ĐÁNH GIÁ
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG VÙNG NUÔI TÔM TẬP TRUNG VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LƯ NƯỚC THẢI TỰ NHIÊN
LÊ QUỐC
TUẤN, NGUYỄN TRẦN LIÊN HƯƠNG
Khoa Công Nghệ Môi Trường - ĐH Nông Lâm TP. HCM
1.
Đặt vấn đề
Việt Nam
được xem là một trong những nước có nghề nuôi tôm lâu đời và sản
lượng tạo ra từ việc nuôi tôm đă và đang mang lại lợi nhuận kinh tế
cao. Tuy vậy, trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành nuôi
tôm đă gây nên không ít khó khăn cho các nhà quản lư về thuỷ sản và
môi trường. Với sự phát triển không đồng bộ và tự phát, các ao nuôi
tôm truyền thống đă dần chuyển đổi thành ao nuôi công nghiệp, mạng
lưới cấp và thoát nước cho các vùng nuôi tôm vẫn c̣n hỗn độn không
phân biệt được đâu là kênh thải, đâu là kênh nước sạch.
Mặc dù
có sự đầu tư ban đầu rất lớn cho nghề này, nhưng người dân cũng gặp
phải không ít rủi ro do bệnh dịch làm chết tôm hàng loạt, chất lượng
và số lượng sản phẩm đạt được thấp, gây tổn thất rất lớn cho người
dân. Với sự hiểu biết giới hạn của nông dân ngoài công việc đầu tư
cho xây dựng ao nuôi, thức ăn, th́ việc kiểm soát chất lượng nước và
bệnh dịch là một vấn đề rất nan giải. Bệnh thường xảy ra trên từng
cá thể tôm hoặc cả quần thể là quá tŕnh diễn biến các tác động
tương hỗ giữa tôm, mầm bệnh và môi trường. Trong mối quan hệ tương
hỗ giữa môi trường, mầm bệnh và vật chủ, yếu tố môi trường giữ vai
tṛ hết sức quan trọng gây tác động có lợi hoặc bất lợi lên mối quan
hệ giữa tôm và mầm bệnh.
Bên cạnh các vấn đề kỹ thuật, kinh tế và xă hội, việc giải quyết vấn
đề ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện phát triển bền vững cho các
vùng nuôi tôm là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Thời gian
không phải tính bằng năm, mà phải tính hàng ngày. Nhưng quan trọng
hơn, bảo vệ môi trường trong sạch cho vùng nuôi tôm cũng chính là
tạo điều kiện trực tiếp cho môi trường sống của con tôm, góp phần
làm tăng hiệu quả nuôi trồng, giảm giá thành sản xuất, tăng tính
cạnh tranh của con tôm Việt Nam trên thị trường thế giới.
Với tính cấp bách của vấn đề ô nhiễm môi trường chúng tôi đă tiến
hành nhiều đợt khảo sát trong các vùng nuôi tôm tập trung khác nhau.
Các kết quả thu được bước đầu có thể cho thấy tổng quan về hiện
trạng môi trường của một số vùng nuôi tôm tập trung.
2. Vật liệu và phương pháp
Các chỉ tiêu hoá lư (nhiệt độ, pH, DO, độ mặn, độ đục, TDS) được đo
ngay tại hiện trường bằng máy TOA – USA. BOD được xác định bằng máy
ủ và phân tích định lượng, COD bằng phương pháp đun hoàn lưu kín, P
tổng được chuẩn độ bằng acid Ascorbic, N tổng bằng phương pháp
Kjeldahl, Cl- bằng chuẩn độ điện thế, NH3
chuẩn độ bằng phenate.
Thực hiện các câu hỏi điều tra có liên quan đến quy mô, thức ăn,
kiểm soát mầm bệnh, khử trùng nước, lợi nhuận kinh tế… Địa điểm
nghiên cứu là các vùng nuôi tôm tập trung tại Cà Mau, Sóc Trăng,
Ninh Thuận và Cần Giờ.
Công tác điều tra và phân tích mẫu nước được tiến hành từ tháng
3-8/2003.
Các số liệu thu thập được xử lư theo phương pháp thống kê trên phần
mềm Minitab.
3. Kết quả và bàn luận
Qua điều tra ban đầu chúng tôi có một số kết quả thu được như sau:
* Quy mô và kết cấu ao nuôi.
Thường ao có diện tích từ 1000 m2 – 5000 m2.
Đa số các trại nuôi đều có ao lắng chiếm diện tích từ 1/10 – 1/6
tổng diện tích bề mặt các ao nuôi. Ao lắng chính là nơi chứa nước
ban đầu đồng thời thực hiện các quá tŕnh lắng cặn lơ lững. Trong
trường hợp nếu nước không được sạch th́ người ta thường dùng các
chất khử trùng là thuốc tím hoặc clorine.
* Các chế phẩm vi sinh và thói quen sử dụng
Được sử dụng để cải thiện chất lượng nước ao nuôi, giảm dịch bệnh,
giảm thiểu tối đa lượng bùn lắng đáy, có nghĩa là đẩy nhanh quá
tŕnh phân huỷ các chất hữu cơ trong ao. Hiện nay, người dân sử dụng
rất nhiều loại chế phẩm vi sinh, nhưng chủ yếu là do cảm tính hoặc
được truyền miệng từ người này sang người khác. Tất cả đều được
quảng cáo rất tốt, rất có lợi, nhưng hiệu quả của nó chưa được ai
kiểm chứng.
* Thức ăn và dinh dưỡng cho tôm
Thức ăn và dinh dưỡng cho tôm cũng là một trong những yếu tố quyết
định ảnh hưởng đến năng suất nuôi tôm. Nó đồng thời cũng có thể là
một trong những nguyên nhân làm cho tôm chết. Hiện tại trên thị
trường có bán hàng trăm loại thức ăn cho tôm, trong đó có nhiều loại
chưa đăng kư chất lượng hàng hóa, giá cả của chúng cũng rất khác
nhau và việc lựa chọn một loại thức ăn cho phù hợp là rất khó. Thông
thường người nuôi tôm chỉ lựa chọn theo kinh nghiệm, cảm tính: thấy
người ta cho ăn loại thức ăn này th́ ḿnh cũng cho ăn như vậy. Điều
này rất nguy hiểm v́ tùy thuộc vào điều kiện từng vùng, từng loại
h́nh nuôi phải lựa chọn loại thức ăn phù hợp. Thức ăn cho tôm hiện
nay chủ yếu thuộc các hăng CP (Thái lan) và Tomboy (Mỹ). Hai loại
thức ăn này đang chiếm lĩnh thị trường nhưng giá của chúng thường
cao hơn các loại thức ăn khác. Theo người dân, khi cho ăn các loại
thức ăn này th́ tôm chóng lớn và có thể tránh được dịch bệnh, v́
ngay trong các loại thức ăn này có một số loại vitamin cần thiết cho
sự phát triển của tôm.
* Bệnh thường gặp
Bệnh thường gặp là đốm trắng, phân trắng và đầu vàng thường các loại
bệnh này do virus gây nên. Sự lan truyền dịch bệnh chủ yếu là do
nguồn nước được đưa vào ao. Một số ao bị bệnh và tôm chết do nước
không được tẩy trùng hoặc có khử trùng nhưng không thể hết được các
mầm bệnh nên cứ tiếp tục lan truyền bệnh từ ao này sang ao khác hoặc
từ vùng này sang vùng khác.
* Kết quả phân tích chất lượng nước.
(Ghi chú : Tháng 0 là tháng chuẩn bị ao, giữ nước và bắt đầu
thả tôm giống)

Qua
bảng1 và đồ thị 1 cho thấy hàm lượng BOD và COD tăng dần theo thời
gian, điều đó chứng tỏ có sự tích luỹ cao các chất hữu cơ trong ao
trong quá tŕnh nuôi tôm. Điều này cho thấy có sự tích luỹ thức ăn
thừa và phân thải của tôm trong quá tŕnh nuôi. Theo những nghiên
cứu mới đây th́ tôm chỉ có thể sử dụng được 37.5% lượng thức ăn đưa
vào cho sinh khối của tôm, c̣n lại là chất thải lỏng và chất thải
rắn.
Bảng 2 &ø đồ thị 2
: Sự biến động P và N trong các ao nuôi theo từng tháng

Từ bảng
2 và đồ thị 2 cho thấy lượng P tổng và N tổng cũng tăng dần theo
thời gian, tuy nhiên có sự giảm dần vào cuối vụ thu hoạch nhưng hàm
lượng này vẫn c̣n cao trong các ao nuôi tôm. Sinh khối của tôm chỉ
chứa 18% trong tổng lượng nitrogen đưa vào qua nhiều con đường trong
đó có 78% từ nguồn thức ăn (Funge-Smith and Briggs, 1998)
. C̣n
đối với phosphorus th́ tôm chỉ sử dụng 6% trong tổng lượng
phosphorus đưa vào ao nuôi cho việc tăng sinh khối. Điều này chứng
tỏ trong quá tŕnh nuôi th́ lượng nitrogen và phosphorus luôn tồn
tại trong nước và lắng đọng trong bùn đáy với hàm lượng cao.
Hàm lượng NH3

Đồ
thị 3
: Sự biến động NH3 theo từng tháng
Qua đồ thị 3 cho thấy hàm lượng NH3 biến động
không đều và cao nhất vào tháng thứ 3, sau đó có hiện tượng giảm dần
cho đến cuối vụ thu hoạch. Nhưng các số liệu phân tích được cho thấy
thường th́ không thể giảm đến 0.5 mg/l. Thông thường th́ độ độc của
NH3 không đáng ngại lắm v́ thực vật phiêu sinh sẽ giữ cho
độ độc này ở mức thấp. Tuy nhiên nếu chúng ta nuôi tôm với mật độ
quá dày th́ có thể hàm lượng NH3 sẽ tăng cao. Ngoài ra sự
chuyển hoá giữa NH3, NO3- và NO2-
là vấn đề đáng quan tâm. Dưới tác dụng của vi sinh vật,
Ammonia sẽ biến đổi thành Nitrite và Nitrate. NO3-
thông thường vô hại đối với tôm (tôm có thể chịu được nồng độ NO3-
lên đến 2.000 mg/L trong 48 h. Trong khi NO2-
th́ lại gây độc cho tôm, nhất là khi độ mặn thấp (mức an toàn cho
tôm là 0,3 mg/L).
Hàm lượng oxy hoà tan

Đồ
thị 4
: Sự biến động oxy hoà tan theo các tháng.
Mặc dù
có khấy trộn thường xuyên trong các ao nuôi nhưng hàm lượng oxy hoà
tan vẫn biến động và tăng dần theo thời gian và cao nhất vào tháng
thứ 3, sau đó giảm dần cho đến cuối vụ. Khi theo dơi kết quả biến
động oxy hoà tan trong ngày, chúng tôi cũng nhận thấy đối với các ao
nuôi, oxy hoà tan thường đạt giá trị cao nhất từ 12 – 14 giờ hàng
ngày. Điều này có thể giải thích là trong các ao nuôi từ tháng 1 đến
tháng 3 có một lượng lớn các tế bào tảo. Các loài tảo hiện diện
chính trong các ao gồm : Tảo lam (Cyanophyta); Tảo roi
(Dinoflagellate); Tảo khuê hay tảo silic (Diatomae); Tảo lục
(chlorophyta). Đó chính là những tác nhân gây nên hiện tượng bảo hoà
oxy vào ban ngày nhưng lại thiếu hụt oxy vào ban đêm.
Độ
mặn
Độ mặn
có ảnh hưởng rất lớn đến các quá tŕnh sinh trưởng và phát triển của
tôm. Tuỳ theo từng độ tuổi mà tôm có thể thích ứng với các độ mặn
khác nhau, lúc c̣n nhỏ th́ tôm rất nhạy cảm với độ mặn hơn là tôm
trưởng thành.

Đồ
thị 5
: Biến động độ mặn theo thời gian
Qua đồ thị trên cho thấy biến động độ mặn không đều, đạt
giá trị cao vào tháng 1 và tháng 4, có thể là trong thời gian đầu
phát triển tôm cần có mức độ mặn thích hợp khoảng 15 – 170/00
cho phát triển thành thục và bắt đầu tăng sinh khối. Và giai đoạn
tăng lên vào tháng thứ 3 là giai đoạn trưởng thành (thành thục) của
tôm. Cũng có thể là do kinh nghiệm nên người dân thường điều chỉnh
độ mặn cho thích hợp với các quá tŕnh phát triển của tôm.
*
Hiện
trạng nuôi tôm trên cát ở Ninh Thuận.
Hiện
nay, đang nổi lên phong trào nuôi tôm trên cát tại một số vùng ở
nước ta, đặc biệt là ở Ninh Thuận. Với nguồn nước mặn lấy từ biển
vào pha với nước ngọt từ nước ngầm qua các giếng khoan, sau đó thả
tôm nuôi theo các tŕnh tự như nuôi tôm thông thường. Nước thải đi
ra không theo một kênh mương nào và thấm trực tiếp qua lớp cát, rồi
đi vào mạch nước ngầm. Đó chính là một nguy cơ lớn cho các vùng nuôi
tôm trên cát. Lớp đất cát sẽ không đảm đương nỗi khả năng lọc vốn có
của nó sẽ gây nên t́nh trạng ô nhiễm nước ngầm. Hiện nay lợi nhuận
thu từ h́nh thức nuôi này rất cao v́ ít khi bị nhiễm bệnh, nhưng vấn
đề ô nhiễm nguồn nước là điều không thể tránh khỏi trong tương lai.
Đề
xuất một số phương pháp xử lư sinh học
Nuôi tôm
kết hợp với các loại thân mềm hoặc cá
Trai và
ṣ là hai loại động vật thâm mềm có khả năng lọc hút rất tốt các
chất dinh dưỡng trong nước và chịu được hàm lượng các chất hữu cơ và
dinh dưỡng cao. V́ thế, chúng ta có thể nuôi trai và ṣ trong các
kênh nước thải của các vùng nuôi tôm tập trung. Hoặc có thể nuôi kết
hợp trong các vuông tôm ngay ở vị trí trung tâm của ao hoặc 4 góc
ao. Mô h́nh này đă được ứng dụng thành công ở một số nơi trên thế
giới, đặc biệt là tại Thái Lan. Hiện nay cá Điêu hồng cũng đang được
nuôi kết hợp với tôm tại một số vùng nuôi tôm tập trung. Cá được
nuôi trong các ao lắng hoặc là ao nước thải hoặc được nuôi trong
lồng lưới được đặt ngay trong các ao nuôi. Cá có thể sử dụng một
lượng lớn chất thải rắn trong các ao nuôi tôm. Với h́nh thức nuôi
kết hợp này người ta có thể thu được được hai loại sản phẩm với năng
suất cao và đồng thời giảm thiểu hiện trạng ô nhiễm môi trường trong
các vùng nuôi tôm tập trung

Dùng
nước thải nuôi tôm để tưới cho đồng cỏ hoặc hoa màu
Nước
thải sau khi ra khỏi trại tôm có thể tập trung lại, sau đó thải vào
các đồng lúa hoặc đồng cỏ đang trong thời kỳ phát triển. Hoặc có thể
theo hệ thống dẫn tưới tiêu cho hoa màu. Với h́nh thức này năng suất
thu được từ hoa màu rất cao đồng thời cũng không gây nên hiện tượng
ô nhiễm môi trường cho các vùng nuôi tôm tập trung.
Nuôi tôm bán thâm canh kết hợp với trồng lúa
Hiện nay
có một số nơi ở Cà Mau người ta thường nuôi kết hợp với lúa, tức là
một vụ trồng lúa và một vụ cho phát triển tôm. Mô h́nh này rất tốt
cho việc làm sạch môi trường, v́ bùn thải sau một vụ tôm có thể là
nguồn phân hữu ích cho cây lúa cho vụ tiếp theo sau đó.
Xây
dựng hệ sinh thái đất ngập nước
Đất ngập
nước nhân tạo được sử dụng như một hệ thống lọc để xử lư nước thải
sinh hoạt, nước thải công nông nghiệp. Nó được xem như là một công
nghệ xử lư và tái tuần hoàn nước sử dụng trong hệ thống nuôi tôm.
Đất ngập nước nhân tạo là sự lựa chọn có ư nghĩa về mặt sinh thái và
giá thành xây dựng thấp.
Đưa thực
vật thủy sinh vào hệ thống nuôi trồng thủy sản
Theo những nghiên cứu mới đây về khả năng của thực vật
thủy sinh trong việc loại thải một số hợp chất hữu cơ và vô cơ trong
nước thải. Việc thiết kế các hệ thống ao nuôi liên hoàn với hệ thực
vật thủy sinh sẽ làm giảm đáng kể lượng chất thải ra từ các nuôi đặc
biệt là NH4+. Sự tuần hoàn nước giữa các ao
nuôi động vật thủy sinh và thực vật thủy sinh có thể làm giảm đáng
kể việc thay nước. Điều này sẽ giúp hạn chế được sự lây lan dịch
bệnh trong các vùng nuôi tôm tập trung.
Hệ sinh
thái rừng ngập mặn và rừng ven bờ tại các vùng ven biển Miền Trung
và Đông Nam Bộ hiện nay được xem là một nhà máy lọc chất thải hiệu
quả và tiện lợi. Việc thiết kế và quản lư các ao nuôi trong các vùng
này là một vấn đề được đặt ra nhằm sử dụng có hiệu quả hệ sinh thái
thủy sinh cũng như đất ngập nước trong vùng.
Hệ sinh
thái thủy sinh và đất ngập nước luôn được xem là tiềm năng cho công
tác xử lư nước thải từ các vùng nuôi tôm tập trung. Tuy nhiên, cần
phải có sự quản lư và điều phối thích hợp để cả hai cùng vận hành
đúng chức năng vốn có của chúng và mang lại hiệu quả cao trong nuôi
trồng thủy sản.
4.
Kết luận
Hiện
trạng nuôi tôm hiện nay ở một số nơi được nghiên cứu chưa có sự phát
triển đồng bộ. Sự phát triển và chuyển đổi các loại h́nh nuôi tôm
c̣n mang tính tự phát. Hiểu biết của người dân về kỹ thuật nuôi tôm
và cách sử dụng thức ăn cũng như các chế phẩm và hoá chất c̣n hạn
chế.
Các chỉ
tiêu BOD, COD, P tổng và N tổng đều tăng theo thời gian nuôi ở các
ao và vùng nuôi tôm tập trung. NH3 có hiện tượng tăng dần
theo thời gian, nhưng lại giảm vào cuối vụ.
Độ mặn
thường biến động không đều tuỳ thuộc vào t́nh trạng trao đổi nước
của các ao nuôi, và tuỳ vào từng giai đoạn phát triển của tôm, cao
vào tháng thứ 1 và thứ 3.
Oxy hoà
tan trung b́nh tăng dần theo thời gian (theo tháng) nhưng lại giảm
vào giai đoạn cuối. Oxy hoà tan có sự chênh lệch ngày đêm lớn, cao
nhất vào khoảng từ 12 -14 giờ, giá trị này biến động từ 4 – 11mg/l.
Đưa thực
vật thủy sinh vào trong các ao nuôi hoặc thiết kế hệ thống liên hoàn
các ao nuôi – ao thực vật thủy sinh là một vấn đề cần được đặt ra để
giải quyết t́nh trạng ô nhiễm nước trong nuôi trồng thủy sản hiện
nay.
Có sự
quản lư tốt vùng rừng ngập mặn ven bờ và tận dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên có sẵn này để nâng cao hiệu quả trong việc làm sạch môi
trường nước, hạn chế dịch bệnh và nâng cao năng suất nuôi trồng.