ĐẶC TRƯNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỊNH QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

 

TRỊNH THẾ HIẾU, NGUYỄN ĐÌNH ĐÀN, PHẠM BÁ TRUNG, NGUYỄN ĐỨC ÁI, NGUYỄN BÁ XUÂN

Viện Hải Dương Học Nha Trang 

 

Tóm tắt: Dựa vào những kết quả nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng, hiện trạng các điều kiện tự nhiên và môi trường vịnh Quy Nhơn khá thuận lợi không chỉ cho việc khai thác sử dụng trong phát triển kinh tế, mà còn cho sự sống và phát triển của nhiều loài sinh vật đáy cơ sở thức ăn cho nhiều loài sinh vật khác. Sự tập trung với hàm lượng cao (2 – 5%) các khoáng vật nặng trong trầm tích cát trung ở đê cát ngầm ngoài cửa vịnh cần được tiếp tục nghiên cứu, nhằm đánh giá đầy đủ hơn về tiềm năng tài nguyên của vịnh. 

Mở đầu

            Để góp phần cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng môi trường, nguồn lợi tiến tới định hướng quản lý và qui hoạch phát triển vùng vịnh Quy Nhơn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu đề tài: “Cấu trúc hình thái rạn san hô, địa hình đáy và hiện trạng nguồn lợi sinh vật khu vực Cù Lao Xanh - Hòn Đất - Hòn Khô thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ”.

            Được sự cho phép của Lãnh đạo Sở KHCN & MT BÌNH Định, nội dung báo cáo giới thiệu một phần kết quả nghiên cứu của đề tài này được thực hiện trong thời gian 2001 – 2002, do Viện Hải Dương Học Nha Trang chủ trì thực hiện.

 

1. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

1.1– Nguồn tài liệu.

- Báo cáo: Đánh giá tác động môi trường tỉnh Bình Định (1994) của Sở KHCN & MT Bình Định.

-  Báo cáo đề tài KT 03.01, 1991 - 1995

- Tài liệu của dự án “Khảo sát định kỳ Biển Đông,1999 - 2000

- Tài liệu chuyến khảo sát, đo đạc tháng 5 – 6/2002

I.2 – Phương pháp nghiên cứu.

Khảo sát thực địa

Vị trí các điểm khảo sát đo đạc và thu mẫu (H.1) được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS Fuso 722. Phương tiện khảo sát : Tàu NCB-95 của Viện Hải Dương Học và các tàu đánh cá của ngư dân thành phố Quy Nhơn.

Thực hiện 19 tuyến mặt cắt đo sâu địa hình đáy bằng máy đo sâu hồi JMC

Echo Sounder Model – F 840.

Thu mẫu trầm tích đáy bằng cuốc “Đại dương 0.25” và lưới cào đáy.

Các yếu tố môi trường S%0, To, pH (nước,đất) được đo ngay tại hiện trường bằng các máy cầm tay. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước được thu bằng batomet 1.5l, mẫu được đựng trong lọ thuỷ tinh 100ml và được phân tích ngay trong ngày thu mẫu bằng phương pháp Winkle.

Quan trắc, đo đạc các yếu tố khí tượng thủy văn và động lực tại 2 trạm liên tục mỗi trạm 1 ngày đêm, theo ốp 3 giờ lần. Khí tượng – tốc độ gió được đo bằng máy đo gió cầm tay của Nga, hướng gió được đo bằng la bàn; nhiệt độ không khí đo bằng nhiệt kế; độ ẩm tương đối được đo bằng ẩm kế ASMAN.

 

 

 

 

Thuỷ văn : Nhiệt độ và độ muối đo bằng máy tự động AST-500 của Nhật.

Sóng : Các thông số của trường sóng (độ cao, hướng và chu kỳ) được xác định dựa vào số liệu quan trắc để lấy trung bình.

Dòng chảy đo bằng máy tự ghi DNC – 2M của Anh.

Trong phòng thí nghiệm.

Các yếu tố thuỷ động lực (sóng, dòng chảy) được hiệu chỉnh, xử lý tính toán theo phương pháp số trị để thành lập các sơ đồ hoa sóng, hoa dòng chảy và các mặt cắt thẳng đứng biến đổi nhiệt độ, độ muối.

Các số liệu đo đạc địa hình được hiệu chỉnh triều theo triều Quy Nhơn. Từ các số liệu hiệu chỉnh, số hoá thành lập bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu tỷ lệ 1:50.000. Sử dụng phần mềm MapInfo 6.0, Surfer 7.0 và Arcview 3.2.

Các mẫu trầm tích đáy được phân tích các chỉ tiêu phục vụ nội dung đề tài theo “Quy phạm điều tra Địa chất biển” do UBKH & KTNN ban hành năm 1981. Dựa vào kết quả phân tích thành lập bản đồ phân bố trầm tích và các mặt cắt địa hoá đặc trưng.

 

2. Kết quả nghiên cứu

 

II.I - Đặc điểm về các yếu tố khí tượng, thủy văn và động lực.

Từ các kết quả phân tích (các bảng 1, 2, 3, 4a, 4b) có thể đi đến một số nhận xét về đặc điểm khí tượng, thủy văn và động lực của vùng vịnh Quy Nhơn vào thời điểm khảo sát như sau:

 

Bảng 1. Nhiệt độ không khí (ToC); độ ẩm tương đối (F%); tốc độ và hướng gió (Vg và Hg);

độ cao, hướng và chu kỳ sóng (Zs, Hs, Ts) Tại Trạm LT. QNh. 17, vịnh Quy Nhơn, cuối tháng 5/2002.

 

Thời gian

ToC

F %

Vg (m/s)

Hg (o)

Zs (m)

Hs (o)

Ts (giây)

9h. 28/5/02

28.8

86

1.98

120

0.10L

90

6

12h

29.4

81

2.54

130

0.10G

110

3

15h

29.4

84

1.95

130

0.15G

110

4

18h

26.8

92

0.79

350

0.15G

20

4

21h

27.2

90

1.00

130

0.15L

120

7

0h. 29/5/02

27.2

94

1.10

330

0.15G

320

4

3h

27.6

89

0.84

350

0.15L

360

6

6h

30.0

85

0.50

330

0.15L

350

6

9h

31.0

82

2.52

80

0.15L

120

6

 

Bảng 2. Nhiệt độ không khí (ToC); độ ẩm tương đối (F%); tốc độ và hướng gió (Vg và Hg);

độ cao, hướng và chu kỳ sóng (Zs, Hs, Ts)Tại Trạm LT. QNh. 30, vịnh Quy Nhơn, cuối tháng 5/2002.

      

Thời gian

ToC

F %

Vg (m/s)

Hg (o)

Zs (m)

Hs (o)

Ts (giây)

12h. 29/5/02

30.2

85

1.90

90

0.20L/G

120

7

15h

30.2

83

4.48

100

0.15G

90

3

18h

29.8

88

5.43

160

0.50G

250

4

21h

28.4

92

3.65

190

0.40G

160

4

0h. 30/5/02

28.5

87

0.65

190

0.10L

120

8

3h

28.4

88

0.96

210

0.50L

90

7

6h

29.6

82

1.16

270

0.40L

130

7

9h

28.2

89

1.60

30

0.30G

120

6

- Vào thời gian khảo sát (cuối tháng 5 đầu tháng 6/2002), là thời kỳ gió mùa Tây Nam thịnh hành trên toàn vùng ven biển phía Nam, nhưng trường gió quan trắc được trong vịnh Quy Nhơn lại có xu thế thiên về hướng Đông. Sự nhiễu loạn này có lẽ liên quan mật thiết với tình hình biến đổi thời tiết khô nóng và hạn hán kéo dài từ tháng 4 - 7/ 2002, ở  các tỉnh miền Trung nước ta.

-  Do trường gió có tốc độ trung bình rất yếu (Vtb = 2.06 cm/s) và có hướng thổi chủ yếu là hướng Đông, nên trường sóng cũng có hướng truyền tương tự và có độ cao sóng trung bình rất nhỏ (Hs = 0.15m). So với các đặc trưng của trường sóng gió, trường sóng lừng có độ cao lớn hơn và có thể đạt tới giá trị cực đại là 0.5m.

-  Dòng chảy trong vịnh Quy Nhơn có qui luật biến đổi rất rõ nét. Ở vùng ven bờ dòng chảy có xu thế phân thành 2 lớp : trên tầng mặt dòng chảy có hướng chảy về hướng Bắc và Tây bắc; còn ở tầng đáy dòng chảy có hướng Nam và Đông nam. Ở vùng khơi giữa vịnh, dòng chảy ở cả 2 tầng mặt và đáy, đều có hướng chảy về hướng Nam và Đông nam. Như vậy có thể khảng định một đều rằng, hệ thống dòng chảy đáy ở vịnh Quy Nhơn chịu ảnh hưởng rất rõ nét của hệ thống dòng chảy lạnh bờ Tây Biển Đông; còn trên tầng mặt hình thành một hoàn lưu xoáy thuận với hướng chảy ở các khu vực ven bờ thiên về hướng Bắc, còn ở ngoài khơi thì chảy về hướng Nam. Nhờ hệ thống hoàn lưu này mà quá trình trao đổi nước ở vịnh Quy Nhơn khá tốt, một trong những điều kiện thuận lợi cho quá trình sống và phát triển nguồn lợi sinh vật.

           

     Bảng 3.  Tốc độ dòng chảy trung bình (Vtb), cực đại (Vmax) và cực tiểu (V min)

                     tại các trạm LT. QNh.-17 và LT. QNh.-30, vịnh Quy Nhơn, tháng 5/2002

 

Trạm đo

Tầng đo (m)

Vtb (cm/s)

Vmax (cm/s)

Vmin (cm/s)

Trạm LT.QNh.-17

5

7.00

17.00

1.00

10

7.60

14.00

1.00

Trạm LT.QNh.- 30

5

9.30

13.00

5.00

10

12.50

20.00

7.00

 

-  Đặc điểm biến đổi các điều kiện thủy văn (nhiệt độ và độ muối) trong vịnh Quy Nhơn chịu sự chi phối của các quá trình động lực, đồng thời cũng biểu hiện khá rõ nét qui luật trồi lên của các khối nước lạnh tầng đáy theo thềm lục địa vào các vùng ven bờ.

 

Bảng 4a.  Các đặc trưng thống kê biến động ngày đêm của nhiệt độ và độ muối

trạm LT.QNh.- 17, vịnh Quy Nhơn, tháng 5/2002

 

H (m)

Ttb

Tmax

Tmin

DT

Stb

Smax

Smin

DS

0

29.30

29.74

28.91

0.83

33.42

33.46

33.38

0.08

0.5

29.28

29.67

28.94

0.73

33.43

33.47

33.39

0.08

1

29.18

29.53

28.94

0.59

33.42

33.46

33.38

0.08

1.5

29.11

29.51

28.73

0.78

33.42

33.46

33.32

0.14

2

29.07

29.48

28.63

0.85

33.43

33.46

33.39

0.07

2.5

29.03

29.44

28.58

0.86

33.43

33.46

33.40

0.06

3

28.99

29.43

28.55

0.88

33.43

33.46

33.39

0.07

3.5

28.91

29.41

28.43

0.98

33.43

33.47

33.40

0.07

4

28.87

29.40

28.33

1.07

33.44

33.46

33.38

0.08

4.5

28.82

29.37

28.23

1.14

33.44

33.47

33.39

0.08

5

28.80

29.34

28.18

1.16

33.45

33.48

33.41

0.07

5.5

28.70

29.12

27.88

1.24

33.45

33.50

33.41

0.09

6

28.60

29.02

27.73

1.29

33.46

33.60

33.41

0.19

6.5

28.43

28.97

27.4

1.57

33.47

33.62

33.41

0.21

7

28.36

28.91

27.24

1.67

33.48

33.62

33.41

0.21

7.5

28.31

28.91

27.12

1.79

33.49

33.64

33.42

0.22

8

28.24

28.90

26.96

1.94

33.49

33.66

33.43

0.23

8.5

28.20

28.87

26.87

2.0

33.51

33.69

33.43

0.26

9

28.14

28.68

26.80

1.88

33.50

33.69

33.40

0.29

9.5

28.07

28.61

26.78

1.83

33.52

33.69

33.43

0.26

10

28.03

28.57

26.76

1.81

33.54

33.70

33.46

0.24

10.5

27.96

28.56

26.71

1.85

33.55

33.70

33.46

0.24

11

27.91

28.49

26.68

1.81

33.56

33.70

33.48

0.22

11.5

27.85

28.44

26.64

1.80

33.56

33.70

33.48

0.22

12

27.60

28.41

26.20

2.21

33.57

33.64

33.49

0.15

12.5

27.23

28.39

25.77

2.62

33.60

33.74

33.47

0.27

13

27.03

28.29

26.64

2.65

33.65

33.79

33.51

0.28

13.5

27.15

28.00

26.39

1.61

33.56

33.75

33.36

0.39

14

26.54

26.83

26.22

0.61

33.69

33.75

33.65

0.10

 

 

 

Bảng  4b.  Các đặc trưng thống kê biến động ngày đêm của nhiệt độ và độ muối

trạm LT.QNh.- 30, vịnh Quy Nhơn, tháng 5/2002

 

H (m)

Ttb

Tmax

Tmin

DT

Stb

Smax

Smin

DS

0

29.16

30.03

28.78

1.25

33.40

33.45

33.32

0.13

1

29.12

29.90

28.79

1.11

33.39

33.44

33.33

0.11

2

28.99

29.37

28.79

0.58

33.40

33.44

33.32

0.12

3

28.92

29.26

29.79

0.47

33.41

33.44

33.36

0.08

4

28.88

29.16

28.75

0.41

33.41

33.44

33.37

0.07

5

28.85

29.11

28.69

0.42

33.42

33.44

33.39

0.05

6

28.84

29.11

28.69

0.42

33.43

33.45

33.40

0.05

7

28.78

29.03

28.56

0.47

33.43

33.45

33.41

0.04

8

28.75

29.00

28.41

0.59

33.43

33.46

33.41

0.05

9

28.71

28.96

28.12

0.84

33.44

33.51

33.42

0.09

10

28.69

28.95

28.09

0.86

33.44

33.51

33.41

0.10

11

28.65

28.94

27.96

0.98

33.45

33.53

33.42

0.11

12

28.61

28.94

27.90

1.04

33.46

33.53

33.42

0.11

13

28.57

28.94

27.80

1.14

33.46

33.53

33.41

0.12

14

28.52

28.92

27.77

1.15

33.47

33.54

33.41

0.13

15

28.44

28.92

27.63

1.29

33.47

33.56

33.41

0.15

16

28.35

28.91

27.40

1.51

33.48

33.55

33.42

0.13

17

28.23

28.89

26.97

1.92

33.49

33.63

33.41

0.22

18

28.04

28.86

26.90

1.96

33.51

33.64

33.41

0.23

19

27.82

28.79

26.85

1.94

33.53

33.63

33.38

0.25

20

27.52

28.18

26.51

1.67

33.55

33.68

33.33

0.35

21

27.20

27.88

26.42

1.46

33.60

33.72

33.50

0.22

22

27.08

27.85

26.38

1.47

33.62

33.72

33.58

0.14

23

26.76

27.21

25.79

1.24

33.62

33.75

33.57

0.18

24

27.37

26.99

25.53

1.46

33.65

33.72

33.55

0.17

25

25.76

26.74

25.04

1.70

33.72

33.84

33.58

0.26

26

25.78

26.10

25.27

0.83

33.74

33.80

33.65

0.15

 

           Ttb - nhiệt độ trung bình;  Tmax - cực đại; Tmin - cực tiểu;  DT - biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ;. Stb - độ muối trung bình; Smax - cực đại; Smin - cực tiểu;   DS - biên độ dao động ngày đêm của độ muối.

 

2.2 - Đặc điểm địa hình đáy.

Trên  hình 2 có thể phân biệt 2 phần : phần trong và phần ngoài với ranh giới là đường đẳng sâu 26m chạy dọc theo kinh tuyến từ Hòn Khô xuống phía Nam.

            Phần trong - bề mặt địa hình bằng phẳng, thoải đều từ bờ ra, có dạng một đồng bằng tích tụ trước vịnh hở với một phần sót lại của đồng bằng tích tụ lagoon cổ (khu vực giữa phần trong và phần ngoài). Hiện tại phần lớn diện tích của các đồng bằng này (ngoại trừ  phần phía Nam của cụm đảo Hòn Đất, Hòn Rùa, Hòn Roi và Hòn Đá Cua) đang có nhiều biến đổi do chịu ảnh hưởng của dòng vật liệu bồi tích được mang ra từ lục địa (chủ yếu là qua lạch cửa đầm Thị Nại, một phần do quá trình xói mòn bờ và bóc mòn bề mặt do dòng chảy tạm thời) đặc biệt là vào mùa mưa lũ. Các kiểu trầm tích phủ trên bề mặt địa hình phần này chủ yếu là hạt nhỏ đến mịn và có mức độ chọn lọc từ trung bình đến kém, ngoại trừ  kiểu trầm tích cát nhỏ phân bố ở phần ngầm của bãi Quy Nhơn và phần phía Bắc của bán đảo Cù Mông.

 

 

 

            Ở khu vực phía Nam vùng nghiên cứu, nhiều nơi gặp vách dốc đứng cao hơn 4m (từ độ sâu 18m cắm xuống độ sâu 22 - 23m, (ở vị trí 13o 35 802 và 109o 18 819) là các  dấu vết của một đường bờ cổ đã từng tồn tại vào thời kỳ mực biển thấp hơn so với ngày nay.

            Phần ngoài - bắt đầu từ chân đê cát (ở các khoảng độ sâu 26 - 29 m) chạy dọc theo hướng kinh tuyến, từ  khu vực Cù Lao Xanh lên phía Bắc, tới ngang với mũi yến của bán đảo Phương Mai. Trên hầu hết các mặt cắt địa hình  (tài liệu đo tháng 5/2002) đều cho thấy hình thái của đê cát này có dạng: Sườn phía trong thường bắt đầu từ độ sâu 26 - 29 m dốc thoải cao dần lên đến  đỉnh của nó ở các độ sâu 19 - 22 m; có nơi chỉ còn một đỉnh, nhưng nhiều nơi gặp 2 - 3 đỉnh liên tiếp chạy song song với nhau; Sườn phía ngoài có góc dốc lớn hơn (7 - 10o), có nơi tạo thành vách dốc đứng (gần như thẳng đứng - 90o) cắm xuống các độ sâu 26 - 29 m, đôi nơi còn giữ nguyên được hình dạng cong lõm ngay dưới chân đê là dấu vết do tác động của sóng vỗ bờ và sau đấy là bề mặt địa hình bằng phẳng thoải đều ra tới độ sâu 40 m.

Vật liệu cấu tạo các đê cát này ngầm là cát trung chọn lọc tốt. Ở phần chân đê (cả ở sườn  trong và sườn ngoài) là cát trung màu vàng với thành phần chủ yếu là thạch anh, ít felspat, các mảnh đá, sạch chọn lọc tốt, lẫn ít vụn vỏ xác sinh vật, rất ít khoáng vật nặng, kiểu trầm tích đặc trưng cho trầm tích tướng bãi. Trên đỉnh các đê cát này (tại 6 trạm thu mẫu) trong thành phần cát trung, ngoài các khoáng vật thạch anh, fenspat, hàm lượng các khoáng vật nặng khá cao. Tại hầu hết các trạm đều bắt gặp các lớp tập trung khoáng vật nặng rất cao, dạng của một thân sa khoáng. Nếu như chỉ xét so sánh về đặc trưng hình thái địa hình, đặc điểm trầm tích, điều kiện động lực hiện tại có thể thấy rằng, về hình thái và có thể cả về cơ chế hình thành  của đê cát ngầm này rất giống với hình thái của các đê cát phân bố trên đất liền dọc ven biển miền Trung nói chung và ven biển Bình Định nói riêng. Tuy nhiên sự hình thành các đê cát ngầm này đã xảy ra vào thời kỳ khi mực nước biển thấp hơn so với ngày nay, có thể vào thời gian biển dừng trong pha biển tiến cuối Pleistocen muộn đầu Holocen sớm. 

Ở phía ngoài đê cát ngầm này là bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thoải đều trãi rộng ra ngoài phạm vi vùng nghiên cứu, được phủ bởi trầm tích hạt mịn, là một phần của đồng bằng ngầm ven biển miền Trung.

2.3 - Đặc điểm trầm tích tầng mặt.

            Từ những kết quả khảo sát, phân tích các mẫu thu được trong khuôn khổ đề tài (tại 50 trạm), kết hợp với các tài liệu  khảo sát (tại 6 trạm) của đề tài KC 09.07,

KT 03.01, đề tài 05 (Dự án hợp tác Việt - Ấn) chúng tôi thành lập bản đồ phân bố các kiểu trầm tích tầng mặt vùng nghiên cứu tỷ lệ  1 : 50.000 (H.3).

            Trên bức tranh phân bố chung, cho thấy kiểu trầm tích chiếm ưu thế về diện tích phân bố ở đây là kiểu trầm tích cát bùn - bùn cát và trầm tích cát trung.

            Một trong những đặc điểm cần được lưu tâm là sự hiện diện của các đê cát trung phân bố ngoài cửa vịnh. Trên đỉnh các đê cát, trong thành phần cát trung hàm lượng các khoáng vật nặng rất cao, có nơi còn thể hiện dấu ấn của các thân sa khoáng. Hàm lượng các khoáng vật nặng trong trầm tích đạt từ 2 - 5%. Thành phần các khoáng vật nặng chủ yếu là inmenit, zircon, rutil, granat. 

Ở phần chân đê, cát trung màu vàng, sạch, mức độ mài tròn và chọn lọc tốt, hầu như không chứa vật liệu hạt mịn, thành phần đồng nhất (cát thạch anh), lẫn ít vụn vỏ xác sinh vật, ít khoáng vật nặng, rất nghèo sinh vật đáy. Xét các dấu hiệu đặc trưng của trầm tích, hình thái địa hình và nguồn gốc hình thành cho thấy rằng, trầm tích cát trung ở đây đã được hình thành do chịu tác động mạnh của các yếu tố động lực đới bờ (chủ yếu là sóng), theo hình thái địa hình và đặc điểm phân bố thì chúng thuộc kiểu trầm tích tướng bãi biển cổ. Trong điều kiện động lực hiện nay, đê cát này vẫn thường xuyên chịu tác động khá mạnh của động lực biển (dòng chảy đáy, sóng, đặc biệt là sóng bão). Do tác động của các yếu tố này (chủ yếu là sóng) quá trình phân dị trầm tích tiếp tục diễn ra: các khoáng vật nhẹï được đưa xuống hai bên sườn (cả sườn trong và sườn ngoài) của đê cát, các khoáng vật nặng thì tập trung trên đỉnh của nó. Đây là cơ sở để giải thích tại sao trên đỉnh các đê cát tập trung hàm lượng khoáng vật nặng cao như vậy.

Hiện nay quá trình lắng đọng trầm tích diễn ra trên phần lớn đáy vịnh, nhưng với tốc độ khác nhau phụ thuộc vào nguồn cung cấp vật liệu bồi tích và các tác động của các yếu tố thuỷ động lực (ngoại trừ  đê cát ngầm ngoài cửa vịnh). Xét theo các yếu tố này thì khu vực phía trong vịnh (kể cả bên ngoài phần ngầm bãi Quy Nhơn và trước cửa lạch vào đầm Quy Nhơn) có lẽ là nơi có tốc độ lắng đọng trầm tích cao nhất.

 

2.4 - Hiện trạng một số yếu tố hóa môi trường.

 

Trong bảng 5 là kết quả đo đạc, phân tích một số yếu tố môi trường nước và trong trầm tích đáy vịnh Quy Nhơn.

            2.4.1 - Đặc điểm môi trường nước :

            Nhiệt độ (ToC).

            Kết quả đo đạc các mẫu (mặt và đáy) tại 50 trạm mặt rộng cho thấy rằng: Nhiệt độ nước tầng mặt dao động từ 27,5 - 30oC, trung bình là 28,9 oC; còn ở tầng đáy, chúng dao động từ 26 - 29oC, trung bình là  28,3oC .

            Độ muối (S%o).

            Độ muối nước tầng mặt và tầng đáy đều nằm trong khoảng dao động từ ø 31- 34%o,  tuy nhiên trong cùng một trạm thì độ muối tầng đáy luôn luôn bằng hoặc lớn hơn tầng mặt chút ít, có lẽ do chịu ảnh hưởng ít nhiều của nước từ trong đầm Quy Nhơn chảy ra vào thời điểm triều xuống.

pH.

Độ pH tầng mặt dao động từ 7,8 - 8,1, trung bình là 7,9 ; còn tầng đáy dao động từ 7,9 - 8,1, trung bình là 8.0. Cũng như độ muối, trong cùng một trạm thì độ pH ở tầng đáy luôn luôn lớn hơn hoặc bằng tầng mặt.

Oxy hòa tan.

Hàm lượng oxy hòa tan tầng mặt dao động từ 5,81 - 6,46mg/l, trung bình là 6,13 mg/l; tầng đáy dao động từ 5,97 - 6,62mg/l, trung bình là 6,24 mg/l. Tuy nhiên, tại một số trạm thì hàm lượng oxy hòa tan tầng mặt lớn hơn tầng đáy đôi chút. Bức tranh xu thế  chung là: hàm lượng oxy hòa tan tầng đáy luôn lớn hơn hoặc ít nhất là bằng tầng mặt.

 

Bảng 5   : Các yếu tố  môi trường trong nước và trong trầm tích

Vịnh Quy Nhơn (5 - 6/2002)

 

 

Số TT

 

Trạm

Nhiệt độ

(oC)

Độ muối (%o)

pH  nước

Oxy hòa tan (mg/l)

pH

C hc (%)

N

(%)

P   (%o)

mặt

đáy

mặt

đáy

mặt

đáy

mặt

đáy

 

Trong trầm tích

Trong nước

1

QNh   01

 28

28.5

31

32

7.9

8.1

6.14

5.97

7.6

0.013

0.002

0.037

2

QNh  02

28.5

28

31

32

8.1

8.1

6.46

5.97

7.9

0.011

0.002

0.032

3

QNh   03

29

27.5

31

32

7.9

8.0

6.30

6.14

7.8

0.040

0.002

0.092

4

QNh   04

28.5

27.5

30

31

7.9

8.0

6.30

6.14

7.9

0.023

0.001

0.044

5

QNh   05

27.5

26.5

33

34

7.8

7.9

6.46

6.30

7.8

0.018

0.002

0.031

6

QNh   06

27.5

26.0

33

34

8.1

8.1

6.30

6.30

7.7

0.018

0.002

0.074

7

QNh   07

28.0

28.5

34

34

8.0

8.0

6.14

6.22

7.5

0.472

0.030

0.390

8

QNh   08

29.0

 -

34

 -

8.0

-

6.46

-

7.5

0.026

0.002

0.122

9

QNh   09

29.0

28.4

34

34

8.0

8.1

6.30

6.14

7.5

0.485

0.037

0.369

10

QNh   10

29.0

28.5

30

30

8.0

8.1

6.30

6.30

7.5

0.666

0.040

0.357

11

QNh   11

27.5

26.5

32

33

7.8

7.9

6.14

6.14

7.7

0.341

0.026

0.209

12

QNh   12

28.5

28.0

32

33

7.9

8.1

6.46

6.46

7.8

0.015

0.002

0.046

13

QNh   13

29.0

27.5

30

32

7.9

8.0

6.30

5.97

7.6

0.298

0.024

0.259

14

QNh   14

29.0

28.0

30

31

7.9

8.0

6.30

6.46

7.7

0.020

0.002

0.053

15

QNh   15

29.0

27.5

31

34

8.0

6.1

6.14

6.30

7.8

0.011

0.001

0.022

16

QNh   16

29.0

28.0

32

33

8.0

8.1

6.30

6.14

7.6

0.670

0.045

0.356

17

QNh   17

29.0

29.0

30

33

8.0

8.1

6.14

6.30

7.7

0.241

0.016

0.162

18

QNh   18

29.0

29.0

32

34

7.9

8.0

5.97

6.14

7.7

0.036

0.002

0.117

19

QNh   19

29.0

28.5

30

32

8.0

8.1

6.14

6.46

7.7

0.046

0.002

0.117

20

QNh   20

28.5

27.5

32

34

7.9

8.0

6.30

6.46

7.8

0.021

0.002

0.033

21

QNh   21

28.5

28.5

31

32

7.9

8.0

5.81

6.30

7.8

0.010

0.002

0.028

22

QNh   22

28.5

27.5

32

33

7.9

8.0

6.14

5.97

7.6

0.603

0.038

0.353

23

QNh   23

28.5

28.5

31

32

7.9

8.0

6.14

6.14

7.8

0.013

0.001

0.044

24

QNh   24

29.5

29.0

30

31

7.9

8.0

6.14

6.62

7.7

0.011

0.001

0.023

25

QNh   25

29.5

28.5

32

33

8.0

8.1

6.30

6.46

7.7

0.077

0.002

0.141

26

QNh   26

29.0

28.5

31

33

7.9

8.0

6.30

6.46

7.8

0.026

0.002

0.099

27

QNh   27

29.5

29.5

32

33

7.9

8.0

6.14

6.30

7.7

0.036

0.002

0.111

28

QNh   28

30.0

29.0

30

31

7.9

8.1

5.81

6.14

7.7

0.060

0.002

0.112

29

QNh   29

29.2

29.0

30

31

7.9

8.0

6.14

6.30

7.5

0.335

0.019

0.270

30

QNh   30

29.2

28.5

30

31

7.9

8.0

6.30

6.30

7.4

0.234

0.012

0.241

31

QNh   31

30.0

29.0

30

31

8.0

8.1

6.30

6.30

7.7

0.006

0.001

0.026

32

QNh   32

30.0

29.5

30

31

7.9

8.0

6.14

6.14

7.4

0.415

0.024

0.329

33

QNh   33

29.5

28.8

30

31

8.0

8.1

6.14

6.30

7.7

0.023

0.002

0.064

34

QNh   34

30.0

28.5

30

31

7.9

8.0

6.30

5.97

7.6

0.435

0.027

0.329

35

QNh   35

29.5

29.0

30

30

7.9

8.0

5.97

6.46

7.7

0.016

0.001

0.041

36

QNh   36

30.0

29.0

30

31

8.0

8.1

5.97

6.30

7.4

0.368

0.020

0.244

37

QNh   37

29.8

  -

30

  -

7.9

  -

5.97

   -

7.8

0.020

0.002

0.040

38

QNh   38

29.3

28.5

30

30

7.9

8.1

6.14

6.14

7.6

0.167

0.006

0.196

39

QNh   39

29.0

29.5

30

31

8.0

8.1

6.30

6.14

7.6

0.033

0.002

0.072

40

QNh   40

28.5

28.5

30

31

8.0

8.1

6.14

6.14

7.7

0.011

0.001

0.028

41

QNh   41

30.0

28.0

30

31

7.9

8.0

5.97

5.97

7.6

0.435

0.030

0.284

42

QNh   42

29.0

28.0

30

31

8.1

8.1

6.30

6.30

-

-

-

-

43

QNh   43

28.5

27.8

30

31

7.9

8.1

6.14

6.14

7.6

0.043

0.002

0.073

44

QNh   44

29.0

29.0

30

30

8.1

8.1

6.30

6.30

7.6

0.016

0.001

0.026

45

QNh   45

29.2

29.0

30

30

7.9

8.0

6.14

6.30

7.5

0.368

0.021

0.332

46

QNh   46

29.2

28.8

30

31

8.0

8.1

6.30

6.14

7.8

0.053

0.002

0.147

47

QNh   47

29.0

28.5

32

32

8.0

8.1

6.14

6.46

7.8

0.056

0.002

0.143

48

QNh   48

28.5

28.0

30

30

7.9

8.1

6.14

6.30

7.7

0.026

0.002

0.054

49

QNh   49

28.8

28.0

30

30

7.9

8.0

6.14

6.30

7.6

0.015

0.001

0.033

50

QNh   50

28.5

28.0

30

30

8.0

8.1

5.97

6.30

7.6

0.234

0.011

0.264

            2.4.2 -  Các chất hữu cơ trong trầm tích đáy:

            Một trong những yếu tố địa chất môi trường liên quan mật thiết với nguồn lợi sinh vật (chủ yếu là sinh vật đáy) là hợp phần các vật chất hữu cơ trong trầm tích đáy (Cacbon hữu cơ, Nitơ và Photpho). Sự phân bố và hàm lượng của chúng trong trầm tích đáy, phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc hình thái địa hình, phân bố các kiểu trầm tích, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích,….và quá trình tiêu thụ của chính các loài sinh vật đáy.

Trên các biểu đồ biến thiên hàm lượng theo các mặt cắt (H. 4a, 4b,4c), có thể dễ dàng nhận thấy những đặc điểm chung trong sự phân bố các hợp phần hữu cơ trong trầm tích đáy vịnh Quy Nhơn là :

-   Mối quan hệ rất mật thiết và có tương quan tuyến tính với nhau của các chất hữu cơ. Tức là trong mọi trường hợp sự tăng hay giảm hàm lượng của Chc , đều kéo theo sự tăng hay giảm hàm lượng của N và P.

-  Hầu hết hàm lượng cao của Chc, N tổng và P tổng đều tập trung trong thành phần trầm tích hạt mịn như : bùn, bùn sét và bùn cát, trong đó tập trung chính là ở khu vực trước cửa đầm Thị Nại và ở phần phía ngoài của đê cát ngầm, nơi có liên quan đến dãi cát bùn, bùn cát dọc theo ven bờ vùng biển miền Trung. Ngoài ra còn gặp dải phân bố hẹp ở khu vực bên ngoài bãi phía Bắc của bán đảo Cù Mông và ở lạch triều cổ phía Tây bắc đảo Cù Lao Xanh. Giá trị hàm lượng thấp nhất của chúng bắt gặp trong kiểu trầm tích cát trung phân bố trên đê cát ngầm trước cửa vịnh và trên các bãi cạn.

 

Khi xem xét tỉ số C/N cho thấy rằng, tại các trạm có hàm lượng N tương đối cao, thì tỉ số C/N dao động từ 11 - 20, điều này chứng tỏ các hợp phần hữu cơ ở đây có cùng nguồn  cung cấp là từ  lục địa ra và quá trình phân hủy chúng để tái tạo nguồn dinh dưỡng trong trầm tích là khá tốt; quá trình tiêu thụ của bọn sinh vật đáy rất cao.

 

                                                                                                  

                        

Hình 4a :   Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt I

 

 

Hình 4b  :  Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt II

                

Hình 4c:  Biểu đồ biến thiên hàm lượng C,N,P mặt cắt III

Nhận xét

1-  Các đặc điểm về khí tượng, chế độ thủy văn và động lực hoàn toàn mang tính khu vực địa phương, song vẫn chịu ảnh hưởng của chế độ chung của vùng biển miền Trung, đặc biệt là hệ thống dòng chảy tầng đáy. Nhờ hệ thống hoàn lưu này mà quá trình trao đổi nước ở vịnh Quy Nhơn khá tốt.

2- Địa hình đáy vịnh Quy Nhơn tương đối đơn giản, có thể phân biệt thành phần trong và phần ngoài với ranh giới là đường đẳng sâu 26m. Phần trong, địa hình có bề mặt bằng phẳng, thoải đều với lạch sâu (H.max = 17m khi triều cao) nối liền với đầm Quy Nhơn. Bề mặt địa hình được phủ chủ yếu bởi trầm tích hạt mịn, là nơi rất thuận lợi cho việc neo đậu tàu trước và sau khi ra vào cảng Quy Nhơn.

3- Kiểu trầm tích chiếm ưu thế về diện tích phân bố trên bề mặt đáy vịnh là kiểu trầm tích cát bùn - bùn cát và trầm tích cát trung.  Hàm lượng khoáng vật nặng tập trung cao trong trầm tích cát trung (2 – 5%) ở đê cát ngầm ngoài cửa vịnh cho thấy khả năng hình thành vành trọng sa rất có triển vọng, cần được tiếp tục nghiên cứu chi tiết để đánh giá đúng nguồn tài nguyên này.

4 – Hiện trạng các yếu tố môi trường và các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nhiều loài sinh vật đáy sinh sống và phát triển.