Nhơn rồi nhân lúc trời tối lính canh lơ là, phóng lửa đốt các dinh thự, doanh trại, Tuần phủ Quy Nhơn bị chém đầu, vợ bị bắt mang đi.

   Được tin Quy Nhơn có biến, quan cai trị dinh Quảng Nam cho quân cứu viện, đồng thời cử người về triều đ́nh Phú Xuân cấp báo. Chúa Nguyễn phái đại binh tinh nhuệ vào đàn áp. Trước t́nh h́nh đó, Lía cho quân đắp thêm thành lũy, củng cố vững chắc căn cứ Truông Mây. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt mấy năm trời mà quân Nguyễn không sao đàn áp được, buộc phải rút lui.

   Biết không thể thắng được nghĩa quân bằng vũ lực, viên quan tuần phủ mới bèn dùng mưu kế. Ḍ biết được ái thiếp của quan cựu tuần phủ bị Lía bắt về lấy làm vợ  liền t́m kiếm người thân của thị đưa vào hàng ngũ nghĩa quân, rồi dụ dỗ, thuyết phục thị làm nội ứng. Một hôm Lía mở tiệc khao quân, vợ Lía bí mật bỏ thuốc mê vào rượu rồi ép các nghĩa sĩ uống say, trong đó có cả Lía. Thị dùng dây thừng trói chặt Lía vào một tấm phản sau đó mở cửa thành chạy về Quy Nhơn báo tin. Quân Nguyễn kéo đến tàn sát nghĩa quân. Lía giật ḿnh tỉnh dậy thấy bị trói bèn hiểu ra tất cả rồi nổi giận vùng dậy mang cả tấm phản trên ḿnh thoát ra khỏi ṿng vây chạy lên núi. Quân Nguyễn không đuổi bắt được liền phá hủy thành lũy rồi rút quân về. Lía buồn ḷng phẫn uất nên đă tự sát.

   Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng h́nh ảnh chàng Lía dũng cảm, khí phách hiên ngang, không chịu khuất phục trước áp bức cường quyền, yêu thương người nghèo khổ cùng các nghĩa binh do chàng lănh đạo th́ vẫn sống măi trong ḷng dân B́nh Định, trong ḷng những người bị áp bức.

   Trở lại căn cứ Truông Mây nay vẫn c̣n một số dấu tích về cuộc khởi nghĩa. Truông Mây là một đoạn đường chạy giữa ḥn Núi Một và sông Kim Sơn từ phía Bắc thôn Phú Thuận đến phía Nam thôn Vĩnh Hoà, xă An Đức, huyện Hoài An. Xưa kia đây là con đường độc đạo lên nguồn Kim Sơn, bên sườn núi mây mọc thành rừng, khung cảnh hoang vắng, đi lại rất khó khăn nên mới có tên là Truông Mây. Các dấu tích về cuộc khởi nghĩa c̣n lại đến ngày nay tập trung ở dưới chân và bên sườn ḥn Núi Một.

   Mộ ông Lía là di tích gắn liền với truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi Lía tự vẫn, với ḷng ngưỡng mộ và ghi nhớ công lao của chàng nhân dân đă xây dựng một ngôi mộ khang trang. Ngôi mộ hiện nay-mà nhân dân gọi là mộ ông Lía-có quy mô khá lớn, gồm hai lớp tường thành: thành ngoại và thành nội. Hai lớp thành có h́nh dáng giống nhau. Mặt trước xây vuông quay mặt về Đông, mặt sau xây h́nh bán nguyệt dựa lưng vào núi. Lớp thành ngoại có chiều dài 30m, chiều rộng 25m xây bằng đá núi xếp chồng lên nhau với nhiều kích cỡ khác nhau, cao 1,4m, rộng 1,5m, phía trước có cửa ra vào rộng 2,0m. Lớp thành nội nằm cân đối trong lớp thành ngoại, mặt trước cũng có cửa ra vào, dài 7,0m, rộng 5,0m, cao 1,0m, được xây cẩn thận hơn bao gồm 3 lớp đá ong được cắt vuông vức với kích thước 0,5m x 0,3m x 0,2m. Nhân dân cho biết trước kia giữa thành nội có một tấm bia đá khắc chữ Hán nhưng đă bị bọn đào trộm vàng phá huỷ mất. Bên ngoài ngôi mộ phía Nam có một phế tích kiến trúc khác h́nh vuông, một lớp tường thành, mặt quay hướng Đông, dài 6,0m, rộng 4,0m, dày 1,5m. Truyền rằng đây là nền doanh trại nghĩa quân.

Di tích Bờ lũy ở ngay phía sau ngôi mộ, là dấu tích một bờ lũy xây bằng đá, chạy dài dẫn đến sườn núi, di tích hiện c̣n dài 50m, rộng 0,8m. Hai bên bờ lũy, dọc theo sườn nủiaỉ rác c̣n có những bờ kè xây bằng đá, cao 1,0m, dài 3,0m. Nhân dân cho biết trước đây lũy khá đồ sộ nhưng đă bị dân phá vỡ lấy đá về xây nhà.

   Di tích Miếu mục đồng nằm ở phía Bắc ngôi mộ. Miếu được xây (đúng hơn là xếp) bằng đá núi với chiều dài 12m, chiều rộng 10m, tường cao 1,0m đến 1,5m. Miếu quay hướng Đông có hai lối vào hai bên, vách phía Tây dựa vào núi. Dân gian truyền rằng ngày xưa đây là vị trí trại chỉ huy, nơi ở của các thủ lĩnh nghĩa quân. Không hiểu v́ sao lại có tên là miếu mục đồng (?).

   Bằng ấy dấu tích vật chất về một phong trào cách nay đă hơn hai thế kỷ cũng đă là đáng quư. Tuy nhiên, những dấu tích c̣n ít ỏi nó đang ngày một mai một thêm. V́ Truông Mây ở nơi hẻo lánh nên việc bảo vệ di tích gặp rất nhiều khó khăn. Nhân dân lấy đá làm nhà, đặt các di tích trước nguy cơ bị phá hoại, ấy là chưa kể bọn t́m vàng vẫn lăm le đào trộm mộ.

   Đến thăm di tích Truông Mây hôm nay dù không c̣n cảnh quá hoang vắng điêu tàn v́ đă có một số bà con lên xây dựng nhà dựng cửa, nhưng ḷng ta vẫn không khỏi bùi ngùi. Trên nấm mộ người thủ lĩnh nghĩa quân năm xưa, cái cảm giác lạnh lẽo tràn ngập ḷng ta. Thắp một nén hương lên mộ người xưa mà ḷng thầm mong rằng một ngày không xa nữa những di tích lịch sử này sẽ được đầu tư bảo tồn và cải tạo, để ngày càng có nhiều người đến đây, để thêm những bàn tay làm ấm hơn vầng cỏ trên mộ người nghĩa sĩ.

8. Mộ Đào Tấn

   Trong số các danh nhân văn hoá B́nh Định, Đào Tấn hiện lên như một ngôi sao sáng chói. Ong là một nhà thơ, nhà soạn tuồng, một nghệ nhân xuất sắc của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

   Đào Tấn (1945-1907), tên đầy đủ là Đào Tăng Tấn (21), tự là Chỉ Thúc, hiệu là Tô Giang, Mai Tăng, Mộng Mai thuộc ḍng dơi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng trong đầu thế kỷ XVII. Ong người làng Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy Phước. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà Thị Loan. Ngay từ thuở nhỏ ông đă nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ. Năm 22 tuổi Đào Tấn là một trong số mười tám người đỗ cử nhân khoa thi hương Đinh Măo (1867) tại trường thi B́nh Định (bao gồm sĩ tử từ Quảng Ngăi tới Khánh Hoà). Bốn năm sau, vào năm Tự Đức thứ 24 (1871), ông được bổ quan rồi thăng tiến rất nhanh: Tri phủ Quảng Trạch (Quảng B́nh) (1874), Phủ doăn Thừa Thiên (1882). Ông thường cùng Tự Đức bàn luận văn chương, vua tôi rất tâm đắc. Những năm này triều đ́nh Nguyễn ươn hèn liên tiếp nhượng bộ, mà thực chất là từng bước dâng đất nước cho thực dân Pháp. Là người nặng tư tưởng trung quân, Đào Tấn dường như đứng ngoài cuộc kháng chiến của toàn dân đang sôi sục khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhưng mặt khác, ông lại là người yêu nước, thấy nước nhà lâm nguy mà không cứu, tự thấy hỗ thẹn với chính ḿnh. Ông viện cớ cha mẹ yếu xin từ quan  về phụng dưỡng nhưng không được chấp nhận. Măi khi cha mất ông mới được phép về quê. Cuộc binh biến ở kinh thành Huế ngày 22 tháng 5 năm At Dậu (1885) của phái chủ chiến do Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Huyết đứng đầu thất bại, vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương đă thổi bùng ngọn lửa cứu nước. Ở B́nh Định phong trào Cần Vương do Mai Xuân Thưởng lănh đạo phát triển mạnh mẽ, nhưng Đào Tấn vẫn đứng ngoài cuộc, từ chối lời mời tham gia phong troà của nghĩa quân, rồi chốn chạy đến chùa Linh Phong (Phù Cát) ở ẩn. Đồng Khánh lên ngôi, vốn là chỗ cố tri, lập tức cho mời ông tiếp tục tham chính. Đào Tấn trở lại triều đ́nh nhậm chức, trải thăng tới Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) năm 1889, Công Bộ Thương thư (1897)… Năm 1904 v́ chống tên việt gian Nguyễn Thân, ông bị cách chức rồi lui về quê nhà ở ẩn. Ba năm sau (1907), ông mất, thọ 62 tuổi.

   Cuộc đời chính trị của Đào Tấn, cứ nh́n vào các chức vụ mà ông đă trải qua, các tước vị mà ông đă đạt được, có thể nói là hanh thông. Nhưng đặt trong hoàn cảnh đất nước thời kỳ này th́ thái độ ứng xử quả có nhiều điều đáng chế trách, dù vẫn biết ông là người yêu nước, là vị quan nổi tiếng liêm khiết, là nhà nho thanh bạch giản dị. Tuy nhiên, cái làm nên một danh nhân Đào Tấn không phải là sự nghiệp chính trị, là những thành đạt chốn quan trường, mà là sự nghiệp văn hoá của ông.

   Nói đến Đào Tấn là nói đến những cống hiến lớn lao của ông đối với nghệ thuật tuồng. Sân khấu tuồng đă có ở Việt Nam từ rất sớm. Đến đầu thế kỷ XIII đă xuất hiện nhiều vở nổi tiếng c̣n truyền lại đến ngày nay. Tuy nhiên, bấy giờ bộ môn nghệ thuật này chưa được tổ chức mang tính chuyên nghiệp. Đến thời Đào Tấn, bằng những đóng góp xuất sắc của ông, với ḷng say mê, tài năng và tâm huyết, nghệ thuật tuồng Việt Nam đă đạt đến bươc phát triển rực rỡ. Ong lập Ban hiệu thư ở Huế chuyên sáng tác, Học bộ đ́nh ở B́nh Định chuyên đào tạo diễn viên. Hàng năm vở tuồng nối tiếp nhau ra mắt công chúng, trong đó có 30 vở của Đào Tấn. Các vở tuồng xuất sắc của ông, có thể kể đến như Quần trân hiểu thoại, Tứ quốc lai vương, Tam bảo thái giám hữu bửu, Cổ thành, Quan công quá quan, Tâm dă Đồn, Hoàng Phi Hổ quá quan, Trần hương các, Hộ sanh đàn, Khuê các anh hùng… và nhuận sắc một số vở như Tam nữ đồ vương, Sơn hậu, Ngũ hổ b́nh tây, Nguyệt cô hoá cáo… Trong lịch sử tuồng Việt Nam đào Tấn là tác giả viết nhiều nhất và có chất lượng cao nhất (22). Ngoài ra ông c̣n có công trong việc hoàn thiện âm nhạc tuồng. Đào Tấn c̣n là người đầu tiên hệ thống hoá các vấn đề mỹ thuật sân khấu tuồng, từ trang trí, phục trang đến đạo cụ… Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc đào Tấn xứng đáng được hậu thế suy tôn là “Hậu Tổ” của nghệ thuật tuồng Việt Nam.

   Cũng không thể không nhắc đến một Đào Tấn văn sĩ. Thơ ông được nhiều nhà nho đương thời khen ngợi. Những tác phẩm của ông gồm Mộng Mai thi tồn, Mộng mai từ lục, Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai văn sao, đều viết bằng chữ Hán, trong đó về thơ có tới hàng trăm bài, nhiều bài có giá trị.

   Mặc dù không giống nhiều sĩ phu bấy giờ, trước sự ươn hèn của vua tôi nhà Nguyễn, đă đứng về phía nhân dân hoặc phất cờ cùng nhân dân chống Pháp nhưng trước sau Đào Tấn vẫn là một người yêu nước. Điều này thấy rơ qua thơ văn của ông, đặc biệt qua nội dung các vở tuồng do ông sáng tác. Tuồng Đào Tấn nêu cao những tấm gương nhân nghĩa, ḷng yêu nước, thương dân, sẵn sàng hy sinh v́ đại nghĩa, đồng thời lên án mạnh mẽ bọn người xu nịnh, bọn quan lại hèn nhát. Dường như trong mỗi vở tuồng Đào Tấn đều gởi gấm vào đó cả nỗi ḷng ḿnh.

   Những năm cuối đời, Đầo Tấn về quê sống ẩn dật. Xa lánh chốn quan trường nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo nhằm cống hiến nhiều hơn nữa cho nghệ thuật tuồng. Ông lo trước về “hậu sự” của ḿnh, chọn núi Hoàng Mai làm nơi an nghỉ ngàn thu. Ông mất, người nhà theo ư nguyện của ông đă an táng ông tại nơi đây.

   Núi Hoàng Mai (Huỳnh Mai), hay c̣n gọi là núi Đá Vàng, Mai Sơn, nay thuộc thôn Hoàng Mai xă Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước. Từ huyện lỵ theo trục lộ về hướng Tây Bắc khoảng 1km là tới núi Huỳnh Mai. Mộ Đào Tấn nằm trên lưng chừng núi, ngoảnh mặt về hướng Nam nh́n về thôn Vinh Thạnh, nơi ông cất tiếng khóc  troà đời, nơi tuổi thơ nhọc nhằn của ông đă đi qua  là nơi ông sống những năm tháng cuối cùng của cuộc đời ḿnh. Tuy thuộc xă khác nhưng nơi ông yên nghỉ chỉ cách nhà ông chưa đầy 2km. Dưới chân núi có con sông Tranh, một chi lưu của sông Kôn từ tháp Bánh ít đổ ra đầm Thị Nại chảy qua. Thế mộ nằm vào điểm uốn của sông Tranh, là nơi tụ thủy. Thế đất như vậy, theo thuyết phong thủy, là cát địa. Nhà nho nguyên thâm Đào Tấn hẳn đă có ư tứ khi chọn thế đất này.

   Năm 1994, trước t́nh h́nh ngôi mộ bị xuống cấp nghiêm trọng sau bao năm dăi dầu nắng mưa lại hầu như không được tu bổ ǵ Sở VHTT, UBND huyện Tuy Phước, UBND xă Phước Nghĩa, nhà hát tuồng Đào Tấn đă tiến hành trùng tu di tích lịch sử quan trọng này. Về cơ bản việc trùng tu tôn tạo là dựa trên nguyên gốc, phần gia cố thêm chỉ nhằm chống xói ṃn và làm bậc từ dưới đường lên đến mộ để nhân dân, khách du lịch lên thăm viếng được dễ dàng.

   Mộ xây h́nh chữ nhật dài 3m, rộng 2m, có bờ xung quanh cao 0,8m, trong đổ đất. Phía trước mộ có bia đề ngày lập mộ, trước nữa là bức b́nh phong làm tiền án. Phía ngoài mộ là một ṿng tường bao dài 10m, rộng 6m, trước có trụ cổng đề đôi câu đối của Hà Đ́nh tướng công, lưng có b́nh phong kiểu cuốn thư, hai bên cổng và hai bên cuốn thư là h́nh bốn con sấu được tạo dáng đuôi vểnh lên trên. Nơi đây xưa là cả một rừng hoa, dưới là ḍng sông Tranh quanh năm nước chảy, xa xa là bốn ngọn tháp Bánh Ít, phong cảnh ấy, kiến trúc mộ phần ấy toát lên cái tính cách cương trực, cuộc sống thanh bạch, tâm hồn thi sĩ, nghệ sĩ của con người Đào Tấn.

   Trong các di tích kỷ niệm về Đào Tấn ở quê hương ông chỉ có ngôi mộ là c̣n nguyên vẹn. Sau đợt trùng tu năm 1994 ngôi mộ trở nên bề thế và vững chăi hơn. Trước đây việc chăm nom ngôi mộ hoàn toàn do con cháu trong ḍng họ đảm nhiệm. Ngày nay các em học sinh trường tiểu học và trung học cơ sở Phước Nghĩa tự nguyện nhận trách nhiệm bảo vệ, tiếp tục tôn tạo, trồng thêm nhiều cây cảnh làm cho khu di tích ngày một thêm xanh tươi.

   Công lao và những đóng góp của Đào Tấn đối với nền văn hoá dân tộc từ lâu đă được khẳng định. Nhân 150 năm ngày sinh của Đào Tấn, Tỉnh ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc tỉnh B́nh Định đă long trọng tổ chức kỷ niệm tại quê hương ông. Càng ngày khách tới thăm viếng mộ Đào Tấn càng đông. Họ là những văn nghệ sĩ, những người yêu thích nghệ thuật tuồng, là đông đảo nhân dân, ở B́nh Định, ở khắp mọi miền đất nước đến đây để tưởng niệm, để tri ân người đă có công lớn trong việc kế thừa và phát triển nền văn hoá dân tộc.

9. Đ́nh làng Vinh Thạnh

   Làng Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy phước, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20km về phía Bắc. Từ thị trấn Tuy Phước theo con đường 19 cấp phối hướng về phía tháp Bánh Ít khoảng 2km là tới làng. Đó chính là quê hương của danh sĩ – nhà soạn tuồng xuất sắc thời cận đại Đào Tấn. Đ́nh làng Vinh Thạnh là nơi cha con Đào Tấn được dân làng thờ phụng như những thành hoàng.

   Cả tỉnh B́nh Định hiện nay hầu như chỉ c̣n sót lại một ngôi đ́nh của người Việt, đó là đ́nh Vinh Thạnh. Cũng đặc biệt như thế, Vinh Thạnh là làng duy nhất trong tỉnh đến nay vẫn giữ được cổng làng với bốn chữ Hán “Vinh Thanh lư môn” (cổng làng Vinh Thạnh). Di tích ngôi đ́nh hiện c̣n đến ngày nay mới được xây dựng lại vào năm 1948, c̣n ngôi đ́nh cũ, nghe dân gian kể lại, có quy mô lớn hơn, kiến trúc theo kiểu cổ lợp ngói âm dương th́ đă bị phá hủy trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp.

   Ngôi đ́nh mới được kiến trúc trên b́nh đồ h́nh chữ nhật, phía trước trổ tam quan trông ra đường liên xă, các mặt khác tiếp giáp  với nhà dân. Hai đầu nhà đều xây trụ h́nh vuông, trên đề đôi câu đố, hai trụ giữa bo tṛn chạm nổi h́nh rồng quấn quanh, đầu chúc xuống đuôi vểnh lên, bên trên là một dăy lan can được thiết kế theo kiểu ô hộc. Chính giữa là h́nh cuốn thư đắp đổi đề ba chữ “Vinh Thạnh đ́nh”. Đ́nh được thiết kế hai lớp mái, bốn góc uốn cong, cuối góc mái là những lan can đằng (giả rồng), đỉnh mái bên trên thể hiện h́nh lưỡng long chầu nguyệt (các chi tiết này đă bị đập vỡ). Phía trong hai bên cửa chính là phù điêu đắp nổi tượng ông Thiện, ông Ac, trong nhà sát tường là ba bục thờ, Đ́nh dài 12m, rộng 4m.

   Trong ba bục thờ th́ bục giữa đề chữ “thần”, một bên đặt thần vị Đào Đức Ngạc – cha của Đào Tấn, một bên đặt thần vị Đào Tấn. Thần vị Đào Tấn là một tấm bia đá được lập năm Mậu Thân Duy Tân thứ hai (1908), một năm sau khi ông qua đời. Nguyên văn chữ Hán như sau: “Duy Tân nhị niên Mậu Thân nhị nguyệt cát nhật. Hoàn triều cáo thụ Vinh lộc đại phu Trụ quốc Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện đại học sĩ lănh Công bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần Vinh phong tử tước trí chính Đào công hủy Văn thần thần vị. Bản thông phụng tự”. Như vậy ngay sau khi mất, Đào Tấn đă được tôn vinh như một vị thần của cả làng, được cả làng thờ cúng. Hiện nay, khi điều tra về thần hoàng làng Vinh Thạnh, trong nhân dân có nhiều ư kiến khác nhau, người th́ bảo là Đào Đức Ngạc cha của Đào Tấn, người th́ nói là chính Đào Tấn. Thực ra nếu căn cứ vào vị trí các khám thờ trong đ́nh th́ cha con Đào Tấn có lẻ chỉ   những “hậu thành hoàng” của làng, tuy nhiên thành hoàng đầu tiên của làng là ai đến nay không ai rơ.

   Trong cuộc đời sáu mươi hai năm của Đào Tấn (1485-1907)   ba quăng thời gian ông sống nhiều năm tại quê nhà (23). Lần thứ nhất bắt đầu từ khi ông cất tiếng chào đời đến khi ông làm quan. Lần thứ hai là khi ông xin từ quan về chịu tang cha và phụng dưỡng mẹ già. Và lần thứ ba là những năm tháng cuối cùng của cuộc đời khi ông bị cách chức. Như vậy cuộc đời Đào Tấn gắn bó nhiều với mảnh đấy chôn nhau cắt rốn. Chính tại đây tài năng văn học nghệ thuật của Đào Tấn được nẩy nở, nuôi dưỡng. Năm 18 tuổi ông đă hoàn thành vở tuồng Tân dă đồn được vua Tự Đức hết lời khen ngợi. Tiếp đó Học bộ đ́nh-một trường đào tạo nghệ sĩ tuồng đươcj thành lập. Tiếng trống chầu ngày đêm rộn ră ở làng Vinh Thạnh, rồi lan ra cả huyện, cả tỉnh, biến B́nh Định trở thành trung tâm của nghệ thuật hát bội, mà cho đến nay có lẽ trên khắp cả nước không nơi đâu người dân lại mê bộ môn nghệ thuật này như người B́nh Định. Tài năng ấy, công lao ấy, cùng với cốt cách thanh cao khiến ông khi sinh thời đă được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ, lúc mất được thờ ở đ́nh làng. Trước kia ở Vinh Thạnh có ít nhất ba địa điểm thờ Đào Tấn. Ngoài đ́nh làng, tại nhà ông con cháu (24) cũng lập miếu thờ, dân làng cũng lập đền thờ riêng, trên đề bốn chữ “Đào Công bảo từ”. Hàng năm đến ngày giỗ ông, con cháu họ tộc, dân làng cử hành tế lễ rất long trọng. Tại đ́nh làng thường tổ chức hát hội, diễn lại các vở tuồng của ông, có khi kéo dài vài ba đêm mới kết thúc, thu hút không chỉ dân sở tại mà cả nhiều làng xă khác tham gia. Gần đây, sau một thời gian bị mai một v́ nhiều lư do, những sinh hoạt văn hoá trên đang được phục hồi. Chỉ tiếc rằng miếu thờ, đền thờ ông đều đă bị phá hủy do chủ trương tiêu thổ kháng chiến ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, nay vẫn chưa được dựng lại, c̣n đ́nh làng, nhiều đồ thờ cũng đă thất lạc. May thay tại từ đường họ Đào thôn Vinh Thạnh vẫn c̣n được giữ nguyên vẹn 18 sắc phong của Đào Tấn trong các năm Tự Đức 24 (1871), 27 (1874), 28 (1875), 29 (1876), 31 (1878), 33 (1880), 34 (1882), 36 (1883), Đồng Khánh 2 (1887), 3 (1888), Thành Thái 1 (1884), 6 (1894), 8 (1896), 9 (1897), 10 (1898), 11 (1899), 14 (1902).

   Chắc chắn rằng trong một thời gian không xa đ́nh làng Vinh Thạnh sẽ được tu bổ, không chỉ đây là ngôi đ́nh của người Việt độc nhất vô nhị ở B́nh Định c̣n lại đến ngày nay, mà c̣n là một di tích gắn liền với danh nhân Đào Tấn. Ngôi đ́nh đó, cùng với từ đường họ Đào, lăng mộ của ông và rộng ra là cả mảnh đất làng Vinh Thạnh trở thành một quần thể di tích phần nào nói lên được cuộc đời sự nghiệp của một nhà văn hoá lớn, trở thành điểm hành hương của những người yêu thích nghệ thuật tuồng, những người tâm huyết với nền văn hoá dân tộc, cũng là nơi để mọ người Việt Nam đến tỏ ḷng tri ân đối với công lao người xưa.

 

Chú thích chương VI

 

(1)  Đại Nam nhất thống chí, HN 1970, tr. 49.

(2)  Quách tấn: Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 254.

(3)  Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, tập I, tr. 51.

(4)  Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, đă dẫn, tr. 65.

(5) Theo các sách Đại Nam nhất thống chí, tập III, tr. 51-52; Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, tr. 90-95. Xem thêm Nguyễn T́nh: Đào Duy Từ trong ḷng dân Hoài Hảo. Luận văn tốt nghiệp khoa lịch sử Đại học tổng hợp Hà Nội khoá 31, Hà Nội, 1991.

(6) (7) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 48.

(8) Hiện nay trong khu vực chùa Thập Tháp vẫn c̣n dấu vết nền tháp cổ, rải rác là những mảnh gạch vụn, đá vỡ kích thước khác nhau. Sau mấy trăm năm chùa đă qua nhiều lần trùng tu nhưng vật liệu vẫn hoàn toàn bằng gạch Chàm. Ngoài ra dấu tích Chùa c̣n phải kể đến là ba giếng nước h́nh vuông xây bằng đá ong mỗi cạnh 2m, sau này được nhà chùa sửa lại sử dụng.

(9) (10) (12) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 48.

(11) Quách Tấn: Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 266.

(13) Núi này, c̣n có tên gọi khác là núi Càn úc (Đại Nam nhất thống chí) hoặc úc Sơn (Đại Nam chính biên liệt truyện).

(14) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 16.

(15) Sách Đại Nam nhất thống chí có chép đến ngôi đền này (Đă dẫn tr. 16).

(16) Dấu tích đồn lũy của quân Tây Sơn ở khu vực núi Hàm Long hiện chưa pháp hiện được. Truyền thuyết địa phương th́ nói rằng quân Tây Sơn đóng ở trong hang (phía trên miếu Hàm Long) và ở G̣ Chợ (đă bị san ủi làm sân vận động Trường úc). Phía trước G̣ Chợ, bên kia Cầu Ván, có địa danh Bàn Cờ, tương truyền là nơi vua chúa nhóm họp đánh cờ người. Dân địa phươngc̣n cho biết ở chỗ Cầu ván xưa có hai khẩu đại bác cỡ lớn với rất nhiều đạt gang. Cũng tương truyền G̣ Chợ là nơi xưa quan Tây Sơn tổ chức vui chơi và hội họp.

(17) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr.16.

(18) Đại Nam chính biên liệt truyện, tr.78. Hiện ở khu vực xung quanh núi Hàm Long thôn nào cũng có chùa, tên chữ là Thanh Minh tự, thực chất là chùa âm hồn thờ vong linh người chết. Phải chăng điều này phản ánh một thực tế lịch sử rằng nơi đây xưa là một băi chiến trường hết sưc ác liệt.

(19) Nguyễn Doăn Địch (1833-1885) quê làng Tùng Giản huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định, đă từng làm quan nhà Nguyễn, năm 1885 hưởng ứng chiếu Cần Vương tập hợp lực lượng kháng chiến ở B́nh Định, chẳng may bị bệnh nặng, trước khi mất giao quyền chỉ huy nghĩa quân cho Mai Xuân Thưởng. (Xem thêm phần viết về lăng mộ Mai  Xuân Thưởng).

(20) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr.19 (21).

(21) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr.7.

(22) Ở núi Bà có một hang sâu xuyên qua núi, dân địa phương cũng gọi là hang chàng Lía. Từ cửa hang phía Tây Nam ở thôn An Đức, xă Cát Trinh đến cửa phía Đông Bắc thuộc thôn Trung Từ, xă Cát Khánh ước chừng dài đến hơn 10km. V́ hang sâu, hiểm hóc không mấy người dám vào nên đă có biết bao câu chuyện thêu dệt nên những sự tích ly kỳ làm cho hang càng thêm huyền bí. Cách hang không xa, trên địa phận thôn Phong An có một cái truông mọc nhiều cây may nên cũng được gọi là Truông Mây. Có người cho rằng đấy chính là Truông Mây mà Lía đă cùng cha Hồ chú Nhẫn đă dùng làm căn cứ khởi nghĩa  chống lại chúa Nguyễn. (Xem Quách Tấn: Nước non B́nh Định, sách đă dẫn, tr. 297). Tuy nhiên, ngoài truyền thuyết, hang Lía và Truông Mây ở Phù Cát không co dấu tích ǵ khác.

(23) Theo Gia phả họ Đào ở làng Vĩnh Phúc Thịnh, xă Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định. Sách Quốc triều hương khoa lục (NXB thành phố HCM, 1993) cũng chép là Đào đăng Tấn.

(24) Năm 18 tuổi Đào Tấn đă có vở Tân dă được đánh giá cao. Đáng tiếc đến nay có một số vở đă thất lạc. Trong số các vở tuồng của ông c̣n truyền lại đáng chú ư là vở Vạn Bửu tŕnh tường gồm tới 120 quyển mà ông cùng Vũ Đ́nh Thưởng, Ngô Quư Đồng soạn ṛng ră 4 năm trời mới xong. Nét đặc biệt của bộ tuồng này ở chỗ “nhân vật” ở đây lại là các vị thuốc bắc, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động đều dựa theo tính dược mà phô diễn.

(25) Về tiểu sử Đào Duy Tấn xin xem ở mục viết về di tích mộ ông.

(26) Đào Tấn có năm người con trai đều rất hiển đạt, có tiếng trong làng văn.

 

THAY LỜI KẾT LUẬN

 

   B́nh định là mảnh đất mà thiên nhiên luôn là nguồn hứng khởi của thi ca, là nơi có truyền thống lịch sử oai hùng với bề dày văn hoá vô cùng phong phú và đặc sắc. Những danh lam thắng cảnh và di tích được tŕnh bày trong tập sách này thực ra mới chỉ là một phác thảo sơ lược, chưa thể nói là đă lột tả đầy đủ diện mạo một địa phương mà mỗi một tạo tác của thiên nhiên đều có thể xem là một thắng cảnh, mỗi một làng quê, một góc phố dường như đều chứa trong ḿnh biết bao những điều bí ẩn của lịch sử. Để hiểu sâu sắc về B́nh Định, ngoài tập sách này c̣n có những công tŕnh chuyên khảo về địa lư tự nhiên, lchj sử, văn hoá và kinh tế sẽ lần lượt được xuất bản.

   Người xưa có câu “địa linh sinh nhân kiệt”. Đất B́nh Định không “linh”, núi sông B́nh Định không “thiêng” sao có thể sinh ra những người con anh kiệt như Nguyễn Huệ-Quang Trung, một anh hùng dân tộc đă làm rạng danh non sông đất Việt và chiến tích oai hùng được ghi lại trên khắp mọi miền đất nước? Rồi nữa, trong lịch sử B́nh Định đă có biết bao người vốn quê hương không phải ở đây nhưng nhờ vùng đất này dung dưỡng tài năng, hun đúc ư chí để rồi làm nên những sự nghiệp lớn mang tầm vóc quốc gia. Đó là nét hết sức đặc biệt  của B́nh Định. Nhưng do giới hạn không gian hành chính, tập sách chỉ tŕnh bày những sự kiện ấy, nhân vật ấy thông qua các di tích liên quan trên đất B́nh Định hiện nay. Nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng đă nói lên được nhiều điều. Những di tích bấy lâu yên lặng mặt cho thời gian huỷ hoại thành những phế tích hoang tàn, để cho rêu phong phủ kín qua từng năm tháng, cảnh trí thiên nhiên tưởng như vô tư trầm lắng trước mọi đổi thay của thời cuộc th́ nay tất cả đều đang thất tỉnh hồi sinh. Sự nghiệp đổi mới của cả nước và ở B́nh Định đang thổi một luồng sinh khí mói đưa chúng vào hoà nhập với cuộc sống hôm nay. Những thắng cảnh đang được tôn tạo, những di tích đang được trùng tu. Giờ đây, khi nói về danh thắng và di tích không chỉ để hoài niệm và ngợi ca mà hơn thế, c̣n là để nhắc nhở những thế hệ hôm nay và mai sau hiểu roc hơn về nét đẹp của B́nh Định, làm cho bè bạn gần xa thêm yêu mến thiên nhiên, truyền thống lịch sử – văn hoá và con người B́nh Định. Đấy là ước vọng cao nhất của người viết tập sách này.

 

 

 

chánh điện gồm thượng điện và hậu điện. Phần thượng điện thờ Phật Adiđà và Quan âm Chuẩn đề, hậu điện thờ Phật tổ Thích ca. hai bên có Đông pḥng và Tây pḥng. Hai dăy này là chỗ dành riêng chi tăng ni. Phía sau là Tổ đ́nh, thờ các vị khai sơn phá thạch.

   Kiến trúc nguyên thủy của chùa không c̣n nữa. Ngôi chùa hiện nay về cơ bản được xây dựng lại vào năm 1956 và hoàn thiện vào năm 1972. phong cách kiến trúc này mang dáng dấp kiểu chùa của cư dân miền Nam Trung Hoa. Về giá trị kiến trúc, chùa Lonh Khánh không có ǵ độc đáo, nhưng với lịch sử h́nh thành và phát triển của Quy nhơn, chùa Long Khánh có một vị trí khá đặc biệt.

   Minh văn khắc trên chuông và ghi chép trong cuốn Lịch sử chùa Long Khánh hiện được lưu giữ tại chùa cho biết chùa Long Khánh thuộc thôn Vĩnh Khánh phủ Quy Nhơn, do thiền sư Tích Thọ đời thờ 38 của thiền phái Lâm Tế tên là Nguyễn Trinh Tường khởi dựng. Quả chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 4, tức năm 1805. Điều này tương đối phù hợp với ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí. Nhưng theo các nguồn tài liệu Phật giáo khác th́ người có công khởi dựng chùa Long Khánh là thiền sư Đức Sơn. Thần vị của hoà thượng này hiện được thờ tại Tổ đ́nh. Ông là Tổ thức 35 của ḍng Lâm Tế Chánh tông, sinh năm Kỷ Mùi, viên tịch ngỳ 2 tháng Chạp năm Tân Dậu.

   Cũng theo các tài liệu Phật giáo, thiền sư Đức Sơn đến lập ra ngôi Tổ đ́nh Long khánh của ḍng Lâm Tế, vùng đất này c̣n mang địa danh Quy Ninh. Đối chiếu với lịch sử, địa danh này tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1742 (21). Trong chùa, ngoài quả chuông, c̣n có một hiện vật cổ được các sư tăng cho là bảo vật của

   Như trên đă nói, Hoà thượng Đức Sơn đến Quy Ninh trong thời gian từ 1651 đến 1742. Trong khoảng thời gian này chỉ có một năm At Mùi là năm 1715. như vậy, chùa Long Khánh được xây dựng muộn nhất là năm 1715, thời điển Hoà thượng Đức Sơn cho đúc chiến khánh, chứ không phải năm 1807 như Đại Nam nhất thống chí và các tài liệu gần đây xác định. Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường không phải là người kiến lập chùa mà chỉ là người có công tôn tạo chùa và đúc quả chuông vào năm 1805. về hệ phái Hoà thượng Nguyễn Trinh Tường thuộc đời 38 của ḍng Lâm Tế và nếu Hoà thượng Đức Sơn là Tổ thứ nhất th́ ông là đời thứ 4 của Tổ đ́nh Long Khánh.

   Từ đây, có thể kết lụân rằng chùa Long Khánh được xây dựng trên đất làng Vĩnh Khánh phủ Quy Ninh vào khoản năm 1715. giữa thế kỷ XVIII phủ Quy Ninh đổi thành Quy Nhơn, đến cuối thế kỷ 19 làng Vĩnh Khánh đổi thành làng Cẩm Thượng thuộc huyện Tuy Phước, phủ Quy Nhơn đổi thành tỉnh B́nh Định. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí đă ghép chùa Long Khánh vào địa danh cuối cùng này.

   Mặc dù đă qua bao lần trùng tu, tái tạo, chùa Long Khánh vẫn là một di tích lịch sử – văn hoá có giá trị. Đó là một trong hai ngôi chùa có niên đại cổ kính nhất ở B́nh Định. Ngày nay, du khách gần xa khi đến chùa không thể không có những phút giây cảm giác tĩnh mịch, sâu lắng và tôn kính như đi vào của thế giới hư vô cực lạc.

 

7. Căn cứ Truông Mây

 

Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chàng Lía bị vây trong thành.

 

   Câu ca đượm buồn nhưng nói lên được nhiều điều, cuộc khởi nghĩa của chàng Lía, căn cứ truông Mây và tấm ḷng người dân B́nh Định đối với chàng Lía và phong trào đấu tranh chống chế độ cai trị hà khắc của chúa nguyễn do chàng lănh đạo.

   Căn cứ Truông Mây nay thuộc địa phận xóm Ba, thôn Phú Thuận, xă An Đức, huyện Hoài An, tỉnh B́nh Định, cách huyện lỵ khoảng 3km. Từ thị trấn Tăng Bạt Hổ đi lên khoảng 1km, tới ngă ba Gia đức rồi theo con đường đất nhỏ đi về phía Tây Bắc khoảng 1km tới sông Kim Sơn. Bên kia sông là di tích căn cứ Truông Mây.

   Bước sang nửa sua thế kỷ XVIII xă hội Đàng trong lâm vào t́nh trạng khủng hoảng trầm trọngước lúc ngọn lửa chiến tranh nông dân Tây Sơn bùng cháy, ở đàng trong đă nổ ra một số phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống chúa Nguyễn, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do chàng Lía lănh đạo.

   Không thấy chính sử, cả đương thời và về sau, ghi chép về cuộc khởi nghĩa này. Tuy nhiên, sự tích về cuộc khởi nghĩa, về thủ lĩnh Lía th́ vẫn được ghi nhớ và truyền tụng phổ biến trong dân gian qua bài vè chàng Lía và nhiều chuyện kể khác.

   Lía vốn xuất thân trong một gia đ́nh nông dân nghèo khổ, cha là người huyện Phù Ly, mẹ là người thôn Phú Lạc ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn (nay thuộc xă B́nh Thạnh huyện Tây Sơn) cũng thuộc phủ Quy Nhơn, Phú Lạc, quê ngoại của Lía cũng là quê ngoại của các thủ lĩnh Tây Sơn. Cha Lía mất sớm,ợe đưa Lía về quê ngoạ nuôi dưỡng. Gia cảnh bần hàn chàng phải đi ở chăn trâu cho một phú hộ trong vùng, chịu sự hành hạ, đánh đập rất khổ cực, v́ thế mà chàng sớm có tinh thần quật khởi. Lía là người có sức khoẻ, tính t́nh khí khái, ngang tàng lại thông minh nhanh nhẹn, giỏi vơ nghệ. Câu chuyện lư giải bước khởi đầu của cuộc khởi nghĩa thật đơn giản. Chuyện kể rằng, có một lần, do không chịu được cảnh một tên lính triều đ́nh cậy thế ức hiếp dân làng. Lía đă đánh chết hắn. Quan trên cho lính về vây bắt. Lía cơng mẹ vượt qua mấy ṿng vây chạy lên núi, ở đây chàng gặp một toán cướp. Tài nghệ và tính cách khẳng khái của Lía đă cảm hoá được bọn chúng. Chàng được tôn làm chủ trại, bèn sai sửa thành Uất Tŕ của người Chiêm Thành làm sơn trại, hàng ngày đem quân xuống núi cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Nhân dân hoan hỉ c̣n bọn quan lại địa chủ th́ căm tức.

   Sau khi người mẹ qua đời, Lía t́m cách đưa hài cốt mẹ về quê, táng ở Ḥn Sưng, phia sbắc sông Kôn. Buồn ḷng, Lía t́m đến Phù Ly thăm mộ cha rồi bỏ đi ngao du đây đó. Đến Truông Mây thấy địa thế hiểm yếu Lía dừng chân ngắm cảnh. Bấy giờ nơi đây có một toán cướp do Hồ và Nhẫn cầm đầu mà nhân dân quen gọi là cha Hồ, chú Nhẫn. Cũng như lần trước, tài ba vơ nghệ, chí khí và ḷng dũng cảm của Lía đă làm thay đổi toán cướp này. Lía trở thành thủ lĩnh của một phong trào mà mục đích hoạt động đă hoàn toàn đổi khác. Cảnh chặn đường cướp giật đă chấm dứt. Thay vào đó là chủ trương cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo. Phong trào ngày càng phát triển thu hút đông đảo nông dân tham gia. Tiếng tăm nghĩa quân lan rộng khắp trong vùng. Truông Mây được xây dựng thành một căn cứ vững chắc, là đại bản doanh của nghĩa quân (20).

Có lần chúa Nguyễn có tổ chức thi vơ tại thành Quy Nhơn để chọn người tài cầm quân đánh Trịnh. Lía cùng cha Hồ chú Nhẫn cải trang xuống núi thi tài. Trước cảnh quan giám khảo tham ô hối lộ bắt những sĩ tử nộp tiền đút lót, chàng bất b́nh trở về căn cứ Truông Mây, tập hợp binh sĩ đốt phá trường thi, giết quan giám khảo. Tuần phủ Quy Nhơn cho cho quân truy kích nhưng đến Trường Mây th́ bị chặn đứng. Một đêm, Lía đem theo một ít quân tinh nhuệ bí mật theo đường núi xuống phủ thành Quy Nhơn rồi nhân lúc trời tối lính canh lơ là, phóng lửa đốt các dinh thự, doanh trại, Tuần phủ Quy Nhơn bị chém đầu, vợ bị bắt mang đi.

   Được tin Quy Nhơn có biến, quan cai trị dinh Quảng Nam cho quân cứu viện, đồng thời cử người về triều đ́nh Phú Xuân cấp báo. Chúa Nguyễn phái đại binh tinh nhuệ vào đàn áp. Trước t́nh h́nh đó, Lía cho quân đắp thêm thành lũy, củng cố vững chắc căn cứ Truông Mây. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt mấy năm trời mà quân Nguyễn không sao đàn áp được, buộc phải rút lui.

   Biết không thể thắng được nghĩa quân bằng vũ lực, viên quan tuần phủ mới bèn dùng mưu kế. Ḍ biết được ái thiếp của quan cựu tuần phủ bị Lía bắt về lấy làm vợ  liền t́m kiếm người thân của thị đưa vào hàng ngũ nghĩa quân, rồi dụ dỗ, thuyết phục thị làm nội ứng. Một hôm Lía mở tiệc khao quân, vợ Lía bí mật bỏ thuốc mê vào rượu rồi ép các nghĩa sĩ uống say, trong đó có cả Lía. Thị dùng dây thừng trói chặt Lía vào một tấm phản sau đó mở cửa thành chạy về Quy Nhơn báo tin. Quân Nguyễn kéo đến tàn sát nghĩa quân. Lía giật ḿnh tỉnh dậy thấy bị trói bèn hiểu ra tất cả rồi nổi giận vùng dậy mang cả tấm phản trên ḿnh thoát ra khỏi ṿng vây chạy lên núi. Quân Nguyễn không đuổi bắt được liền phá hủy thành lũy rồi rút quân về. Lía buồn ḷng phẫn uất nên đă tự sát.

   Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng h́nh ảnh chàng Lía dũng cảm, khí phách hiên ngang, không chịu khuất phục trước áp bức cường quyền, yêu thương người nghèo khổ cùng các nghĩa binh do chàng lănh đạo th́ vẫn sống măi trong ḷng dân B́nh Định, trong ḷng những người bị áp bức.

   Trở lại căn cứ Truông Mây nay vẫn c̣n một số dấu tích về cuộc khởi nghĩa. Truông Mây là một đoạn đường chạy giữa ḥn Núi Một và sông Kim Sơn từ phía Bắc thôn Phú Thuận đến phía Nam thôn Vĩnh Hoà, xă An Đức, huyện Hoài An. Xưa kia đây là con đường độc đạo lên nguồn Kim Sơn, bên sườn núi mây mọc thành rừng, khung cảnh hoang vắng, đi lại rất khó khăn nên mới có tên là Truông Mây. Các dấu tích về cuộc khởi nghĩa c̣n lại đến ngày nay tập trung ở dưới chân và bên sườn ḥn Núi Một.

   Mộ ông Lía là di tích gắn liền với truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi Lía tự vẫn, với ḷng ngưỡng mộ và ghi nhớ công lao của chàng nhân dân đă xây dựng một ngôi mộ khang trang. Ngôi mộ hiện nay-mà nhân dân gọi là mộ ông Lía-có quy mô khá lớn, gồm hai lớp tường thành: thành ngoại và thành nội. Hai lớp thành có h́nh dáng giống nhau. Mặt trước xây vuông quay mặt về Đông, mặt sau xây h́nh bán nguyệt dựa lưng vào núi. Lớp thành ngoại có chiều dài 30m, chiều rộng 25m xây bằng đá núi xếp chồng lên nhau với nhiều kích cỡ khác nhau, cao 1,4m, rộng 1,5m, phía trước có cửa ra vào rộng 2,0m. Lớp thành nội nằm cân đối trong lớp thành ngoại, mặt trước cũng có cửa ra vào, dài 7,0m, rộng 5,0m, cao 1,0m, được xây cẩn thận hơn bao gồm 3 lớp đá ong được cắt vuông vức với kích thước 0,5m x 0,3m x 0,2m. Nhân dân cho biết trước kia giữa thành nội có một tấm bia đá khắc chữ Hán nhưng đă bị bọn đào trộm vàng phá huỷ mất. Bên ngoài ngôi mộ phía Nam có một phế tích kiến trúc khác h́nh vuông, một lớp tường thành, mặt quay hướng Đông, dài 6,0m, rộng 4,0m, dày 1,5m. Truyền rằng đây là nền doanh trại nghĩa quân.

   Di tích Bờ lũy ở ngay phía sau ngôi mộ, là dấu tích một bờ lũy xây bằng đá, chạy dài dẫn đến sườn núi, di tích hiện c̣n dài 50m, rộng 0,8m. Hai bên bờ lũy, dọc theo sườn nủiaỉ rác c̣n có những bờ kè xây bằng đá, cao 1,0m, dài 3,0m. Nhân dân cho biết trước đây lũy khá đồ sộ nhưng đă bị dân phá vỡ lấy đá về xây nhà.

   Di tích Miếu mục đồng nằm ở phía Bắc ngôi mộ. Miếu được xây (đúng hơn là xếp) bằng đá núi với chiều dài 12m, chiều rộng 10m, tường cao 1,0m đến 1,5m. Miếu quay hướng Đông có hai lối vào hai bên, vách phía Tây dựa vào núi. Dân gian truyền rằng ngày xưa đây là vị trí trại chỉ huy, nơi ở của các thủ lĩnh nghĩa quân. Không hiểu v́ sao lại có tên là miếu mục đồng (?).

   Bằng ấy dấu tích vật chất về một phong trào cách nay đă hơn hai thế kỷ cũng đă là đáng quư. Tuy nhiên, những dấu tích c̣n ít ỏi nó đang ngày một mai một thêm. V́ Truông Mây ở nơi hẻo lánh nên việc bảo vệ di tích gặp rất nhiều khó khăn. Nhân dân lấy đá làm nhà, đặt các di tích trước nguy cơ bị phá hoại, ấy là chưa kể bọn t́m vàng vẫn lăm le đào trộm mộ.

   Đến thăm di tích Truông Mây hôm nay dù không c̣n cảnh quá hoang vắng điêu tàn v́ đă có một số bà con lên xây dựng nhà dựng cửa, nhưng ḷng ta vẫn không khỏi bùi ngùi. Trên nấm mộ người thủ lĩnh nghĩa quân năm xưa, cái cảm giác lạnh lẽo tràn ngập ḷng ta. Thắp một nén hương lên mộ người xưa mà ḷng thầm mong rằng một ngày không xa nữa những di tích lịch sử này sẽ được đầu tư bảo tồn và cải tạo, để ngày càng có nhiều người đến đây, để thêm những bàn tay làm ấm hơn vầng cỏ trên mộ người nghĩa sĩ.

 

8. Mộ Đào Tấn

 

   Trong số các danh nhân văn hoá B́nh Định, Đào Tấn hiện lên như một ngôi sao sáng chói. Ong là một nhà thơ, nhà soạn tuồng, một nghệ nhân xuất sắc của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

   Đào Tấn (1945-1907), tên đầy đủ là Đào Tăng Tấn (21), tự là Chỉ Thúc, hiệu là Tô Giang, Mai Tăng, Mộng Mai thuộc ḍng dơi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng trong đầu thế kỷ XVII. Ong người làng Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy Phước. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà Thị Loan. Ngay từ thuở nhỏ ông đă nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ. Năm 22 tuổi Đào Tấn là một trong số mười tám người đỗ cử nhân khoa thi hương Đinh Măo (1867) tại trường thi B́nh Định (bao gồm sĩ tử từ Quảng Ngăi tới Khánh Hoà). Bốn năm sau, vào năm Tự Đức thứ 24 (1871), ông được bổ quan rồi thăng tiến rất nhanh: Tri phủ Quảng Trạch (Quảng B́nh) (1874), Phủ doăn Thừa Thiên (1882). Ông thường cùng Tự Đức bàn luận văn chương, vua tôi rất tâm đắc. Những năm này triều đ́nh Nguyễn ươn hèn liên tiếp nhượng bộ, mà thực chất là từng bước dâng đất nước cho thực dân Pháp. Là người nặng tư tưởng trung quân, Đào Tấn dường như đứng ngoài cuộc kháng chiến của toàn dân đang sôi sục khắp trong Nam ngoài Bắc. Nhưng mặt khác, ông lại là người yêu nước, thấy nước nhà lâm nguy mà không cứu, tự thấy hỗ thẹn với chính ḿnh. Ông viện cớ cha mẹ yếu xin từ quan  về phụng dưỡng nhưng không được chấp nhận. Măi khi cha mất ông mới được phép về quê. Cuộc binh biến ở kinh thành Huế ngày 22 tháng 5 năm At Dậu (1885) của phái chủ chiến do Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Huyết đứng đầu thất bại, vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương đă thổi bùng ngọn lửa cứu nước. Ở B́nh Định phong trào Cần Vương do Mai Xuân Thưởng lănh đạo phát triển mạnh mẽ, nhưng Đào Tấn vẫn đứng ngoài cuộc, từ chối lời mời tham gia phong troà của nghĩa quân, rồi chốn chạy đến chùa Linh Phong (Phù Cát) ở ẩn. Đồng Khánh lên ngôi, vốn là chỗ cố tri, lập tức cho mời ông tiếp tục tham chính. Đào Tấn trở lại triều đ́nh nhậm chức, trải thăng tới Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) năm 1889, Công Bộ Thương thư (1897)… Năm 1904 v́ chống tên việt gian Nguyễn Thân, ông bị cách chức rồi lui về quê nhà ở ẩn. Ba năm sau (1907), ông mất, thọ 62 tuổi.

   Cuộc đời chính trị của Đào Tấn, cứ nh́n vào các chức vụ mà ông đă trải qua, các tước vị mà ông đă đạt được, có thể nói là hanh thông. Nhưng đặt trong hoàn cảnh đất nước thời kỳ này th́ thái độ ứng xử quả có nhiều điều đáng chế trách, dù vẫn biết ông là người yêu nước, là vị quan nổi tiếng liêm khiết, là nhà nho thanh bạch giản dị. Tuy nhiên, cái làm nên một danh nhân Đào Tấn không phải là sự nghiệp chính trị, là những thành đạt chốn quan trường, mà là sự nghiệp văn hoá của ông.

   Nói đến Đào Tấn là nói đến những cống hiến lớn lao của ông đối với nghệ thuật tuồng. Sân khấu tuồng đă có ở Việt Nam từ rất sớm. Đến đầu thế kỷ XIII đă xuất hiện nhiều vở nổi tiếng c̣n truyền lại đến ngày nay. Tuy nhiên, bấy giờ bộ môn nghệ thuật này chưa được tổ chức mang tính chuyên nghiệp. Đến thời Đào Tấn, bằng những đóng góp xuất sắc của ông, với ḷng say mê, tài năng và tâm huyết, nghệ thuật tuồng Việt Nam đă đạt đến bươc phát triển rực rỡ. Ong lập Ban hiệu thư ở Huế chuyên sáng tác, Học bộ đ́nh ở B́nh Định chuyên đào tạo diễn viên. Hàng năm vở tuồng nối tiếp nhau ra mắt công chúng, trong đó có 30 vở của Đào Tấn. Các vở tuồng xuất sắc của ông, có thể kể đến như Quần trân hiểu thoại, Tứ quốc lai vương, Tam bảo thái giám hữu bửu, Cổ thành, Quan công quá quan, Tâm dă Đồn, Hoàng Phi Hổ quá quan, Trần hương các, Hộ sanh đàn, Khuê các anh hùng… và nhuận sắc một số vở như Tam nữ đồ vương, Sơn hậu, Ngũ hổ b́nh tây, Nguyệt cô hoá cáo… Trong lịch sử tuồng Việt Nam đào Tấn là tác giả viết nhiều nhất và có chất lượng cao nhất (22). Ngoài ra ông c̣n có công trong việc hoàn thiện âm nhạc tuồng. Đào Tấn c̣n là người đầu tiên hệ thống hoá các vấn đề mỹ thuật sân khấu tuồng, từ trang trí, phục trang đến đạo cụ… Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc đào Tấn xứng đáng được hậu thế suy tôn là “Hậu Tổ” của nghệ thuật tuồng Việt Nam.

   Cũng không thể không nhắc đến một Đào Tấn văn sĩ. Thơ ông được nhiều nhà nho đương thời khen ngợi. Những tác phẩm của ông gồm Mộng Mai thi tồn, Mộng mai từ lục, Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai văn sao, đều viết bằng chữ Hán, trong đó về thơ có tới hàng trăm bài, nhiều bài có giá trị.

   Mặc dù không giống nhiều sĩ phu bấy giờ, trước sự ươn hèn của vua tôi nhà Nguyễn, đă đứng về phía nhân dân hoặc phất cờ cùng nhân dân chống Pháp nhưng trước sau Đào Tấn vẫn là một người yêu nước. Điều này thấy rơ qua thơ văn của ông, đặc biệt qua nội dung các vở tuồng do ông sáng tác. Tuồng Đào Tấn nêu cao những tấm gương nhân nghĩa, ḷng yêu nước, thương dân, sẵn sàng hy sinh v́ đại nghĩa, đồng thời lên án mạnh mẽ bọn người xu nịnh, bọn quan lại hèn nhát. Dường như trong mỗi vở tuồng Đào Tấn đều gởi gấm vào đó cả nỗi ḷng ḿnh.

   Những năm cuối đời, Đầo Tấn về quê sống ẩn dật. Xa lánh chốn quan trường nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo nhằm cống hiến nhiều hơn nữa cho nghệ thuật tuồng. Ông lo trước về “hậu sự” của ḿnh, chọn núi Hoàng Mai làm nơi an nghỉ ngàn thu. Ông mất, người nhà theo ư nguyện của ông đă an táng ông tại nơi đây.

   Núi Hoàng Mai (Huỳnh Mai), hay c̣n gọi là núi Đá Vàng, Mai Sơn, nay thuộc thôn Hoàng Mai xă Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước. Từ huyện lỵ theo trục lộ về hướng Tây Bắc khoảng 1km là tới núi Huỳnh Mai. Mộ Đào Tấn nằm trên lưng chừng núi, ngoảnh mặt về hướng Nam nh́n về thôn Vinh Thạnh, nơi ông cất tiếng khóc  troà đời, nơi tuổi thơ nhọc nhằn của ông đă đi qua  là nơi ông sống những năm tháng cuối cùng của cuộc đời ḿnh. Tuy thuộc xă khác nhưng nơi ông yên nghỉ chỉ cách nhà ông chưa đầy 2km. Dưới chân núi có con sông Tranh, một chi lưu của sông Kôn từ tháp Bánh ít đổ ra đầm Thị Nại chảy qua. Thế mộ nằm vào điểm uốn của sông Tranh, là nơi tụ thủy. Thế đất như vậy, theo thuyết phong thủy, là cát địa. Nhà nho nguyên thâm Đào Tấn hẳn đă có ư tứ khi chọn thế đất này.

   Năm 1994, trước t́nh h́nh ngôi mộ bị xuống cấp nghiêm trọng sau bao năm dăi dầu nắng mưa lại hầu như không được tu bổ ǵ Sở VHTT, UBND huyện Tuy Phước, UBND xă Phước Nghĩa, nhà hát tuồng Đào Tấn đă tiến hành trùng tu di tích lịch sử quan trọng này. Về cơ bản việc trùng tu tôn tạo là dựa trên nguyên gốc, phần gia cố thêm chỉ nhằm chống xói ṃn và làm bậc từ dưới đường lên đến mộ để nhân dân, khách du lịch lên thăm viếng được dễ dàng.

   Mộ xây h́nh chữ nhật dài 3m, rộng 2m, có bờ xung quanh cao 0,8m, trong đổ đất. Phía trước mộ có bia đề ngày lập mộ, trước nữa là bức b́nh phong làm tiền án. Phía ngoài mộ là một ṿng tường bao dài 10m, rộng 6m, trước có trụ cổng đề đôi câu đối của Hà Đ́nh tướng công, lưng có b́nh phong kiểu cuốn thư, hai bên cổng và hai bên cuốn thư là h́nh bốn con sấu được tạo dáng đuôi vểnh lên trên. Nơi đây xưa là cả một rừng hoa, dưới là ḍng sông Tranh quanh năm nước chảy, xa xa là bốn ngọn tháp Bánh Ít, phong cảnh ấy, kiến trúc mộ phần ấy toát lên cái tính cách cương trực, cuộc sống thanh bạch, tâm hồn thi sĩ, nghệ sĩ của con người Đào Tấn.

   Trong các di tích kỷ niệm về Đào Tấn ở quê hương ông chỉ có ngôi mộ là c̣n nguyên vẹn. Sau đợt trùng tu năm 1994 ngôi mộ trở nên bề thế và vững chăi hơn. Trước đây việc chăm nom ngôi mộ hoàn toàn do con cháu trong ḍng họ đảm nhiệm. Ngày nay các em học sinh trường tiểu học và trung học cơ sở Phước Nghĩa tự nguyện nhận trách nhiệm bảo vệ, tiếp tục tôn tạo, trồng thêm nhiều cây cảnh làm cho khu di tích ngày một thêm xanh tươi.

   Công lao và những đóng góp của Đào Tấn đối với nền văn hoá dân tộc từ lâu đă được khẳng định. Nhân 150 năm ngày sinh của Đào Tấn, Tỉnh ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc tỉnh B́nh Định đă long trọng tổ chức kỷ niệm tại quê hương ông. Càng ngày khách tới thăm viếng mộ Đào Tấn càng đông. Họ là những văn nghệ sĩ, những người yêu thích nghệ thuật tuồng, là đông đảo nhân dân, ở B́nh Định, ở khắp mọi miền đất nước đến đây để tưởng niệm, để tri ân người đă có công lớn trong việc kế thừa và phát triển nền văn hoá dân tộc.

 

9. Đ́nh làng Vinh Thạnh

 

   Làng Vinh Thạnh nay thuộc xă Phước Lộc, huyện Tuy phước, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20km về phía Bắc. Từ thị trấn Tuy Phước theo con đường 19 cấp phối hướng về phía tháp Bánh Ít khoảng 2km là tới làng. Đó chính là quê hương của danh sĩ – nhà soạn tuồng xuất sắc thời cận đại Đào Tấn. Đ́nh làng Vinh Thạnh là nơi cha con Đào Tấn được dân làng thờ phụng như những thành hoàng.

   Cả tỉnh B́nh Định hiện nay hầu như chỉ c̣n sót lại một ngôi đ́nh của người Việt, đó là đ́nh Vinh Thạnh. Cũng đặc biệt như thế, Vinh Thạnh là làng duy nhất trong tỉnh đến nay vẫn giữ được cổng làng với bốn chữ Hán “Vinh Thanh lư môn” (cổng làng Vinh Thạnh). Di tích ngôi đ́nh hiện c̣n đến ngày nay mới được xây dựng lại vào năm 1948, c̣n ngôi đ́nh cũ, nghe dân gian kể lại, có quy mô lớn hơn, kiến trúc theo kiểu cổ lợp ngói âm dương th́ đă bị phá hủy trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp.

   Ngôi đ́nh mới được kiến trúc trên b́nh đồ h́nh chữ nhật, phía trước trổ tam quan trông ra đường liên xă, các mặt khác tiếp giáp  với nhà dân. Hai đầu nhà đều xây trụ h́nh vuông, trên đề đôi câu đố, hai trụ giữa bo tṛn chạm nổi h́nh rồng quấn quanh, đầu chúc xuống đuôi vểnh lên, bên trên là một dăy lan can được thiết kế theo kiểu ô hộc. Chính giữa là h́nh cuốn thư đắp đổi đề ba chữ “Vinh Thạnh đ́nh”. Đ́nh được thiết kế hai lớp mái, bốn góc uốn cong, cuối góc mái là những lan can đằng (giả rồng), đỉnh mái bên trên thể hiện h́nh lưỡng long chầu nguyệt (các chi tiết này đă bị đập vỡ). Phía trong hai bên cửa chính là phù điêu đắp nổi tượng ông Thiện, ông Ac, trong nhà sát tường là ba bục thờ, Đ́nh dài 12m, rộng 4m.

   Trong ba bục thờ th́ bục giữa đề chữ “thần”, một bên đặt thần vị Đào Đức Ngạc – cha của Đào Tấn, một bên đặt thần vị Đào Tấn. Thần vị Đào Tấn là một tấm bia đá được lập năm Mậu Thân Duy Tân thứ hai (1908), một năm sau khi ông qua đời. Nguyên văn chữ Hán như sau: “Duy Tân nhị niên Mậu Thân nhị nguyệt cát nhật. Hoàn triều cáo thụ Vinh lộc đại phu Trụ quốc Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện đại học sĩ lănh Công bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần Vinh phong tử tước trí chính Đào công hủy Văn thần thần vị. Bản thông phụng tự”. Như vậy ngay sau khi mất, Đào Tấn đă được tôn vinh như một vị thần của cả làng, được cả làng thờ cúng. Hiện nay, khi điều tra về thần hoàng làng Vinh Thạnh, trong nhân dân có nhiều ư kiến khác nhau, người th́ bảo là Đào Đức Ngạc cha của Đào Tấn, người th́ nói là chính Đào Tấn. Thực ra nếu căn cứ vào vị trí các khám thờ trong đ́nh th́ cha con Đào Tấn có lẻ chỉ   những “hậu thành hoàng” của làng, tuy nhiên thành hoàng đầu tiên của làng là ai đến nay không ai rơ.

   Trong cuộc đời sáu mươi hai năm của Đào Tấn (1485-1907)   ba quăng thời gian ông sống nhiều năm tại quê nhà (23). Lần thứ nhất bắt đầu từ khi ông cất tiếng chào đời đến khi ông làm quan. Lần thứ hai là khi ông xin từ quan về chịu tang cha và phụng dưỡng mẹ già. Và lần thứ ba là những năm tháng cuối cùng của cuộc đời khi ông bị cách chức. Như vậy cuộc đời Đào Tấn gắn bó nhiều với mảnh đấy chôn nhau cắt rốn. Chính tại đây tài năng văn học nghệ thuật của Đào Tấn được nẩy nở, nuôi dưỡng. Năm 18 tuổi ông đă hoàn thành vở tuồng Tân dă đồn được vua Tự Đức hết lời khen ngợi. Tiếp đó Học bộ đ́nh-một trường đào tạo nghệ sĩ tuồng đươcj thành lập. Tiếng trống chầu ngày đêm rộn ră ở làng Vinh Thạnh, rồi lan ra cả huyện, cả tỉnh, biến B́nh Định trở thành trung tâm của nghệ thuật hát bội, mà cho đến nay có lẽ trên khắp cả nước không nơi đâu người dân lại mê bộ môn nghệ thuật này như người B́nh Định. Tài năng ấy, công lao ấy, cùng với cốt cách thanh cao khiến ông khi sinh thời đă được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ, lúc mất được thờ ở đ́nh làng. Trước kia ở Vinh Thạnh có ít nhất ba địa điểm thờ Đào Tấn. Ngoài đ́nh làng, tại nhà ông con cháu (24) cũng lập miếu thờ, dân làng cũng lập đền thờ riêng, trên đề bốn chữ “Đào Công bảo từ”. Hàng năm đến ngày giỗ ông, con cháu họ tộc, dân làng cử hành tế lễ rất long trọng. Tại đ́nh làng thường tổ chức hát hội, diễn lại các vở tuồng của ông, có khi kéo dài vài ba đêm mới kết thúc, thu hút không chỉ dân sở tại mà cả nhiều làng xă khác tham gia. Gần đây, sau một thời gian bị mai một v́ nhiều lư do, những sinh hoạt văn hoá trên đang được phục hồi. Chỉ tiếc rằng miếu thờ, đền thờ ông đều đă bị phá hủy do chủ trương tiêu thổ kháng chiến ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, nay vẫn chưa được dựng lại, c̣n đ́nh làng, nhiều đồ thờ cũng đă thất lạc. May thay tại từ đường họ Đào thôn Vinh Thạnh vẫn c̣n được giữ nguyên vẹn 18 sắc phong của Đào Tấn trong các năm Tự Đức 24 (1871), 27 (1874), 28 (1875), 29 (1876), 31 (1878), 33 (1880), 34 (1882), 36 (1883), Đồng Khánh 2 (1887), 3 (1888), Thành Thái 1 (1884), 6 (1894), 8 (1896), 9 (1897), 10 (1898), 11 (1899), 14 (1902).

   Chắc chắn rằng trong một thời gian không xa đ́nh làng Vinh Thạnh sẽ được tu bổ, không chỉ đây là ngôi đ́nh của người Việt độc nhất vô nhị ở B́nh Định c̣n lại đến ngày nay, mà c̣n là một di tích gắn liền với danh nhân Đào Tấn. Ngôi đ́nh đó, cùng với từ đường họ Đào, lăng mộ của ông và rộng ra là cả mảnh đất làng Vinh Thạnh trở thành một quần thể di tích phần nào nói lên được cuộc đời sự nghiệp của một nhà văn hoá lớn, trở thành điểm hành hương của những người yêu thích nghệ thuật tuồng, những người tâm huyết với nền văn hoá dân tộc, cũng là nơi để mọ người Việt Nam đến tỏ ḷng tri ân đối với công lao người xưa.

 

Chú thích chương VI

 

(1) Đại Nam nhất thống chí, HN 1970, tr. 49.

(2) Quách tấn: Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 254.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, tập I, tr. 51.

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, đă dẫn, tr. 65.

(5) Theo các sách Đại Nam nhất thống chí, tập III, tr. 51-52; Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập I, tr. 90-95. Xem thêm Nguyễn T́nh: Đào Duy Từ trong ḷng dân Hoài Hảo. Luận văn tốt nghiệp khoa lịch sử Đại học tổng hợp Hà Nội khoá 31, Hà Nội, 1991.

(6) (7) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 48.

(8) Hiện nay trong khu vực chùa Thập Tháp vẫn c̣n dấu vết nền tháp cổ, rải rác là những mảnh gạch vụn, đá vỡ kích thước khác nhau. Sau mấy trăm năm chùa đă qua nhiều lần trùng tu nhưng vật liệu vẫn hoàn toàn bằng gạch Chàm. Ngoài ra dấu tích Chùa c̣n phải kể đến là ba giếng nước h́nh vuông xây bằng đá ong mỗi cạnh 2m, sau này được nhà chùa sửa lại sử dụng.

(9) (10) (12) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 48.

(11) Quách Tấn: Nước non B́nh Định, Sách đă dẫn, tr. 266.

(13) Núi này, c̣n có tên gọi khác là núi Càn úc (Đại Nam nhất thống chí) hoặc úc Sơn (Đại Nam chính biên liệt truyện).

(14) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr. 16.

(15) Sách Đại Nam nhất thống chí có chép đến ngôi đền này (Đă dẫn tr. 16).

(16) Dấu tích đồn lũy của quân Tây Sơn ở khu vực núi Hàm Long hiện chưa pháp hiện được. Truyền thuyết địa phương th́ nói rằng quân Tây Sơn đóng ở trong hang (phía trên miếu Hàm Long) và ở G̣ Chợ (đă bị san ủi làm sân vận động Trường úc). Phía trước G̣ Chợ, bên kia Cầu Ván, có địa danh Bàn Cờ, tương truyền là nơi vua chúa nhóm họp đánh cờ người. Dân địa phươngc̣n cho biết ở chỗ Cầu ván xưa có hai khẩu đại bác cỡ lớn với rất nhiều đạt gang. Cũng tương truyền G̣ Chợ là nơi xưa quan Tây Sơn tổ chức vui chơi và hội họp.

(17) Đại Nam nhất thống chí, Sách đă dẫn, tr.16.

(18) Đại Nam chính biên liệt truyện, tr.78. Hiện ở khu vực xung quanh núi Hàm Long thôn nào cũng có chùa, tên chữ là Thanh Minh tự, thực chất là chùa âm hồn thờ vong linh người chết. Phải chăng điều này phản ánh một thực tế lịch sử rằng nơi đây xưa là một băi chiến trường hết sưc ác liệt.

(19) Nguyễn Doăn Địch (1833-1885) quê làng Tùng Giản huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định, đă từng làm quan nhà Nguyễn, năm 1885 hưởng ứng chiếu Cần Vương tập hợp lực lượng kháng chiến ở B́nh Định, chẳng may bị bệnh nặng, trước khi mất giao quyền chỉ huy nghĩa quân cho Mai Xuân Thưởng. (Xem thêm phần viết về lăng mộ Mai  Xuân Thưởng).

(20) Đại Nam Nhất Thống chí, Sách đa dẫn tr.19

(21) Đại Nam Nhất Thống chí, Sách đa dẫn tr.17

(22) Ở núi Bà có một hang xâu xuyên qua núi, dân địa phương cũng gọi là hang Chàng Lía. Từ của hang phía tây Nam ở thôn An Đức, xă Cát Trinh đến cửa phía đông Bắc thuộc thôn Trung Từ, xă Cát Khánh ước chừng dài đến 10km. V́ hang xâu, hiểm hóc không mấy người dám vào nên đă có biết bao câu chuyện thuê dệt nên những sự tích ly kỳ làm cho hang càng thêm huyền bí.Cách hang không xa, trên địa phận thôn Phong An có một cái truông mọc nhiều cây may nên cũng được gọi là Truông Mây. Có người cho rằng đấy chính là Truông Mây mà Lía đă cùng cha Hồ chú Nhẫn đă dùng làm căn cứ khởi nghĩa  chống lại chúa Nguyễn. (Xem Quách Tấn: Nước non B́nh Định, sách đă dẫn, tr. 297). Tuy nhiên, ngoài truyền thuyết, hang Lía và Truông Mây ở Phù Cát không có dấu tích ǵ khác.

(23) Theo Gia phả họ Đào ở làng Vĩnh Phúc Thịnh, xă Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước tỉnh B́nh Định. Sách Quốc triều hương khoa lục (NXB thành phố HCM, 1993) cũng chép là Đào đăng Tấn.

(24) Năm 18 tuổi Đào Tấn đă có vở Tân dă được đánh giá cao. Đáng tiếc đến nay có một số vở đă thất lạc. Trong số các vở tuồng của ông c̣n truyền lại đáng chú ư là vở Vạn Bửu tŕnh tường gồm tới 120 quyển mà ông cùng Vũ Đ́nh Thưởng, Ngô Quư Đồng soạn ṛng ră 4 năm trời mới xong. Nét đặc biệt của bộ tuồng này ở chỗ “nhân vật” ở đây lại là các vị thuốc bắc, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động đều dựa theo tính dược mà phô diễn.

(25) Về tiểu sử Đào Duy Tấn xin xem ở mục viết về di tích mộ ông.

(26) Đào Tấn có năm người con trai đều rất hiển đạt, có tiếng trong làng văn.

 

THAY LỜI KẾT LUẬN

 

   B́nh định là mảnh đất mà thiên nhiên luôn là nguồn hứng khởi của thi ca, là nơi có truyền thống lịch sử oai hùng với bề dày văn hoá vô cùng phong phú và đặc sắc. Những danh lam thắng cảnh và di tích được tŕnh bày trong tập sách này thực ra mới chỉ là một phác thảo sơ lược, chưa thể nói là đă lột tả đầy đủ diện mạo một địa phương mà mỗi một tạo tác của thiên nhiên đều có thể xem là một thắng cảnh, mỗi một làng quê, một góc phố dường như đều chứa trong ḿnh biết bao những điều bí ẩn của lịch sử. Để hiểu sâu sắc về B́nh Định, ngoài tập sách này c̣n có những công tŕnh chuyên khảo về địa lư tự nhiên, lchj sử, văn hoá và kinh tế sẽ lần lượt được xuất bản.

   Người xưa có câu “địa linh sinh nhân kiệt”. Đất B́nh Định không “linh”, núi sông B́nh Định không “thiêng” sao có thể sinh ra những người con anh kiệt như Nguyễn Huệ-Quang Trung, một anh hùng dân tộc đă làm rạng danh non sông đất Việt và chiến tích oai hùng được ghi lại trên khắp mọi miền đất nước? Rồi nữa, trong lịch sử B́nh Định đă có biết bao người vốn quê hương không phải ở đây nhưng nhờ vùng đất này dung dưỡng tài năng, hun đúc ư chí để rồi làm nên những sự nghiệp lớn mang tầm vóc quốc gia. Đó là nét hết sức đặc biệt  của B́nh Định. Nhưng do giới hạn không gian hành chính, tập sách chỉ tŕnh bày những sự kiện ấy, nhân vật ấy thông qua các di tích liên quan trên đất B́nh Định hiện nay. Nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng đă nói lên được nhiều điều. Những di tích bấy lâu yên lặng mặt cho thời gian huỷ hoại thành những phế tích hoang tàn, để cho rêu phong phủ kín qua từng năm tháng, cảnh trí thiên nhiên tưởng như vô tư trầm lắng trước mọi đổi thay của thời cuộc th́ nay tất cả đều đang thất tỉnh hồi sinh. Sự nghiệp đổi mới của cả nước và ở B́nh Định đang thổi một luồng sinh khí mói đưa chúng vào hoà nhập với cuộc sống hôm nay. Những thắng cảnh đang được tôn tạo, những di tích đang được trùng tu. Giờ đây, khi nói về danh thắng và di tích không chỉ để hoài niệm và ngợi ca mà hơn thế, c̣n là để nhắc nhở những thế hệ hôm nay và mai sau hiểu roc hơn về nét đẹp của B́nh Định, làm cho bè bạn gần xa thêm yêu mến thiên nhiên, truyền thống lịch sử – văn hoá và con người B́nh Định. Đấy là ước vọng cao nhất của người viết tập sách này.