QUY
HOẠCH TỔNG THỂ VÙNG ĐẦM THỊ NẠI
(QUY NHƠN - BÌNH ĐỊNH)
CQCT:
Sở Thủy lợi (cũ)
CQPH:
Các sở: Thủy sản, Giao thông-Vận tải,
Kế hoạch
- Đầu tư và Đài Khí tượng - Thủy văn Nghĩa Bình
TGTH:
1991.
I-
MỞ ĐẦU:
Đồng bằng hạ lưu sông Kôn và sông Hà Thanh là vùng trọng
điểm lúa quan trọng bậc nhất của tỉnh Bình Định trong đó có 5342 ha
vùng ven đầm Thị Nại, có quan hệ mật thiết với vùng đầm nhất là 2
vấn đề úng và mặn. Để ngăn mặn và bảo vệ cho dân vùng ven thuộc các
huyện Tuy Phước, Phù Cát và Tp. Quy Nhơn từ năm 1975 hệ thống đê khu
Đông đã được xây dựng, năm 1986 đã lập luận chứng kinh tế, kỹ thuật
hoàn chỉnh đê này. Trên cơ sở đó hàng năm trung ương và tỉnh đã đầu
tư xây dựng nhằm từng bước hoàn chỉnh đê theo nhiệm vụ thiết kế. Tuy
nhiên cho đến thời điểm nghiên cứu hệ thống tràn tháo lũ mới làm
được 64%, các cống tiêu bị xuống cấp hầu hết, các cánh cống đều bị
hỏng, đóng mở rất khó khăn, các cửa sông hầu hết bị bồi lấp nghiêm
trọng làm cho việc tiêu úng và thoát lũ ngày càng hạn chế. Hàng năm
còn một lưu lượng lũ khá lớn chảy tràn qua đê gây sạt lở bờ và mái
đê.
Đầm Thị Nại (ĐTN) có diện tích mặt nước là 5.060 ha là nơi
tiếp giáp giữa hai làn nước mặn và ngọt thông qua cửa biển Quy Nhơn.
Lượng nước ngọt hàng năm đổ vào đầm khoảng 4,0 tỷ m3,
mang theo phù du dinh dưỡng vì vậy đã tạo môi trường thuận lợi cho
các loài sinh vật nhiệt đới phát triển phong phú và đa dạng. Đặc
biệt có các loại tôm sú, tôm bạc có giá trị xuất khẩu cao trên thị
trường khu vực và quốc tế. Do hiệu quả cao của con tôm xuất khẩu đã
kích thích nghề nuôi tôm phát triển mạnh trong vùng đầm và ven đầm,
trong những năm gần đây nhân dân vùng ven đầm đã tự phát làm nhiều
hồ tôm nhưng vì chưa có quy hoạch toàn diện: nơi nào có thể trồng
lúa, trồng cói; nơi nào có thể đắp bờ nuôi tôm là có lợi nhất; nơi
nào phải chừa ra để làm lòng lạch tiêu úng và thoát lũ, phục vụ giao
thông thủy ..v.v.. do đó nhiều hồ tôm đã gây cản trở việc tiêu úng
và thoát lũ, một số hồ tôm làm sau lại hạn chế hiệu quả của hồ tôm
làm trước sinh ra kiện cáo lẫn nhau, mâu thuẩn giữa những hộ sản
xuất nông nghiệp với những hộ nuôi tôm, mâu thuẩn giữa các hộ nuôi
tôm với nhau ngày càng gay gắt. Vì thế mục tiêu của đề tài: “Quy
hoạc tổng thể vùng đầm Thị Nại” đặt ra là quy hoạch về thủy lợi,
thủy sản, giao thông, nông lâm nghịêp, phân bố lực lượng sản xuất
hợp lý nhằm phát huy cao nhất những tiềm năng đất đai, kinh tế vùng
đầm và ven đầm; đồng thời đảm bảo tiêu úng và thoát lũ thông suốt
cho vùng là việc rất thiết thực, rất cấp bách đáp ứng kịp thời yêu
cầu đòi hỏi của sản xuất và nguyện vọng của nhân dân các địa phương.
II-
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
- Đo vẽ bình độ tỷ lệ 1/10.000 toàn bộ vùng đầm.
- Tính toán thủy văn lưu vực sông Kôn và Hà Thanh.
- Quy hoạch tiêu úng thoát lũ, nuôi trồng thủy sản, nông
lâm nghiệp và giao thông thủy vùng đầm.
III-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
3.1 Vị trí địa lý, địa hình và địa
chất thổ nhưỡng vùng đầm:
Đầm Thị Nại có chiều dài 16km, chiều rộng từ 500m -
5.000m, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát, phía Nam giáp Tp.
Quy Nhơn, phía Tây giáp huyện Tuy Phước và Quy Nhơn, phía Đông giáp
cồn cát ven biển. Diện tích tự nhiên mặt đầm 5060 ha gồm một phần
của xã Cát Chánh (Phù Cát), các xã Phước Thuận, Phước Sơn, Phước
Hòa, Phước Thắng (Tuy Phước), các xã Nhơn Bình, Nhơn Hội, phường
Đống Đa và Hải Cảng (Quy Nhơn).
3.1.1
Về địa hình:
Bình độ 1/10.000 vùng nội đầm đo đạc tháng 7/1991 là có
chất lượng tốt đảm bảo yêu cầu nghiên cứu. Đất đai vùng nội đầm phân
bố theo cao trình như sau:
* Từ - 0,50m đến - 1,0m : có diện tích 2.256,4
ha, chiếm 45,1%
* Từ - 1,01m đến - 2,0m : có diện tích 1.275,0
ha, chiếm 25,5%
* Từ - 2,01m đến - 3,0m : có diện tích 1.273,0
ha, chiếm 25,4%
* Từ - 3,01m đến - 21,5m : có diện tích
255 ha, chiếm 4%
Vùng giữa đầm có cồn nổi rộng 1,3 km dài 2km có cao độ từ
- 1,50m đến +1,3m có diện tích 250ha. Vì vậy dòng chảy tự nhiên
trong đầm từ xưa đã phân thành 2 luồng:
+ Luồng phía Đông rộng 600-800m
+ Luồng phía Tây rộng 400-600m
Vùng ven đầm được đê khu Đông bảo vệ có diện tích 5.342
ha, có cao độ từ - 0,5m đến 1,50m trong đó có 526 ha nằm ở cao trình
từ - 0,5m đến 0,0m thường xuyên bị úng và nhiễm mặn nặng.
3.1.2
Địa chất thổ
nhưỡng:
Vùng đầm chủ yếu là trầm tích biển, gồm đất sét màu xám
đen có lẫn vỏ sò và các tạp chất hữu cơ đã và đang phân giải, sét,
đất cát và cát có lẫn thạch anh và mica. Được phù sa sông Kôn và Hà
Thanh bồi đắp, nhìn chung đất đai vùng ven đầm khá màu mỡ nhưng có
độ nhiễm mặn cao, khả năng chịu lực kém, bở rời. Vùng ven đầm - đặc
biệt vùng các cửa sông điều kiện đất đai và nguồn nước rất thuận lợi
cho việc nuôi tôm xuất khẩu.
3.2 Tính toán thủy văn lưu vực sông
Kôn và Hà Thanh.
ĐTN có lưu vực 3.647km2
gồm lưu vực sông Kôn, sông Hà Thanh và các suối nhỏ phía nam Núi Bà.
Sông Kôn dài 178km bắt nguồn từ tỉnh Gia Lai, Kon Tum và huyện Vĩnh
Thạnh (Bình Định) có diện tích lưu vực là 3.067km2. Sông
Hà Thanh bắt nguồn từ vùng núi phía tây thuộc huyện Vân Canh có
chiều dài 48km và diện tích lưu vực 580km2. Đặc điểm
chung nổi bật của sông Kôn và sông Hà Thanh là khi chảy về đồng
bằng, sông không còn dòng chính mà chia làm nhiều nhánh nhỏ, lòng
sông hẹp và nông. Về mùa mưa lũ, nước lũ chủ yếu chảy tràn lan trên
khắp ruộng đồng, bờ bãi. Lượng nước chảy trong sông chỉ chiếm 30%.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa là lũ tập trung nhanh nhưng rút cũng
nhanh, thời gian ngập lụt trong đồng thường chỉ kéo dài vài ba ngày.
3.2.1
Chế độ thủy văn:
Lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Kôn khoảng 1.790mm,
sông Hà Thanh khoảng 1.900mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng
12, chiếm 70 - 75% lượng mưa trong năm, trong đó 2 tháng (10,11) là
mưa nhiều nhất chiếm 50 - 54% lượng mưa trong năm. Mùa lũ thường
chậm hơn mùa mưa 1 tháng - như vậy lũ bắt đầu từ tháng 10 kết thúc
tháng 12, lũ lớn thường tập trung vào 2 tháng 10 & 11. Lũ tiểu mãn
thường xảy ra vào tháng 5 và tháng 6; Lũ chính vụ diễn ra lúc mùa
màng đã thu hoạch xong cho nên ít ảnh hưởng đến sản xuất; Lũ sớm, lũ
muộn, lũ tiểu mãn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Hơn
nữa lũ chính vụ rất lớn, vì vậy phương châm chống lũ từ trước đến
nay là: “Tránh lũ chính vụ, chỉ chống lũ sớm, lũ muộn và lũ tiểu
mãn”.
3.2.2
Tính toán dòng chảy lũ sông Kôn và sông Hà Thanh:
Đã tiến hành tính toán lũ chính vụ sông Kôn và sông Hà
Thanh theo 2 phương pháp:
* Phương pháp tổng lượng
* Phương pháp triết giảm đỉnh lũ. Riêng đối với sông Kôn
tính toán cho 2 trường hợp có và không có sự tham gia cắt lũ của hồ
Núi Một.
Sau khi tính toán đã chọn trường hợp: Có cắt lũ hồ Núi Một
và theo phương pháp tổng lượng. Kết quả tính toán lưu lượng lũ của
sông Kôn và Hà Thanh đối với lũ chính vụ 10% và lũ sớm, lũ muộn, lũ
tiểu mãn ứng với tần suất 5% được thể hiện ở bảng sau:
|
Lũ ứng với
tần suất
Tên sông |
Lũ chính vụ
p = 10%
(m3/s) |
Lũ tiểu mãn
p = 5%
(m3/s) |
Lũ sớm
p = 5%
(m3/s) |
Lũ muộn
p = 5%
(m3/s) |
|
Sông Kôn và
sông Hà Thanh |
9.799 |
725 |
2.180 |
2.480 |
Trong quá trình tính toán lũ 2 sông này đã tiến hành thu
thập phân tích đối chiếu các kết quả tính toán trước đây của Đoàn
Khảo sát quy hoạch thủy lợi Khu V, Trường ĐH thủy lợi và tính toán
thủy văn khi lập luận chứng kinh tế kỹ thuật đê khu Đông của Sở Thủy
lợi đã được Bộ thủy lợi (nay là Bộ NN&PTNT) duyệt năm 1986.
3.2.3
Tính toán mực nước triều:
Biển Quy Nhơn có chế độ từ bán nhật triều không đều đến
nhật triều đều với biên độ không đáng kể. Trong tháng có từ 16 - 22
ngày nhật triều, có 2 lần triều cường và triều kém. Thời kỳ triều
cường thường có thêm 1 con nước nhỏ. Thời gian triều dâng lâu hơn
thời gian triều rút. Biên độ triều cường 1,5 -2 mét, biên độ triều
kém chỉ xấp xỉ 0,5m. Biên độ triều vùng đầm nhỏ hơn biên độ triều
vùng biển. Chân triều vùng đầm cao hơn chân triều vùng biển từ 0,4m
- 0,6m. Biên độ triều cường vùng đầm là 1,3 - 1,4m trong khi đó biên
độ vùng biển cùng kỳ 1,6 - 2,0m.
Về tính toán mực nước triều: đã sử dụng tài liệu của Trạm
triều Quy Nhơn có 16 năm tài liệu và đã tiến hành đo đạc mực nước
triều trong các tháng 5,6/1991 tại 04 địa điểm là: Hưng Thạnh, Bình
Thái, Vinh Quang, An Lợi để bổ sung. Từ đó đã tính toán xác định mực
nước triều cao nhất, thấp nhất tại Quy Nhơn và một số vị trí trong
đầm, tính toán mực nước triều thiết kế ứng với các tần suất. Mực
nước triều tính toán trong vùng đầm là 0,50m
3.3 Quy hoạch tiêu úng thoát lũ:
3.3.1 Hiện trạng hệ thống đê khu Đông và khả năng tiêu úng
thoát lũ trong vùng:
Đê khu Đông gồm các hạng mục công trình: hệ thống đê, bờ
tràn và cống bêtông cốt thép - được thiết kế năm 1986. Do công trình
chưa làm hoàn chỉnh nên hệ thống đê và các công trình trên đê ngày
càng xuống cấp, hầu hết các cửa cống đều bị hư hỏng phải thay thế
bằng gỗ, đóng mở rất khó khăn. Tình hình úng lụt ở vùng hạ lưu sông
Kôn và Hà Thanh nhìn chung ngày càng diễn ra nghiêm trọng và gây
nhiều thiệt hại cho sản xuất và công trình xây dựng cơ bản trong
vùng.
Lũ sớm vào tháng 9 gây úng lúa mùa, lúa vụ 3 đang kỳ trổ
bông và thu hoạch; Lũ muộn vào tháng 12 làm ngập lúa mới sạ ảnh
hưởng thời vụ đông xuân và các vụ sau; lũ tiểu mãn vào tháng 5,6 làm
úng lúa hè thu.
Trong 15 năm qua nhất là từ năm 1986 - 1990 nhân dân trong
vùng ĐTN đã bỏ ra 10 tỷ 123 triệu đồng đắp 150km bờ tôm cao từ 1,5 -
2,5m, mặt bờ rộng từ 0,8 - 1,5m, mặt ngoài có gia cố bằng đá hộc.
Mỗi hồ tôm rộng từ 2 - 20 ha. Do không có quy hoạch nên việc đắp bờ
khoanh vùng nuôi tôm nhiều nơi đã thu hẹp dòng chảy ở các luồng
lạch, các cửa sông, có một số nơi nhân dân đã lợi dụng bờ đê Đông,
cống tràn để quây bờ nuôi tôm làm ảnh hưởng việc tiêu úng thoát lũ
vùng trọng điểm lúa ven đầm gây nhiều vụ tranh chấp giữa các địa
phương. Trong vùng nội đồng nằm ven đê Đông có trên 500ha có cao độ
từ 0,5-1,0m thường xuyên bị úng, hạn và mặn đe doạ. Hơn nữa, lũ lụt
ngày càng tăng là do các nguyên nhân chính sau: diện tích rừng đầu
nguồn bị tàn phá nghiêm trọng, sông ngắn và dốc lũ tập trung nhanh,
mặt cắt thoát lũ trong đầm bị thu hẹp nghiêm trọng đặc biệt đoạn từ
An Lợi đến Dương Thiện, các công trình tràn thoát lũ mới làm 64% so
với yêu cầu của thiết kế.
3.3.2 Quy hoạch tiêu úng thoát lũ:
Quy hoạch tiêu úng thoát lũ là nội dung chính và quan
trọng nhất của đề tài - là cơ sở để lập quy hoạch của các ngành, nội
dung quy hoạch:
-Xác
định khả năng tiêu úng thoát lũ của các cửa sông như: An Lợi, Gò
Bồi, Trường Úc, Cầu Đôi, các cống, tràn trên đê Đông. Trên cơ sở đó
đề ra những công trình cần xây dựng, bổ sung để đảm bảo tiêu úng và
thoát lũ chính vụ với tần suất 10% và ứng với tần suất 5% đối với lũ
sớm, lũ muộn, lũ tiểu mãn.
-Tính
toán thủy lực vùng ĐTN để xác định kích thước các mặt cắt, luồng
lạch trong vùng đầm nhằm đảm bảo tiêu úng và thoát lũ với các tần
suất trên, hạn chế ngập lụt trong đồng, bảo vệ đê Đông theo nhiệm vụ
thiết kế đã đề ra, chỉ rõ ranh giới, phạm vị nào có thể nuôi tôm,
phạm vi nào phải dành để thoát lũ.
a/ Các chỉ tiêu
kỹ thuật dùng trong tính toán thủy lực tiêu úng và thoát lũ:
-
Tần suất tính toán : + Lũ
chính vụ : 10%
+ Lũ sớm, muộn, tiểu
mãn : 5%
-
Mực nước lũ trong
đồng : 1,5m
-
Mực nước lũ trong
đầm : 0,5m
-
Tần suất (Q) lũ chính vụ sông
Kôn & Hà Thanh ứng với tần suất 10%: 9800m3/s
(1)
-
Q lũ điều tiết trong
đồng : 2.900m3/s
-
Q lũ qua các cửa sông An Lợi,
Gò Bồi, Trường úc, Cầu Đôi : 1.835m3/s
-
Q lũ tháo qua 24 cống (77 cửa
mỗi cửa 2m) tiêu dưới đê Đông: 967m3/s
-
Q lũ tháo qua 19 bờ tràn dài
2.303m : 2.624m3/s
Như vậy tổng cộng phần lưu lượng lũ đã điều tiết trong
vùng đồng, tháo qua các cửa sông và các công trình tràn, cống của đê
Đông: 8327m3/s
(2)
Lưu lượng lũ còn tràn qua đê Đông để chảy vào đầm ứng với
Q=10% là : 1473m3/s.
<(1)-(2)>
Vì vậy cần thiết phải xây dựng thêm 1575 tràn trên đê để tháo lượng
lũ này.
Đối với lũ sớm, muộn và tiểu mãn kết quả tính toán thủy
văn như sau:
+ Q tiểu
mãn : 725
m3/s
+ Q lũ
sớm :
2180 m3/s
+ Q lũ
muộn
: 2480 m3/s
+ Q điều tiết trong
đồng : 250 m3/s
+ Q nhập vào đầm trong trường hợp lũ
muộn : 2230 m3/s
b/
Các phương
án tính toán thủy lực:
Dựa vào điều kiện địa hình 17 mặt cắt trên các luồng lạch
đã được xác định tiến hành tính toán thủy lực theo phương án: dòng
chảy đi theo 2 tuyến. Nội dung phương án chọn gồm các điểm chính
sau:
-ĐTN giữ
nguyên như hiện trạng, để đảm bảo tiêu úng thoát lũ sớm, muộn và
tiểu mãn cần thiết phải mở rộng các mặt cắt :
* Mặt cắt số 9 mở rộng từ 350m thành 400m.
* Mặt cắt số 10 mở rộng từ 200m thành 600m.
Các hồ
nằm trong pham vị lòng lạch phải giải tỏa là 14,5ha
-Để đảm
bảo tiêu úng thoát lũ chính vụ với tần suất 10% phải mở rộng các mặt
cắt: 8,9,10,11,16,17 cụ thể như sau:
(ĐVT:
mét)
|
Tên mặt cắt |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
|
+ Chiều rộng mặt cắt theo hiện trạng.
+ Chiều rộng mặt cắt theo phương án. |
500
500 |
1000
1000 |
1000
1000 |
700
700 |
700
700 |
600
600 |
400
400 |
350
400 |
350
400 |
|
Tên mặt cắt |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
|
+ Chiều rộng mặt cắt theo hiện trạng.
+ Chiều rộng mặt cắt theo phương án. |
200
600 |
300
500 |
230
230 |
200
200 |
600
600 |
600
600 |
500
600
|
400
600 |
Tổng số diện tích các hồ tôm nằm trong lòng lạch cần
nghiên cứu giải toả từng bước là 184 ha
-Cần
tiến hành hoàn chỉnh hệ thống đê Đông bao gồm: tu sửa các cống cũ,
tràn cũ, bồi trúc đê cho đúng cao trình. Làm thêm cống Nhơn Bình,
Phước Sơn..., xây dựng một số bờ tràn mới đảm bảo thoát lưu lượng lũ
còn thiếu 1473m3/s.
Khi hoàn chỉnh tràn cống cần chú ý kết hợp giao thông.
-Các
trục tiêu phía trước và sau các tràn và cống phải đảm bảo chiều rộng
cần thiết cụ thể là:
·
Chiều
rộng của kênh thượng hạ lưu cống bằng 1,5 lần chiều rộng cống.
·
Chiều
rộng của kênh thượng hạ lưu tràn bằng chiều rộng của tràn cộng thêm
mỗi bên 15m.
-Tiến
hành trồng cây chắn sóng dọc đê khu Đông để bảo vệ đê, đồng thời
nghiêm cấm trồng cây trên đê nhất là các loại cây thân gỗ - tránh về
mùa mưa cây đổ gây vỡ đê.
3.4 Quy hoạch Nông nghiệp:
3.4.1
Vùng nội đầm:
chủ yếu nuôi tôm xuất khẩu đối với diện tích có cao trình từ - 2,0m
đến - 0,5m. Diện tích này gồm 3532ha phân bố như sau:
+ Diện tích hiện nay đã nuôi tôm: 990,7ha, trong đó có
184ha nằm trong phạm vi đường bao thoát lũ, còn lại 806,7ha.
+ Diện tích còn lại có thể đưa vào nuôi tôm : 1391ha,
trong đó có 230ha dễ khai thác có thể đưa vào nuôi tôm ngay, còn lại
1161ha điều kiện nuôi tôm khó khăn hơn.
+ Diện tích làm muối đã có :
106ha
+ Diện tích nằm trong hành lang thoát lũ: 1044ha
Ngoài ra
diện tích có cao trình từ - 2,0m đến - 21m là 1528ha chủ yếu dành
cho khai thác đánh bắt tự nhiên và giao thông thủy.
3.4.2
Vùng nội đồng nằm
ven đê Đông:
Vùng ven thuộc các xã Nhơn Bình, Phước Thuận, Phước Sơn,
Phước Hòa, Phước Thắng gồm 196,5 ha bố trí sản xuất như sau: diện
tích trồng cói bố trí vùng kênh thuộc xã Phước Thắng: 15ha; chuyển
sang nuôi tôm: 181,6ha.
Vùng Huỳnh Giảng, Nhơn Hội gồm 304ha bố trí sản xuất như
sau: Các cánh đồng cao nằm ven cồn cát, có điều kiện sử dụng nguồn
nước ngầm để canh tác, trước mắt bố trí trồng lúa 50ha; Số diện tích
cao hiện đang bị sình lầy cần cải tạo để trồng chuối tiêu gần 30ha;
chuyển sang nuôi tôm 224ha. Trong diện tích này hiện nay đã có 106ha
tôm do đó phần mở rộng thêm diện tích trong thời gian tới là 118ha.
3.5 Quy hoạch Lâm nghiệp:
3.5.1
Vùng nội đồng:
Gồm các cồn nổi, các bờ tôm... trồng các loại cây chắn sóng bảo vệ
bờ tôm, giải quyết một phần chất đốt cho nhân dân đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho tôm phát triển. Vùng dọc theo đê Đông trồng cây
dọc theo chân đê từ 3 -5 hàng. Cần trồng xen kẻ các loại cây cao
thấp khác nhau để đảm bảo chắn sóng tốt. Tổng diện tích trồng cây
trong vùng đầm là 534,5ha gồm 5.350.000 cây, vốn đầu tư là 672,5
triệu đồng.
3.5.2
Vùng cồn cát phía
Đông:
Chủ yếu trồng cây phi lao theo chương trình viện trợ PAM nhằm: chống
cát bay bảo vệ đất đai canh tác vùng đồng, chắn gió, góp phần bảo vệ
nguồn nước ngọt phục vụ cho tưới lúa vùng ven cồn cát và cấp nước
sinh hoạt cho bà con Huỳnh Giảng, Nhơn Hội, Nhơn Lý và cho cả bà con
ven đê thuộc các xã Phước Thuận, Phước Sơn... ngoài ra vùng phi lao
tươi tốt sẽ cải thiện điều kiện môi trường và làm cho cảnh quan vùng
này thêm đẹp, phục vụ cho ngành du lịch phát triển trong tương lai.
Cụ thể diện tích trồng rừng theo quy hoạch từng xã như sau:
(ĐVT: ha)
|
Vùng
quy hoạch |
Diện tích
cồn cát |
Diện tích
đã có cây |
Diện tích
trồng mới |
|
Huỳnh Giảng
Nhơn Lý
Nhơn Hội |
580
403
648 |
340
157
223 |
100
150
100 |
|
Tổng cộng |
1631 |
720 |
350 |
Mật độ cây trồng trên diện tích mới là 10.000 cây/ha. Số
cây trồng bổ sung rừng cũ là 3.000 cây/ha. Vốn đầu tư là 537 triệu
đồng gồm 5.660.000 cây.
3.6 Quy hoạch nuôi trồng thủy sản:
3.6.1 Hiện
trạng nuôi trồng thủy sản:
Nghề nuôi trồng thủy sản đã có từ lâu ở ĐTN, chủ yếu là
nuôi tôm cá; nghề làm rong câu chưa được khuyến khích và chưa có sức
hấp dẫn đối với nhân dân trong vùng; nghề làm muối chủ yếu là áp
dụng các phương thức khai thác thủ công cổ truyền; nghề nuôi cá lồng
chưa có chỗ đứng trên địa bàn ĐTN; Việc nuôi tôm ở đây được phân
thành hai vùng: trong đồng và ngoài đầm. Các hồ tôm thường rộng từ 2
- 20ha, dựa vào đê Đông và các công trình tháo lũ của đê để xây dựng
hồ tôm. Vùng các cửa sông như An Lợi, Gò Bồi, Hà Dơi, Tân Đề... có
điều kiện tự nhiên thuận lợi là nơi được xây dựng nhiều hồ tôm nhất.
Nghề đánh bắt hải sản chủ yếu dùng các đưng, đáy, chì.
Phương tiện chủ yếu là ghe gỗ nhỏ, thô sơ, năng suất kém. Việc đánh
bắt không được quản lý một cách khoa học đã làm hạn chế điều kiện
phát triển của sinh vật biển vì đây chính là nơi sinh đẻ của chúng.
3.6.2 Phương
hướng quy hoạch:
Vùng ĐTN là vùng ven biển có những điều kiện thuận lợi về:
độ mặn, độ pH, nhiệt độ, chất đất để phát triển nuôi tôm sú. Tiềm
năng diện tích nuôi tôm toàn vùng được thể hiện ở bảng sau:
|
|
Tổng |
Diện tích |
Tiềm năng diện tích chưa khai thác |
|
Tiềm năng |
cộng
(ha) |
hồ
tôm đã có (ha) |
DT
khó khai thác |
DT
dễ khai thác |
Tổng
cộng |
|
Tiềm năng diện tích vùng nội đồng |
456 |
169 |
137,9 |
248,5 |
286,4 |
|
Tiềm năng diện tích vùng nội đầm |
2197,7 |
806,7 |
1161 |
230 |
1391 |
|
|
(đã trừ 184 ha nằm trong lòng lạch) |
|
Tổng cộng |
2653,7 |
975,7 |
1198,9 |
478,5 |
1677,4 |
Để khai thác tiềm năng đem lại hiệu quả cao nhất, hình
thức nuôi tôm vùng đầm được chọn như sau:
* Hình thức nuôi bán thâm canh gồm:
+
Diện tích vùng nội
đầm : 456,0 ha
+
Diện tích thuộc quốc doanh nuôi
tôm ĐTN : 166,5 ha
* Hình
thức nuôi tôm quảng canh cải tiến gồm diện tích hiện có trong vùng
đầm (trừ diện tích nuôi bán thâm canh và diện tích 184 ha nằm trong
phạm vi lòng lạch) và 230 ha có điều kiện nuôi tôm tương đối thuận
lợi. Diện tích nuôi tôm theo hình thức quảng canh là 1161 ha.
Năng suất bán thâm canh dự kiến 1150kg/ha, quản canh có
cải tiến 540kg/ha và nuôi quảng canh 235kg/ha. Hiệu quả tổng hợp của
quy hoạch nuôi tôm thể hiện như sau:
|
T
T |
Hình thức nuôi |
Diện tích
(ha) |
Vốn đầu tư |
Sản phẩm |
|
Trên 01 hecta |
Tổng
vốn |
Năng suất
(tấn/ha) |
Sản lượng
(tấn) |
|
1 |
Bán thâm canh
+ Đầu tư mới
+ Đầu tư chiều sâu |
622,5
286,4
336,1 |
35
20 |
16756
10024
6722 |
1,15 |
715,875 |
|
2 |
Quản canh cải tiến
+ Đầu tư mới
+ Đầu tư chiều sâu |
870,2
230
640,2 |
25
10 |
12152
5750
6402 |
0,54 |
234,954 |
|
3 |
Quản canh |
1161 |
15 |
17415 |
0,235 |
136,417 |
|
Tổng cộng |
2653,7 |
|
46313 |
|
1087,246 |
* Hiệu quả kinh tế thu được:
+ Sản
phẩm chính: 1087,246 x 35 triệu/tấn = 38053 triệu
+ Sản
phẩm phụ : 350 x 2 triệu/tấn
= 700 triệu
---------------------------------------------------------------------------------------
Cộng = 38753 triệu
+ Tiền
lãi thu được : Tôm : 15221,2 triệu
Cá : 500,0 triệu
---------------------------------------------------------------------------------------
Cộng = 15721,2 triệu
3.7 Quy hoạch giao thông thủy:
ĐTN được dải cồn cát phía Đông và dãy núi Phương Mai bao
bọc tạo thành một vịnh kín chỉ thông ra biển tại cửa Quy Nhơn sâu
trên 20m, rất thuận lợi cho tàu thuyền qua lại. Vì vậy từ trước đến
nay việc khai thác đầm phục vụ cho các hoạt động kinh tế và giao
thông thủy nhằm 3 mục tiêu chính: Giao thông thủy vùng đầm, lập
cảng, lập các bến bãi neo đậu.
3.7.1 Quy
hoạch vận tải trong đầm:
Theo số liệu điều tra số lượng hành khách vận tải trong
đầm đến năm 2000 ước tính có khoảng 125000 lượt người/năm và 20000
tấn hàng hóa/năm. Hai tuyến giao thông chính:
* Quy Nhơn - Vinh Quang - Gò Bồi - Cát Chánh
* Đống Đa - Hội Thành - Huỳnh Giảng
Các tuyến phụ có:
* Hàm Tử - Bến Rời
* Hội Lộc - Nhơn Lý
* Phước Sơn - Khe Đá
Qua nghiên cứu một số phương án, so sánh hiệu quả kinh tế
thấy rằng vấn đề giao thông vận tải vùng đầm nên dùng các loại
thuyền khách 50 - 60 chỗ kết hợp với chở hàng là kinh tế nhất. Trong
giai đoạn trước mắt cần triệt để tận dụng các luồng lạch hiện có, sử
dụng tối đa giờ triều cao, tăng cường công tác quản lý luật lệ, phao
tiêu báo hiệu chỉ dẫn đường để khai thác tốt việc vận chuyển trên
đầm. Vốn đầu tư quản lý khai thác chủ yếu do các huyện, xã, HTX và
tư nhân đảm nhiệm là chính.
3.7.2 Quy họach cảng:
* Cảng Quy Nhơn: dự kiến đến năm 2000 sẽ mở rộng phấn đấu
đạt 1,2 - 1,5 triệu tấn/năm làm nhiệm vụ cảng khu vực phục vụ một
phần cho việc xuất nhập khẩu các tỉnh Tây Nguyên và bạn Lào -
Campuchia. Tiến hành nạo vét các luồng lạch để tàu 5.000 - 10.000
tấn ra vào thuận lợi.
* Cảng Thị Nại: mở rộng có công suất từ 150.000 - 300.000
tấn/năm và tiếp nhận cảng Cầu Đen làm cảng phụ. Để phục vụ khai thác
cảng có hiệu quả, từ nay đến năm 2000 cần xây dựng củng cố lại hệ
thống cầu tàu, các kho tàng bến bãi, cần cải tạo nâng cấp cho phù
hợp.
3.7.3 Quy họach bến bãi neo đậu:
Chủ yếu là tăng cường quản lý khai thác các bến bãi tự
nhiên đang được sử dụng. Đối với tàu có trọng tải lớn, bến neo đậu
chủ yếu dọc bán đảo Phương Mai; đối với tàu có trọng tải nhỏ, bến
neo đậu chủ yếu là khu vực đầm thuộc khu vực 5,6 phường Hải Cảng;
đối với tàu thuyền nhỏ của Tp. Quy Nhơn là khu vực đầm Đống Đa. Để
tạo điều kiện cho tàu thuyền ra vào neo đậu an toàn khi gió bão, cần
giải toả các nhà chồ, đăng đáy vùng cửa đầm Quy Nhơn. Nghiêm cấm
việc làm nhà chồ xâm lấn các khu vực bến bãi neo đậu, đặc biệt ở khu
vực 5,6 phường Hải Cảng.
3.7.4 Quy họach giao thông vận tải vùng ven đầm:
Trục đê khu Đông là tuyến giao thông quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế vùng đầm. Vì vậy khi hoàn chỉnh đê Đông cần
kết hợp giao thông, cần kết hợp bờ tràn cũ để đảm bảo ít nhất các
phương tiện cơ giới nhẹ có thể qua lại dễ dàng. Cần đầu tư xây dựng
và nâng cấp con đường bộ từ Cát Khánh đi Hội Lộc.
3.8 Các loại bản đồ:
Đã thực
hiện các loại sau:
+ Bình đồ tỷ lệ 1/10.000 - khu vực đầm Thị Nại.
+ Bản đồ mặn ĐTN - 1/25.000
+ Bản đồ hiện trạng (1991) và quy hoạch thủy lợi, thủy
sản, giao thông và nông lâm nghiệp vùng ĐTN - 1/10.000
+ Bản đồ tiêu úng thoát lũ vùng ĐTN - 1/10.000.
IV-
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
4.1 Kết luận:
Tuy còn có những hạn chế nhất định do tài liệu cơ bản
thiếu thốn, nhưng kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đã tìm ra những
định hướng cơ bản có căn cứ khoa học để UBND tỉnh chỉ đạo các ngành
xây dựng những dự án, những luận chứng kinh tế kỹ thuật nhằm khai
thác triệt để tiềm năng kinh tế vùng ĐTN mà không gây mâu thuẩn giữa
trước mắt và lâu dài, mâu thuẩn giữa ngành này và ngành khác.
4.2 Kiến nghị:
Cần tiếp tục nghiên cứuắmâu hơn nhằm bổ sung cho quy hoạch
tổng thể ĐTN ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Từng bước nghiên cứu giải toả các hồ tôm nằm trong phạm vi
lòng lạch với phương châm từng bước thận trọng. Hồ nào gây cản trở
nhiều thì giải toả trước, hồ nào ngăn cản ít thì giải toả sau, có lý
có tình.
Quy hoạch tiêu úng thoát lũ lưu vực sông Kôn và Hà Thanh,
đồng thời bổ sung nâng cao quy hoạch tiêu úng thoát lũ ĐTN.
Hoàn chỉnh đê khu Đông theo luận chứng kinh tế kỹ thuật
như đã được duyệt.
Cần nghiên cứu ban hành những chính sách phù hợp trong
nuôi trồng thủy sản để các chủ hộ yên tâm đầu tư xây dựng công trình
nuôi tôm. Đặc biệt có chính sách giúp đỡ những hộ nghèo về vốn và kỹ
thuật để họ có điều kiện nuôi tôm xuất khẩu có kết quả.
ĐTN nằm sát Tp. Quy Nhơn có cảnh quan đẹp đẽ, sông núi hữu
tình, có cảng lớn rất có điều kiện phát triển công tác du lịch. Đề
nghị ngành du lịch cần nghiên cứu dự án để khai thác tiềm năng du
lịch vùng đầm.
(Biên tập: Ngọc Sơn)