ĐIỀU TRA CƠ BẢN, BỔ SUNG VÀ XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI MIỀN NÚI TỈNH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN 1991-1995 VÀ ĐẾN NĂM 2000.

 

 CNĐT: Bùi Thanh Tâm

 CQCT: UB Kế hoạch tỉnh Bình Định

 TGTH: 1991-1992.

 

          I/ MỞ ĐẦU:

          Miền núi Bình Định nằm phía đông dãy Trường sơn, giáp giới Quảng Ngãi, Gia Lia, Kon Tum, gồm các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, một số xã của huyện Hoài Ân, Tây Sơn. Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là: 217.635 ha. Điều tra về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH, trên vùng nghiên cứu, làm cơ sở xây dựng phương án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế miền núi một cách hợp lý, làm tiền đề cho việc xây dựng và phát triển KT-XH, khai thác tiềm năng từng bước xóa bỏ nghèo nàng lạc hậu…cho các huyện miền núi. Đó là vấn đề cấp bách đặt ra cho tỉnh Bình Định.

`        II. HIỆN TRẠNG:

          2.1. Đặc điểm tự nhiên:

          *Địa hình: Dộ cao từ 700-800m, độ dốc trung bình > 200. Đây cũng là vùng thưưọng nguồn của ácc con sông lớn như: Kôn, Lại Giang, Hà Thanh…Ở miền núi những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển địa hình là: khả năng xói mòn, mạng lưới sông ngoài có độ dốc cao, môđun dòng chảy lớn. Ngoài ra địa hình còn chịu ttác động của giới sinh vật vật khí hậu.

          *Tài nguyên động-thực vật rừng: Phong phú về giống loài, bước đầu đã thống kê được:

          +Thực vật hạt kín 2 lá mầm có 133 họ với 1162 loài

          +Thực vật hạt kín 1 lá mầm có 22 họ với 141 loài

          +Ngành hạt trầm có 6 họ với 286 loài

          +Quyết thực vật 14 họ với 36 loài

          +Cây dược liệu có 282 loài

          +Cây có công dụng đặc biệt (dầu thơm, tananh, lá lợp nhà…) có 41 loài. Cấu trúc rừng có thể chia làm 3 loại:

          -Loại 1: 3 tầng (trên, giữa và dưới)

          -Loại 2: 2 tầng: tập trung ở loại rừng 3A1 và 2B

          -Loại 3: 1 tầng bao gồm các trạng thái 2a, 1a, 1c

          *Động vật rừng: Bước đầu đã thống kê được:

          +7 bộ thú gồm: 19 họ, 38 loài.

          +13 bộ chim gồm 37 họ, 77 loài

          *Bức xạ: Tổng cộng hàng năm khoảng 140-150kcal/cm2, đạt cực đại vào tháng 4, cực tiểu vào tháng 12. Cán cân bức xạ hàng năm có giá trị số khoảng 90-95 kcal/cm2, đạt cực đại vào thaán 4-5, cực tiểu vào tháng 12.

          *Nắng: Vùng núi Bình Định có số giửo nắng phong phú. Nơi ít nắng nhất là An Lão cũng đạt được trên 2.200 giời. Từ tháng 10-1 nâưm sau là thời kỳ ít nắng trong năm, trung bình mỗi ngày 3-6 giởi nắng, ít nắng nhất là các tháng 11, 12. Tháng 2 đến tháng 11 là thời kỳ nhiều nắng

          *Gió: Có 2 mùa trong năm là gió mùa đông và gió mùa hạ, tùy theo từng nơi và tùy thuộc vào địa hình. Tốc độ gió trung bình khoảng 1-3m/s. Trường hợp ảnh hưởng bão thì gío rất lớn  20-30m/s hoặc hơn.

          *Nhiệt: Thay đổi theo độ cao. Ở vùng thấp 500-600m trở xuống, nhiệt độ trung bình năm 24-26oC, tương đương với tổng nhiệt độ năm 8800-9500oC, vùng núi cao 600-800m có nhiệt độ trung bình năm 20-22oC, tương đương với tổng nhiệt độ 7300-8000oC. Ở những đỉnh núi cao 100m trở lên mới có nhiệt độ trung bình năm dưới 19-20oC. Trong mùa hạ các tháng 6-8 là nóng nhất, nhiệt độ trung bình tháng 26-28oC ở vùng thấp. ban đêm nhiệt độ thấp nhất trung bình 23-25oC ở vùng thấp. Ở độ cao 500-600m trở lên, nhiệt độ thấp nhất trung bình ngày 22-23oC, có nới dưới 20oC. Vào mùa đông ácc tháng 12, 1, 2 có nhiệt độ thấp nhất: nhiệt độ trung bình tháng 20-22oC ở vùng thấp, 18-20oC hoặc thấp nhất hơn ở vùng cao.

          *Mưa: Bình Định có mùa mưa từ tháng 9-12, riêng ở vùng núi có thêm một mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8. Lượng mưa trong năm chủ yếu tập trung vào mùa mưa: từ 60-70%; (70-80% ở vùng thấp). Lượng mưa lớn nhất tỉnh là đại bộ phận ở huyện An Lão 2400-3200mm/năm. Thung lũng sông Kôn, phía Đông huyện Vân Canh có lượng mưa nhỏ nhất 1600-2000mm. Các nới khác có tổng lượng mưa từ 2000-2400mm/năm.

          *Độ ẩm: độ ẩm tuyệt đối đạt cực đại vào tháng 5 (30-32mb) ở vùng thấp; 26-27mb ở vùng cao. Cực tiểu vào tháng giêng 22-23mb ở vùng thấp, 17-19mb ở vùng cao. Độ ẩm tương đối thì tăng theo độ cao.

          *Khả năng bốc hơi: Hàng năm vùng thấp có khả năng bốc hơi khoảng 900-1200mm, vùng cao từ 400-700mm, càng lên cao, khả năng bốc hơi càng giảm.

          *Tiềm năng ẩn: Xét chung trong năm, vùng núi được coi là giàu ẩm, vùng thấp đạt 1,5-2,0, vùng cao 3,0-6,0, tức là tổng lượng mưa ở vùng núi gấp 1,5-6 lần lượng bốc hơi.

          *Thủy văn: địa hình có hướng nghiêng từ Tây sang Đông với độ dốc khá lơn, chiều ngang hẹp. Từ đó sông, suối Bình Định có đặc điểm như sau:

          +Phần trung lưu ngắn, hạ lưa hầu hết chảy qua vùng đồng bằng ven biển, nên chế độ thủy văn có nét riêng.

          +Mạng lưới sông suối nhiều, phân bố không đều, có 4 con sông lớn ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại Lại Giang, La Xiêm, Hà Thanh.

          +Các sông hầu hết bắt nguồn, kết thúc trong tỉnh, chảy trên 2 dạng địa hình, đồi núi phức tạp và đồng bằng ven biển.

          +Sông ngắn, độ dốc tương đối lớn nên thời gian tập trung nước nhanh. Hiện tượng phân dòng khá rõ nét với các con sông vùng hạ lưu.

          Ở Bình Định mùa mưa bắt đầu tháng 9 kết thúc tháng 12-mưa đặc biệt lớn vào tháng 10-11. Có thể chia làm 3 thời kỳ lũ: lũ sớm, lũ muộn và lũ chính, lũ sớm thường xuất hiện vào tháng 9. Lũ muộn thường vào đầu tháng 1, lũ chính thưòng xảy ra vào tháng 10-11.

          Dòng chảy muà cạn của các sông nhỏ, tính từ tháng 1-8, (tháng 4 và 7 là kiệt nhất). Nhưng tháng này dòng chảy chỉ chiếm khoảng từ 0,4-2,0% lượng dòng chảy năm.

          Nhân tố ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy là địa hình, khí hậu, lớp phủ thực vật và sự tác động của con người. Do đó cách khắc phục là đắp hồ thủy lợi, đập dâng để góp phần phân phối dòng chảy trên sông, hạn chế phá rừng đầu nguồn, nhanh chónh phủ xanh đất trống đồi núi trọc.

          2.2.Dân cư lao động-văn hóa xã hội miền núi:

          Dân cư: Miền núi Bình Định có 60.917 người (1989) chiếm 4,9% tổng số dân toàn tỉnh. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở 3 huyện miền núi là 2,03%. Có 4 dân tộc chính: Kinh, Chăm, Hơrê, Bana. Mật độ phân bố dân cư là 23 người/km2 (toàn tỉnh là 205 người/km2)-trong đó An Lão có mật độ thấp nhất là 1,43 người/km2

          Dân cư sống tập trung các vùng sông suối lớn. Nguồn sống chính của đồng bào là lúa nước, đốt nương là rây, săn bắt, thu hái lâm sản. Còn tồn tại tình trạng phá rừng làm rẫy, du canh, du cư, đời sống vật chất tinh thần thiếu thốn, còn nhiều hủ tục và mê tín dị đoan.

          Lao động: Lao động trong độ tuổi có 28.023 người (chiếm 4,46% tổng lao động trong toàn tỉnh) chiếm 46% tổng số dân miền núi. Qua đó cho thấy tỷ lệ lao động trong độ tuổi so với dân số miền núi thấp hơn so với tỷ lệ chung trong toàn tỉnh-trong khi đó diện tích đất đai lớn. Cơ cấu lao động không đồng nhất và chưa hợp lý. Độ tuổi lao động từ 15-35 ở miền núi chiếm đa số trên 2/3. Trình độ lao động không đều, thường người Kinh cao hơn người dân tộc thiểu số.

          Giáo dục: Có 2% số trẻ trong độ tuổi vào nhà tr, hơn 30% số trẻ trong độ tuổi vào mẫu giáo. Có 40% số trẻ trong độ tuổi học lớp 1 ở các xã vùng cao khó khăn. Các xã này cũng chưa có trường cấp II. Số học sinh cấp II dân tộc ít người rất ít, mới có 125/1.700 em, chiếm 7,3% số học sinh cấp II ở miển núi. Toàn miền núi chỉ có 6/240 em học sinh là người dân tộc ít người học cấp III, chiếm 2,5% học sinh cấp III ở miền núi.

          Miền núi Bình Định có số dân mù chữ từ 5 tuổi trở lên chiếm hơn 30% trong độ tuổi, các xã vùng cao chiếm trên 60%.

          Có trên 90% các xã có trường cấp I. Trường lớp cấp II chỉ có ở xã người Kinh và một số xã vùng thấp. Trường cấp III, mỗi huyện 1 trường và thường ghép chung với trường Dân tộc nội trú. Ngoài ra còn có trường Bổ túc văn hóa tập trung ở từng huyện để đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc ít người. Nhìn chung trường lớp ở miền núi còn tạm bợ. đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng.

          Y tế: Mạng lưới y tế đã hình thành gồm bệnh viện huyện, đội vệ sinh phòng dịch, đội phòng chống sốt rét, các trạm y tế cơ sở. Cơ sở vật chất, nhất là trạm y tế xã còn đơn sơ, tạm bợ, hầu hết là tranh tre nứa lá. đội ngũ cán bộ y tế miền núi chất lượng yếu. bệnh tật phổ biến là sốt rét, bướu cổ, đường ruột…tỷ lệ người mắc bệnh trong dân cao.

          III. PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT MIỀN NÚI ĐẾN NẮM 2000:

          -Xác định cơ cấu kinh tế của vùng

          -Xây dựng chỉ tiêu phát triển sản xuất về nông, lâm, công nghiệp và TTCN, giao thông vận tải, bưu điện và các kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất.

          -Ổn định nâng cao đời sống văn hóa xã hội cho đồng bào các dân tộc.

          IV. KẾT LUẬN:

          Miền núi Bình Định tiềm năng đất đai dồi dào, là nguồn các sông lớn trong tỉnh, diện tích rừng rộng lớn là lá phổi xanh, là nguồn nước tưới, nguồn thủy năng, nguồn tài nguyên…đóng góp rất lớn vào sự phát triển của tỉnh. Tuy vậy nơi đây còn đang khó khăn nhiều mặt, đồng bào thiểu số còn chịu nhiều thiệt thòi. Qua hiện trạng và phương án phát triển tỉnh sẽ có kế hoạch phát triển miền núi một cách đúng mức, kịp thời và hiệu quả hơn.

                                                                                       Biên tâp: Tùng Lộc