NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
CEREBROLYSINE
TRONG ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ NHẬN XÉT MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA
LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CT-SCANNER SỌ NÃO TẠI KHOA HSCC NỘI - BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH.
CNĐT:
Bs. Huỳnh Văn Nhuận
CQCT:
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
CBPH: Bs.
Huỳnh Văn Hùng & tập thể cán bộ công chức khoa HSCC, chẩn đoán hình
ảnh.
TGTH:
1/1999 - 11/2000
I-
MỞ ĐẦU:
Tai biến mạch máu não (TBMMN) nói chung là một bệnh lý do
nhiều nguyên nhân khác nhau, thường gặp ở người lớn tuổi có hoặc
không có tăng huyết áp và xơ vữa động mạch. Việc điều trị TBMMN hiện
nay nhằm mục đích: ngăn chặn mô não có rối loạn chức năng chuyển
sang hoại tử; bình thường hóa quá trình chuyển hóa của Neuron thần
kinh đang bị tổn thương. Trong 2 năm 1999-2000 tại khoa HSCC - Bệnh
viện ĐK tỉnh Bình Định tiếp nhận điều trị cho 481 bệnh nhân TBMMN
trên tổng số 1968 bệnh nhân vào khoa - chiếm tỷ lệ 24,44%, với tử
vong 192 ca - chiếm tỷ lệ 39,92% tử vong chung, trong đó phần lớn tử
vong trong vòng 2-3 ngày đầu. Từ năm 1997, ở Việt Nam có nhiều tác
giả nghiên cứu ứng dụng Cerebrolysine trong điều trị sau TBMMN, tuy
số lượng bệnh nhân chưa nhiều nhưng bước đầu đánh giá có cải thiện
rõ rệt về tử vong, di chứng tàn phế. Cerebrolysine là một tinh chất
peptid của não heo, bao gồm các acid-amin và peptid có trọng lượng
phân tử nhỏ, ngấm qua hàng rào máu-não dễ dàng, nó có tác dụng: Tăng
cường và cải thiện chuyển hóa tế bào thần kinh, ngăn chặn hiện tượng
nhiễm acid lactid trong thiếu mãu não; Điều chỉnh dẫn truyền Sinap
thần kinh; Có hiệu quả dinh dưỡng thần kinh như: tăng biệt hóa tế
bào thần kinh, đảm bảo chức năng thần kinh, bảo vệ tế bào thần kinh,
hạn chế tổn thương do TBMMN.
Việc chẩn đoán TBMMN dựa trên các triệu chứng lâm sàng
thường dễ, tuy nhiên để chẩn đoán chính xác chảy máu não hay nhũn
não trên lâm sàng gặp nhiều khó khăn. Nhờ có chụp cắt lớp điện toán
CT-Scanner mà việc xác định chẩn đoán nhanh và có độ tin cậy cao,
hơn nữa còn bổ sung một số yếu tố quan trọng giúp đánh giá và tiên
lượng mức độ trầm trọng của bệnh. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt
ra là: đánh giá hiệu quả của Cerebrolysine trong điều trị TBMMN tại
khoa HSCC - Bệnh viện ĐK tỉnh bao gồm: tổng quan ý thức, vận động;
giảm tỷ lệ tử vong, di chứng; tìm hiểu mối tương quan giữa lâm sàng
và hình ảnh CT-Scanner sọ não trong TBMMN.
II-
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các bệnh nhân vào khoa HSCC được chẩn đoán lâm sàng TBMMN
là chảy máu não hay nhũn não, hay các bệnh nhân có thang điểm
Glasgow (hôn mê)
³ 6 điểm khi vào viện, thời gian nằm viện
³
7 ngày. Loại trừ các trường hợp: không thực hiện đủ liệu trình của
thuốc; các bệnh ảnh hưởng ý thức: suy gan, suy thận nặng; mẫn cảm
cũng như chống chỉ định của thuốc. Sau đó tiến hành chụp CT-Scanner
sọ não cho các bệnh nhân chảy máu não, nhũn não.
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Chẩn đoán bệnh dựa vào lâm sàng và hình ảnh trên
CT-Scanner.
- Bệnh nhân được chia làm 2 lô A và B theo phương pháp
ngẫu nhiên. Cả hai lô được chia làm 3 nhóm dựa theo thang điểm
Glasgow: Nặng (Glasgow 6-7 điểm), Trung bình (Glasgow 8-10 điểm),
Nhẹ (Glasgow
³11
điểm). Tất cả 2 lô được chăm sóc và điều trị thường qui như nhau bao
gồm: chống phù não, ổn định huyết áp, tăng tuần hoàn não, bù dịch và
điện giải, hỗ trợ hô hấp, chống bội nhiễm. Lô A được điều trị tăng
cường bằng Cerebrolysine với liều dùng 20ml/ngày; thời gian dùng tối
thiểu 2 tuần, trung bình là 3 tuần.
- Đánh giá kết quả điều trị: Chủ yếu dựa vào thang điểm
Glasgow và dấu hiệu sinh tồn, chia theo mức độ: Tốt (ý thức tốt,
liệt nhẹ hoặc vận động tốt), Cải thiện (đáp ứng một số lệnh đơn
giản), Không chuyển (không đáp ứng mệnh lệnh), Xấu (diễn tiến nặng
hoặc tử vong)
- Dựa vào kết quả chụp CT-Scanner để so sánh đối chiếu với
lâm sàng nhằm phân tích và tìm hiểu các yếu tố liên quan như: chẩn
đoán xác định, kích thước vùng tổn thương, mức độ phù não, độ di
lệnh đường giữa, đánh giá tiên lượng bệnh trên lâm sàng, phân tích
mối tương quan giữa lâm sàng và cận lâm sàng.
- Xử lý số liệu dựa theo các phương pháp thống kê y học.
III-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
3.1- Nghiên cứu ứng dụng
Cerebrolysine trong điều trị TBMMN:
Tổng số bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu là 84 (từ 1/1999
- 11/2000) trong đó 54 cas được chụp CT-Scanner. Được phân bố như
sau:
Lô A: 48 ; lô B: 36
Giới tính: nam : 50 (59,52%) ; nữ : 34 (40,48%). Tỷ lệ
nam/nữ : 1,47
Lứa tuổi:
|
Tuổi |
30
- 39 |
40
- 49 |
50
- 59 |
³
60 |
Tổng số |
|
Số
lượng |
3 |
9 |
13 |
59 |
84 |
|
Tỷ
lệ % |
3,57 |
10,71 |
15,48 |
70,24 |
100 |
Dựa vào lâm sàng:
|
Loại
TBMMN |
Chảy máu não |
Nhồi máu não |
Tổng số |
|
Số
lượng |
68 |
16 |
84 |
|
Tỷ
lệ % |
80,95 |
19,05 |
100 |
Dựa vào hình ảnh CT-Scanner (riêng 37 cas chảy máu não và
nhồi máu não)
|
Loại
TBMMN |
Chảy máu não |
Nhồi máu não |
Tổng số |
|
Số
lượng |
28 |
9 |
37 |
|
Tỷ
lệ % |
75,68 |
24,32 |
100 |
- Kết
quả điều trị được phân tích, đối chiếu giữa 2 lô theo: Mức độ từng
nhóm (nhẹ, trung bình, nặng) trong mỗi lô; kết quả đáp ứng vận
động-ý thức; tỷ lệ tử vong. Cụ thể như sau:
* Nhóm
nhẹ:
|
Lô |
Tổng |
Tốt |
Cải thiện |
Xấu |
|
|
số |
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
|
A |
20 |
7 |
35 |
12 |
60 |
1 |
5 |
|
B |
8 |
0 |
0 |
6 |
75 |
2 |
25 |
Ở lô A có 4 bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, không để lại di
chứng (chiếm tỷ lệ 20%); 3 bệnh nhân tiếp xúc tốt, còn di chứng liệt
nhẹ (15%). Tỷ lệ đáp ứng với điều trị (tốt + cải thiện) ở lô A là
95%, cao hơn nhiều só với lô B (75%)
* Nhóm
trung bình:
|
Lô |
Tổng |
Tốt |
Cải thiện |
Không chuyển |
Xấu |
|
|
số |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
A |
15 |
1 |
6,67 |
10 |
66,67 |
2 |
13,33 |
2 |
13,33 |
|
B |
15 |
0 |
0 |
6 |
40 |
5 |
33,33 |
4 |
26,67 |
Ở lô A có 01 bệnh nhân diễn tiến tốt, phục hồi gần như
hoàn toàn. Tỷ lệ đáp ứng điều trị (tốt + cải thiện) lô A là 73,34%
cao hơn nhiều so với lô B (40%).
* Nhóm
nặng:
|
Lô |
Tổng |
Tốt |
Cải thiện |
Không chuyển |
Xấu |
|
|
số |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
A |
13 |
0 |
0 |
8 |
61,54 |
1 |
7,69 |
4 |
30,77 |
|
B |
13 |
0 |
0 |
3 |
23,08 |
4 |
30,77 |
6 |
46,15 |
Tỷ lệ đáp ứng điều trị (tốt + cải thiện) lô A là 61,54%
cao hơn nhiều so với lô B (23,08%).
* Đáp
ứng vận động-ý thức:
|
Lô |
Đáp ứng với điều trị
(tốt + cải thiện) |
Không đáp ứng với điều trị (không chuyển+xấu) |
Tổng số nghiên cứu |
|
|
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
Số
lượng |
Tỷ
lệ % |
|
A |
38 |
79,17 |
10 |
20,83 |
48 |
100 |
|
B |
15 |
41,67 |
21 |
58,33 |
36 |
100 |
Kết quả cho thấy tỷ lệ cải thiện ý thức vận động ở lô dùng
Cerebrolysine (79,17%) cao hơn nhiều so với lô không dùng (41,67%).
* So
sánh tỷ lệ tử vong giữa 2 lô:
Tỷ lệ tử vong ở lô A là 14,89% (7 bệnh nhân), lô B là
32,43% (12)
3.2 Kết quả mối tương quan giữa lâm sàng và CT-Scanner.
* Kết
quả điều trị 54 cas có triệu chứng lâm sàng: nhũn não, chảy máu não.
|
Triệu chứng |
Khởi phát |
Đột |
Hôn mê
Glasgow |
Tăng huyết |
Dấu khu |
Hội chứng |
Tử |
|
lâm sàng |
từ
từ |
đột ngột |
quỵ |
<10 |
>10 |
áp |
trú |
màng não |
|
|
Nhũn não (28) |
18 |
10 |
24 |
8 |
20 |
22 |
28 |
12 |
4 |
|
Chảy máu não (26) |
6 |
20 |
26 |
24 |
2 |
24 |
24 |
22 |
14 |
Nhận xét:
Khởi phát từ từ hay gặp ở nhũn não, 20 trường hợp chảy máu não khởi
phát đột ngột và rầm rộ; hội chứng màng não gặp chủ yếu trong chảy
máu não, còn các triệu chứng đột quỵ, tăng huyết áp và các dấu thần
kinh khu trú là những triệu chứng thường quy trong TBMMN. Tuy nhiên,
sự chẩn đoán phân biệt giữa nhũn não và chảy máu não trên lâm sàng
thực tế còn nhiều sai lệch so với kết quả chụp cắt lớp điện toán sọ
não. Nhiều trường hợp vào viện với các triệu chứng lâm sàng nhẹ,
bệnh viện đều chẩn đoán là nhũn não nhưng khi chụp scanner cho kết
quả chảy máu não kích thước lớn. Tỷ lệ chảy máu não khá cao 36/54
(66,6%) so với nhũn não 18/54 (33,3%).
|
Chẩn |
Lâm |
CT-Scanner |
|
đoán |
sàng |
Nhũn não |
Chảy máu não |
Tổng số |
|
Nhũn não |
28 |
14 |
14 |
18 |
|
Chảu máu não |
26 |
4 |
22 |
36 |
Các hình ảnh trên phim CT-Scanner như xuất huyết rộng,
xuất huyết não thất, sự di lệch đường giữa có tỷ lệ tử vong rất cao
(~ 50%), dấu hiệu phù não tỷ lệ thấp hơn (39%) - Điều này có ý nghĩa
trong tiên lượng bệnh.
*
Nhận xét chung như sau:
+ Tỷ lệ TBMMN ở nam nhiều hơn nữ.
+ Tỷ lệ TBMMN thể chảy máu não nhiều hơn thể nhồi máu não
trên lâm sàng và hình ảnh CT-Scanner.
+ Không có tác dụng phụ nào khi dùng Cerebrolysine trong
nghiên cứu.
+ Qua nghiên cứu 84 trường hợp TBMMN tại khoa HSCC, nhận
thấy Cerebrolysine có tác dụng góp phần cải thiện ý thức vận động
(79,17% so với 41,67%) và góp phần giảm tỷ lệ tử vong (14,89% so với
32,43%)
+ Qua phân tích 54 trường hợp TBMNN so sánh với kết quả
chẩn đoán trên CT-Scanner có 18 cas chẩn đoán sai (tỷ lệ 33%) : 28
cas chẩn đoán lúc vào viện là nhũn não, nhưng thực ra trong đó có 14
là chảy máu não (50%); 26 cas chẩn đoán chảy máu não thực ra có 4
cas nhũn não (15%). Như vậy chẩn đoán sai lệch trên lâm sàng chủ yếu
tập trung ở nhũn não. Qua hồi cứu trên phim CT-Scanner nhận thấy các
ổ chảy máu não có kích thước nhỏ, ít di lệch đường giữa hay bệnh
nhân ở mức độ phù não nhẹ với ý thức tỉnh hay lơ mơ với Glasgow >10
điểm rất dễ chẩn đoán nhầm với nhũn não.
IV-
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ :
TBMMN chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng số bệnh nhân vào khoa
HSCC (24,44%). Việc điều trị TBMMN trước đây còn gặp nhiều khó khăn
chủ yếu vẫn là điều trị căn bản: chống phù não, ổn định huyết áp,
làm tan cục máu đông ... nhằm hạn chế tử vong nhưng để lại nhiều di
chứng. Cerebrolysine - là thuốc có tác dụng dinh dưỡng thần kinh-
được đưa ra điều trị bổ sung trong TBMMN tại Bệnh viện ĐK tỉnh Bình
Định nói riêng đã góp phần giảm tỷ lệ tử vong và di chứng, cải thiện
ý thức vận động của bệnh nhân. CT-Scanner là phương tiện chẩn đoán
hình ảnh giúp phát hiện bệnh sớm, độ tin cậy cao, phân biệt được
nhũn não hay chảy máu não. Các hình ảnh trên phim scanner góp phần
tích cực trong đánh giá mức độ nặng, nhẹ của bệnh cũng như tiên
lượng bệnh. Nên chụp CT-Scanner thường quy trong TBMMN để có chẩn
đoán chính xác và điều trị phù hợp. Cần tuyên truyền giáo dục cho
nhân dân hiểu rõ bệnh tăng huyết áp để đề phòng biến chứng.
(Biên tập: Ngọc Sơn)