PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH PHẦN
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP
PGS.TS PHƯƠNG NGỌC THẠCH
Phó Chủ Tịch
thường trực
Hội KH Kinh Tế và Quản Lư TP.HCM.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, xu thế
hội nhập Việt Nam đă tham gia AFTA, mà theo lộ tŕnh AFTA, thuế nhập
khẩu sẽ giảm dần 10 -5 -0% năm 2015, năm 2006 thuế quan chung 0-5%,
Việt Nam đă kư hiệp định thương mại Việt-Mỹ và đang xúc tiến việc
gia nhập WTO. Để hội nhập thành công, cần thiết phải động viên tối
đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài. Do đó phát triển các thành
phần kinh tế theo định hướng XHCN nhằm phát huy mọi tiềm năng phục
vụ mục tiêu phát triển kinh tế xă hội trong cơ chế thị trường theo
định hướng XHCN là rất cần thiết đáp ứng không những yêu cầu thực
tiễn mà cả lư thuyết.
1. Quan niệm và nhận thức
Lư thuyết và thực tiễn về sở hữu của
nước ta cho rằng ở VN có 3 h́nh thức sở hữu cơ bản, đó là sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, tương ứng có 6 thành
phần kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể
tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài với các loại h́nh doanh nghiệp sau: doanh
nghiệp nhà nước, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ, công ty
trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xă, công ty cổ phần, tập đoàn kinh tế.
Với nhận thức đó, lúc đầu cho rằng
kinh tế cá thể và tiểu chủ là thành phần khác về bản chất với kinh
tế tư bản tư nhân. Sự phân biệt chủ yếu về giai cấp và tính bóc lột.
Thực ra về bản chất kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân đều
thuộc sở hữu tư nhân, khác biệt là ở quy mô doanh nghiệp, tổ chức và
tŕnh độ quản lư. Tư bản tư nhân VN ít vốn, thiếu kỹ thuật, thường
chỉ hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, nhà đất, chưa có
khả năng lập được các nhà máy có hàng trăm triệu USD. Vừa qua Nghị
quyết 2 về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo
điều kiện phát triển kinh tế tư nhân khẳng định kinh tế cá thể tiểu
chủ, kinh tế tư bản tư nhân thuộc sở hữu tư nhân.
Đồng thời, có quan niệm rằng kinh tế
tập thể khác với kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể gần với kinh tế
nhà nước. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất các cá thể tiểu
chủ tự nguyện tập hợp với nhau h́nh thành hợp tác xă. Mô h́nh hợp
tác xă trước đây thời kỳ bao cấp ở miền Bắc có những đặc trưng gần
với kinh tế nhà nước, hiện nay với mô h́nh hợp tác xă kiểu mới, các
cá thể tiểu chủ tự nguyện hợp tác để có khả năng cạnh tranh ngày
càng gay gắt trên thị trường, cần liên kết để phát triển, cá thể tập
hợp lại thành tập thể.
Mô h́nh hợp tác xă kiểu mới:
-
Thành phần có thể nhân
và pháp nhân (hùn vốn, không cần tham gia lao động)
-
Sở hữu tập thể và sở
hữu xă viên
-
Chủ nhiệm HTX có thể
thuê.
-
Không khống chế địa bàn
-
Phân phối theo lao
động, theo cổ phần
-
Lấy lợi ích kinh tế là
chủ yếu có tính tới lợi ích xă hội.
Với mô h́nh này, hợp tác xă có bản
chất không khác ǵ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, chỉ
khác về quy mô.
V́ vậy theo tôi về bản chất kinh tế
tập thể và kinh tế cá thể tiểu chủ đều thuộc sở hữu tư nhân. Nghị
quyết 1 tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập
thể nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng và phát triển hợp tác xă.
Ngoài ra, hiện nay c̣n có nhận thức
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không phải là tư nhân hoá. Cho
rằng nếu cổ phần hoá là tư nhân hoá sẽ mất vai tṛ chủ đạo của doanh
nghiệp nhà nước, mất nguồn thu ngân sách chắc chắn, mất trách nhiệm
xă hội của doanh nghiệp với công nhân do đó công nhân có thể mất
việc trở lên thất nghiệp. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nhà
nước vẫn giữơ vai tṛ chủ đạo khi có chính sách đúng đắn. Tại Trung
Quốc, Belarut, cũng như tại nhiều nước trên thế giới, luật pháp cho
phép nhà nước có quyền có cổ phần đặc biệt, người sở hữu cổ phần này
có quyền thông qua hay không thông qua các quyết định quan trọng của
doanh nghiệp đă tư nhân hoá. Thực tế là trong thập niên 80 vàù các
năm đầu thập niên 90, ở các nước Đông Âu và Liên bang Nga đă giải
tán hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá rộng răi nền
kinh tế quốc doanh, kết quả là t́nh h́nh kinh tế rất bi đát. Có thể
thấy rằng nguyên nhân do cách làm ở những nước này, tài sản nhà nước
biến thành tài sản tư nhân mà nhà nước thu được nguồn tài chính khá
ít ỏi. Trung Quốc và Việt Nam tiến hành cổ phần hoá mà vẫn bảo toàn
được tài sản nhà nước dưới dạng cổ phần có giá.
Ở nước ta phân biệt giữa hợp tác xă
và công ty cổ phần chỉ khác nhau là hợp tác xă lấy đối nhân (góp 1
triệu trách nhiệm cũng ngang 10 triệu), công ty cổ phần lấy đối vốn
(góp nhiều có quyền quyết định lớn hơn), vốn của nhà nước lớn hơn
50% thuộc sở hữu nhà nước, c̣n dưới 50% thuộc sở hữu tư nhân. Xuất
phát từ đó theo tôi, hợp tác xă và công ty cổ phần thực chất là một.
Có thể nói về bản chất cổ phần hoá là tư nhân hoá. Tư nhân hoá là
quá tŕnh chuyển đổi pháp lư quyền sở hữu và quyền kiểm soát doanh
nghiệp từ nhà nước sang tư nhân. Do đó sự phân chia nền kinh tế
thành 6 thành phần chỉ mang tính tương đối.
Vậy có thể kết luận nền kinh tế chỉ
có hai h́nh thức đó là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, có hai
thành phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế
tư nhân), các loại h́nh doanh nghiệp có doanh nghiệp nhà nước, tổng
công ty nhà nước thuộc thành phần kinh tế quốc doanh, c̣n cơ sở sản
xuất kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, tổng
công ty, tập đoàn kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh,
kinh tế tư nhân, hay c̣n gọi là dân doanh. Ở các nước phát triển,
thường chỉ có hai khu vực: kinh tế công và kinh tế tư
hay kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Công ty cổ phần do tư nhân
khống chế được xếp vào khu vực kinh tế tư.
2. Một số vấn đề đặt ra.
2.1- Quan hệ giữa kinh tế nhà
nước và kinh tế tư nhân.
Về quan điểm phát triển kinh tế nhiều
thành phần, thành phần kinh tế nhà nước giữ vai tṛ chủ đạo, khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân, có ư kiến cho rằng nhà nước nên
tập trung vào quản lư, giao cho tư nhân làm kinh tế, ư kiến khác cho
rằng kinh tế tư nhân Việt Nam ít vốn, thiếu kỹ thuật không có khả
năng tài chính để thiết lập các nhà máy lớn kỹ thuật hiện đại để
cạnh tranh.
Tôi cho rằng trong tương lai, kinh tế
nhà nước vẫn đóng vai tṛ chủ đạo như bà đỡ và cần phát triển mạnh
kinh tế tư nhân. Thực vậy đối với các ngành công nghiệp nặng và các
ngành thâm dụng vốn lớn cần xây dựng, thường nhà nước tổ chức cho
các doanh nghiệp nhà nước trong các ngành công nghiệp nặng, hoá
chất, sau đó được cổ phần hoá. Không một nước nào lại có thể đạt
được sự tăng trưởng một cách bền vững, dựa chủ yếu trên cơ sở sản
xuất hướng vào xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động mà thiếu khu vực
kinh tế tư nhân to lớn và năng động. Khu vực kinh tế tư nhân vừa là
nguồn lực tăng trưởng, vừa là nguồn tạo thêm công ăn việc làm. Kinh
nghiệm phát triển ở các nước theo kinh tế thị trường cho thấy là khi
kinh tế càng phát triển th́ khu vực kinh tế tư nhân càng mở rộng ra,
khu vực kinh tế nhà nước bị thu hẹp lại.
Có ư kiến cho rằng muốn phát triển
bền vững khu vực kinh tế tư nhân, phải phát triển mạnh khu vực kinh
tế quốc doanh, các doanh nghiệp quốc doanh lớn làm bà đỡ yểm trợ cho
các doanh nghiệp Việt Nam và tư nhân. Cho đến nay hoạt động của nhiều tổng công ty nhà nước vẫn
là cấp số cộng: gộp các đơn vị lại với nhau, các doanh nghiệp thành
viên tự hoạt động để tồn tại và phát triển, các đơn vị thành viên
c̣n cạnh tranh nhau quyết liệt.
Tôi đồng t́nh với kiến nghị xây dựng
mô h́nh công ty mẹ công ty con bền vững gắn giữa doanh nghiệp quốc
doanh lớn và các doanh nghiệp tư nhân nhỏ như sau:
+ Tổng công ty là doanh nghiệp nhà
nước, công ty mẹ có vốn khá lớn có cổ phần chi phối tại các doanh tư
nhân, công ty con là thành viên, hưởng lợi nhuận trên tỷ lệ vốn góp
sau khi cơ sở tư nhân đă thực hiện xong nghĩa vụ ngân sách. Tổng
công ty chịu trách nhiệm hữu hạn trên số vốn góp vào các đơn vị
thành viên. Tổng công ty và các đơn vị thành viên đều có tư cách
pháp nhân. Các công ty con là các pháp nhân độc lập, chủ động sáng
tạo và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, có thể liên kết với các
công ty khác tạo thành các doanh nghiệp cháu.
+
Công ty mẹ chỉ duyệt kế hoạch về vốn
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, doanh thu và lợi nhuận, tiền
lương công nhân.
+ Công ty mẹ hỗ trợ công ty con về
công nghệ và thiết bị để đáp ứng yêu cầu sản xuất, hỗ trợ về thị
trường và khách hàng chỉ thực hiện khi công ty con gặp khó khăn,
nhưng không bao tiêu sản phẩm.
+ Công ty mẹ chủ động t́m kiếm và
nhập khẩu nguyên vật liệu với khối lượng lớn giảm chi phí cho các
cơ sở tư nhân.
+ Công ty mẹ hỗ trợ các cơ sở thành
viên thâm nhập thị trường, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Trong triển vọng, tôi cho rằng doanh
nghiệp cổ phần sẽ chiếm phần lớn trong sản xuất kinh danh ở nước ta.
Chỉ có doanh nghiệp cổ phần mới có nguồn vốn lớn, đủ khả năng đổi
mới công nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế, nhất
là toàn cầu hoá, cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng quyết liệt.
Trong doanh nghiệp cổ phần có đủ thành phần, có vốn nhà nước, vốn
tập thể, vốn tư nhân, vốn trong nước, vốn nước ngoài.
Cổ phần hoá là một tất yếu khách quan
do quá tŕnh tích tụ, tập trung hoá ngày càng tăng, do tác động mạnh
của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Nhất là toàn cầu hoá, cạnh
tranh trong nền kinh tế ngày càng quyết liệt. Tích tụ và khoa học kỹ
thuật đ̣i hỏi một lượng vốn lớn, chỉ có cổ phần hoá mới có thể huy
động một nguồn vốn lớn, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế.
2.2- Định giá doanh nghiệp nhà
nước khi cổ phần hoá.
Phương pháp bán trực tiếp chiếm 2/3
khối lượng tư nhân hoá của các nước ở ngoài OECD. Người ta định giá
dưới các cổ phần của các công ty tư nhân hoá và cán bộ công nhân
viên trung b́nh được phân bổ 91% cổ phiếu của các công ty. Ở các
nước OECD 80% khối lượng chào bán cho công chúng trên thị trường
chứng khoán và hơn 50% khối lượng bán trực tiếp.
Phương pháp chào bán cho công chúng
trên thị trường chứng khoán được sử dụng nhiều nhất.
Giá cả các loại chứng khoán bị tác
động bởi quy luật cung cầu trên thị trường. Không thể xác định giá
chứng khoán như khi mua xe hơi… mà phải căn cứ vào thực trạng và
triển vọng của người phát hành chứng khoán. Việc phát hành chứng
khoán có thể bán theo mệnh giá, cao hơn hay thấp hơn mệnh giá, hoặc
bán trực tiếp, đấu giá.
Phương thức định giá và bán cổ phần
tốt nhất là theo phương thức đấu giá, giá chứng khoán thường sẽ
được in sau quá tŕnh đấu giá. Với tư cách là người bán ai mua giá
cao sẽ bán chứ không theo kiểu định giá và cách bán cổ phần hiện
nay.
Mặc dù các chứng khoán được mua bán
trên thị trường chứng khoán như là mua bán chính tài sản của doanh
nghiệp, nhưng vốn khả dụng của nền kinh tế luôn luôn được duy tŕ và
phát triển. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, lỗ vốn,
nợ nần ngày càng tăng, thậm chí doanh ngiệp bị phá sản nó cũng không
mất đi, mà sẽ được bán cho một cổ đông khác và cổ đông này sẽ tiếp
tục duy tŕ sự hoạt động của doanh nghiệp. Cổ phần hoá là biện pháp
có thể cải thiện những điều kiện này.
2.3- Chống phá giá và độc quyền
Độc quyền là một yếu tố có tác động
tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của đầu tư, sản xuất và khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng lớn đến phát triển các
thành phần kinh tế. Ở các nước phát triển, các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, chủ yếu là các công ty cổ phần lớn, các tập đoàn kinh tế
do có sức mạnh kinh tế thường có động tác phá giá và giá độc quyền
trong cạnh tranh.
Ở Việt Nam hiện tượng phá giá và giá
độc quyền đă xảy ra đối với các công ty nước ngoài, ngoài ra c̣n đối
với các công ty nhà nước. Một nguồn lực chủ yếu dưới dạng vốn đầu
tư, đất đai và tài sản vẫn nằm trong tay nhà nước và doanh nghiệp
nhà nước tạo ra độc quyền và sự cạnh tranh không lành mạnh. Thực vậy
cần tránh sự nhập nhằng giữa độc quyền nhà nước và độc quyền doanh
nghiệp, giữa công ích với kinh doanh, không có doanh nghiệp công ích
mà chỉ có dịch vụ công ích, những lĩnh vực cần giữ độc quyền nhà
nước cũng không được biến thành độc quyền doanh nghiệp. Tất cả các
doanh nghiệp đều hoạt động v́ lợi nhuận, hướng tới lợi nhuận. Chính
sự nhập nhằng này đă đưa đến doanh nghiệp nhà nước độc quyền, kết
quả là giá hàng hoá của những doanh nghiệp này ngày càng cao đem
thiệt hại đến người tiêu dùng, kể cả đến các doanh nghiệp sản xuất,
ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Giá nguyên liệu, vật tư, điện,
nước, chất đốt, xăng dầu, xi măng và các dịch vụ điện thoại, hàng
không mà phần lớn Nhà Nước quản lư, doanh nghiệp Nhà Nước độc quyền
là những vật tư đầu vào của các ngành sản xuất có giá quá cao, cao
hơn của ASEAN, Trung Quốc làm mất khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp sử dụng (giá điện cao hơn 50%, giá nước cao hơn 71%, giá cước
vận tải biển cao hơn 27%, giá cước hàng không cao hơn nhiều, cước
phí điện thoại quốc tế cao hơn 174% - theo đánh giá của Jetro Nhật,
giá xi măng VN cao gấp 1,7 lần thế giới, giá thép VN cao hơn khu vực
20 USD/tấn).
Phải tạo ra sân chơi b́nh đẳng về mặt
pháp lư không phân biệt đối xử doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp
tư nhân, luật lệ phải đối xử công bằng với các doanh nghiệp không
phân biệt sở hữu. Xuất phát từ đó cần băi bỏ những đặc quyền đặc lợi
của doanh nghiệp nhà nước về thương mại, thuế, tín dụng ưu đăi, cấp
phép kinh doanh, đầu tư nước ngoài, đất đai. Trước mắt chính phủ
phải có những biện pháp kiểm soát giá cả của những doanh nghiệp nhà
nước độc quyền.
Hiện nay chúng ta có 17 tổng công ty
91, trong đó có tới 12 công ty lỗ hoặc hoà vốn, chỉ có 5 công ty là
có lăi nhờ giá độc quyền hoặc được quyền định giá. Chúng ta nên nhớ
rằng sản phẩm của các tổng công ty 91 ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động của các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, bởi v́ đó chính là
yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp: xi măng, xăng dầu, sắt thép,
điện, vật tư nông nghiệp. Nhà Nước phải phá thế độc quyền định giá
của các Tổng công ty 91.
Cần xây dựng ngay luật chống độc
quyền và luật phá sản. Hiệu quả của luật phá sản doanh nghiệp như là
một chức năng hữu ích thực hiện quá tŕnh phân bố lại nguồn lực cho
các đối tượng có khả năng tạo ra nguồn thu cao hơn cho nền kinh tế.
2.4- Phát triển nguồn nhân lực
Ở Việt Nam số cán bộ quản lư giỏi c̣n
rất ít . Phần lớn cán bộ quản lư doanh nghiệp không được đào tạo,
không có kinh nghiệm và năng lực cần thiết về điều hành doanh nghiệp
trong môi trường kinh tế thị trường cạnh tranh. Nếu như các cán bộ
quản lư doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp nhà nước được đào tạo và
có năng lực th́ chắc doanh nghiệp nhà nước không bị thua lỗ và nợ
nần chồng chất. Do đó vấn đề cực kỳ quan trọng là phải nâng cao năng
lực của các nhà quản lư các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh
nghiệp tư nhân.
2.5- Tiếp cận vốn
Chính sách tài chính c̣n nhiều điều
bất cập. Thực vậy theo ghi nhận tại nhiều quốc gia trên thế giới,
trung b́nh cứ 5-7 người dân có một doanh nghiệp, tỷ lệ này ở VN là
hơn 1000 người năm 2002, trong khi người dân có tiền, vốn trong dân
c̣n lớn, song không được bỏ vào sản xuất . Hiện nay một bộ phận đáng
kể nguồn vốn này đang gây cản trở phát triển kinh tế ở nước ta, thể
hiện ở nguồn vốn đó không đầu tư vào sản xuất kinh doanh mà lại đầu
tư vào đất đai nhà ở v́ đầu tư vào đất đai nhà ở đem lại lợi nhuận
cao do cơn sốt giá đất, chỉ trong ṿng vài tháng giá cả đất tăng lên
giả tạo gấp 3-4 lần, có nơi gấp 8-9 lần. Giá đất đạt mức chưa từng
có và thu nhập từ những giao dịch này cũng rất cao. Tiền đầu tư vào
thị trường bất động sản không phải là nguyên nhân duy nhất, nhưng là
nguyên nhân rất quan trọng của t́nh trạng thiếu vốn tiền đồng trong
các ngân hàng thương mại. Vay tiền mua đất tạm thời xây nhà cấp 4
cho thuê tiền thu hàng tháng gần đủ trả lăi cho ngân hàng, c̣n giá
trị đất vẫn c̣n, giá cả chỉ có tăng chứ không giảm. Các ngân hàng
lớn ở Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông cũng đă từng lâm vào
t́nh trạng hết sức khó khăn khi cho vay vốn quá lớn đầu tư vào bất
động sản. Tôi cho rằng không giải quyết vấn đề đầu cơ đất đai, điều
chỉnh thị trường bất động sản th́ nền kinh tế không những không tăng
trưởng nhanh mà kém bền vững.
Các doanh nghiệp nhà nước được nhà
nước cấp vốn, nợ quá hạn không có khả năng thanh toán được khoanh
nợ, trong khi các doanh nghiệp tư nhân ít được vay tín dụng dài hạn,
phần nhiều là vốn tự có hoặc vay với lăi suất thị trường.
Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân phải
dựa vào nguồn thu nhập của ḿnh, vay tư nhân và chịu lăi suất thị
trường để đầu tư, số vốn b́nh quân của các doanh nghiệp tư nhân năm
2002 chỉ mới dưới 1 tỷ đồng. Với số lượng vài tỷ đồng không đủ lập
nhà máy có sức cạnh tranh. Hiện nay có 3 cách để tăng nguồn vốn cho
các doanh nghiệp tư nhân. Một là các tư nhân hùn vốn với nhau để lập
công ty, thường là công ty cổ phần. Hai là vay vốn tín dụng từ các
thể chế tài chính với lăi suất ưu tiên không cấp theo thành phần
kinh tế mà theo tầm quan trọng của dự án. Ba là nhà nước và tư nhân
cùng làm, cùng đầu tư.
Ngoài ra để thu hút vốn, cần cải
thiện môi trường đầu tư, cho phép doanh nghiệp tư nhân có những
quyền hạn như doanh nghiệp nhà nước, kể cả được liên doanh hợp tác
đầu tư với các đối tác nước ngoài.
2.6- Công nghệ
Khoa học công nghệ ngày càng nổi lên
là một trong những yếu tố có tính chất quyết định triển vọng tăng
trưởng. Ở Việt Nam việc chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực
tiếp nước ngoài liên doanh hợp tác với doanh nghiệp nhà nước là chủ
yếu. Các doanh nghiệp tư nhân rất ít vốn để có thể đầu tư nhập thiết
bị công nghệ hiện đại, chỉ một số rất ít các công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần có vốn lớn là có khả năng.
Cần đưa ra các biện pháp khuyến khích
phát triển và nâng cấp công nghệ như miễn thuế dành cho phát triển
công nghệ, tín dụng cho R&D, nâng cao kỹ năng các nhân viên R&D,
giảm thuế nhập khẩu đối với các thiết bị nghiên cứu, giảm thuế nhập
khẩu công nghệ, nâng cấp các trung tâm nghiên cứu khoa học công
nghệ, tăng chi ngân sách cho khoa học và công nghệ.
Trên đây là một số nhận thức và vấn
đề đặt ra đối với phát triển các thành phần kinh tế trong xu thế hội
nhập. Cần có nhận thức đúng, thống nhất, các thành phần kinh tế nước
ta mới có thể phát huy đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế đất
nước.