Phân tích phép quân điền ở B́nh Định

            Địa bạ B́nh Định giữ một vị trí đặc biệt trong sưu tập địa bạ toàn quốc Vệt Nam xưa. Theo nguyên tắc, địa bạ chỉ làm một lần khi tiến hành công cuộc đo đạc và xác định chủ quyền sở hữu, c̣n điền bạ th́ mỗi năm làm một lần để tính thuế. Sau khi khui tất cả 10.044 tập địa bạ của 29 thị- tỉnh đương thời, chúng ta thấy trường hợp duy nhất ở B́nh Định là có làm địa bạ hai lần: Lần thứ nhất vào năm 1815, lần thứ hai vào năm 1839. Tại sao thế? V́ đến năm 1839, triều đ́nh Huế cho thi hành phép quân điền, nghĩa là đem chia ruộng lại(một nữa cho công điền, một nữa cho tư  điền), cũng tức là làm lại các sổ địa bạ cho toàn tỉnh. Có thể nói đây là biến cố rất trọng đại trong lịch sử ruộng đất cũng như trong lịch sử cải cách ruộng đất của Việt Nam.

            Phân tích kỹ các sổ địa bạ B́nh Định trước và sau quân điền sẽ giúp ta hiểu rơ hơn lịch sử ruộng đất, đời sống kinh tế xă hội nông thôn, t́nh h́nh hành chính phép vua –lệ làng và nói chùng cả nền văn minh của Việt Nam xưa.

I

CÁC SỔ ĐỊA BẠ TRƯỚC VÀ SAU QUÂN ĐIỀN

            “Toàn hạt có 678 thôn ấp” (1)

            Vậy theo lư thuyết, phải c̣n lưun giữ 678 sổ trước khi quân điền và 678ˆ sổ sau khi quân điền. Như thế việc mới đúng là 100 phần 100.

            Nhưng nay chỉ c̣n: 599 sổ trước quân điền(thiếu 119 sổ) và 648 sổ sau quân điền (thiếu 30 sổ).

            Khi đem đối chiếu từng cặp (1 sổ trước với 1 sổ sau quân điền), ta thấy chỉ c̣n 535 cặp đầy đủ. Trong danh mục so sánh giữa địa bạ 559 ấp (trước quân điền) với địa bạ thôn (sau quân điền) (1), chỉ có 533 địa bạ thôn tương ứng với 535 địa bạ ấp – v́ có 2 ấp Vĩnh Hoa Đông, Vĩnh Hoa Tây tổng Thượng Huyện Phù Ly hợp với thành thôn Vĩnh Hoa tổng Trung Tĩnh huyện Phù Mỹ và 2 ấp Tiên Phong Nhuệ Nhứt, Tây Sơn Nhứt thuộc thời Hoà huyện Tuy Viễn nhập thành thôn Tiên Hoá tổng Thời Hoà huyện Tuy Viễn- với 24 ấp “lẻ”không có địa bàn thôn tương ứng (chắc 24 địa bàn thiếu này nằm trong số 30 địa bàn thôn đă bị mất). Tóm lại chúng đă có đủ dữ kiện để so sánh 535 cặp địa bạ trước và sau quân đièn, trên tổng số 678 cặp địa bạ phải so sánh, tức mới được 78,90%.

            Đối với 145 trường hợp c̣n lại (678-533), chúng có thể phỏng tính trên cơ sở 24 địa bạ “ấp lẻ” trước quân điền, 115 địa bạ “thôn lẻ”sau quân điền (648-533), 4 cặp địa bạ mất hết và 2 thôn mới lập mất địa bạ(24+115+4+2=145). Như  vậy, chúng ta sẽ đạt được một kết quả khả quan.

            Như trong Dẫn Nhập đă tŕnh bày: Theo đợt kiểm kê I ở Huế (có lẽ từ năm 1942), cho toàn B́nh Định, c̣n lưu giữ được  1.222 địa bạ; song ở đợt kiểm kê II (từ những năm 1960 ở Đà Lạt), đă thấy mất 13 quyeenrvaf chỉ c̣n lưu giữ được 1.209 địa bạ. Riêng ở thôn Vĩnh Thịnh huyện B́nh Khê (địa bạ lập  năm 1917) không có mă số nên không được tính vào bảng thống kê trên. Có lẽ những người ghi mă số cả 2 được kiểm kê đều không nắm t́nh h́nh quân điền năm 1839 ,nên đă xếp đặt lung tung không theo hệ thống hành chính đương thời. Chùng tôi phải làm phiếu riêng từng sổ địa bạ xong xuôi mới thấy là 559 địa bạ ấp và 650 địa bạ thôn. Ap là đơn vị lập địa bạ thời trấn và thôn là đơn vị lập địa bạ thời tỉnh, nghĩa là 599 địa bạ trước quân điền (trong số này có một địa bạ thôn An Khê tổng Phú Phong mang mă số H15 và một địa bạ thôn Quang Hiển Thượng mang mă số G94 chỉ có tính phụ chép). Trừ 2 địa bạ vừa kể, nay chỉ c̣n 648 địa bạ thôn được lập khi quân điền. Vậy chúng ta có 2 hệ thống hành chính như sau:

TRẤN B̀NH ĐỊNH

(Phủ Quy Nhơn)

            Gồm 3 huyện:

I. Huyện Bồng Sơn gồm 3 tổng với 131 ấp (+ 19 ấp mđb):

            1.Tổng Thượng có 44 ấp (+4 ấp mđb)

            2.Tổng Trung có 54 ấp (+4 ấp mđb)

            3.Tổng Hạ có 33ấp (+11 ấp mđb)

II. Huyện Phù Ly gồm 3 tổng với 202 ấp (+ 35 ấp mđb):

1.      Tổng Thượng có 29 ấp (+ 35 ấp mđb)

2.      Tổng Trung có 120 ấp (+5 ấp mđb)

3.      Tổng Hạ có 53 ấp(+ 21 ấp mđb).

III. Huyện Tuy Viễn gồm 1 tổng và 6 thuộc với 225ấp, 1 trang (+ 41 ấp mđb, chưa kể 6 ấp mđb khác căn cứ địa bạ thôn):

            1. Thuộc Vơng Nhi có 10 ấp (+ 5 ấp mđb)

            2. Thuộc Hà Bạc có 17 ấp (+ 5 ấp mđb)

            3. Thuộc Sơn Điền có 5 ấp, 1 trang

            4. Tổng Vân Dương có 4 ấp (+ 11 ấp mđb)

            5. Thuộc Thời   87 ấp (+ 13 ấp mđb)

            6. Thuộc Thời Đôn có 59 ấp (+ 2 ấp mđb)

            7. Thuộc Thời Hoà có 43 ấp (+ 5 ấp mđb)

            Tổng cộng c̣n 559 địa bạ gồm 558 địa bạ ấp và 1 địa bạ trang. Qua nghiên cức tứ cận, chúng tôi thấy có 101 ấp mất địa bạ phân bổ theo đơn vị hành chính như ghi trên (“Danh sách các ấp mất địa bạ”, trang 218). Như vậy trong thời gian trấn, có tất cả 660 ấp – trang lập địa bạ (559+101). Chúng tôi đă làm bảng đối chiếu 660 ấp voái 658 thôn (v́ có 4 ấp gom vào thành 2 thôn).Số 18 thôn chênh lệch đó (678-660) với 2 thôn mới lập bị mất địa bạ, nằm trong “Danh sách 20 thôn mới lập” (trang 577).

 

TỈNH B̀NH ĐỊNH

Gồm 2 phủ, 5 huyện, 14 tổng, 647 thôn và 1 trang

(+30 thôn mđb)

* PHỦ HOÀI NHƠN:

(Có 3 huyện với 394 thôn c̣n địa bạ và 28 thôn mất địa bạ).

I.Huyện Bồng Sơn gồm 4 tổng với 146 thôn (+23 thôn mđb):

            1.Tổng Định Sơn có 14 thôn

            2.Tổng Thượng    có 41 thôn (+8 thôn mđb)

            3.Tổng Trung       có 49 thôn (+ 13 thôn mđb)

            4.Tổng Hạ            có 42 thôn (+ 2 thôn mđb).

II. Huyện Phù Mỹ gồm 3 tổng với 121 thôn (+ 1 thôn mđb):

            1.Tổng B́nhthoot   có 15 thôn

            2.Tổng Trung Tĩnh có 37 thôn (+1 thôn mđb)

            3.Tổng Trung B́nh có 69 thôn.

III. Huyện Phù Cát gồm 2 tổng với 127 thôn (+ 4 thôn mđb):

            1. Tổng Trung Tĩnh có 54 thôn (+ 1 thôn mđb)

            2.Tổng Trung B́nh có 73 thôn (+ 3 thôn mđb).

** PHỦ AN NHƠN

(Có 2 huyện với 253 thôn, 1 trang c̣n địa bạ và 2 thôn mđb)

I.Huyện Tuy Phước gồm 3 Tổng với 145 thôn, 1 trang (+ 1 thôn mđb)

            1. Tổng Vân Dương có 50 thôn, 1 trang (+ 1 thôn mđb)

            2.Tổng Tuy Hà         có 53 thôn

            3.Tổng Thời Tú        có 40 thôn.

II. Huyện Tuy Viễn gồm2 tổng với 108 thôn (+ 1 thôn mđb)

1. Tổng Thời Đôn có 62 thôn (+1 thôn mđb)

2. Tổng Thời Hoà có 46 thôn.

* .Tổng Phú Phong có 1 địa bạ lập năm 1873

*. Huyện B́nh Khê lập năm 1888 c̣n 1 địa bạ lập năm 1917.

            Như vậy, 648 thôn trang c̣n địa bạ và 30 thôn mất địa bạ cộng thành 678 thôn trang. Con số này hoàn toàn phù hợp tư liệu do Thực Lục đưa ra. Ngoài “Danh sách 30 thôn mất địa bạ (tr 576), chúng tôi đă lập một “ Danh sách 678 thôn trang” (tr.923) của tỉnh B́nh Định khin tiến hành quân điền. Danh sách này xếp đặt theo thứ tự ABC và được xác định vị trí trên bản đồ 1/100 000 in kèm.

            Tên đặt cho các thôn vừa đẹp vừa hợp lư hơn tên các ấp (v́ ấp c̣n chia ra chính hộ và khách hộ, c̣n chịu nhiều hệ thống khác nhau như thôn- xă-phường, đă có tổng lại có thuộc).Tên ấp thường nôm na và dài ḍng ( thí dụ như Nước Ngọt phụ  luỹ khách hộ ấp…). Tên thôn chỉ gồm 2 chữ. Tên phủ huyện tổng đều khác nhau, hơn nữa trong một tổng không có 2 thôn trùng tên.

Hai chữ của tên thôn thường là chữ đẹp ư hay. Nếu biết 21 chữ sau đây, chúng ta sẽ đọc được chữ đầu của địa danh 405 thôn trong tổng số 678 thôn:

                        54 thôn có tên bắt đầu bằng chữ  An

                        40                                -                          Phú

                        31                                -                          Vĩnh

                        30                                -                          Tân

                        29                                -                          Chánh

                        20                                -                          Vạn

                        19                                -                          Mỹ

                        19                                -                          Xuân

                        17                                -                          Đại

                        17                                -                          Hội

                        16                                -                          Trung

                        14                                -                          Hoà

                        14                                -                          Khánh

                        13                                -                          B́nh

                        12                                -                          Thanh

                        10                                -                          Thuận

                        11                                -                          Hoa

                        10                                -                          Gia

                        9                                  -                          Hưng

                        9                                  -                          Long

                        9                                  -                          Lộc

 

HAI LỜI MỞ ĐẦU ĐỊA BẠ TRƯỚC VÀ SAU

 QUÂN ĐIỀN  RẤT KHÁC NHAU

            Sổ địa bạ nào cũng bắt đầu bằng một câu xưng danh khai báo. Không biết thời Lư- Trần câu đó viết như thế nào, nhưng từ đời Lê- Nguyễn th́ câu đó đại khái như sau: Chúng tôi tên là Mỗ, xă trưởng hay hương mục của xă thôn hay ấp Mỗ, thuộc tổng huyện phủ Mỗ, nay khởi sự căn cứ theo các hạn ruộng đất công tư của bản thôn,ở tại nơi nào, đông tây tứ cận,mẫu sào thước tất bao nhiêu, loại hạng nào, xin kính khai bẩm……

            Các sổ địa bạ lập năm 1815 ở B́nh Định cũng bắt đầu tương tự như thế.

            Tuy nhiên các sổ địa bạ lập hồi quân điền 1839 tại B́nh Định  lại mở đầu như sau:

            “Chúng tôi tên là Mỗ, lư trưởng hay hương mục của thôn Mỗ thuộc tổng huyện phủ Mỗ, nay xin tuân lệnh cúi đầu làm lại sổ đại bạ(vi cải tu điền bạ sư), theo đúng chiếu dụ: Như số tư điền hiện có, lấy phân nữa làm công điền phân cấp cho binh dân, phân nữa làm tư điền phân cấp chop chủ cũ, thôn chúng tôi phụng mệnh ghi rơ sau đây số công tư điền thổ, tên người phân canh hay phụ canh”.

PHÂN TÍCH HAI SƯU TẬP ĐỊA BẠ B̀NH ĐỊNH

            Sau đây là tóm lược thống kê diện tích các loại điền thổ của 599 ấp và 648 thôn c̣n địa bạ.

            1.Thống kê các loại điền thổ của trấn B́nh Định:

Tóm lược thống kê 559/660 địa bạ ấp lập năm 1815)

Tổng diện tích đă đo đạc 75433.4.2.7.8.6.5.8 (75433 mẫu -4 sào -2 thước -7tấc -8 phân – 6 ly- 5 hào -8 hốt):

            a.Diện tích điền thổ thực canh               74130.2.  4.1.9.8.5.8

               -Diện tích điền                                               71925.9.  2.6.1.4.6.8

               -Diện tích diêm điền                                 42.3.12.6.3.1.3

               -Diện tích thổ                                        2161.9. 3.9.5.2.6

            b. Dân cư thổ                                            849.5.11.0

            c. Các loại ruộng đất khác                         404.2 . 2.5.8.8

            d. Lưu hoang điền thổ                                  49.4 . 0.0

Trong diện tích điền thổ thực canh 74130.2.4.1.9.8.5.9(98.27%):

- Diện tích điền (kể cả diêm điền)              71968.3.  0.2.4.5.9.8

- Diện tích thổ                                             2161.9.  3.9.5.2.6

Như vậy, điền chiềm tỷ lệ 97,08 % thổ chiếm tỷ lệ 2,92 %

Trong diện tích điền 71968.3.0.2.4.5.9.8:

-Diện tích quan - công điền                   6452.7.14.4.5.5.8

            .Quang điền                                                      1633.7. 8.1.5.7.6

            .Công điền                                                        4819.0. 6.2.9.8.2

Diện tích tư điền (kể cả diêm điền)  65515.5. 0.7.9.0.1.8

Như vậy, quan công điền chiếm tỷ lệ8,97% tư diền chiếm tỷ lệ 91,03%.

Quan điền là loại ruộng của nhà nước do quan chức quản lư, để cho lính hoặc dân cày cấy với mức thuế cao. Công điền cũng là ruộng của nhà nước , nhưng xă thôn quản lư, để cho dân cày cấy theo khẩu phần và định kỳ cho nhà nước ban hành. Ở B́nh Định trước quân điền 1839, diện tích quan điền tương đối có khá nhiều, chiếm 25,32% của cả quan – công điền. Có lẽ v́ đây là đất Tây Sơn nổi dậy, nên nhiều phần tử chủ chốt hoặc a ṭng đă bị tịch biên tài sản. Danh sách 129 ấp có quan điền được đặt ở trang 506. Ngoài số Tam Bảo quan điền, tức ruộng dành cho nhà chùa, và thảo quản điền là những loại diền chiếm một diện tích nhỏ, trang trại quan điền thường chiếm diện tích lớn.Tất cả có 10 ấp có Tam Bảo quan điền ,8 ấp có trang trại quan điền, 3 ấp có thảo quản điền và 108 ấp có tư điền bị tịch biên thành quan điền. Năm 1839, khi tiến hành quân điền, nhà nước đem toàn bộ khối quan điền chuyển toàn bộ vào khối công điền để phân phát cho dân cày cấy.

            Như đă nói trên,công điền là loại thuộc sở hữu quốc gia,để cho quản thôn quản lư, được chia cho dân làng cày cấy theo khẩu phần và định kyfdo nhà nước ban hành. Thông thường, công điền ở nơi nào th́ phân phát cho dân nơi ấy. Nhưng ở B́nh Định có hoàn cảnh riêng, một ít làng có công điền “thừa túc số” nên được giành cho dân làng gần đó không có hoặc thiếu công điền.

Nơi trang 503 có “Danh sách 54 ấp chính hộ có công điền cho sở tại” và trang 505 có “Danh sách 39 ấp có công điền cho nơi khác”. Tổng số diện tích công điền là 4819.0.6.2.9.8.2, trong đó:

411.9.3.5                                          công điền sở tại

                         707.1.2.7.9.8.2           công điền cho nơi khác.

            Trong diện tích thổ toàn trấn 2161.9.3.9.5.2.6 có:

            -Quan thổ                                                                     23.1 . 7.8

                        .Quan thổ canh                                     18.6.14.8

                        .Quan viên thổ                                        0.3.  9.5

                        .Quan viên lang thổ                                 2.4.  7.5

                        .Quan tang căn thổ                                  0.7.10.0

                        .Quan pha thổ (đất bồi)                           0.8.11.0

            -Công thổ                                                                     47.1.5.0.1.

                        .Công thổ canh                                     35.1.5.3.8.4

                        .Công tang căn thổ                                  7.2.8.7.6.6

                        .Công thổ cho nơi khác                           4.7.5.8.6.3

            -Tư thổ                                                                  2091.6. 6. 1.3.9.6

                        .Tư thổ canh                                   1984.2.10.2.9.4.6

                        .Tư viên lang thổ                                                 0.7.  0.0

                        .Tư tang căn thổ                                           106.6.10.8.4.5

Như vậy, quan – công thổ chiếm 70.2.12.8.1.3 tức 3.25%, tư thổ chiếm 2091.6.6.1.3.9.6 tức 96,75%.

            Quan công điền ở B́nh Định chiếm thiểu số là 8,97%, Quan công thổ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nữa là 3,25%.

            Dân thổ cư toàn trấn chỉ có 849.5.11.0, chiếm tỷ lệ 1,13% của tổng diện tích. Dân cư thổ nguyên là công thổ, nhưng không chia lại theo định kỳ như công điền, v́ nhà nước muốn cho dân có chỗ cư trú ổn định. Lâu ngày,dân cư thổ biến thành tư hữu, nhưng vẫn được chịu thuế nhẹ theo hạng công thổ.Xă hội Việt Nam thường người sống, trọng người chết,nên đánh thuế nhẹ nơi cư trú và miễn thuế cho nghĩa trang mộ địa.

            Các loại ruộng đất khác chiếm 404.2.2.5.8.8, tức  0,54% toàn diện tích.Đó là các loại ruộng đất dùng vào việc tế tự, xây dựng đền miếu, công quán, thành tŕ, chợ búa … Nhưng hai loại rừng chằm (56.6.4.0.6.5) và ao cá (320.8.0.7.3) đă chiếm tới 94,10 % của diện tích chung các loại. Các loại ruộng đất này thuộc sở hữu của nhà nước, hoặc để công dụng, hoặc cho trưng thầu lấy thuế.

            Điền thổ lưu hoang không đáng kể, chưa đến 1 phần 1.000 (0,06 %).

            Ngoài ra c̣n có các loại ruộng đất khác không đo đạc cẩn thận mà chỉ ghi đại khái bằng sở, khoảnh, chẳng hạn Miếu Bát giác Công thần 1 sở, ruộng muối 1 sở, đất đ́nh miếu 1 khoảnh, mộ địa 1.338 khoảnh (cả trấn) …, hoặc chỉ đo theo chiều dài bằng tầm, thước, như đường thiên lư 45.372 tầm 1 thước 9 tấc, bến đ̣ 382 tầm … Tất cả các loại ruộng đất này đều thuộc sở hữu nhà nước và để công dụng, không cho trưng thầu lấy thuế, nên không đo đạc kỹ lưỡng.

2.Thống kê diện tích các loại điền thổ của tỉnh B́nh Định:

            (Tóm lược thống kê 648/678 địa bạ thôn lập năm1839)

Tổng diện tích đă đo đạc 85903.3.10.3.4.8.7.1.7:

- Diện tích thực dụng 78013.6.12.3.7.0.5.1.7 chiếm 92,82 %

- Diện tích lưu hoang 7889.6.12.9.7.8.2 chiếm 9,18 %

            Trong diện tích thực dụng 78013.6.12.3.7.0.5.1.7 có :

- Diện tích điền thổ thực canh 76875.6.8.1.1.0.5.1.7

            (98,54 %)

- Dân cư thổ  898.2.7.7 (1,15%)

- Các loại ruộng đất khác 239.7.11.5.6 (0,13%)

            Trong diện tích điền thổ thực canh     76875.6.8.1.1.0.5.1.7 có:

- Diện tích điền 74337.6. 7 .3.8.4.0.4.7 chiếm 96,70 %

- Diện tích diêm điền   41.2.12.8.4.6.8.3    chiếm   0,05 %

- Diện tích thổ      2496.7 .2.8.7.9.6.4    chiếm   3,25 %

- Trong diện tích điền (kể cả diêm điền) 74378.9.5.2.3.0.8.7.7 có:

- Diện tích công điền 40009.7.13.6.6.2.5.5:

            . Công điền sở tại                      37494.8.9.2.1.3.3.5 chiếm 93,714 %

            . Công điền cnk                          2399.5.11.4.9.4.2  chiếm   5,997 %

            . Công điền Tam Bảo    84.5. 7 .9.5.5   chiếm   0,2112 %

            . Công điền Tam Bảo cnk 2.0.10

            . Công điền tự thần         9.0.0.0

            . Công điền tước bạ      12.0.0.0

            . Ương thổ ṭng CĐ        6.7.5.0

            . Ương thổ ṭng CĐ cnk             0.6.0.0

            . Công điền miễn thuế     0.4.0.0

            Như  vậy, đáng kể hơn cả là công điền sở tại (93,71 %) và công điền cho nơi khác giúp ta hiểu rằng nguyên tắc “pháp vua thua lệ làng” không được áp dụng trong những ǵ có liên quan đến tài sản và an ninh quốc gia, đồng thời cho ta thất tính tương trợ giữa các xă thôn với nhau.

- Diện tích  điền 34369.1. 6.5.6.8.3.2.7:

            . Tư điền (trồng lúa)          34327.8.8. 7.2.1.4.9.7

            . Diêm điền (ruộng muối)           41.2.2. 8.4.6.8.3

            Ruộng muối so với ruộng lúa không được bao nhiêu, chỉ có trên 1 phần 1.000.

            Tóm lại, trong 74378.9.5.2.3.0.8.7.7 diện tích điền có:

            - Công điền      40009.7.13.6.6.2.5.5    chiếm 53,7923 %

            - Tư điền               34369.1. 6 .5.6.8.3.2.7 chiếm 46,2081 %

đồ tỷ lệ diện tích công - tư điền

            Trong diện tích thổ cả tỉnh 2496.7.2.8.7.9.6.4 có:

- Công thổ 86.2.12.5.4.3 chiếm 3,45 %

- Công thổ sở tại           73.7 .3.2.0.2

- Công thổ cnk 12.5. 9.3.4.1

- Tư thổ 2410.4.5.3.3.6.6.4 chiếm 96,54%

             . Tư thổ                       2409.9 .5.3.3.6.6.4

             . Tư thổ mới khẩn              0.5 .0.0

            Ở B́nh Định, nếu đă có công điền cho nơi khác, th́ cũng có công thổ cho nơi khác; tuy số lượng tuyệt đối không bao nhiêu, nhưng tỷ lệ lại khá cao (14,50%).

            Nói chung, tư thổ ở B́nh Định hầu hết để trồng dâu nuôi tằm. Các loại vóc nhiễu, nhất là đũi lụa ở xứ này nổi tiếng bền đẹp từ mấy trăm năm nayvaf là mặt hàng xuất khẩu được nhiều nước ngoài ưa chuộng.

            Dân cư thổ toàn tỉnh có 898.2.7.7 đều thuộc hạn công thổ, song không đem phân chia theo định kỳ như công điền thực canh, nên lâu ngày biến thành tư thổ, nhưng vẫn được biệt đăi chịu thuế theo hạng công thổ.

            Các loại ruộng đất khác  đo được 239.7.11.5.6 nhưng chỉ riêng hai loại đất làm thành luỹ và ao cá ( 24.0.2.1.9 +197.8.1.8.7) đă chiếm tỷ lệ 92,53 %của toàn diện tichs trên ao cá(82,51%) để làm cho dân  trưng thầu lấy thuế; 17,49 % c̣n lại là tịch điền, thành luỹ, đất làm phủ huyện ly, trạm xá, công khố, văn thánh- công thần miếu … thuộc quốc dụng; và đ́nh chùa, chợ búa, mộ địa … thuộc dân dụng.

            Điền thổ lưu hoang rộng 7889.6.12.9.7.8.2, trong đó

            - Công điền thổ hoang hoá  409.2.5.7.4.8.2

              . Công điền hoang hoá 407.7.5.7.4.8.2

              . CĐ bị phá nước                       0.5.0.0

              . Công thổ hoang hoá     1.0.0.0

            -Tư điền thổ hoang hoá 7360.6. 6.8.6.5

              . Tư điền hoang hoá    7355.5.14     .0.2.5

              .Tư điền ngập nước          0.5. 7.3.4

              . Tư điền bị nước phá       4.5. 0.5

              . Tư thổ hoang hoá       106.3. 0.3.6.5

            -Hoang nhàn thổ 13.5.0.0

            Hoang nhàn thổ là đất c̣n bỏ hoang, chưa khai phá, vẫn thuộc quốc gia công thổ, chưa biết sẽ thành công điền thổ hay tư thổ, v́ c̣n tuỳ phương thức khai hoang.

            Ngoài ra, c̣n các loại tính theo khoảnh, sở, hoặc đo theo chiều dài. Như mộ địa có tới  1.552 khoảnh, rừng cấm 7 khoảnh, đất  ngập nước 28 khẩu (48,94 x 28= 1370,32 m2), cát trắng 30 khoảnh, đất đ́nh miếu 5 khoảnh, đường thiên lư trên 25.636 trượng, bến ddofˆ trượng … Nói chung, rừng núi, bờ biển, băi cát chưa được đo ddacjvaf các cơ sở hạ tầng cũng như đất đai thuộc quốc dụng không phải chịu thuế th́ chỉ được ghi nhận có bao nhiêu khoảng sở. Các đường thiên lư và sông ng̣i được đo chiều dài kỹ lưỡng hơn để tính đường chạy trạm và vận chuyển cho chính xác, đó là điều dễ hiểu.

3.Diện tích phân phối không đều

            Những số liệu trên đây dựa trên 648/678 địa bạ thôn ở thời điểm 1839. Ở cấp bậc 2 phủ, 5 huyện, 14 tổng, chỉ tính trên diện tích điền thổ thực canh(không kể dân cư thổ, các loại ruộng đất linh tinh, hoang nhàn thổ).

đồ diện tích thực canh của 2 phủ

 

P.An Nhơn                   32959.1.14.5.9.2.9.3                          

P.Hoài Nhơn    43916.4. 8.5.1.7.5.8.7

T.B́nh Định                  76875.6. 8.1.1.0.5.1.7

                        º An Nhơn                    º Hoài Nhơn

Sơ đồ diện tích thực canh của  5 huyện

H. Phù Mỹ                   12118.2. 4.1.0.6.8

H. Tuy Viễn      13502.9. 3.0.9.6.4

H. Phù Cát                   14320.1. 4.9.0.8.7.5.7

H. Bồng Sơn    17478.0.14.5.0.2.0.3

H. Tuy Phước   19456.2.11.4.9.6.5.3

 


T. B́nh Định     76875.6. 8.1.1.0.5.1.7

 

 

 

đồ diện tích thực canh của 14 tổng

                        B́nh Hà PM                 304.2. 9.1.5.6.3

                        Địa Sơn BS                              745.1. 1.7.9.1.3.3

                        Trung Tĩnh PM          3034.1.13.6.5.5

                        Thượng BS                            4299.2. 6.7.1.1

                        Thời Hoà TV             5037.9. 4.9.8.6.4

                        Trung BS                               5457.2.13.5.6.2.5.3.4

                        Trung Định PC          5818.1. 8.8.4.2

                        Vân Dương TP          5927.5.12.5.8.8.3

                        Tuy Hà TP                            6280.8.14.4.9.0.0.3

                        Hạ BS                       6976.4. 7.4.3.7.1.6.6

                        Thời Tú TP                            7247.7.14.4.1.8.2

                       Thời Đôn TV              8464.9.13.1.1

                        Trung An PC             8501.9.11.0.6.6.5.5.7

                       Trung B́nh                             8779.6.11.2.9.5.5

                       T. B́nh Định             76875.6. 8.1.1.0.5.1.7

 

            Sự phân phối ruộng  đất càng ở cấp hành chính thấp càng chênh lệch:2 phủ chỉ chênh lệch nhau từ 42,87 % đến 57,13 %; 5 huyện chênh lệch nhau từ 15,76 % đến 25,30 %; 14 tổng chênh lệch nhau từ 0,39 % đến 11,42 % (nghĩa là gần 30 lần diện tích tổng  B́nh Hà PM mới rộng bằng một tổng Trung B́nh cùng huyện).

            Sự chênh lệch về diện tích chung ( kể cả dân cư thổ, các loại ruộng đất khác và lưu hoang) của 648 thôn lại c̣n khác biệt hơn nữa. Chúng ta có:

            67 thôn có từ      8   sào    đến gần        25 mẫu.

            81        -                      25 mẫu  -                       50  -

            69        -                       50  -                -                       75  -

            68        -                       75  -                -                       100 -

            75        -                       100 -                -                       125 -

            67        -                       125 -                -                       150 -

            42        -                       150 -                -                       175 -

            50        -                       175 -                -                       200 -

            62        -                       200 -                -                       250 -

                        30        -                       250 -                -                       300 -

            20        -                       300 -                -                       400 - 

            10        -                       400 -                -                       500 - 

            3          -                       500 -                -                       559 - 

            1          -   614.7.14.3.0.5

            1          -   619.1.  3.2

            1          -   808.2.  0.4.3.7

            1          -   901.4.13.7.6.5

            Nếu tính b́nh quân, mỗi thôn có 132 mẫu 5 sào dư (85903.3.10.3: 648), th́ tới 377 thôn, tức 58,18 % số thôn, chỉ có diện tích dưới mức b́nh quân(xem “danh mục diện tích của 648 làng”, tr. 901).Riêng thôn Hữu Pháp thuộc tổng Trung An huyện Phù Cát có tới trên  901 mẫu ruộng, tức bằng diện tích của 63 thôn cộng lại, từ thôn Thiết Trường có tới trên 8 sào đến thôn An Tân có gần 3 mẫu (xem danh mục nói trên).

Thôn Hữu Pháp rộng gần bằng diện tích 2 tổng B́nh Hà (Phù Mỹ) và Định Sơn (Bồng Sơn) cộng lại!

III

THI HÀNH PHÉP QUÂN ĐIỀN HỒI 1839

            Trước hết ta ghi nhận là phép quân điền chỉ thi hành đối với ruộng (điền), chứ không đụng chạm đến đất (thổ), v́ ruộng là phần quan trọng hơn

            Về số thôn cần phép thi hành quan điền, Thực Lục  ghi rơ: “Toàn hạt có 678 thôn. Trừ 30 thôn có ruộng công tư ngang nhau, 1 thôn xiêu tán, 2 thôn không giản lính, vậy số thôn cần quân điền là 645 thôn” (1).

            1.T́nh h́nh trước khi quân điền

            Trong sưu tập địa bạ lập hồi 1839, chúng ta thấy mất địa bạ 30 thôn và không biết 2 thôn nào “ không giản (chọn) lính” cũng như thôn nào “xiêu tán”,nên kết quả nghiên cứu sẽ ở mức độ khả quan chứ không được hoàn toàn chính xác.

            Về “30 thôn có công điền và tư điền ngang nhau”,chúng ta có “Danh sách 197 ấp có công điền và quan điền”(tr.510). Nên biết rằng khi quân điền, nhà nước xoá bỏ qui chế quan điền, chuyển tất cả quan điền vào công điền để đem chia. Đọc kỹ danh sách này, chúng ta thấy có 20 ấp có trên 50,00% công điền và 17 ấp có trên 40.00% công điền.

            Tổng số diện tích công điền và quan điền theo danh sách trên là 6452.7.14.4.5.5.8, so với tổng diện tích điền của cả trấn (chỉ c̣n 559 ấp) là 71925.9.2.6.1.4.8, tức chiếm 8,9 %.

            Nếu tách công điền (“Danh mục 91 ấp có công điền”, tr.500) ra khỏi quan điền ( “Danh mục 129 ấp có quan điền”, tr.506), ta có:

            -Công điền 4819.0.6.2.9.8.2

            -Quan điền 1633.7.8.1.5.7.6

            Như vậy th́ công điền chiếm tỷ lệ càng ít hơn nữa, chỉ 6,70 % (4819.0/71925.9).

                        Nhưng dù với tỷ lệ nào, cũng gần như Thục Lục đă ghi: “Tổnh đốc B́nh Phú Vơ Xuân Cẩn … nói:một hạt B́nh Định, công điền chỉ có trên 5 ngh́n mẫu. Tư điền thường bi bọn hào phú chiếm cả, người nghèo không nhờ cậy ǵ. Xin lượng xét định ra qui chế,phàm tư điền định hạn cho 5 mẫu,ngoài ra làm công  điền cả, chia cấp cho binh dân để làm lương điền và ruộng khẩu phần giúp cho (binh, dân) sinh sống” (1)

            Chỉ 197 ấp có công điền và quan điền – tức 35,24 % số  559 –c̣n địa bạ – là có chút ít ruộng công, 64,76%  số ấp c̣n lại hoàn toàn không có quan điền cũng như  công điền.

            2. T́nh h́nh sau khi quân điền

            Chúng ta không có đủ 678 cặp địa bạ (1 địa bạ trước quân điền và 1 địa bạ sau quân điền) để so sánh và phân tích pháp quân điền trên toàn bộ địa phận tỉnh B́nh Định. Nay chỉ c̣n lưu giữ được 559 địa bạ ấp ( trước quân điền) và 648 địa bạ thôn( sau quân điền). Xếp cặp từng đôi 2 địa bạ trước và sau quân điền cũng là một vấn đề phức tạp, v́ hai lư do: 1) Từ trấn sang tỉnh, hệ thống hành chính đă thay đổi. Trấn có 1 phủ, chia ra 3 huyện ṛi tổng và thuộc, sau mới đến xă thô phường ấp (ấp chính hộ khác ấp khách hộ). Tỉnh th́ có 2 phủ, 5 huyện và 678 thôn, hợp lư và đơn giản hơn.2) Một số không ít làng đă đổi tên. Cùng một làng, địa ạ ấp ghi một tên, địa bạ thôn ghi tên khác. Ở trang 578, có “ Danh sách 179 thôn đă được đổi tên”. Đó là chưa kể diện tích mỗi làng cũng thay đổi từ lúc c̣n là ấp tới khi thành thôn.

            1.-Sau khi giải quyết được mấy vấn đề trên, chúng tôi xếp đặt một “Danh mục so sánh 559 ấp với 533 thôn” (tr.969). Theo danh mục này,ta cặp đôi được 535 ấp- thôn,v́ có 4 ấp dồn thành 2 thôn, đó là 2 ấp Vĩnh Hoa Đông và Vĩnh Hoa Tây thu lại một thôn Vĩnh Hoa, 2 ấp Tiên Phong Nhuệ Nhứt và Tây Sơn Nhứt thu lại một thôn Tiên Hoá. Số 24 ấp c̣n lại(559-535) không có thôn tương ứng. Ngoài ra,qua danh mục so sánh này, có thẻ rút ra mấy nhận xét như sau:

            a) 144 cặp ấp- thôn có diện tích ruộng đất y như nhau, số này chiếm tỷ lệ 27,00% tổng số ấp thôn cặp đôi được.

            b) Khoảng 200 cặp ấp- thôn có diện tích gần như nhau, vhir cách biệt 1 đến 10 mẫu là cùng.

            c) khoảng 25 thôn có diện tích nhiều hơn ấp từ 30 đến 100 mẫu. Chỉ độ 5 ấp có diện tích nhiều hơn thôn từ 30 đến 200 mẫu( chẳng hạn ấp Xuân Hội xưa có trên 441 mẫu; 20 năm sau, thôn Xuân Hội chỉ c̣n 209 mẫu).

            d) Tính chung cả công điền và quan điền, tổng số 559 ấp có 197 ấp với diện tich quan công điền 6452.7.14.4.5.5.8 (Danh sách tr.510): 15 ấp có trên 100 mẫu quan- công điền, 29 ấp có từ 50 đến 100 mẫu quan- công điền. Ap có quan công điền ít nhất là 0.0.5.0 (5 thước)( Tây An khách hộ ấp, tổng Hạ huyện Phù Ly) và nhiều nhất là Thời Hoà chính hộ ấp, thuộc Thời Hoà, có 248.0.12.2.

            Riêng công điền lại chia làm 2 loại:

            - Công điền sở tại(cho người trong ấp) 4111.9.3.5

            - Công điền kỳ tại( cho nơi khác cnk)     707.1.2.7.9.8.2

            “ Danh sách n…„ ấp chính hộ có công điền sở tại” đặt ở trang 503. Tính b́nh quân mỗi ấp có 76.1.7.0, nhưng ấp ít nhất có 9.4.7.8 và ấp có nhiều nhất có tới  248.0.12.2.

            “Danh sách 39 ấp có công điền sở tại” đặt ở trang 505,39 ấp này chia ra:36 ấp khách hộ và 3 ấp chính hộ. Tính b́nh quân mỗi ấp có 18.1.4.6.8 ruộng kỳ tại,nhưng ấp ít nhất có 1 sào và ấp nhiều nhất có  69.5.1.3.

            Có điều đáng chú ư là tất cả các công điền sơ tại đều nằm trong địa phận các ấp chính hộ   hầu hết công điền kỳ tại lại nằm tong các ấp khách hộ. Có lẽ đây là yếu tố quan trọng để phân biệt ấp chính hộ với ấp khách hộ.

            Trong “Danh sách 129 ấp có quan điền” đặt ở trang 506 với diện tích chung 1633.7.8.1.5.7.6, ta thấy 16 ấp chính hộ và 113 ấp khách hộ. Ap có ít nhất là 1 sào, ấp nhiều nhất là 169 mẫu 5 sào. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những đơn vị có quan điền lớn từ vài chục mẫu trở lên thường là những trang trại của nhà nước, c̣n những đơn vị nhỏ từ 1 sào đến dăm bảy mẫu th́ đều là ruộng tịch thu của “nguỵ quân” Tây Sơn cũ (1). Tuy nhiên, quan đièn Tam Bảo hay quan điền trang trại th́ cũng để chom dân chúng lĩnh canh, và chịu thuế cao hơn công điền.

                        Tính chung, trong 559 ấp có 75 ấp chính hộ  (“Danh sách 75 ấp chính hộ toàn trấn”, tr. 521), 483 ấp khách hộ và 1 trang. Trong 197 ấp có công điền và quan điền, chúng ta có 58 ấp chính hộ và 139 ấp khách hộ. Trong số 58 ấp chính hộ này, th́ 54 ấp có công điền, 1 ấp có công điền cho nơi khác và 3 ấp có quan điền. C̣n 139 ấp khách hộ th́ đều có quan điền hoặc công điền cho nơi khác. Chúng ta đă biết quan điền nằm ở địa phận khách hộ hay chính hộ th́ cũng hoàn toàn thuộc sỡ hữu của nhà nước và do quan chức quản lư. Phần công điền th́ tuy thuộc sỡ hữu nhà nước nhưng thôn ấp quản lư và để quân phân cho dân ấp. Tất cả 139 ấp khách hộ có quan điền hay công điền cho nơi khác th́ đều là “vô cộng sản”. Đây là sự kỳ thị và phân biệt lớn: chính hộ chiếm hết quyền lợi,khách hộ phải phục vụ chính hộ.

            Đến khi quân điền 1839,  toàn thể các hạng quan điền đều chuyển thành công điền để chia làm lương cho lính và ruộng khẩu phần cho dân theo định kỳ và qui chế nhà nước ban hành. Về phương diện hành chính cũng được cải tổ và giản dị hoá: không c̣n phân biệt chính hộ với khách hộ, tất cả đều gọi là thôn gom thanh 14 tổng (dân cử), chia ra 5 huyện rồi 2 phủ. Triều đ́nh chỉ cử quan chức cai trị ở 3 cấp tỉnh, phủ và huyện.

            2.-Quan trọng hơn cả là “Danh sách so sánh giữa thôn và ấp tương ứng” (từ trang 1003). Danh sách này giúp hiểu được tổng quát vấn đề quân điền ở B́nh Định xưa.Các phủ, huyện, tổng sắp xếp theo hệ thống hành chính khi quân điền, riêng các thôn trong tổng th́ theo thứ tự ABC. Như ta đă biết,nay chỉ c̣n lưu giữ 648 địa bạ thôn (không kể 2 địa bạ thôn lập sau 1839) và 559 địa bạ ấp. Mất địa bạ của 4 thôn- ấp và địa bạ 2 thôn mới lập. Xin tóm tắt t́nh h́nh địa bạ hồi quân điền  bằng sơ đồ sau đây:                                                                                                                     535                            24 lẻ

559 địa bạ ấp

                                                533                              115 lẻ                               30 mđb

648 địa bạ thôn           

                                                so cặp được 533             115: chỉ có số liệu thôn         

678 thôn                      

                                                                                                                                24     42

            Như vậy, chúng ta sẽ có số liệu so sánh đầy đủ của 535 cặp (535 ấp so với  533 thôn) và tư liệu của 115 thôn “lẻ” sau quân điền, cùng tư liệu của 24 ấp “lẻ” tước quân điền,  4thôn mất địa bạ cả thôn lẫn ấp và 2 thôn mới lập mất đại bạ. Mất địa bạ 6 ấp- thôn tức chưa tới 1 % (6/678), cho nên việc nghiên cứu quân điền sẽ tiếp cận rất gần với thực sự. Sau dây là mấy điều đáng lưu ư:

            a) Số công điền sở tại 4111.9.3.5 là của 54 ấp chính hộ. Công điền kỳ tại (CĐ cnk) 707.1.2.7.9.3.2 nằm trong 39 ấp (3 ấp chính hộ và 36 ấp khách hộ) đều dành cho các ấp chính hộ không có công điền (21 ấp). B́nh quân mỗi ấp chính hộ được trên 64 mẫu 5 sào (4819.0.6.2.9.8.2 : 75). C̣n lại 1 trang và 483 ấp khách hộ th́ hoàn toàn không được chia công điền.

            b) Đến khi quân điền năm 1839, đặc quyền của chính hộ bị băi bỏ. Tất cả các ấp chính hộ và khách hộ đều trở thành thôn với quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau. Quan điền và công điền được nhập chung vào một quĩ thnahf 6452.7.14.1.5.5.8 (1633.7.8.1.5.7.6 + 4819.0.6.2.9.8.2) để thi hành phép quân điền (tính trên cơ sở 559 địa bạ ấp). Khi quân điền xong, số công điền tăng lên 40009.7.13.6.6.2.5.5 (tính trên cơ sở 648 địa bạ thôn),nghĩa là đă công điền hoá 33.557 mẫu nữa (40009.7 -6452.7). Số diện tích công điền hoá phải lầy từ tư điền.

 

Tỷ lệ trước quân điền                                           Tỷ lệ sau quân điền

Text Box: QĐ
2%

 

            (trên cơ sở 559 địa bạ ấp)                     (trên cơ sở 648 địa bạ thôn)

                                   

                    

                                               

            c) Thông thường, công điền toạ lạc ở thôn nào th́ quân phân theo khẩu phần và định kỳ cho dân thôn ấy. Nhưng B́nh Định có hoàn cảnh lịch sử riêng: công điền ở các ấp khách hộ đều thuộc về ấp chính hộ, nên trước khi quân điền có 39 ấp có công điền cho nơi khác (tr.505), sau quân điền có 94 thôn có công điền cho nơi khác (tr.918). Tổng số diện tích công điền cho nơi khác ở 39 ấp là 707.1.2.7.9.8.2 so với diện tích công điền cho nơi khác ở 94 thôn là 2402.2.6.4.9.4.2. Sự cách biệt đă giảm đi: trung b́nh mỗi ấp có công điền cho nơi khác là 18 mẫu 1 sào dư (707.1 :39) so với mỗi thôn có công điền cho nơi khác là 25 mẫu 5 sào dư (2402.2 :94).

            d) Như Thực Lực đă ghi: “Số thôn ấp cần chia ruộng là 645”, Song chùng ta chỉ có thể biết cụ thể cách chai ruộng trong số 533 cặp địa bạ ấp- thôn c̣n lưu trữ. Phép quân điền lại thi hành tuỳ theo hoàn cảnh  mỗi thôn. Tựu trung có những trường hợp tiêu biểu sau đây:

            Nguyên Hoàng Kim Hạ khách hộ ấp, thuộc Thời Tú huyện Tuy Viễn (tr. 1156) có : QĐ 1.0.0.0.,TĐ 145.4.11.6.8.2.5

            Lúc quân điền đổi thành An Phú thôn, tổng Thời Tú huyện Tuy Viễn có: CĐ cnk 1.0.0.0, CĐ 67.6.9.0, TĐ 70.8.2.6.8.2.5

            Như vậy, QĐ trở thành CĐ cnk, tư điền của ấp củ (đă gia tăng thên 8 mẫu), nay chia hai: CĐ 67.6.9.0 (48,85%)và TĐ 70.8.2.6.8.2.5 (51,15%).

            .Nguyên Tăng Vinh khách ấp hộ, thuộc Thời Tú huyện Tuy Viễn (tr.1151) có: QĐ 5.7.0.0, TĐ 241.6.8.8.2.3

            Lúc quân điền là Tăng Vinh thôn, tổng Tuy Hà huyện Tuy Phước có CĐ 107.0.3.0 (52,50%), TĐ 96.8.31.7.3.2 (47,50%).

            Như vậy, khi quân điền, QĐ chuyển cả CĐ sở tại

            Nguyên Trường  Cửu Bả Canh chính hộ ấp, thuộc Thời Đôn huyện Tuy Viễn (tr.1170) có :QĐ 24.3.9.8.5, CĐ 48.6.14.2.6, TĐ 90.5.9.2.9

            Lúc quân điền là Bả Cảnh thôn, tổng Thời Đôn huyện Tuy Viễn có: CĐ cnk 42.1.12.0.9, CĐ 76.9.3.2.2, TĐ 45.8.3.3.9

            Như vậy diện tích QĐ được tăng lên gần gấp đôi và trở thành CĐ cnk, CĐ sơ tại cũng được tăng lên khá nhiều, c̣n tư điền th́ rút xuống quá nữa . Nhưng nếu cộng lại cả 3 loại  -CĐ –TĐ th́ cũng tương đương tổng số CĐcnk + CĐ + TĐ saukhi quân điền.

            Ngyên Chánh Lộc chính hộ ấp, tổng Trung huyện Phù Ly (tr.1089) có: CDD 170.1.7.4, TDD 127.6.10.5.3.3

            Lúc quân Điền là Chánh Lộc thôn, tổng Trung Định huyện Phù Cát có: CĐ 96.1.11.4, CĐ1h 73.9.11.0, TĐ 116.7.10.5.3.3

            Như vậy, cộng CĐ và CĐ1h của thôn th́ y số CĐ của ấp. Chỉ tư điền th́ kém đi 10 mẫu 9 sào chẵn.

            Nguyên Thái Định khách hộ ấp, tổng Trung huyện Phù Ly (tr.1099) có: CĐcnk 9.9.7.5, TĐ 131.5.7.6.5.5

            Lúc quân điền là Thái Định thôn, tổng  Trung Định huyện Phù Cát có CĐcnk 9.9.7.5, CĐ 61.8.8.9.5, TĐ 65.7.8.2.5.5

            Như vậy, CĐcnk vẫn giữu y nguyên, c̣n TĐ ấp chia ra CĐ sở tại và TĐ cho thôn, chỉ kém đi khoảng 4 mẫu.

            Nguyên Trà B́nh khách hộ ấp, tổng Trung huyền Phù Ly(tr. 1078) có QĐ 2.8.1.3.5, CĐcnk 69.5.1.3, TĐ 296.3.10.5.2

            Lúc quân điền là Trà B́nh thôn, tổng Trung B́nh huyền Phù Mỹ có: CĐcnk 69.5.1.3, CĐ 148.8.14.2.9.5, TĐ 145.8.3.9.3.5

            Như vây, CĐ ở ấp cũng như thôn vẫn giữ y nguyên. Tư điền của ấp cộng với QĐ rồi chia cho CĐ và TĐ thôn, chênh lệch nhau khoảng trên 5 mẫu.

            Nguyên Trung Tường khách hộ ấp, tổng Trung huyện Phù Ly(tr 1081) có CĐcnk 32.6.0.0, TĐ 61.0.8.4

            Lúc quân điền là Trung Tường thôn, tổng Trung B́nh huyện Phù Mỹ có: CĐcnk 32.6.0.0, CĐ 29.6.7.0, TĐ 31.4.1.4

            Như vậy, CĐcnk ở ấp cũng như thôn vẫn giữ y nguyên. Tư điền của ấp th́ chia ra CĐ sở tại và tư điến thôn, tổng số như nhau.

            Nguyên Mỹ Đức chính hộ ấp, thuộc Thời Hoà huyện Tuy Viễn (tr. 1195) có: CĐ 100.8.2.7, TĐ 78..0.9.8

            Lúc quân điền là Mỹ Đức thôn, tổng Thời Hoà huyện Tuy Viễn có: CĐ 163.1.4.7.4.5, TĐ 78..0.9.8

            Như vậy, diện tích CĐ tăng lên trong khi TĐ vẫn giữ nguyên. Thôn này nằm trong trường hợp không phải quân điền lại.

            Tóm lại, quân điền tuy có phức tạp tuỳ thôn-ấp, nhưng việc thực hiện kể là thành công và đúng chỉ thị triều đ́nh ban ra: “Phàm các thôn-ấp có số công điền nhiều hơn tư điền, hoặc số công-tư điền điều bằng nhau, th́ không phải lấy ra quân cấp nữa. C̣n chỗ nào tư điền nhiều hơn công điền , thời phải trích lấy một nửa tư điền sung công (1).

 

IV

NHỮNG LOẠI  HẠNG TƯ ĐIỀN  NÀO

ĐƯA VÀO QUÂN ĐIỀN ?

 

            Sách Thực Lục đă chép: “Phàm tư điền định hạn cho 5 mẫu, ngoài ra làm công điền cả, chia cấp cho binh dân để làm lương điền và ruộng khẩu phần  giúp cho sinh sống” (1). Ở một đoạn khác, sách ấy lại ghi : “C̣n như tư điền dù là ruộng công thần, thế tộc, cũng đều cắt lấy một nửa …. Duy có ruộng của khai quốc công thần là Đào Duy Từ, nếu cắt lấy, th́ chuẩn trả cho mỗi mẫu 50 quan tiền (nguyên Đào Duy Từ có 15 mẫu tự điền), giao cho con cháu là Đào Duy Nhẫm để sắm sửa việc thờ cúng”(2).

            1. Phép quân điền ở B́nh Định rất triệt để. Tư điền của công thần hay thế tộc cũng đều bị sung công. Tuy nhiên, ta vẫn chưa hiểu thế nào   tư điền định hạn cho 5 mẫu” nếu không nghiên cứu kỹ từng cặp địa bạ một. Hạn có trên 5 mẫu mới phải chịu phép quân điền hay sao ? Không phải thế, người có vài mẫu cũng phải quân điền. Những ai có nhiều ruộng chỉ được giữ lại 5 mẫu thôi. Sau đây là mấy thí dụ:

            - Tại thôn Đông Hợp thuộc tổng Trung B́nh huyện Phù Mỹ phủ Hoài Nhơn, địa bạ năm 1839 (tr.1212) ghi có 29 chủ điền so với 33 chủ điền của địa bạ băn 1815 (tr.1226), ta thấy chỉ c̣n lại 4 người cũ mà 3 người bị cắt ruộng và có 1 người có thêm ruộng.

STT

Tên chủ ruộng

Diện tích

Trước quân điền

Sau quân điền

1

2

3

4

Đinh Văn Trung

Đỗ Công Cẩn pc

Lại Trần Đắc

Trần Văn An

 0.4.   7.5

0.6.   2.8

0.5.   0.0

0.1.   0.0

0.3.  2.5

0.3.  1.4

0.2.  7.5

0.2.  7.5

 

Cộng chung

1.6.  10.3

1.1.  3.9

            Trần Văn An có thêm ruộng, chắc chắn không phải v́ được quân điền, nhưng v́ tậu thêm ruộng, chứ quân điền  không bao giờ tư hữu hoá (quân điền chỉ cắt ruộng tưu để làm công điền thôi).

            Sau đây là t́nh trạng thay đổi diện tích công tư điền của Đông Hợp trước và sau quân điền :

TT

Tên hàng

Công điền

Tư điền

Tư thổ

ĐT thực canh

1

2

Đông Hợp ấp

Đông Hợp thôn

 

6.8.0.0

13.9.13.9.5

  7.1.13.9.5

0.1.0.0

0.1.0.0

14.0.13.9.5

14.0.13.9.5

           

            - Tại thôn Kim Thắng, tổng Thời Đôn huyện Tuy Viễn phủ An Nhơn, địa bạ năm 1839 (tr.1240) ghi có 21 chủ điền so với 17 chủ điền của địa bạ năm 1815 (tr. 1263), ta cũng thấy c̣n lại 4 người cũ, trong đó có 3 người bị cắt ruộng, 1 người vẫn giữ nguyên số ruộng, v́ quá ít.

STT

Tên chủ ruộng

Diện tích

Trước quân điền

Sau quân điền

1

2

3

4

Trần Thị Miêu pc

Đinh Triệu Bảo

Nguyễn Thị Th́n pc

Vương Thị Uy

3.9.7.3

2.8.5.3

0.4.0.0

0.0.7.5

2.0. 10.0

  1.4. 1.9.5

0.2. 0.0

0.0.  7.5

 

Cộng chung

7.2.5.1

3.7. 4.4.5

Vương Thị Uy vẫn giữ 7 thước rưỡi ruộng, 3 người kia hầu như bị cắt ruộng thành hai phần, một phần lấy làm công điền, một phần giữ lại làm tư điền.

            Sau đây là t́nh trạng thay đổi diện tích công tư điền thổ của Kim Thắng trước và sau quân điền:

TT

Tên hàng

Công điền

Tư điền

Tư thổ

ĐT thực canh

1

2

Kim Thắng ấp

Kim Thắng thôn

 

19.1.10.9

14.6.11.8.5

  7.3.13.4.5

0.3.12.5

0.3.12.5

15.0.9.3.5

26.9.6.8.5

           

            2. Quân điền không phân biệt phân canh (chủ điền trong làng) hay phụ canh (chủ điền ngoài làng). Thí dụ:

            - Thôn Đông Hợp có 29 chủ điền cùng sở hữu 7.1.13.9.5, chia ra:

            . 16 chủ phân canh (55,17%) sở hữu 4.0.1.3.7.5 (55,73%)

            . 13 chủ phụ canh (44,83%) sở hữu 3.1.12.5.7.5 (44,27%)

            Trong số 4 chủ điền c̣n lại từ 1815 đến 1839, ta thấy 3 chủ điền phân canh và 1 chủ phụ canh phải chịu phép quân điền.

            - Thôn Kim Thắng có 21 chủ điền cùng sở hữu 7.3.13.4.5, chia ra:

            . 5 chủ phân canh (23,81%) sở hữu 1.8.0.7.2.5 (24,42%)

            . 16 chủ phụ canh (76,19%) sở hữu 5.5.12.7.2.5 (75,58%)

            Trong số 4 chủ điền c̣n tên từ 1815 đến 1839, ta thấy 2 chủ điền phân canh và 2 chủ điền phụ canh.

            3. Quân điền cũng không phân biệt nam hay nữ (kể cả phân canh lẫn phụ canh). Thí dụ:

            - Thôn Đông Hợp có 29 chủ điền th́ 9 chủ là nữ (31,00%) sở hữu 22,70% số ruộng toàn thôn (1.6.4.8.7.5/7.1.13.9.5). Số 9 chủ nữ này chia ra :

            . 2 chủ nữ phân canh (22,22%) sở hữu 0.2.12.6.5 (17,42%)

            . 7 chủ nữ phụ canh (77.78%) sở hữu  1.3.7.2.2.5 (82,58%)

            Tỷ lệ chủ nữ gần bằng1/3 tổng số chủ điền và chủ nữ phụ canh lại chiếm đa số trong các nữ chủ điền.

            - Thôn Kim Thắng có 21 chủ điền th́ 10 chủ là nữ (47,62%) sở hữu 48,23% ruộng toàn thôn (3.5.9.5.2.6/7.3.13.4.5). Số 10 chủ nữ này chia ra :

            . 4 chủ nữ phân canh (40,00%) sở hữu 0.3.13.7.7.5 (11,00%)

            . 6 chủ nữ phụ canh (60,00%) sở hữu 3.1.10.7.5 (89,00%)

            Tỷ lệ chủ nữ ở thôn Kim Thắng cũng gần tương đương số chủ nam, và 1 chủ nữ phụ canh lại có ruộng nhiều nhất làng.

            Như vậy, thôn ấp ở B́nh Định khá cởi mở và tiến bộ, đặt biệt sau quân điền: phân canh hay phụ canh, nam cũng như nữ đều b́nh quyền về mặt sở hữu ruộng đất. Đó là một trong những quyền sống quan trọng nhất.Gia đ́nh ta, nông thôn ta, dân tộc ta phát triển mạnh mẽ và hài hoà là nhờ dựa trên cơ sở ấy.

            4. Quân điền không phân biệt gia tộc – Chỉ kể 3 thôn Kim Thắng, Đông Hợp và Kiên Mỹ là 3 thôn nhỏ trong số  678 thôn của cả B́nh Định đương thời, ta đă thấy có 27 họ khác nhau.

            Bùi                   Cao                  Dương  Đào                  Đặng                Đinh

            Đoàn                Đỗ                   Giá                                       Hồ                   Hứa

            Huỳnh  Lại                   Lâm                                     Lưu                 

            Nguyễn            Phạm                Phan                 Thái                  Thạnh   Trần

            Trương                    Vương 

            Cả B́nh Định có khoảng 100 họ, đúng là bách tính b́nh quyền và tương trợ qua nếp sông có lư có t́nh của xă thôn Việt Nam. Ở B́nh Định xưa không thấy làng nào chỉ thấy một họ. Phong tục không kết hôn người cùng họ đă giúp cho xă thôn cởi mở, thêm phụ canh và giao lưu rộng răi.

V

KẾT QUẢ CỦA QUÂN ĐIỀN

            Tháng 7 năm Kỷ Hợi (1839), thượng thư Vơ Xuân Cẩn và tham tri bộ Hộ là Doăn Uẩn đi B́nh Định để lo việc quân điền. Sau 3 tháng, tức tháng 10, công việc đă xong. Đoàn kinh phái và tuỳ tùng trở về cung. Cả đoàn khâm phái và tuỳ tùng cùng các quan tỉnh phủ huyện đă hoàn thành nhiệm vụ đều được trọng thưởng cùng thăng cấp.

            1. Kết quả tích cực

            Vơ Xuân Cẩn tâu tŕnh kết quả việc làm lại 678 quyển địa bạ quân điền cho toàn hạt B́nh Định. Minh Mạng khen ngợi rồi nói: “Làm vua cai trị dân, lấy việc thi ân huệ làm bụng nghĩ, há nỡ để một người không nơi ăn chốn ở. Xét việc bao chiếm ruộng đất là thói quen đă lâu, bọn cường hào độc chiếm mối lợi, th́ kẻ cùng dân không trông vào đâu mà sống được. Cái tệ này ở B́nh Định lại càng quá lắm. Nay đem ruộng công tư chia cắt làm công điền, khiến kẻ giàu người nghèo cùng chia sẻ cho nhau” (1)

            Minh Mạng hỏi bộ Hộ: sau khi quân điền, t́nh trạng thuế má sẽ ra sao ? Hà Duy Phiên đáp: “Ở B́nh Định, trong sổ cũ, công điền 6,7 ngh́n mẫu, tư điền hơn 9 vạn mẫu. Nay lấy một nửa tư điền làm công điền bán phải được trên dưới 4 vạn mẫu. Nói về đại lượt, so ra th́ thuế điền ít đi, thuế đinh nhiều ra v́ từ trước tới giờ các tỉnh trở vào Nam, mức thuế công điền ngang bằng tư điền, duy có thuế quan điền th́ cao hơn công điền. Nay quan điền đă chuyển làm công điền th́ ngạch công điền tuy có tăng ,nhưng số thuế thu nhập lại kém đi. Dân sở tại trước kia thuế thân người không có công điền cao không người không có công điền, nay đem chia công điền th́ trong sổ ai cũng có ruộng, cho nên số thuế bị giảm, nhưng số dân đinh lại tăng lên”. Minh Mạng noi: “Phép quân điền là muốn chia lợi cho dân chứ thuế hôm nay hơn hay kém đi không phải là điều đáng phải so tính”. Rồi Minh Mạng lại nói thêm: “Dân hạt ấy mới gởi đơn đến kín đến kinh khiếu nại, khá mà trước đây Vơ Xuân Cẩn nói dân gian hết thảy đều vui vẻ thoả măn, thực cũng chưa đước đúng. Có điều công việc buổi đầu, kẻ tiểu nhân bo thiết với những cái lợi hại viên, điều đó cũng là thường t́nh, bất tất phải xét kỹ. Triều đ́nh làm việc, làm thế nào cho mọi người đều vừa ḷng được cả ư ?”. Ít lâu sau Minh Mạng băng hà.

            Theo sự tính toán trên 648 địa bạ, tức 95,57% tổng số 678 thôn ở tỉnh B́nh Định, chúng ta có:

            Trên 74378 mẫu 9 sào điền, chia ra:

                        Trên 40009 mẫu 7 sào công điền và

                        Trên 34369 mẫu 1 sào tư điền.

            Nếu có biểu thuế ruộng ta có thể tính được tổng số thuế thu của B́nh ĐỊnh đương thời. Sau đây là tư liệu có tính định lượng tương đối ở giai đoạn trước quân điền: “Trong niên hiệu Gia Long, ruộng đất 107.705 mẫu, trưng lúa 79.850 hộc, trưng tiền 123.698 quan, trưng vàng 11 lượng 2 chỉ 2 phân, trưng bạc 4.998 lượng” (1). Đây là thuế ruộng và đất.

            C̣n số dân đinh, sau quân điền tăng lên v́ có thêm người được lĩnh công điền. Nhưng nay chưa t́m ra được số liệu chính xác về năm 1839 – 1840, nên chỉ có thể phỏng tính.Theo DDNTL, năm 1819, B́nh Định có 33.330 suất đinh (2), năm 1829 có 36.900 suất đinh(3), năm 1847 có 52.110 suất đinh (4).

Vậy sau quân điền, B́nh Định có khoảng  44.000-47.000 suất đinh. (không hiểu sao sách DDNNTC, tỉnh B́nh Định, trang 32 lại ghi: “Trong niên hiệu Gia Long, số đinh hơn 38.000 người, niên hiệu Tự Đức 41.849 người”).

            2.Giải quyết các khiếu nại.

            Quân điền được hơn một năm, Minh Mạng mất mà nẫn chưa giải quyết ổn thoả các vụ tranh chấp, chỉ viện lẽ “Triều đ́nh làm việc, làm thế nào cho mọi người đều vừa ḷng được cả ư ?”. Thiệu Trị vừa lên ngôi, có hơn 300 lá đơn gởi về kinh.

            Sách Chính biên toát yếu nói: “Nguyên khi triều Minh Mạng đă có sai quan vào chia ruộng tỉnh ấy, nhưng v́ hương hào riêng chiếm, chỗ tốt chỗ xấu không đều, nên tranh giành kiện cáo măi, cứ nói rằng người nhiều người ít, chỗ rộng, chỗ hẹp … , xin chia cấp lại”(1). Tổng đốc B́nh Định đương thời là Đặng Văn Thiêm cũng đề nghị cho quân điền và làm sổ địa bạ lại. Sau Phạm Thế Hiển và Nguyễn Trạch cho ư kiến: “Dân trong hạt đă xin cho được tuỳ tiện, sổ sách cứ theo như cũ. Nếu đem số ruộng ấy giao hết cho bọn địa chủ, th́ sổ điền không khỏi một phen thay đổi. Thành ra thêm việc. Vả lại số ruộng thừa lẻ, không những có thế mà thôi, nếu theo lời xin, th́ ngoài 300 lá đơn ấy lại c̣n đơn khác tới tấp khiếu nại, phiền nhiễu không biết thế nào mà kể”(2).

            Tháng 2 năm Triệu Trị thứ nhất (1841), triều đ́nh sai hai quan khoa đạo Dặng Quốc Lang và Mai Khắc Mẫn “Có tiếng hiền năng công chính” đến B́nh Định để hội đồng cùng khám xét và giải quyết các khiếu nại. Trước hết các quan khoa đạo “trích ra việc không thiệt hại ǵ lắm”, nghĩa là những vụ hơn thiệt nhỏ mọn, th́ bác đơn khiếu nại. C̣n những vụ tương đối quan trọng hơn, th́ “lấy lời hiểu bảo, tuỳ việc phân xử cho hợp t́nh hợp lư”. Từ đó, “dân mới thôi không tranh kiện nhau nữa” (3). Khi Quốc Lan và Khắc Mẫn thi hành xong nhiệm vụ phức tạp ấy về Thiệu Trị “khen là được gọn việc”.

            Cuối năm 1851, quan thượng thư bộ H́nh và Đặng Văn Thiêm về kinh sau khi đi tra xét việc quan lại và dân gian gây lộn nhau. Tự Đức hỏi: “Công điền tư điền tỉnh B́nh Định sự thể như thế nào?”. Thiêm đáp: “Lối trước quân điền, trong 10 mẫu lấy 5 mẫu làm công điền, 5 mẫu làm tư điền. Lâu nay công điền chỗ nào tốt thời cường hào chiếm lấy, hoặch có đám nào lẻ loi lại bị hương lư bao choán, c̣n dân thời chỉ được ruộng xấu mà thôi. Nên thân đă khiến sửa lại bờ bạn phân minh, để làm cho dân được lợi” (4)

            Năm 1852, Tự Đức muốn đặt lại vấn đề công tư ở B́nh Định: “chiết lấy ruộng tư xung làm ruộng công, các tỉnh không làm chỉ làm ở tỉnh B́nh Định, th́ không khỏi thiệt riêng, muốn trả lại hết th́ sao?”. Thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên trả lời: “Đă cấp ruộng cho quân dân rồi, nếu vội lấy trả về, sợ quân dân mất cách sinh sống”. Tự Đức hỏi lại: “Nếu lấy 6 phần làm ruộng tư, 4 phần làm ruộng công  th́ thế nào?”. Thưa rằng: “Thêm bớt không bao nhiêu , lại sinh bận rộn về sổ sách”. Tự Đức vẫn muốn cho hai bộ Hộ và binh “Hội bàn” nên làm thế nào cho quân dân hai đàn cùng lợi. Hà Duy Phiên (bộ Hộ)  Trương Đăng Quế (bộ Binh) cố xin vẫn để như cũ. Tự Đức mới nghe theo(1)

            Kết quả quân điền từ đó hầu như ổn định cho tới năm 1945. Năm 1930 nhà nông học Yves Henry đă lên được bản thống kê chứng minh điều đó: tỉnh B́nh Định có 72.000 ha ruộng trồng lúa, kể cả 26.242ha công điền có trồng trọt tức công điền chiếm 36,44%; nếu kể thêm 6.882ha công điền bỏ hoang, th́ tỷ lệ công điền chiếm tới 41,22%.(2), nghĩa là không quá xa cách với tỷ lệ khi quân điền.

* * *

            Xét trong lịch sử Việt Nam, phép quân điền ở B́nh Định là một chính sách cải cách ruộng đất tiến bộ nhất, đă mang lại một thế quân b́nh và ổn định xă hội trong một thời c̣n lạc hậu về kỹ thuật và trọng nông ức thương. Tuy vẫn c̣n nhiều người phản đối, đặt biệt là số điền chủ bị xung công ruộng và những người chỉ được chia những mảnh ruộng xương xẩu bên cạnh bọn hào lư chiếm lấy những thửa ruộng màu mỡ, xong triều đ́nh đă giải quyết tất cả bằng thuyết phục, bằng kêu gọi nhân nghĩa, bằng sửa chữa giới mốc, bằng chia lại khẩu phần theo định kỳ.