NGHIÊN CỨU DI THỰC CÂY DÓ VỀ VÙNG ÂN HỮU HUYỆN HOÀI ÂN.

         

                                                          CNĐT:  KSNguyễn Xuân Thưởng

                                                          CQCT:  HTX Nông nghiệp II Ân Hữu

                                                          CQPH:  -Phòng Kinh tế huyện Hoài Ân

                                                                                        -Trạm lâm sinh

                                                                                        -Công ty dược

                                                          TGTH:  1994-1995

            I/ MỞ ĐẦU:

          Cây Dó có tên khoa học Aquilaria agallcha roxb (A-crassna pierre) thuộc họ Trầm (thymelacaceac). Cây Dó dùng làm nguyên liệu giấy rất tốt mà người Trung Hoa đã biết sử dụng cách đây hàng ngàn năm. Ngoài ra cây Dó có khả năng tạo trầm. Một loại hương liệu đặc biệt quý hiếm có giá trị kinh tế rất cao.

          Ở Hoài Ân cây Dó đầu tiên được khai thác để lấy Trầm vào năm 1981 tại thôn Nghĩa Điền, xã Ân Nghĩa do một nhóm người từ Vạn Dã (Khánh Hòa) ra khai thác.

          Năm 1994 người ta tìm được 4 cây Dó có trầm bán được trên 336 triệu đồng như:

          -Ông Huỳnh Ngọc Biên ở Phú Hữu, xã Ân Tường (175 triệu đồng)

          -Ông Nguyễn Ngọc Thân ở xóm II Phú Hữu (45 triệu đồng)

          -Anh em ông Nguyễn Văn Bê ở Nghĩa Điền xã Ân Nghĩa (92 triệu đồng)

          Xuất phát từ lợi ích rất cao của Trầm Hương, cho nên mọi người đua nhau đi chặt cây Dó để lấy trầm. Trước thực tế đó cây Dó ngày càng ít đi, cung với nạn phá rừng cũng tăng lên. Để phát triển và bảo vệ giống cây quý này vừa có giá trị kinh tế cao, vừa có thể nhân rộng để phủ xanh hàng trăm hecta rừng bị tàn phá lâu nay, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực. HTX Nông nghiệp II Ân Hữu, huyện Hoài Ân đề xuất di thực cây Dó về vườn nhà, vườn đồi để nghiên cứu.

          II/ PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG:

          2.1/ Phương pháp nghiên cứu:

          Nghiên cứu khảo nghiệm thực tế đặc điểm sinh trưởng cây Dó qua phương thức: Lấy cây con từ trên rừng về ươm vào bầu, sau khi ra nhánh chắc chắn mới đem ra trồng.

          2.2/ Khối lượng thực hiện:

          Số lượng cây con ươm trong bầu là: 1.250 cây, đường kính gốc 0,3-0,6cm, chiều cao cây từ 35-58cm chia làm 2 lô.

          -Lô số 1: 650 cây loại nhỏ có đường kính gốc từ 0,3-0,4cm, chiều cao cây từ 35-45cm để nguyên cây con đưa vào bầu.

          -Lô số 2: 600 cây loại lớn có đường kính gốc từ 0,45-0,60cm, chiều cao cây từ 45-58cm, cắt bỏ ngọn để lại chiều caotừ 25-30cm, tỉa bỏ hết cành lá và đưa vào bầu.

          Điều kiện che chắn, chăm sóc như nhau, tưới nước giữ ẩm thường xuyên, 7 ngày phun Komix với dung lượng 1/500.

          III/ KẾT QUẢ THEO DÕI ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY DÓ QUA DI THỰC:

          3.1/ Kết quả theo dõi tại vườn ươm:

          Sau 60 ngày:

          *Lô 1:

          -Số cây ra lá non 84 cây (12,9%)

          -Số cây rụng héo hết lá 46 cây (7%)

          -Số cây còn lại đứng im không phát triển

          *Lô 2:

          -Số cây nẩy mầm 168 cây (28%)

          -Số cây còn lại vẫn tươi nhưng không nẩy mầm

          Sau 120 ngày:

          *Lô 1: 

          -Số cây ra lá non 158 cây (24,3%)

          -Số cây rụng héo chết lá 108 cây (16,8%)

          -Số cây còn lại đứng im không phát triển 348 cây (59,1%)

          * Lô 2:

          -Số cây nẩy mầm tốt 416 cây (69,3%)

          -Số cây héo lá chết 61 cây (10%)

          -Số cây còn lại không nẩy mầm 123 cây (20,7%)

          Sau 164 ngày:

          *Lô 1:

          -Số cây ra lá non 253 cây (38,9%)

          -Số cây rụng lá chết 166 cây (25,5%)

          -Số cây còn lại không phát triển 181 cây (35,6%)

          *Lô 2:

          -Số cây nẩ mầm từ 2-3 nhánh, có 2-4 bộ lá 524 cây (67,7%)

          -Số cây chết và không nẩy mầm 76 cây (12,3%)

          Từ kết qủ theo dõi trên cho thấy lô có cây cắt tỉa bỏ hết lá có tỷ lệ nảy mầm mạnh và nhiều hơn so với cây để nguyên đưa vào bầu ươm.

          3.2/ Kết quả tại vườn trồng tập trung:

          07 tháng sau khi trồng:

          Số cây chết 268 cây (18,6%) tập trung ở những vùng thiếu tán cây che và đất pha sét nặng. Số còn lại phát triển chậm, có một số cây bị xoắn lá, nguyên nhân có thể do năng nhiều. Cây cao nhất có đường kính gốc 0,62cm, chiều cao 71cm. Số còn lại trung bình đường kính gốc 0,26cm, chiều cao 48cm.

          11 tháng sau khi trồng:

          Số cây chết 428 cây (42,8), số còn lại phát triển tốt. Cây cao nhất có đường kính gốc 1,8cm, chiều cao 1,39m. Số còn lại trung bình đường kính gốc 1,2cm, chiều cao 84cm.

          14 tháng sau khi trồng:

          Số cây chết 64 cây (42,8) do bị nước mưa xói lở làm trốc gốc, số còn lại phát triển tốt. Thời gian này phát hiện một số cây lớn bị sâu đục thân phá và một loại sâu tạo nút cây để làm kén bên ngoài; chiều dài của kén từ 6-8cm có hình bầu dục, kén màu xám tro khá chắc bao nhộng bên trong. Cây cao nhất có đường kính gốc 2,4cm, chiều cao 1,64m.

          3.3/Cây trồng phân tán trong vườn dân:

          Trồng 230 cây, số cây sống 46 cây, tập trung chủ yếu dưới tán cây ăn quả.

          Sau 16 tháng trồng, bình quân gốc 1,50cm, cao 94cm, cây lớn nhất có đường kính gốc 2,6cm, chiều cao 1,92m.

          Sau 24 tháng trồng bình quân gốc 2,7cm, cao 2,0m, cây lớn nhất có đường kính gốc 5,1cm, chiều cao 2,8m

          IV/ KẾT LUẬN:

          Cây Dó ngoài việc lấy hạt làm giống ươm trồng, còn có thể nhổ cây con đem về ươm hoặc trồng thẳng theo phương pháp cắt tỉa một phần rễ cọc và toàn bộ nhành lá, thân ngọn, chỉ giữ lại chiều cao cây khoảng 25cm, cây sẽ phát triển mạnh. Tỷ lệ cây chết khoảng 70-80%. Cây Dó là một trong rất ít nhóm cây có đặc tính sinh trưởng bằng cách cắt tỉa ngọn, cành, rễ và lá.

          Cây trồng dưới tán che của các cây khác thì tỷ lệ sống và phát triển tốt hơn so với cây trồng thiếu bóng che; sau 2-3 năm thì ngược lại. Như vậy cây Dó cũng cần ánh sáng.

          Đề nghị Sở KHCN&MT nên đặt hàng cho các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu cơ  chế tạo Trầm ở cây Dó.

                                                                                      Biên tập: Ngọc Anh