ĐẶC
TRƯNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG VỊNH QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
TRỊNH
THẾ HIẾU, NGUYỄN ĐÌNH ĐÀN, PHẠM BÁ TRUNG, NGUYỄN ĐỨC ÁI, NGUYỄN BÁ
XUÂN
Viện Hải Dương Học Nha Trang
Tóm tắt:
Dựa vào những kết quả nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng, hiện trạng
các điều kiện tự nhiên và môi trường vịnh Quy Nhơn khá thuận lợi
không chỉ cho việc khai thác sử dụng trong phát triển kinh tế, mà
còn cho sự sống và phát triển của nhiều loài sinh vật đáy cơ sở thức
ăn cho nhiều loài sinh vật khác. Sự tập trung với hàm lượng cao (2 –
5%) các khoáng vật nặng trong trầm tích cát trung ở đê cát ngầm
ngoài cửa vịnh cần được tiếp tục nghiên cứu, nhằm đánh giá đầy đủ
hơn về tiềm năng tài nguyên của vịnh.
Mở đầu
Để góp phần cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ
cho việc đánh giá hiện trạng môi trường, nguồn lợi tiến tới định
hướng quản lý và qui hoạch phát triển vùng vịnh Quy Nhơn, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu đề tài: “Cấu trúc hình thái rạn
san hô, địa hình đáy và hiện trạng nguồn lợi sinh vật khu vực Cù Lao
Xanh - Hòn Đất - Hòn Khô thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ”.
Được sự
cho phép của Lãnh đạo Sở KHCN & MT BÌNH Định, nội dung báo cáo giới
thiệu một phần kết quả nghiên cứu của đề tài này được thực hiện
trong thời gian 2001 – 2002, do
Viện Hải Dương Học Nha Trang chủ trì thực hiện.
1.
Tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
1.1– Nguồn tài liệu.
- Báo
cáo: Đánh giá tác động môi trường tỉnh Bình Định (1994) của Sở KHCN
& MT Bình Định.
- Báo
cáo đề tài KT 03.01, 1991 - 1995
- Tài
liệu của dự án “Khảo sát định kỳ Biển Đông,1999 - 2000
- Tài
liệu chuyến khảo sát, đo đạc tháng 5 – 6/2002
I.2 – Phương pháp nghiên cứu.
Khảo
sát thực địa
Vị trí
các điểm khảo sát đo đạc và thu mẫu (H.1) được xác định bằng máy
định vị vệ tinh GPS Fuso 722. Phương tiện khảo sát : Tàu NCB-95 của
Viện Hải Dương Học và các tàu đánh cá của ngư dân thành phố Quy
Nhơn.
Thực
hiện 19 tuyến mặt cắt đo sâu địa hình đáy bằng máy đo sâu hồi JMC
Echo
Sounder Model – F 840.
Thu mẫu
trầm tích đáy bằng cuốc “Đại dương 0.25” và lưới cào đáy.
Các yếu
tố môi trường S%0, To, pH (nước,đất) được đo ngay tại
hiện trường bằng các máy cầm tay. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước
được thu bằng batomet 1.5l, mẫu được đựng trong lọ thuỷ tinh 100ml
và được phân tích ngay trong ngày thu mẫu bằng phương pháp Winkle.
Quan
trắc, đo đạc các yếu tố khí tượng thủy văn và động lực tại 2 trạm
liên tục mỗi trạm 1 ngày đêm, theo ốp 3 giờ lần. Khí tượng – tốc độ
gió được đo bằng máy đo gió cầm tay của Nga, hướng gió được đo bằng
la bàn; nhiệt độ không khí đo bằng nhiệt kế; độ ẩm tương đối được đo
bằng ẩm kế ASMAN.

Thuỷ văn
: Nhiệt độ và độ muối đo bằng máy tự động AST-500 của Nhật.
Sóng :
Các thông số của trường sóng (độ cao, hướng và chu kỳ) được xác định
dựa vào số liệu quan trắc để lấy trung bình.
Dòng
chảy đo bằng máy tự ghi DNC – 2M của Anh.
Trong
phòng thí nghiệm.
Các yếu
tố thuỷ động lực (sóng, dòng chảy) được hiệu chỉnh, xử lý tính toán
theo phương pháp số trị để thành lập các sơ đồ hoa sóng, hoa dòng
chảy và các mặt cắt thẳng đứng biến đổi nhiệt độ, độ muối.
Các số
liệu đo đạc địa hình được hiệu chỉnh triều theo triều Quy Nhơn. Từ
các số liệu hiệu chỉnh, số hoá thành lập bản đồ địa hình khu vực
nghiên cứu tỷ lệ 1:50.000. Sử dụng phần mềm MapInfo 6.0, Surfer 7.0
và Arcview 3.2.
Các mẫu
trầm tích đáy được phân tích các chỉ tiêu phục vụ nội dung đề tài
theo “Quy phạm điều tra Địa chất biển” do UBKH & KTNN ban hành năm
1981. Dựa vào kết quả phân tích thành lập bản đồ phân bố trầm tích
và các mặt cắt địa hoá đặc trưng.
2. Kết
quả nghiên cứu
II.I - Đặc điểm về các yếu tố khí tượng, thủy văn và động lực.
Từ các
kết quả phân tích (các bảng 1, 2, 3, 4a, 4b) có thể đi đến một số
nhận xét về đặc điểm khí tượng, thủy văn và động lực của vùng vịnh
Quy Nhơn vào thời điểm khảo sát như sau:
Bảng
1.
Nhiệt độ không khí (ToC); độ ẩm tương đối (F%); tốc độ và hướng gió
(Vg và Hg);
độ cao,
hướng và chu kỳ sóng (Zs, Hs, Ts) Tại Trạm LT. QNh. 17, vịnh Quy
Nhơn, cuối tháng 5/2002.
|
Thời gian |
ToC |
F
% |
Vg
(m/s) |
Hg
(o) |
Zs
(m) |
Hs
(o) |
Ts
(giây) |
|
9h. 28/5/02 |
28.8 |
86 |
1.98 |
120 |
0.10L |
90 |
6 |
|
12h |
29.4 |
81 |
2.54 |
130 |
0.10G |
110 |
3 |
|
15h |
29.4 |
84 |
1.95 |
130 |
0.15G |
110 |
4 |
|
18h |
26.8 |
92 |
0.79 |
350 |
0.15G |
20 |
4 |
|
21h |
27.2 |
90 |
1.00 |
130 |
0.15L |
120 |
7 |
|
0h. 29/5/02 |
27.2 |
94 |
1.10 |
330 |
0.15G |
320 |
4 |
|
3h |
27.6 |
89 |
0.84 |
350 |
0.15L |
360 |
6 |
|
6h |
30.0 |
85 |
0.50 |
330 |
0.15L |
350 |
6 |
|
9h |
31.0 |
82 |
2.52 |
80 |
0.15L |
120 |
6 |
Bảng
2.
Nhiệt độ không khí (ToC); độ ẩm tương đối (F%); tốc độ và hướng gió
(Vg và Hg);
độ cao,
hướng và chu kỳ sóng (Zs, Hs, Ts)Tại Trạm LT. QNh. 30, vịnh Quy
Nhơn, cuối tháng 5/2002.
|
Thời gian |
ToC |
F
% |
Vg
(m/s) |
Hg
(o) |
Zs
(m) |
Hs
(o) |
Ts
(giây) |
|
12h. 29/5/02 |
30.2 |
85 |
1.90 |
90 |
0.20L/G |
120 |
7 |
|
15h |
30.2 |
83 |
4.48 |
100 |
0.15G |
90 |
3 |
|
18h |
29.8 |
88 |
5.43 |
160 |
0.50G |
250 |
4 |
|
21h |
28.4 |
92 |
3.65 |
190 |
0.40G |
160 |
4 |
|
0h. 30/5/02 |
28.5 |
87 |
0.65 |
190 |
0.10L |
120 |
8 |
|
3h |
28.4 |
88 |
0.96 |
210 |
0.50L |
90 |
7 |
|
6h |
29.6 |
82 |
1.16 |
270 |
0.40L |
130 |
7 |
|
9h |
28.2 |
89 |
1.60 |
30 |
0.30G |
120 |
6 |
- Vào
thời gian khảo sát (cuối tháng 5 đầu tháng 6/2002), là thời kỳ gió
mùa Tây Nam thịnh hành trên toàn vùng ven biển phía Nam, nhưng
trường gió quan trắc được trong vịnh Quy Nhơn lại có xu thế thiên về
hướng Đông. Sự nhiễu loạn này có lẽ liên quan mật thiết với tình
hình biến đổi thời tiết khô nóng và hạn hán kéo dài từ tháng 4 - 7/
2002, ở các tỉnh miền Trung nước ta.
- Do
trường gió có tốc độ trung bình rất yếu (Vtb = 2.06 cm/s) và có
hướng thổi chủ yếu là hướng Đông, nên trường sóng cũng có hướng
truyền tương tự và có độ cao sóng trung bình rất nhỏ (Hs = 0.15m).
So với các đặc trưng của trường sóng gió, trường sóng lừng có độ cao
lớn hơn và có thể đạt tới giá trị cực đại là 0.5m.
- Dòng
chảy trong vịnh Quy Nhơn có qui luật biến đổi rất rõ nét. Ở vùng ven
bờ dòng chảy có xu thế phân thành 2 lớp : trên tầng mặt dòng chảy có
hướng chảy về hướng Bắc và Tây bắc; còn ở tầng đáy dòng chảy có
hướng
Nam
và Đông nam. Ở vùng khơi giữa vịnh, dòng chảy ở cả 2 tầng mặt và
đáy, đều có hướng chảy về hướng Nam và Đông nam. Như vậy có thể
khảng định một đều rằng, hệ thống dòng chảy đáy ở vịnh Quy Nhơn chịu
ảnh hưởng rất rõ nét của hệ thống dòng chảy lạnh bờ Tây Biển Đông;
còn trên tầng mặt hình thành một hoàn lưu xoáy thuận với hướng chảy
ở các khu vực ven bờ thiên về hướng Bắc, còn ở ngoài khơi thì chảy
về hướng Nam. Nhờ hệ thống hoàn lưu này mà quá trình trao đổi nước ở
vịnh Quy Nhơn khá tốt, một trong những điều kiện thuận lợi cho quá
trình sống và phát triển nguồn lợi sinh vật.
Bảng 3.
Tốc độ
dòng chảy trung bình (Vtb), cực đại (Vmax) và cực tiểu (V min)
tại các trạm LT. QNh.-17 và LT. QNh.-30, vịnh
Quy Nhơn, tháng 5/2002
|
Trạm đo |
Tầng đo (m) |
Vtb (cm/s) |
Vmax (cm/s) |
Vmin (cm/s) |
|
Trạm LT.QNh.-17 |
5 |
7.00 |
17.00 |
1.00 |
|
10 |
7.60 |
14.00 |
1.00 |
|
Trạm LT.QNh.- 30 |
5 |
9.30 |
13.00 |
5.00 |
|
10 |
12.50 |
20.00 |
7.00 |
- Đặc
điểm biến đổi các điều kiện thủy văn (nhiệt độ và độ muối) trong
vịnh Quy Nhơn chịu sự chi phối của các quá trình động lực, đồng thời
cũng biểu hiện khá rõ nét qui luật trồi lên của các khối nước lạnh
tầng đáy theo thềm lục địa vào các vùng ven bờ.
Bảng
4a. Các đặc trưng thống kê biến động ngày đêm của nhiệt độ và độ
muối
trạm
LT.QNh.- 17, vịnh Quy Nhơn, tháng 5/2002
|
H
(m) |
Ttb |
Tmax |
Tmin |
DT |
Stb |
Smax |
Smin |
DS |
|
0 |
29.30 |
29.74 |
28.91 |
0.83 |
33.42 |
33.46 |
33.38 |
0.08 |
|
0.5 |
29.28 |
29.67 |
28.94 |
0.73 |
33.43 |
33.47 |
33.39 |
0.08 |
|
1 |
29.18 |
29.53 |
28.94 |
0.59 |
33.42 |
33.46 |
33.38 |
0.08 |
|
1.5 |
29.11 |
29.51 |
28.73 |
0.78 |
33.42 |
33.46 |
33.32 |
0.14 |
|
2 |
29.07 |
29.48 |
28.63 |
0.85 |
33.43 |
33.46 |
33.39 |
0.07 |
|
2.5 |
29.03 |
29.44 |
28.58 |
0.86 |
33.43 |
33.46 |
33.40 |
0.06 |
|
3 |
28.99 |
29.43 |
28.55 |
0.88 |
33.43 |
33.46 |
33.39 |
0.07 |
|
3.5 |
28.91 |
29.41 |
28.43 |
0.98 |
33.43 |
33.47 |
33.40 |
0.07 |
|
4 |
28.87 |
29.40 |
28.33 |
1.07 |
33.44 |
33.46 |
33.38 |
0.08 |
|
4.5 |
28.82 |
29.37 |
28.23 |
1.14 |
33.44 |
33.47 |
33.39 |
0.08 |
|
5 |
28.80 |
29.34 |
28.18 |
1.16 |
33.45 |
33.48 |
33.41 |
0.07 |
|
5.5 |
28.70 |
29.12 |
27.88 |
1.24 |
33.45 |
33.50 |
33.41 |
0.09 |
|
6 |
28.60 |
29.02 |
27.73 |
1.29 |
33.46 |
33.60 |
33.41 |
0.19 |
|
6.5 |
28.43 |
28.97 |
27.4 |
1.57 |
33.47 |
33.62 |
33.41 |
0.21 |
|
7 |
28.36 |
28.91 |
27.24 |
1.67 |
33.48 |
33.62 |
33.41 |
0.21 |
|
7.5 |
28.31 |
28.91 |
27.12 |
1.79 |
33.49 |
33.64 |
33.42 |
0.22 |
|
8 |
28.24 |
28.90 |
26.96 |
1.94 |
33.49 |
33.66 |
33.43 |
0.23 |
|
8.5 |
28.20 |
28.87 |
26.87 |
2.0 |
33.51 |
33.69 |
33.43 |
0.26 |
|
9 |
28.14 |
28.68 |
26.80 |
1.88 |
33.50 |
33.69 |
33.40 |
0.29 |
|
9.5 |
28.07 |
28.61 |
26.78 |
1.83 |
33.52 |
33.69 |
33.43 |
0.26 |
|
10 |
28.03 |
28.57 |
26.76 |
1.81 |
33.54 |
33.70 |
33.46 |
0.24 |
|
10.5 |
27.96 |
28.56 |
26.71 |
1.85 |
33.55 |
33.70 |
33.46 |
0.24 |
|
11 |
27.91 |
28.49 |
26.68 |
1.81 |
33.56 |
33.70 |
33.48 |
0.22 |
|
11.5 |
27.85 |
28.44 |
26.64 |
1.80 |
33.56 |
33.70 |
33.48 |
0.22 |
|
12 |
27.60 |
28.41 |
26.20 |
2.21 |
33.57 |
33.64 |
33.49 |
0.15 |
|
12.5 |
27.23 |
28.39 |
25.77 |
2.62 |
33.60 |
33.74 |
33.47 |
0.27 |
|
13 |
27.03 |
28.29 |
26.64 |
2.65 |
33.65 |
33.79 |
33.51 |
0.28 |
|
13.5 |
27.15 |
28.00 |
26.39 |
1.61 |
33.56 |
33.75 |
33.36 |
0.39 |
|
14 |
26.54 |
26.83 |
26.22 |
0.61 |
33.69 |
33.75 |
33.65 |
0.10 |
Bảng
4b. Các đặc trưng thống kê biến động ngày đêm của nhiệt độ và độ
muối
trạm
LT.QNh.- 30, vịnh Quy Nhơn, tháng 5/2002
|
H
(m) |
Ttb |
Tmax |
Tmin |
DT |
Stb |
Smax |
Smin |
DS |
|
0 |
29.16 |
30.03 |
28.78 |
1.25 |
33.40 |
33.45 |
33.32 |
0.13 |
|
1 |
29.12 |
29.90 |
28.79 |
1.11 |
33.39 |
33.44 |
33.33 |
0.11 |
|
2 |
28.99 |
29.37 |
28.79 |
0.58 |
33.40 |
33.44 |
33.32 |
0.12 |
|
3 |
28.92 |
29.26 |
29.79 |
0.47 |
33.41 |
33.44 |
33.36 |
0.08 |
|
4 |
28.88 |
29.16 |
28.75 |
0.41 |
33.41 |
33.44 |
33.37 |
0.07 |
|
5 |
28.85 |
29.11 |
28.69 |
0.42 |
33.42 |
33.44 |
33.39 |
0.05 |
|
6 |
28.84 |
29.11 |
28.69 |
0.42 |
33.43 |
33.45 |
33.40 |
0.05 |
|
7 |
28.78 |
29.03 |
28.56 |
0.47 |
33.43 |
33.45 |
33.41 |
0.04 |
|
8 |
28.75 |
29.00 |
28.41 |
0.59 |
33.43 |
33.46 |
33.41 |
0.05 |
|
9 |
28.71 |
28.96 |
28.12 |
0.84 |
33.44 |
33.51 |
33.42 |
0.09 |
|
10 |
28.69 |
28.95 |
28.09 |
0.86 |
33.44 |
33.51 |
33.41 |
0.10 |
|
11 |
28.65 |
28.94 |
27.96 |
0.98 |
33.45 |
33.53 |
33.42 |
0.11 |
|
12 |
28.61 |
28.94 |
27.90 |
1.04 |
33.46 |
33.53 |
33.42 |
0.11 |
|
13 |
28.57 |
28.94 |
27.80 |
1.14 |
33.46 |
33.53 |
33.41 |
0.12 |
|
14 |
28.52 |
28.92 |
27.77 |
1.15 |
33.47 |
33.54 |
33.41 |
0.13 |
|
15 |
28.44 |
28.92 |
27.63 |
1.29 |
33.47 |
33.56 |
33.41 |
0.15 |
|
16 |
28.35 |
28.91 |
27.40 |
1.51 |
33.48 |
33.55 |
33.42 |
0.13 |
|
17 |
28.23 |
28.89 |
26.97 |
1.92 |
33.49 |
33.63 |
33.41 |
0.22 |
|
18 |
28.04 |
28.86 |
26.90 |
1.96 |
33.51 |
33.64 |
33.41 |
0.23 |
|
19 |
27.82 |
28.79 |
26.85 |
1.94 |
33.53 |
33.63 |
33.38 |
0.25 |
|
20 |
27.52 |
28.18 |
26.51 |
1.67 |
33.55 |
33.68 |
33.33 |
0.35 |
|
21 |
27.20 |
27.88 |
26.42 |
1.46 |
33.60 |
33.72 |
33.50 |
0.22 |
|
22 |
27.08 |
27.85 |
26.38 |
1.47 |
33.62 |
33.72 |
33.58 |
0.14 |
|
23 |
26.76 |
27.21 |
25.79 |
1.24 |
33.62 |
33.75 |
33.57 |
0.18 |
|
24 |
27.37 |
26.99 |
25.53 |
1.46 |
33.65 |
33.72 |
33.55 |
0.17 |
|
25 |
25.76 |
26.74 |
25.04 |
1.70 |
33.72 |
33.84 |
33.58 |
0.26 |
|
26 |
25.78 |
26.10 |
25.27 |
0.83 |
33.74 |
33.80 |
33.65 |
0.15 |
Ttb - nhiệt độ trung bình; Tmax - cực đại; Tmin - cực
tiểu; DT
- biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ;. Stb - độ muối trung bình;
Smax - cực đại; Smin - cực tiểu;
DS
- biên độ dao động ngày đêm của độ muối.
2.2 - Đặc điểm địa hình đáy.
Trên
hình 2 có thể phân biệt 2 phần : phần trong và phần ngoài với ranh
giới là đường đẳng sâu 26m chạy dọc theo kinh tuyến từ Hòn Khô xuống
phía Nam.
Phần trong - bề mặt địa hình bằng phẳng, thoải đều từ bờ
ra, có dạng một đồng bằng tích tụ trước vịnh hở với một phần sót lại
của đồng bằng tích tụ lagoon cổ (khu vực giữa phần trong và phần
ngoài). Hiện tại phần lớn diện tích của các đồng bằng này (ngoại
trừ phần phía Nam của cụm đảo Hòn Đất, Hòn Rùa, Hòn Roi và Hòn Đá
Cua) đang có nhiều biến đổi do chịu ảnh hưởng của dòng vật liệu
bồi tích được mang ra từ lục địa (chủ yếu là qua lạch cửa đầm Thị
Nại, một phần do quá trình xói mòn bờ và bóc mòn bề mặt do dòng chảy
tạm thời) đặc biệt là vào mùa mưa lũ. Các kiểu trầm tích phủ trên bề
mặt địa hình phần này chủ yếu là hạt nhỏ đến mịn và có mức độ chọn
lọc từ trung bình đến kém, ngoại trừ kiểu trầm tích cát nhỏ phân bố
ở phần ngầm của bãi Quy Nhơn và phần phía Bắc của bán đảo Cù Mông.

Ở khu vực phía Nam vùng nghiên cứu, nhiều nơi gặp vách
dốc đứng cao hơn 4m (từ độ sâu 18m cắm xuống độ sâu 22 - 23m, (ở
vị trí 13o 35’ 802 và 109o 18’
819) là các dấu vết của một đường bờ cổ đã từng tồn tại vào
thời kỳ mực biển thấp hơn so với ngày nay.
Phần ngoài - bắt đầu từ chân đê cát (ở các khoảng độ sâu
26 - 29 m) chạy dọc theo hướng kinh tuyến, từ khu vực Cù Lao Xanh
lên phía Bắc, tới ngang với mũi yến của bán đảo Phương Mai. Trên hầu
hết các mặt cắt địa hình (tài liệu đo tháng 5/2002) đều cho thấy
hình thái của đê cát này có dạng: Sườn phía trong thường bắt đầu từ
độ sâu 26 - 29 m dốc thoải cao dần lên đến đỉnh của nó ở các độ sâu
19 - 22 m; có nơi chỉ còn một đỉnh, nhưng nhiều nơi gặp 2 - 3 đỉnh
liên tiếp chạy song song với nhau; Sườn phía ngoài có góc dốc lớn
hơn (7 - 10o), có nơi tạo thành vách dốc đứng (gần như
thẳng đứng - 90o) cắm xuống các độ sâu 26 - 29 m, đôi nơi
còn giữ nguyên được hình dạng cong lõm ngay dưới chân đê là dấu vết
do tác động của sóng vỗ bờ và sau đấy là bề mặt địa hình bằng phẳng
thoải đều ra tới độ sâu 40 m.
Vật liệu
cấu tạo các đê cát này ngầm là cát trung chọn lọc tốt. Ở phần chân
đê (cả ở sườn trong và sườn ngoài) là cát trung màu vàng với
thành phần chủ yếu là thạch anh, ít felspat, các mảnh đá, sạch chọn
lọc tốt, lẫn ít vụn vỏ xác sinh vật, rất ít khoáng vật nặng, kiểu
trầm tích đặc trưng cho trầm tích tướng bãi. Trên đỉnh các đê cát
này (tại 6 trạm thu mẫu) trong thành phần cát trung, ngoài các
khoáng vật thạch anh, fenspat, hàm lượng các khoáng vật nặng khá
cao. Tại hầu hết các trạm đều bắt gặp các lớp tập trung khoáng vật
nặng rất cao, dạng của một thân sa khoáng. Nếu như chỉ xét so
sánh về đặc trưng hình thái địa hình, đặc điểm trầm tích, điều kiện
động lực hiện tại có thể thấy rằng, về hình thái và có thể cả về cơ
chế hình thành của đê cát ngầm này rất giống với hình thái của các
đê cát phân bố trên đất liền dọc ven biển miền Trung nói chung và
ven biển Bình Định nói riêng. Tuy nhiên sự hình thành các đê cát
ngầm này đã xảy ra vào thời kỳ khi mực nước biển thấp hơn so với
ngày nay, có thể vào thời gian biển dừng trong pha biển tiến cuối
Pleistocen muộn đầu Holocen sớm.
Ở phía
ngoài đê cát ngầm này là bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thoải
đều trãi rộng ra ngoài phạm vi vùng nghiên cứu, được phủ bởi trầm
tích hạt mịn, là một phần của đồng bằng ngầm ven biển miền Trung.
2.3 - Đặc điểm trầm tích tầng mặt.
Từ những kết quả khảo sát, phân tích các mẫu thu được
trong khuôn khổ đề tài (tại 50 trạm), kết hợp với các tài liệu khảo
sát (tại 6 trạm) của đề tài KC 09.07,
KT 03.01, đề tài 05 (Dự án hợp tác
Việt - Ấn) chúng tôi thành lập bản đồ phân bố các kiểu trầm tích
tầng mặt vùng nghiên cứu tỷ lệ 1 : 50.000 (H.3).
Trên bức tranh phân bố chung, cho thấy kiểu trầm tích
chiếm ưu thế về diện tích phân bố ở đây là kiểu trầm tích cát bùn -
bùn cát và trầm tích cát trung.
Một trong những đặc điểm cần được lưu tâm là sự hiện
diện của các đê cát trung phân bố ngoài cửa vịnh. Trên đỉnh các đê
cát, trong thành phần cát trung hàm lượng các khoáng vật nặng rất
cao, có nơi còn thể hiện dấu ấn của các thân sa khoáng. Hàm lượng
các khoáng vật nặng trong trầm tích đạt từ 2 - 5%. Thành phần các
khoáng vật nặng chủ yếu là inmenit, zircon, rutil, granat.
Ở phần
chân đê, cát trung màu vàng, sạch, mức độ mài tròn và chọn lọc tốt,
hầu như không chứa vật liệu hạt mịn, thành phần đồng nhất (cát thạch
anh), lẫn ít vụn vỏ xác sinh vật, ít khoáng vật nặng, rất nghèo sinh
vật đáy. Xét các dấu hiệu đặc trưng của trầm tích, hình thái địa
hình và nguồn gốc hình thành cho thấy rằng, trầm tích cát trung ở
đây đã được hình thành do chịu tác động mạnh của các yếu tố động lực
đới bờ (chủ yếu là sóng), theo hình thái địa hình và đặc điểm phân
bố thì chúng thuộc kiểu trầm tích tướng bãi biển cổ. Trong điều kiện
động lực hiện nay, đê cát này vẫn thường xuyên chịu tác động khá
mạnh của động lực biển (dòng chảy đáy, sóng, đặc biệt là sóng bão).
Do tác động của các yếu tố này (chủ yếu là sóng) quá trình phân dị
trầm tích tiếp tục diễn ra: các khoáng vật nhẹï được đưa xuống hai
bên sườn (cả sườn trong và sườn ngoài) của đê cát, các khoáng vật
nặng thì tập trung trên đỉnh của nó. Đây là cơ sở để giải thích tại
sao trên đỉnh các đê cát tập trung hàm lượng khoáng vật nặng cao như
vậy.
Hiện nay
quá trình lắng đọng trầm tích diễn ra trên phần lớn đáy vịnh, nhưng
với tốc độ khác nhau phụ thuộc vào nguồn cung cấp vật liệu bồi tích
và các tác động của các yếu tố thuỷ động lực (ngoại trừ đê cát ngầm
ngoài cửa vịnh). Xét theo các yếu tố này thì khu vực phía trong vịnh
(kể cả bên ngoài phần ngầm bãi Quy Nhơn và trước cửa lạch vào đầm
Quy Nhơn) có lẽ là nơi có tốc độ lắng đọng trầm tích cao nhất.
2.4 - Hiện trạng một số yếu tố hóa môi trường.
Trong bảng 5 là kết quả đo đạc, phân
tích một số yếu tố môi trường nước và trong trầm tích đáy vịnh Quy
Nhơn.
2.4.1 - Đặc điểm môi trường nước :
Nhiệt độ (ToC).
Kết quả đo đạc các mẫu (mặt và đáy) tại 50 trạm mặt rộng
cho thấy rằng: Nhiệt độ nước tầng mặt dao động từ 27,5 - 30oC,
trung bình là 28,9 oC; còn ở tầng đáy, chúng dao động từ
26 - 29oC, trung bình là 28,3oC .
Độ muối (S%o).
Độ muối nước tầng mặt và tầng đáy đều nằm trong khoảng
dao động từ ø 31- 34%o, tuy nhiên trong cùng một trạm thì độ muối
tầng đáy luôn luôn bằng hoặc lớn hơn tầng mặt chút ít, có lẽ do chịu
ảnh hưởng ít nhiều của nước từ trong đầm Quy Nhơn chảy ra vào thời
điểm triều xuống.
pH.
Độ pH
tầng mặt dao động từ 7,8 - 8,1, trung bình là 7,9 ; còn tầng đáy dao
động từ 7,9 - 8,1, trung bình là 8.0. Cũng như độ muối, trong cùng
một trạm thì độ pH ở tầng đáy luôn luôn lớn hơn hoặc bằng tầng mặt.
Oxy
hòa tan.
Hàm
lượng oxy hòa tan tầng mặt dao động từ 5,81 - 6,46mg/l, trung bình
là 6,13 mg/l; tầng đáy dao động từ 5,97 - 6,62mg/l, trung bình là
6,24 mg/l. Tuy nhiên, tại một số trạm thì hàm lượng oxy hòa tan tầng
mặt lớn hơn tầng đáy đôi chút. Bức tranh xu thế chung là: hàm lượng
oxy hòa tan tầng đáy luôn lớn hơn hoặc ít nhất là bằng tầng mặt.
Bảng
5 :
Các yếu tố môi trường trong nước và trong trầm tích
Vịnh Quy
Nhơn (5 - 6/2002)
|
Số
TT |
Trạm |
Nhiệt độ
(oC) |
Độ
muối (%o) |
pH nước |
Oxy hòa tan (mg/l) |
pH |
C
hc (%) |
N
(%) |
P (%o) |
|
mặt |
đáy |
mặt |
đáy |
mặt |
đáy |
mặt |
đáy |
Trong trầm tích |
|
Trong nước |
|
1 |
QNh 01 |
28 |
28.5 |
31 |
32 |
7.9 |
8.1 |
6.14 |
5.97 |
7.6 |
0.013 |
0.002 |
0.037 |
|
2
|
QNh 02 |
28.5 |
28 |
31 |
32 |
8.1 |
8.1 |
6.46 |
5.97 |
7.9 |
0.011 |
0.002 |
0.032 |
|
3 |
QNh 03 |
29 |
27.5 |
31 |
32 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.14 |
7.8 |
0.040 |
0.002 |
0.092 |
|
4 |
QNh 04 |
28.5 |
27.5 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.14 |
7.9 |
0.023 |
0.001 |
0.044 |
|
5 |
QNh 05 |
27.5 |
26.5 |
33 |
34 |
7.8 |
7.9 |
6.46 |
6.30 |
7.8 |
0.018 |
0.002 |
0.031 |
|
6 |
QNh 06 |
27.5 |
26.0 |
33 |
34 |
8.1 |
8.1 |
6.30 |
6.30 |
7.7 |
0.018 |
0.002 |
0.074 |
|
7 |
QNh 07 |
28.0 |
28.5 |
34 |
34 |
8.0 |
8.0 |
6.14 |
6.22 |
7.5 |
0.472 |
0.030 |
0.390 |
|
8 |
QNh 08 |
29.0 |
- |
34 |
- |
8.0 |
- |
6.46 |
- |
7.5 |
0.026 |
0.002 |
0.122 |
|
9 |
QNh 09 |
29.0 |
28.4 |
34 |
34 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.14 |
7.5 |
0.485 |
0.037 |
0.369 |
|
10 |
QNh 10 |
29.0 |
28.5 |
30 |
30 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.30 |
7.5 |
0.666 |
0.040 |
0.357 |
|
11 |
QNh 11 |
27.5 |
26.5 |
32 |
33 |
7.8 |
7.9 |
6.14 |
6.14 |
7.7 |
0.341 |
0.026 |
0.209 |
|
12 |
QNh 12 |
28.5 |
28.0 |
32 |
33 |
7.9 |
8.1 |
6.46 |
6.46 |
7.8 |
0.015 |
0.002 |
0.046 |
|
13 |
QNh 13 |
29.0 |
27.5 |
30 |
32 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
5.97 |
7.6 |
0.298 |
0.024 |
0.259 |
|
14 |
QNh 14 |
29.0 |
28.0 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.46 |
7.7 |
0.020 |
0.002 |
0.053 |
|
15 |
QNh 15 |
29.0 |
27.5 |
31 |
34 |
8.0 |
6.1 |
6.14 |
6.30 |
7.8 |
0.011 |
0.001 |
0.022 |
|
16 |
QNh 16 |
29.0 |
28.0 |
32 |
33 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.14 |
7.6 |
0.670 |
0.045 |
0.356 |
|
17 |
QNh 17 |
29.0 |
29.0 |
30 |
33 |
8.0 |
8.1 |
6.14 |
6.30 |
7.7 |
0.241 |
0.016 |
0.162 |
|
18 |
QNh 18 |
29.0 |
29.0 |
32 |
34 |
7.9 |
8.0 |
5.97 |
6.14 |
7.7 |
0.036 |
0.002 |
0.117 |
|
19
|
QNh 19 |
29.0 |
28.5 |
30 |
32 |
8.0 |
8.1 |
6.14 |
6.46 |
7.7 |
0.046 |
0.002 |
0.117 |
|
20 |
QNh 20 |
28.5 |
27.5 |
32 |
34 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.46 |
7.8 |
0.021 |
0.002 |
0.033 |
|
21 |
QNh 21 |
28.5 |
28.5 |
31 |
32 |
7.9 |
8.0 |
5.81 |
6.30 |
7.8 |
0.010 |
0.002 |
0.028 |
|
22 |
QNh 22 |
28.5 |
27.5 |
32 |
33 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
5.97 |
7.6 |
0.603 |
0.038 |
0.353 |
|
23 |
QNh 23 |
28.5 |
28.5 |
31 |
32 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.14 |
7.8 |
0.013 |
0.001 |
0.044 |
|
24 |
QNh 24 |
29.5 |
29.0 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.62 |
7.7 |
0.011 |
0.001 |
0.023 |
|
25 |
QNh 25 |
29.5 |
28.5 |
32 |
33 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.46 |
7.7 |
0.077 |
0.002 |
0.141 |
|
26 |
QNh 26 |
29.0 |
28.5 |
31 |
33 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.46 |
7.8 |
0.026 |
0.002 |
0.099 |
|
27 |
QNh 27 |
29.5 |
29.5 |
32 |
33 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.30 |
7.7 |
0.036 |
0.002 |
0.111 |
|
28 |
QNh 28 |
30.0 |
29.0 |
30 |
31 |
7.9 |
8.1 |
5.81 |
6.14 |
7.7 |
0.060 |
0.002 |
0.112 |
|
29 |
QNh 29 |
29.2 |
29.0 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.30 |
7.5 |
0.335 |
0.019 |
0.270 |
|
30 |
QNh 30 |
29.2 |
28.5 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
6.30 |
7.4 |
0.234 |
0.012 |
0.241 |
|
31 |
QNh 31 |
30.0 |
29.0 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.30 |
7.7 |
0.006 |
0.001 |
0.026 |
|
32 |
QNh 32 |
30.0 |
29.5 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.14 |
7.4 |
0.415 |
0.024 |
0.329 |
|
33 |
QNh 33 |
29.5 |
28.8 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
6.14 |
6.30 |
7.7 |
0.023 |
0.002 |
0.064 |
|
34 |
QNh 34 |
30.0 |
28.5 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
6.30 |
5.97 |
7.6 |
0.435 |
0.027 |
0.329 |
|
35 |
QNh 35 |
29.5 |
29.0 |
30 |
30 |
7.9 |
8.0 |
5.97 |
6.46 |
7.7 |
0.016 |
0.001 |
0.041 |
|
36 |
QNh 36 |
30.0 |
29.0 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
5.97 |
6.30 |
7.4 |
0.368 |
0.020 |
0.244 |
|
37 |
QNh 37 |
29.8 |
- |
30 |
- |
7.9 |
- |
5.97 |
- |
7.8 |
0.020 |
0.002 |
0.040 |
|
38 |
QNh 38 |
29.3 |
28.5 |
30 |
30 |
7.9 |
8.1 |
6.14 |
6.14 |
7.6 |
0.167 |
0.006 |
0.196 |
|
39 |
QNh 39 |
29.0 |
29.5 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.14 |
7.6 |
0.033 |
0.002 |
0.072 |
|
40 |
QNh 40 |
28.5 |
28.5 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
6.14 |
6.14 |
7.7 |
0.011 |
0.001 |
0.028 |
|
41 |
QNh 41 |
30.0 |
28.0 |
30 |
31 |
7.9 |
8.0 |
5.97 |
5.97 |
7.6 |
0.435 |
0.030 |
0.284 |
|
42 |
QNh 42 |
29.0 |
28.0 |
30 |
31 |
8.1 |
8.1 |
6.30 |
6.30 |
- |
- |
- |
- |
|
43 |
QNh 43 |
28.5 |
27.8 |
30 |
31 |
7.9 |
8.1 |
6.14 |
6.14 |
7.6 |
0.043 |
0.002 |
0.073 |
|
44 |
QNh 44 |
29.0 |
29.0 |
30 |
30 |
8.1 |
8.1 |
6.30 |
6.30 |
7.6 |
0.016 |
0.001 |
0.026 |
|
45 |
QNh 45 |
29.2 |
29.0 |
30 |
30 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.30 |
7.5 |
0.368 |
0.021 |
0.332 |
|
46 |
QNh 46 |
29.2 |
28.8 |
30 |
31 |
8.0 |
8.1 |
6.30 |
6.14 |
7.8 |
0.053 |
0.002 |
0.147 |
|
47 |
QNh 47 |
29.0 |
28.5 |
32 |
32 |
8.0 |
8.1 |
6.14 |
6.46 |
7.8 |
0.056 |
0.002 |
0.143 |
|
48 |
QNh 48 |
28.5 |
28.0 |
30 |
30 |
7.9 |
8.1 |
6.14 |
6.30 |
7.7 |
0.026 |
0.002 |
0.054 |
|
49 |
QNh 49 |
28.8 |
28.0 |
30 |
30 |
7.9 |
8.0 |
6.14 |
6.30 |
7.6 |
0.015 |
0.001 |
0.033 |
|
50 |
QNh 50 |
28.5 |
28.0 |
30 |
30 |
8.0 |
8.1 |
5.97 |
6.30 |
7.6 |
0.234 |
0.011 |
0.264 |
2.4.2 - Các chất hữu cơ trong trầm
tích đáy:
Một
trong những yếu tố địa chất môi trường liên quan mật thiết với nguồn
lợi sinh vật (chủ yếu là sinh vật đáy) là hợp phần các vật chất hữu
cơ trong trầm tích đáy (Cacbon hữu cơ, Nitơ và Photpho). Sự phân bố
và hàm lượng của chúng trong trầm tích đáy, phụ thuộc vào đặc điểm
cấu trúc hình thái địa hình, phân bố các kiểu trầm tích, nguồn cung
cấp vật liệu trầm tích,….và quá trình tiêu thụ của chính các loài
sinh vật đáy.
Trên các
biểu đồ biến thiên hàm lượng theo các mặt cắt (H. 4a, 4b,4c), có thể
dễ dàng nhận thấy những đặc điểm chung trong sự phân bố các hợp phần
hữu cơ trong trầm tích đáy vịnh Quy Nhơn là :
- Mối
quan hệ rất mật thiết và có tương quan tuyến tính với nhau của các
chất hữu cơ. Tức là trong mọi trường hợp sự tăng hay giảm hàm lượng
của Chc , đều kéo theo sự tăng hay giảm hàm lượng của N và P.
- Hầu
hết hàm lượng cao của Chc, N tổng và P tổng đều tập trung trong
thành phần trầm tích hạt mịn như : bùn, bùn sét và bùn cát, trong đó
tập trung chính là ở khu vực trước cửa đầm Thị Nại và ở phần phía
ngoài của đê cát ngầm, nơi có liên quan đến dãi cát bùn, bùn cát dọc
theo ven bờ vùng biển miền Trung. Ngoài ra còn gặp dải phân bố hẹp ở
khu vực bên ngoài bãi phía Bắc của bán đảo Cù Mông và ở lạch triều
cổ phía Tây bắc đảo Cù Lao Xanh. Giá trị hàm lượng thấp nhất của
chúng bắt gặp trong kiểu trầm tích cát trung phân bố trên đê cát
ngầm trước cửa vịnh và trên các bãi cạn.
Khi xem
xét tỉ số C/N cho thấy rằng, tại các trạm có hàm lượng N tương đối
cao, thì tỉ số C/N dao động từ 11 - 20, điều này chứng tỏ các hợp
phần hữu cơ ở đây có cùng nguồn cung cấp là từ lục địa ra và quá
trình phân hủy chúng để tái tạo nguồn dinh dưỡng trong trầm tích là
khá tốt; quá trình tiêu thụ của bọn sinh vật đáy rất cao.

Hình 4a
: Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt I

Hình 4b
: Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt II
Hình
4c: Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt III
Nhận xét
1- Các
đặc điểm về khí tượng, chế độ thủy văn và động lực hoàn toàn mang
tính khu vực địa phương, song vẫn chịu ảnh hưởng của chế độ chung
của vùng biển miền Trung, đặc biệt là hệ thống dòng chảy tầng đáy.
Nhờ hệ thống hoàn lưu này mà quá trình trao đổi nước ở vịnh Quy Nhơn
khá tốt.
2- Địa
hình đáy vịnh Quy Nhơn tương đối đơn giản, có thể phân biệt thành
phần trong và phần ngoài với ranh giới là đường đẳng sâu 26m. Phần
trong, địa hình có bề mặt bằng phẳng, thoải đều với lạch sâu (H.max
= 17m khi triều cao) nối liền với đầm Quy Nhơn. Bề mặt địa hình được
phủ chủ yếu bởi trầm tích hạt mịn, là nơi rất thuận lợi cho việc neo
đậu tàu trước và sau khi ra vào cảng Quy Nhơn.
3- Kiểu
trầm tích chiếm ưu thế về diện tích phân bố trên bề mặt đáy vịnh là
kiểu trầm tích cát bùn - bùn cát và trầm tích cát trung. Hàm lượng
khoáng vật nặng tập trung cao trong trầm tích cát trung (2 – 5%) ở
đê cát ngầm ngoài cửa vịnh cho thấy khả năng hình thành vành trọng
sa rất có triển vọng, cần được tiếp tục nghiên cứu chi tiết để đánh
giá đúng nguồn tài nguyên này.
4 – Hiện
trạng các yếu tố môi trường và các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
nhiều loài sinh vật đáy sinh sống và phát triển.