ĐIỀU TRA KHẢO SÁT XÁC ĐỊNH MÙA VỤ NUÔI TÔM HỢP LÝ Ở BÌNH ĐỊNH

 

CNĐT: KS Trần Văn Lang

CQCT: Sở Thuỷ sản Bình Định

           CB&CQPH: Pgs- TS Nguyễn Trọng Nho, TS Đỗ Thị Hoà, ThS Hoàng Bých Mai,

           ThS  Nguyễn Địch Thanh, SV Dương Văn Nhàn, Nguyễn Như Thiên (ĐH Thuỷ sản Nha Trang),

           CN  Nguyễn Thị Liên, CN Võ Đình Tâm (Sở Thuỷ sản Bình Định

TGTH: 5/99 - 3/2000

 

I/ MỞ ĐẦU:

Bình Định thuộc vùng duyên hải Trung bộ, có chiều dài bờ biển 134km. Tổng diện tích mặt nước lợ là 7600ha (đầm Thị Nại- 5600ha; Đề Gi - 1600 ha; vùng Hoài Nhơn 400 ha), có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thuỷ sản (NTTS)

Những năm đầu thập kỷ 80 với dự án VIE 83/002 về nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm, Bình Định đã đi đầu cả nước trong lĩnh vực nuôi tôm biển. Tuy nhiên năng suất tôm đạt được còn thấp hơn so với một số tỉnh khác trong khu vực (Khánh Hoà, Phú Yên, Ninh Thuận...), bình quân 688,88kg/ha (1998). Ngoài hạn chế về trình độ kỹ thuật, người nuôi tôm Bình Định chưa đầu tư thâm canh đúng mức; bên cạnh đó - điều căn bản là chưa xác định được mùa vụ nuôi tôm hợp lý. Hỗu hết nuôi tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu đầu tư cơ sở vật chất cần thiết ..do đó năng suất tôm nuôi chưa cao.

Muốn phát triển nghề nuôi tôm bền vững cần phải điều tra xác định mùa vụ hợp lý.

II/ PHƯƠNG PHÁP, NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU     

          2.1- Phương pháp điều tra, nghiên cứu:

Khảo sát thực tế thu thập phân tích số liệu về thuỷ lý, thuỷ hoá, các mẫu sinh vật phù du. Điều tra thực tế về hiện trạng và mùa vụ nuôi tôm các địa phương. Số liệu được tính toán, xử lý theo phương pháp thống kê. Sau đó mã hoá, nhập vào máy tính, dùng phần mềm thống kê SPSS for window để tính toán, sau đó xác định được mùa vụ nuôi tôm hợp lý

          2.2- Nội dung:

Nghiên cứu và phân tích về điều kiện tự nhiên, đặc điểm khí tượng thuỷ văn, đặc điểm lý, hoá , sinh học của môi trường ao nuôi tôm; trình độ sản xuất, quản lý của người nuôi tôm ở Bình Định, nhằm tìm ra những vấn đề thiết yếu làm cơ sở cho việc xác định mùa vụ nuôi tôm hợp lý. Sau đó đề ra mùa vụ nuôi tôm hợp lý cho tỉnh Bình Định

2.3- Kết quả nghiên cứu:

          2.3.1- Đặc điểm lý, hoá học nước ao nuôi tôm ở Bình Định (Bảng 1)

Qua bảng 1 cho thấy: Độ pH nền đáy ao nuôi tôm ở Bình Định khá thích hợp cho nuôi tôm, pH đa phần lớn hơn 5. Chất đáy chủ yếu là bùn và cát. Đầm Thị Nại chủ yếu là bùn nên không thật thuận lợi cho nuôi tôm. Hầu hết ao nuôi đều có độ sâu thấp, trung bình < 1m. Độ trong nước ao hợp lý nhưng hơi cao, pH thích hợp cho tôm, hạn chế được biến động nhiệt độ. Độ mặn của ao phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều ; lượng mưa, lượng bốc hơi chế độ công tác và khả năng thay nước của ao. ở Bình Định các đầm ao nuôi đều có các cửa sông, cửa biển

          Giá trị trung bình của BOD và COD có xu hướng tăng theo thời gian nuôi trong vụ. Đây chính là lý do khống chế thời gian nuôi, nên mỗi vụ nuôi thâm canh tôm sú không nên quá 5 tháng

          Ở Bình Định qua khảo sát cho thấy, trong từng khu vực hàm lượng NH3-N, NO2-N, NO3-N đều nằm trong khoảng thích hợp cho nuôi tôm. Hàm lượng muối Phosphate trong ao tômổư khu vực bãi triều Hoài Nhơn là 0,2375mg/lít- thuộc loại trung bình cao. Thấp nhất là ở đầm Thị Nại. Giữa các khu vực hàm lượng khác nhau không nhiều . Hàm lượng Sắt (Fe) dạt giá trị trung bình cao nhất là0,351mg/lít (đầm Thị Nại); thấp nhất là 0,2017mg/lít (đầm Đề Gi). Hàm lượng này ở mức cho phép để tảo và tôm sinh trưởng, phát triển

2.3.2- Thành phần loài và mật độ sinh vật phù du ở ao nuôi tôm tỉnh Bình Định:

Kết quả phân tích cho thấy vùng vịnh Quy Nhơn có tổng số 185 loài thực vật phù du, thì ở trong ao nuôi tôm thành phần giống loài tảo đơn điệu có hơn 99 loài

Thành phần loài động vật phù du chủ yếu là các giống loài nước lợ như Branchionusplicatilis; Paracalanus Parvus; Paracalanus aculatus Oithonanana...Mật độ (bảng 8 - a và b) cao vào mùa mưa (42,23. 103 con/m2), thấp nhất là vào đầu mùa mưa (4,59. 103 con/m2). Chiếm ưu thế là nhóm Branchionus và các loài thuộc ngành Arthropoda. Chúng là nguồn thức ăn quan trọng cho tôm nuôi

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện các yếu tố sinh thái chính trong ao nuôi tôm về lý hoá học cũng như thuỷ sinh vật ở Bình Định có thể nuôi tôm sú quanh năm

 

Bảng 1: Đặc tính lý hóa học nước trong ao nuôi tôm tỉnh Bình Định:

 

STT

Khu vực

ĐẦM THỊ NẠI

ĐẦM ĐỀ GI

BÃI TRIỀU HOÀI NHƠN

Đợt

Đợt I

Đợt II

Đợt III

Đợt I

Đợt II

Đợt III

Đợt I

Đợt II

Đợt III

Yếu tố

1

Độ sâu (m)

0,9 ¸ 1,6

 

0,85 ¸1,6

0,6 ¸1,4

0,9 ¸1,4

0,6 ¸1,2

0,6 ¸1,2

0,8 ¸1,0

1,0 ¸1,2

0,8 ¸1,0

2

Chất cháy

CB ¸ BC

CB ¸ BC

CB ¸ BC

BC ¸ CB

BC ¸ CB

BC ¸ CB

CB ¸ BC

CB ¸ BC

CB ¸ BC

3

pH đất

>5

>5

>5

>5

>5

>5

>5

>5

>5

4

Độ trong (m)

0,2-0,7

0,3-0,7

0,3-0,6

0,3-0,6

0,2-0,6

0,3-0,6

0,25-0,3

0,3-0,8

0,3-0,6

5

pH nước

7,85-8,87

   8,29

7,80-8,84

   8,17

7,52-8,89

   8,29

8,03-8,45

   8,29

7,66-8,43

    828

7,26-9,46

   8,05

7,92-8,60

    8,24

7,95-8,53

8,22

8,17-8,85

8,53

6

Nhiệt độ (0C)

29,5-34,5

31,45

30-35

32,50

29,5-34,0

31,64

32-33

32,50

33-34

33,50

27-31

28,38

31-32

31,50

31,5-33,5

32,63

29-29,5

29,25

7

Độ mặn (%0)

9-20

13,40

16-30

21,90

2-17

10,91

14-28

20,30

28-48

33,67

8-23

17,00

10-26

15,75

28

28,00

5-10

7,50

8

BOD (mg O2(3)/l)

2,56-3,56

   5,40

2,80-7,28

  5,32

1,36-5,84

   4,12

2,72-7,52

    4,97

4,24-8,00

   5,60

1,44-4,72

  2,96

4,25-8,80

   7,22

4,80-8,32

5,82

1,60-4,16

2,90

9

Oxy hòa tan (mg O2/l)

5,4-10,2

7,75

6,0-11,3

7,95

4,3-12

6,46

7,9-12,0

9,78

8,2-11,7

9,92

2,0-7,3

4,57

5,0-9,0

7,05

5,0-8,4

7,08

4,2-7,2

5,45

10

COD (mg O2/l)

1,9-21,1

10,04

1,6-25,6

12,24

3,2-11,2

6,18

3,2-16,6

8,85

2,4-13,6

8,40

1,6-7,2

5,00

 

7,1-24,9

15,20

3,2-8,8

5,20

1,6-9,6

4,60

 

Bảng 2: số lượng loài sinh vật phù du trong ao nuôi tôm tỉnh Bình Định:

 

          STT

Ngành tảo

Số loài

Tỉ lệ (%)

 

1

Tảo Silic (Bacilariophyta)

54

62,79

2

Tảo Lam (Cyanophyta)

13

15,12

3

Tảo Lục (Chlorophyta)

11

12,79

4

Tảo Giáp (Pyrrophyta)

6

6,79

5

Tảo Mắt (Euglenophyta)

2

2,33

S

5

86

100,00

STT

Ngành động vật

Số loài

Tỷ lệ %

1

Ngành Arthropoda

34

87,18

2

Ngành Nematheminthes

1

2,56

3

Ngành Protozoa

4

10,26

S

3  

39

100,00

2.3.3- Hiện trạng mùa vụ và kỹ thuật nuôi tôm sú của Bình Định

Hiện trạng: Từ sau tháng 9 hầu hết các khu vực đều ngừng nuôi tôm. Trong 8 tháng còn lại của năm thường nuôi từ 1- 2 vụ. Qua thống kê cho thấy hộ nuôi 2 vụ/năm chiếm chủ yếu (65%), còn lại là hộ nuôi 1 vụ (10%) và quanh năm

          Từ thực trạng này cho thấy, sau 1 vụ nuôi rất ít thời gian để cải tạo ao cho vụ 2 nên tôm dễ bị dịch bệnh

          Bình Định hiện có thức nuôi tôm chủ yếu. Trong đó có 23% số hộ nuôi bán thâm canh, 65% hộ nuôi quảng canh cải tiến và 12% nuôi quảng canh. Năng suất trung bình 688,88kg/ha/năm

          Ngoài tính đa dạng về hình thức nuôi, sự phong phú phức tạp của các hệ sinh thái đã tạo nên bức tranh nhiều vẻ trong nuôi tôm hiện nay ở Bình Định. ở đầm Thị Nại hình thức nuôi bán thâm canh chiếm tỷ lệ tương đối cao (36%), đầm Đề Gi rất thấp (3,33%). Ngược lại hình thức nuôi quảng canh cải tiến thì ở Tam Quan có tỷ lệ cao nhất (80%), Đề Gi (23,3%)

          Nhơn Hội có 90% hộ nuôi bán thâm canh, đây là đặc trưng riêng của đầm Thị Nại, biểu hiện rõ khả năng tăng năng suất của người nuôi

          Qua kết quả điều tra cho thấy có sự tương quan giữa năng suất với chi phí, theo phương trình hồi quy sau

          Năng suất = -500, 094 + (23,898 x chi phí)

          Từ phương trình này ta suy ra, Bình Định muốn nâng năng suất lên 1000kg/ha/năm thì phải cần chi phí 62,78 triệu đồng/ha. ở mực nước hơn 1m là thích hợp nhất cho nuôi tôm. Mổt khác với chi phí hiện tại càn nuôi ở mật độ từ 7 - 10 con/m2

Bảng 3:Kết quả điều tra một số chỉ tiêu kỹ thuật nuôi tôm ở Bình Định:

 

 

     Khu vực

Diện tích trung bình ao (m2)

Mật độ con/m2

Độ sâu   

(m)

Máy quạt nước (%)

Chi phí

(Triệu đồng)

Năng suất(kg/ha/năm)

Nhơn Bình

Nhơn Hội

Phước Hoà

Phước Sơn

Đầm Thị Nại

8676,4

4214,5

15801

27.000

14298,6

10,22

16,08

19,92

13,30

15,89

0,92

0,98

1,12

1,05

1,04

10

90

40

40

44

33,13

58,175

26,335

45

38,53

542,69

1118,27

501,84

1125,50

770,11

Cát Minh

Mỹ Chánh

Đầm Đề Gi

13150

8140

9810

3,5

7,54

6,19

0,96

0,9

0,92

0

5

3,33

16,63

25,10

22,73

117,5

781,11

465,11

Tam Quan Nam

Tam Quan Bắc

Tam Quan

2493,2

10300

6396,6

6,8

9,1

7,9

0,95

0,82

0,89

10

20

30

44,97

50,58

47,63

716.85

821,31

759,86

TỔNG

1169,3

11,38

0,97

27

36,09

688,88

 

          Nhìn chung xét từ khía cạnh cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho nuôi tôm (ao, đìa, máy bơm nước, máy sục khí...), trình độ nuôi hiện nay như vâyh thì không thể nuôi thắng lợi 2 vụ tôm/năm

2.3.4- Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đặc tính mùa vụ trong nuôi tôm:

          - Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi nhiệt độ môi trường nước dưới 120C  hoặc quá 35,50C - 370C thì gây chết cho tôm sú. Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25 - 320C. Nhiệt độ tối thiểu là 28 - 300C

          - Chế độ nhiệt tại Bình Định:

          Nhiệt độ không khí trung bình/năm dao động từ 26,1 - 27,10C, Các tháng 6,7,8 là những tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình từ 28,8 - 30,10C. Nhiệt độ cao nhất đạt tới 40,70C (Quy Nhơn), 41,60C (Hoài Nhơn). Tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 22,3 - 24,30C. Nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (15,20C)

          Nhiệt độ nước: Tăng dần từ tháng 1 đến tháng 9, sau đó giảm dần đến tháng 1 hoặc tháng 2 năm sau. Đây chính là nhiệt độ nguồn nước cung cấp cho các ao nuôi tôm tỉnh Bình Định (Bảng sau):

 

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Nhiệt độ trung bình (OC)

26.,8

26,3

27,2

29,9

28,4

27,4

26,4

29,9

30,3

28

25,9

24,1

27,6

Nhiệt độ trung bình (OC)

28,6

28

28,7

31,9

32,4

29,7

28,6

32,7

32,5

31,1

28,5

30,1

32,7

Nhiệt độ trung bình (OC)

24,3

24,1

25,5

27,3

25,1

25,3

23,3

26,1

28,6

24,1

22,1

20,1

20,1

 

          Bảng 5: Nhiệt độ nước (0C) trong ao nuôi tôm ở Bình Định vào mùa khô và mùa mưa-1999 (Bảng sau)

 

Mùa

Vùng đầm Thị Nại

Vùng đầm Đề Gi

Cửa Tam Quan

Mùa khô

29,5 - 34,5/31,45

 

32 – 33/32,5

 

31 – 32/31,5

 

Cuối mùa khô

30 – 35/32,5

 

33 – 34/33,5

 

31,5 - 33,5/32,6

 

Giữa mùa mưa

29,5 – 34/31,6

 

27 – 31/28,8

 

29 - 29,5/29,3

 

 

          Từ những dẫn liệu trên về đặc điểm thích ứng nhiệt độ cho thấy, Bình Định là vùng có khả năng nuôi tôm sú quanh năm. Tuy nhiên có những thời điểm nhiệt độ xuống dưới ngưỡng cho phép, cũng có lúc lên cao quá mức, đây là vấn đề cần chú ý đối với người nuôi tôm.

          Đứng trên phương diện chế độ nhiệt cho thấy, điểm thuận lợi cho nuôi thả tôm giống ở bình Định trong điều kiện hiện nay tốt nhất nên bắt đầu từ tháng 4(DL) hàng năm.

          - Độ nặm và quan hệ của độ mặn tới đặc tính mùa vụ trong nuôi tôm tại Bình Định.

          Kết quả nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định tôm sú là loài ruộng muối, có thể chịu được độ mặn từ 0,2-70%0. Khoảng thích hợp từ 10-30%0.

          Bảng 6: Bién động độ mặn (%0) trong ao nuôi tôm vào mùa khô và mùa mưa năm 1999.

Mùa

Vùng đẩm Thị Nại

Vùng đầm Đề Gi

Cửa Tam Quan

Mùa khô

(9-12)/13,4

(14-28)/20,3

(10-26)/15,27

Cuối mùa khô

(16-30)/21,9

(28-48)/33,7

28

Giữa mùa mưa

(2-17)/10,9

(8-23)/17

(5-10)/7,5

          Qua bảng trên cho thấy Bình Định có khả năng nuôi tôm cả mùa mưa lẫn mùa khô.

          * Vị trí địa lý, địa hình và khí tượng thủy văn liên quan đến mùa vụ nuôi tôm sú ở Bình Định.

          Bờ biển dài (134 km) diện tích mặt nước lợ lớn (7.600 ha), sông ngoài ngắn, dốc, nhiều đầm hồ. Tổng lượng mưa khá lớn, gần 2.000 mm/năm. Mùa mưa kéo dài 4 tháng (9-12)- với 70-75% tổng lượng mưa trong năm. Mưa lớn thường tập trung vào tháng 10-11-chiếm 45-50% tổng lượng mưa trong năm.

          Từ đó cho thấy Bình Định có khả năng nuôi tôm sú quanh năm. Tuy nhiên để tránh rủi ro, thất thu do bão lụt, nên thu hoạch, kết thúc sớm vụ nuôi ngay từ mùa mưa bão.

          2.3.5. Bệnh tôm và mùa vụ xuất hiện bệnh:

          Kết quả nghiên cứu ở 63 ao nuôi tôm trong tỉnh năm 1998 cho thấy, tôm sú mang nhiều mầm bện và độ cảm nhiễm bao gồm nhiều chủng loại khác nhau như : Virut, vi khuần, nấm, ký sinh trùng thuộc động vật đơn bào và giun tròn. Đặc biệt trên một ao, trên một con tôm có cùng một thời điểm có nhiều loại mầm bệnh khác nhau. Nguy hiểm có bệnh đốm trắng do virut SEMBV, bệnh còi cọc chậm lớn, chết rải rác do MBV và sinh vật ngoại ký sinh, bệnh đen mang, mòn vỏ do vi khuẩn dạng sợi và Vibri.

          Bảng 7: Các bệnh thường xảy ra trong ao nuôi tôm thương phẩm ở Bình Định.

STT

Tên bệnh và tác nhân chính

Tần số (%)

Dấu hiệu bệnh lý và mùa vụ xuật hiện

1

Bệnh đốm trắng di virut (Do SEMBV)

10/63

Đốm trắng, chuyển màu đỏ tím, bỏ ăn, chết hàng loạt thường xảy ra, tháng 11-3.

2

Bệnh virut gan (Do MBV)

15/63

Còi cọc, chậm lớn, chết rải rác kèm theo đen mang, bẩn mình thường xảy ra, tháng 11-3

3

Bệnh đen mang (Do môi trường, nấm Fusarium, Vibrio, Leucothix)

20/63

Mang bị đen, bỏ ăn, dạt bờ, chết rải rác thường xảy ra, tháng 11-3.

4

Bệnh bẩn mình, mang đóng rong (Do Protozoa, tảo đơn và đa bào)

35/63

Cơ thể bẩn, mang màu nâu vàng, dạt bở, bệnh xuất hiện quanh năm.

5

Bệnh tôm bông (Do bào tử nhỏ Microspere)

2/63

Phần cơ vân ở lưng của phần bụng có màu trắng sữa. Bệnh xuất hiện tập trung tháng 2-3.

6

Bệnh mềm vỏ (Do dinh dưỡng, do môi trường)

8/63

Vỏ mềm, kém ăn, chết rải rác. Bệnh xuất hiện quanh năm

7

Bệnh do viêm ruột bỏ ăn (Vi khuẩn, KST Gregarine)

10/63

Kém ăn, chậm lớn. Phân đàn lớn. Bện xuất hiện quanh năm.

          -Kết quả điều tra 100 hộ nuôi, tình hình và diễn biến bện tôm tại Bình Định năm 1999: thì có 70% ao nuôi xuất hiện bệnh. Trong số 190 ao nuôi xuất hiện bệnh được ghi nhận qua điều tra thì có tới 166 cas xuất hiện bệnh ở vụ 1 (87,37%), chỉ có 24 cas xuất hiện bệnh ở vụ 2. Bệnh do virut đốm trắng gây nên trên tôm sú nuôi là bệnh gây thiệt hại lớn nhất ở Việt Nam và thế giới. Trong số 36 ao xuất hiện bệnh đốm trắng thì có 35 ao, bệnh xuất hiện ở vụ 1.

          Nguyên nhân bệnh: Do biến động thời tiết, khí hậu, môi trường ao nuôi, chất lượng con giống. Tôm sú giống Postlarvae sản xuất ở Bình Định cũng như một số tỉnh Nam Trung bộ cũng bị nhiễm MBV ở gan tụy khá phổ biến. 90% đàn Postlarvae và 100% đàn giống đưa vào kiểm tra đều có nhiễm MBV. Mức độ nhiễm theo con số kiểm tra là: 45,33% ở tôm Postlarvae và 57,8% ở tôm giống.

          2.3.6- Mùa vụ nuôi tôm hợp lý ở Bình Định:

          Mùa vụ thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khí tượng thủy văn, mức độ đầu tư về trang thiết bị, kinh nghiệm quản lý về môi trường ao nuôi. Tính mùa vụ càng rõ ràng khi khả năng điều khiển môi trường ao nuôi kém. Ngược lại khi trình độ cao, trang thiết bị hoàn thiện có thể nuôi tôm quanh năm thì tính mùa vụ mờ nhạt. Từ kết quả nghiên cứu có thể kết luận, mùa vụ nuôi tôm ở Bình Định hiện nay như sau:

          Nuôi tôm sú thương phẩm quanh năm, tuy nhiên tùy từng vùng, từng thời điểm mà mức độ thuận lợi cho nuôi tôm khác nhau. Mùa vụ thuận lợi nhất là từ tháng 4 đến cuối tháng 8, đầu tháng 9 (DL). Tháng 9 thường mưa lũ không nên kéo dài vụ nuôi vì dễ gặp rủi ro do ngập lụt, vỡ ao, đìa. Với ao đìa chắc chắn không bị ngập nước, có thế nuôi kéo dài trong mùa mưa.

          Với các vùng đầu tư chưa đồng bộ (máy bơm, máy sục khí…) điều kiện ao đìa kém, không có hệ thống ao lắng, xử lý nước …thì chỉ nên nuôi 1 vụ chính bắt đầu từ giữa tháng 4 và thu hoạch vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9.

          Các vùng nuôi có sử dụng nước ngầm, nước ngọt bổ sung…có thể thả giống từ đầu tháng 4 hoặc sớn hơn. Nừu ao có đủ độ sâu, nước ngầm hoặc nước ngọt thì có thá sớm hơn để nuôi được 2 vụ/năm.

          Tuy nhiên việc cân nhắc giữa nuôi 1 vụ chính và 1 vụ phụ (nuôi các đối tượng khác) hay cho ao nghỉ hoặc nuôi 2 vụ là hết sức cần thiết bởi thả tôm sớm trong điều kiện cần thiết còn nhiều biến động lớn, khả năng điều khiển ao nuôi kém thường dẫn đến thất bại do bệnh tăng đồng thời trong thời gian ngắn để nuôi được 2 vụ/năm. Việc cải tạo ao nuôi thường kém kỹ lưỡng, vội vàng cũng đem lại xác xuất thất bại cao.

 Bảng 8a: Thành phần loài động vật nổi theo khu vực nuôi tôm.

Ngành

Arthropoda

Nemathelminthes

Protozoa

Tổng số

Khu vực

Loài

Tỷ lệ (%)

Loài

Tỷ lệ (%)

Loài

Tỷ lệ (%)

Loài

Tỷ lệ (%)

Đầm Thị Nại

22

81,48

1

3,70

4

14,82

27

100

Đầm Đề Gi

17

94,44

1

5,56

-

-

18

100

Bãi triều Hoài Nhơn

15

88,24

1

5,88

1

5,88

17

100

 

Bảng 8b: Mật độ động vật nổi trung bình trong ao nuôi tôm tỉnh Bình Định theo hình thức nuôi (103 con/m3)

 

             Hình thức nuôi

Đợt

Quảng canh

Quảng canh cải tiến

Bán thâm canh

Trung bình

Trung bình

Trung bình

I

16,04

21,90

23,42

II

4,59

9,11

16,95

III

4,93

15,16

42,23

                   -Đợt 1 (mùa khô)            :Từ ngày 9-6-1999 đến ngày 13-6-1999

                   -Đợt 2 (cuối mùa khô)     :Từ ngày 8-8-1999 đến ngày 13-8-1999

                   -Đợt 3 (giữa mùa mưa)    :Từ ngày 8-10-1999 đến ngày 13-10-1999

Bảng 6: Thành phần thực vật nổi theo khu vực nuôi tôm

            Ngành

Khu vực

Tảo Silic

Tảo lam

Tảo lục

Tảo giáp

Tảo mắt

Tổng cộng

Loài

%

Loài

%

Loài

%

Loài

%

Loài

%

Loài

%

Đầm Thị Nại

37

62,71

10

16,95

6

10,17

4

6,78

2

3,39

59

100

Đầm Đề Gi

28

54,90

9

17,60

9

17,60

4

7,80

1

2,10

51

100

Bãi triều Hoài Nhơn

18

51,90

10

28,57

2

5,71

3

8,58

2

5,71

35

100

 

III/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

          Điều kiện môi trường tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình, khí tượng thủy văn ở Bình Định thích hợp cho việc phát triển cho nghề nuôi tôm sú. Mùa vụ nuôi thích hợp nhất là từ tháng 4-9 DL. Mùa vụ này có thể thay đổi theo vùng và thời gian. Nừu được đầu tư đúng mức có thể nuôi 2 vụ/năm.

          Để đạt 1 tấn/ha/vụ cần đầu tư 62,78 triệu đồng/ha.

          Đề nghị: Cần đầu tư đúng mức, mở rộng diện tích nuôi và tăng năng suất lên cao. Phải có quy hoạch khu vực nuôi cụ thể, có chính sách sử dụng đất thích hợp, giao đất, ao nuôi lâu dài cho người sử dụng. Cần hình thành điều lệ quy chế nuôi thích hợp , quản lý chặt chẽ công tác kiểm dịch, xử lý dịch bệnh tạo ra môi trường bình quyền, đồng lợi và hợp tác nhau trong khu vực.

          Chọn đàn giống tôm bột khỏe mạnh ít nhiễm bệnh. Trong việc nuôi tôm thịt nên áp dụng các quy trình nuôi tôm ít thay nước, hoặc không thay nước trực tiếp từ biển để hạn chế xâm nhập tác nhân gây bệnh. Khuyến cáo người nuôi tôm bằng thức ăn công nghiệp vệ sinh ao, hạn chế dùng kháng sinh. Nên khuyến cáo dùng các loại men vi sinh để làm sạch đáy ao, kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, giảm độ pH nước trong ao./.