HIỆN
TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH B̀NH ĐỊNH NĂM 1999 - KẾ HOẠCH XỬ LƯ TRIỆT ĐỂ
CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NGHIÊM TRỌNG
CNĐT:
TS Nguyễn Văn Thuận
CQCTTH:
Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHKT B́nh Định,Trung tâm Công nghệ môi
trường ENTEC- TP Hồ Chí Minh
TGTH:
1999.
Phần
I:
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH B̀HN ĐỊNH
I/ T̀NH
H̀NH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ:
Quá tŕnh đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng phát
triển, cơ sở hạ tầng lại chưa theo kịp mức độ phát triển đó. Việc
quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng chưa mang tính chất lâu dài và
đồng bộ… nên việc tạo ra chất thải gây ô nhiễm ngày càng nhiều là
không tránh khỏi. Cụ thể là ở TP. Quy Nhơn và các thị trấn, thị tứ
nhiều nguồn gây ô nhiễm chưa được xử lư. Nước thải sinh hoạt, bệnh
viện, nhà máy, xí nghiệp các cơ sở TTCN chưa qua xử lư hoặc xử lư
cục bộ chưa đạt tiêu chuẩn vẫn thải ra làm ô nhiễm môi trường. Các
phương tiện giao thông tăng nhanh trong khi cơ sở hạ tầng giao thông
không theo kịp và ngày càng xuống cấp trầm trọng. Bên cạnh đó quy
hoạch đô thị chưa gắn kết với BVMT. Tại TP Quy Nhơn việc dăn khu
dân cư theo quy hoạch chưa được triệt để, t́nh trạng dân cư chen
chúc trong các khu nhà rầm, ven biển, … c̣n diễn biến phức tạp, từ
đó gây ô nhiễm môi trường. Các đầm , hồ, cảng (hồ Bàu Sen, hồ Đèo
Son, cảng Quy Nhơn…)qua thời gian khoảng 5 năm mà ô nhiễm tăng
rất nhiều lần
Nếu năm 1994 dân số toàn tỉnh là 1triệu 407 ngàn, chỉ sau
gần 4 năm (đến 4/1999) tăng lên 1 triệu 461 ngàn. Tỉ lệ tăng dân số
tự nhiên trung b́nh của tỉnh là 1,72%/năm
Hệ thống giao thông đường phố c̣n nhiều đường đất, làm gia
tăng ô nhiễm bụi. Mật độ giao thông thấp, hệ thống chiếu sáng chưa
hoàn thiện. Giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị, c̣n
cũ kỹ lạc hậu. Đường nội bộ, hệ thống cống thoát nước, sự chen chúc
của hộ dân cư, gây rất nhiều khó khăn cho việc quy hoạch phát triển
đô thị để làm cho TP xanh, sạch, đẹp
Vấn đề cung cấp nước sinh hoạt cho TP đă được cải thiện,
đủ cung cấp theo tiêu chuẩn 6m3/người/tháng. Tuy vậy một
số nơi trong TP vẫn thiếu nước máy, phải dùng nước giếng với chất
lượng chưa tốt
Toàn tỉnh có hơn 14.000 CSSX CN- TTCN, hàng ngày thải ra
môi trường một lượng chất thải khá lớn nhưng đa số hệ thống xử lư
chất thải của các cơ sở này hầu như chưa hoàn chỉnh hoặc chưa có.
Một số cơ sở sản xuất xen kẽ trong khu dân cư nên không có mặt bằng
để xây dựng hệ thống xử lư chất thải. Bên cạnh đó sự kiểm tra, kiểm
soát của các cấp quản lư đối với các cơ sở chưa được tiến hành
nghiêm túc. Một số cơ sở đă lập ĐTM nhưng đến giai đoạn xử lư chất
thải th́ thực hiện không triệt để dẫn đến việc vô hiệu hoá hệ thống
xử lư. Điển h́nh như việc xử lư bụi do sản xuất gỗ, xi măng, đá xây
dựng… Đối với khí thải các cơ sở sản xuất cũng chưa có biện pháp hữu
hiệu, có chăng cũng chỉ sử dụng biện pháp khuyếch tán vào không gian
là chủ yếu. Có cơ sở xử lư nhưng cũng chỉ đạt hiệu quả từ 20-30%
,đôi khi c̣n gây cản trở cho các hoạt động khác
Rác thải
đô thị lâu nay chỉ dùng biện pháp cổ điển thu gom, chôn lấp tự nhiên
ở băi chứa, nên không làm sao tránh khỏi ô nhiễm cục bộ. Các chất
thải đặc biệt như rác thải y tế, công nghiệp cũng chưa được xử lư
đúng mức
Nước
thải từ sản xuất vẫn là điều nổi cộm hơn cả. Hiện tại các cơ sở SXKD
trong tỉnh chưa có hệ thống xử lư nước thải hoàn chỉnh để đạt
TCVN-1995. Đáng kể là nước thải từ sản xuất chế biến thuỷ sản, thực
phẩm xuất khẩu …đă làm ô nhiễm tầng nước mặt thành phố
Qua
kiểm tra 3 mô h́nh sản xuất đặc trưng (thực phẩm, gỗ, nghiền sàn
đá)cho thấy:
+ Xí nghiệp Đông lạnh Quy Nhơn: Thành phần nước thải có:
pH = 7; DO = 4,1mg/l; BOD5=1530mg/l; COD=4040mg/l; PO4=0,36mg/l,
NH4-N=20,4mg/l; SS=1272mg/l
+ Cơ sở chế biến gỗ: Bụi gỗ
tại khu vực chế biến có nồng độ trung b́nh C=3-15mg/m3
+ Nghiền sàn đá mỏ: Bụi
silic (đo cách miệng thải đá từ 2-5m) có nồng độ trung b́nh
C=0,41-25mg/m3
Các chỉ
số trên vượt xa rất nhiều lần so với TCVN-1995
3.1. Ô nhiễm không khí:
. Từ các cơ sở sản xuất: nổi bật có các ngành chế
biến hải sản, nông, lâm sản thực phẩm, chế biến gỗ, khoáng sản.
Nhiều cơ sở nằm xen trong khu dân cư, nên mặc dù một số cơ sở có sử
dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bụi như sử dụng quạt hút,
xyclon nhưng hiệu qủa xử lư của thiết bị đạt không cao. Một số cơ sở
thải, khói đốt cũng chỉ đơn thuần dùng biện pháp nâng cao ống khói
Ở khu
công nghiệp và vùng ngoại ô, các cơ sở sản xuất xử lư chất thải cục
bộ, chưa có cơ sở nào hoàn chỉnh hệ thống xử lư chất thải. Vấn đề xử
lư chung cho khu công nghiệp cũng chưa đề cập cụ thể
. Từ trong giao thông: ô nhiễm bụi trong TP Quy
Nhơn có chiều hướng gia tăng. Lượng xe máy tăng, khí thải nhiều
(10.419 chiếc xe máy, tiêu thụ trên 329.500m3 xăng
dầu/năm, tính ra CO=95.895tấn; HydroCacbon= 10.940tấn; NOx=3.724tấn;
SO2=296,6tấn; Andehyde=132tấn; Ch́= 82tấn. Cộng vào đó là
bụi đường cũng vượt tiêu chuẩn cho phép ở các đường phố chính- nhất
là vào mùa khô
. Từ sinh hoạt: Các khu nhà rầm, ven biển, khu nhà
ổ chuột trong hẻm sâu như ở phường Trần Phú, Hải Cảng, ven núi Bà
Hoả … nhân dân tự do thải chất thải xuống đầm, hồ, ven biển, ven
núi…Qua điều tra cho thấy, các khu vực này có 20-40% hộ dân cư không
có công tŕnh vệ sinh. Công ty Môi trường đô thị đă xây dựng công
tŕnh vệ sinh công cộng cho một số khu dân cư ven biển nhưng hiệu
quả không cao
Tất cả các điểm lấy mẫu đều vượt quá
giới hạn cho phép so với TCVN- chỉ có một số điểm hàm lượng bụi
tương đối thấp là các băi tắm: Phương Mai, Ghềnh Ráng, Quy Hoà. Hàm
lượng bụi trung b́nh là 0,29mg/m3. Hàm lượng trung b́nh
của toàn TP Quy Nhơn là 0,72mg/m3. Cao nhất là khu vực
cảng Thị Nại –1,21mg/m3
Ô nhiễm SO2, NO2
tại một số điểm trong nội thành chưa vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Hàm lượng NO2 trung b́nh trong thành phố là 0,038mg/m3
Tiếng ồn do động cơ xe máy,
máy móc trong các cơ sở sản xuất phát ra tương đối cao. Độ ồn trung
b́nh trong TP là 74dBA- xấp xỉ với mức cho phép. Các ô nhiễm khác
như COx, tổng các chất hữu cơ bay hơi (THC) và bụi ch́
(Pb) tại Quy Nhơn c̣n thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng THC
trung b́nh là 3,7mg/m3
3.2.
Hiện trạng môi trường nước ở Quy Nhơn
và vùng lân cận:
Xâm nhập mặn:
Vào mùa khô lưu lượng thấp, toàn bộ các sông ở khu vực Quy Nhơn bị
nhiễm mặn. Khu vực cầu Sông Ngang nồng độ Cl- tương
ứng11,9mg/l và 89mg/l- trong 4 năm tăng gấp 8 lần, Cầu Đôi 2890mg/l
và 9674mg/l, cầu Chữ Y là 11.030mg/l và 13,206mg/l. Ngoài ra các chỉ
tiêu về EC, SO4 cũng tăng. Khu vực ven biển đầm Thị Nại
có đê bao ngăn mặn, hồ nuôi tôm làm ngăn cản việc thoát lũ vào mùa
mưa, nhiễm mặn sâu vào mùa khô
Ô
nhiễm do sản xuất CN-TTCN và sinh hoạt:
Sông hồ, ven biển, khu tập trung dân cư bị ô nhiễm chất hữu cơ, và
vi trùng hơn các nơi khác. Cụ thể tại đầu ra cống thải eo sân bay
chỉ tiêu BOD5 là 50mg/l; COD là 139mg/l, DO 4,6mg/l. Tại
cống thải của khu vực phường Trần Phú BOD5 = 60mg/l, COD
= 139mg/l, DO = 5,0mg/l. Hồ Đống Đa có pH =7,26, cặn lơ lửng
=137mg/l; COD= 359,8mg/l; BOD5 =94mg/l. Khu vực hồ Bàu
Sen: pH=6,95; cặn lơ lửng= 114,3; COD=297,5mg/l; BOD=44mg/l. Qua các
số liệu quan trắc trên cho thấy, nồng độ ô nhiễm vượt quá giá trị
quy định của nguồn nước mặt loại B theo TCVN. Các cơ sở chế biến
thuỷ hải sản, thực phẩm, bia, chế biến ḿ màu, bến cảng, kho xăng
dầu, khách sạn nhà hàng… cũng góp phần đáng kể vào ô nhiễm nước bề
mặt ở TP Quy Nhơn
Từ các nguồn của sông Hà Thanh, sông Kôn đổ về trong mùa
mưa lũ, mang theo nước có chứa nhiều chất thải gây ô nhiễm môi
trường. Theo số liệu thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh th́ lượng
hoá chất sử dụng trong nông nghiệp hàng năm là 331,9 tấn,(trong
đó thuốc trừ sâu là 182 tấn, thuốc diệt cỏ là 90 tấn, thuốc trừ bệnh
là 59 tấn…)góp phần làm ô nhiễm nguồn nước. Ngoài ra c̣n bị ô
nhiễm do chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng, vi trùng. Đáng kể có các
khu vực: cầu Đôi, đầm Đống Đa, hồ Đèo Son, dọc sông Hà Thanh…
3.3.
Đánh giá chất lượng nước ngầm:
Nhiễm mặn:
một số giếng ở bán đảo Phương Mai có độ dẫn từ 1100-1490mS/cm,
thể hiện ô nhiễm mặn nhẹ. Một số giếng ở phường Hải Cảng, khu vực
Đống Đa, Bạch Đằng cũng bị nhiễm mặn tương đối cao. Các khu vực c̣n
lại chưa thấy nhiễm mặn. Các chỉ tiêu về nhiễm phèn, kim loại nặng,
chất hữu cơ, giếng ở khu vực TP Quy Nhơn đa số đạt tiêu chuẩn nước
uống. Về vi trùng th́ một số giếng đóng phường Hải Cảng bị nhiễm
E.Coli và có dấu hiệu nhiễm dầu nhẹ
3.4.
Hiện trạng về chất thải rắn:
- Chất thải rắn sinh hoạt: 22 vạn dân nội thành Quy Nhơn,
thả ra khoảng 200m3 rác/ngày. Phần lớn thu gom được, c̣n
lại dân đổ ra đầm, hồ, biển làm ô nhiễm môi trường nước. Rác thu gom
được chôn lấp, để phân huỷ tự nhiên gây ô nhiễm trong khu vực băi
tập kết rác. Các cơ sở giết mổ chưa theo quy hoạch, giết mổ tự do
trong khu dân cư thải chất thải gây ô nhiễm môi trường
- Chất thải rắn bệnh viện: Chất thải rắn từ 7 bệnh viện,
các trung tâm y tế, trạm xá thải ra khoảng 3 tấn/ngày, trong đó có
thu gom xử lư là 76%, không kiểm soát được là 24%. Chất thải chưa
được phân loại xử lư một cách hợp lư - nhất là chất thải độc hại:
bông băng, bệnh phẩm, phế thải từ phẫu thuật
3.5.
Hiện trạng về môi trường của khu công
nghiệp Phú Tài:
Có 20 xí
nghiệp đang hoạt động, có 34 dự án đang tiến hành triển khai. Hàng
ngày lượng chất thải, thải ra nhiều, nhưng hầu hết các cơ sở chưa có
hoặc chưa hoàn chỉnh được hệ thống xử lư chất thải, do đó làm ô
nhiễm môi trường khu vực. Một số giếng gần khu vực sản xuất bia, đá
xây dựng bị ô nhiễm. Công nhân tại KCN Phú Tài phải làm việc trong
môi trường bụi đá, bụi gỗ, tiếng ồn sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ
3.6.
Ô nhiễm phóng xạ:
Qua đo đạc ở một số vùng trong TP Quy Nhơn cho thấy suất
liều hấp thụ ở nhiều chỗ đă vượt quá suất liều tối đa cho phép quy
định tại TCVN 4397-87. Đặc biệt là khu vực thải quặng Titan phía đầm
Thị Nại suất liều hấp thụ đo được 8.10mSV/h;
hàm lượng Radi đo được trong nước thải của xưởng tuyển khoáng ở mức
0,77-1.50Bq/lít. Đây cũng là hồi chuông báo động cho việc khai thác
chế biến sa khoáng Titan tại B́nh Định. Đ̣i hỏi các nhà quản lư phải
có biện pháp giảm suất liều hấp thụ tại khu vực, bảo vệ người lao
động
IV. HIỆN
TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ NÔNG NGHIỆP:
- Các thị trấn thị tứ: là nơi tập trung dân cư, lượng rác
thải hàng ngày rất lớn nhưng chưa được thu gom đổ đúng nơi quy
định. Một lượng lớn người dân tự đổ xuống sông hồ. Nước thải sinh
hoạt, CN-TTCN, bệnh viện, … hầu hết chưa qua xử lư dổ thẳng ra sông
hồ, đồng ruộng. Các cơ sở sản xuất gạch ngói, vật liệu xây dựng vẫn
c̣n nằm xen trong dân cư, khói thải gây ô nhiễm không khí cục bộ
Điều đáng nói là hệ thống hố xí - theo thống kê 1998- toàn
tỉnh chỉ có 94.293 cái đạt 30%, phần lớn nhân dân nông thôn không có
nhà vệ sinh, hoặc có tạm bợ. Giếng nước 160.444 cái đạt 60,9%. Việc
sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định, nông
dân c̣n sử dụng loại hoá chất cấm như: DDT, Methyl paration,
Azodrin, Monitor…Một số cơ sở kinh doanh c̣n để thuốc trừ sâu, phân
bón chung với các hàng tạp hoá khác. Rồi nước thải từ chế biến ḿ
chưa được xử lư, nạn chặt phá rừng bừa băi…Thực tế trên ở nông thôn
đă làm huỷ hoại dần môi trường sống, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ
người dân
Hiện nay
ở vùng nông thôn dân số tăng nhanh, quỹ đất có hạn, chất lượng tài
nguyên đất giảm dần, chuyển đổi cây trồng, áp dụng KHKT chậm, độc
canh cây lúa là chủ yếu, sử dụng thuốc trừ sâu vô tội vạ, làm kháng
thuốc nên sâu bệnh ngày càng phát triển. Hiện tượng này báo hiệu môi
trường nông thôn tỉnh ta ngày càng suy thoái
Toàn
tỉnh có 28 xă- phường miền núi, 17 xă thuộc vùng cao với số dân là
232.509 người. Tổng diện tích rừng toàn tỉnh là 197.908ha. Độ che
phủ là 29%. Độ dốc sườn núi > 200 . Đất đai bị xói ṃn
rất mạnh, hàng năm mất đi từ 50-350tấn/ha làm cho đất nghèo dinh
dưỡng, dân thiếu Iốt bị bệnh bứu cổ. Rừng nguyên sinh bị tàn phá từ
60-80% diện tích rừng đă có. Nạn phá rừng làm rẫy bừa băi gây lũ
lụt, sa bồi, thuỷ phá. Đồi núi ở khu vực đồng bằng chủ yếu là đồi
trọc bị phong hoá, rửa trôi mạnh, đá núi bị khai thác, mùa mưa làm
xói ṃn, bồi lấp vùng đất thấp, đồng ruộng, đất canh tác…
B́nh
Định có chiều dài bờ biển 134km. Riêng bờ biển Quy Nhơn tại băi tắm
Phương Mai, cảng biển, eo sân bay… chưa có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu
cơ. Khu 2, eo sân bay, băi tắm Phương Mai hàm lượng oxy hoà tan (DO)
từ5,8-6,3mg/l; NO3-N từ 0,01-0,02mg/l; NO2-N
từ 0,01-0,03mg/l. Riêng chất rắn lơ lửng từ 194- 234mg/l, gấp 4 tiêu
chuẩn cho phép. Hàm lượng một số kim loại nặng: Thuỷ ngân, Chi, Đồng
chưa có sự cố ǵ nghiêm trọng
Nguyên
nhân gây ô nhiễm: Khu dân cư chưa theo quy hoạch, nhà hàng dịch vụ,
sản xuất … thải trực tiếp xuống đầm, biển gây ô nhiễm. Mức độ ô
nhiễm tuỳ thuộc vào vị trí nguồn thải và theo mùa. Mùa mưa ô nhiễm
nước biển cao hơn mùa khô
Ngoài ra
c̣n có hiện tượng xâm hại về đa dạng sinh học, cộng với thiên tai
lũ lụt; sự cố môi trường… cũng làm suy thoái môi trường không kém
Phần
II.
KẾ HOẠCH XỬ LƯ TRIỆT ĐỂ CÁC CƠ SỞ SXKD GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
NGHIÊM TRỌNG- BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
Hiện nay có 80% cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ nằm
xen trong các khu dân cư đông đúc, không có mặt bằng xây dựng hệ
thống xử lư chất thải. Các cơ sở thiếu thông tin về kỹ thuật xử lư
chất thải và ngăn ngừa ô nhiễm. Bên cạnh đó có sự yếu kém về tŕnh
độ công nghệ gây lăn phí và phát sinh chất thải ô nhiễm. Thực tế
tính toán cho thấy một số cơ sở thiếu kinh phí, thiếu cán bộ chuyên
môn về quản lư nội vi và bảo vệ môi trường
Hiện nay sở KHCN&MT đă xây dựng xong
kế hoạch di chuyển từng bộ phận, toàn bộ, hoặc đ́nh chỉ hoạt động
đối với các cơ sở SXKD đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
và Kế hoạch xây dựng các băi
chôn lấp chất thải hợp vệ sinh, đạt tiêu chuẩn môi trường, xây dựng
hệ thống xử lư nước thải chung của khu công nghiệp, hệ thống xử lư
chất thải rắn nguy hại, chất thải bệnh viện, đảm bảo vệ sinh môi
trường.
Các giải pháp về mặt thể chế chính sách:
- Tăng cường nâng cao nhận thức về môi trường: Thay biện
pháp “ra lệnh và kiểm soát” trước đây bằng việc tự nguyện tự giác
thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường của các cơ sở SXKD theo
tiêu chuẩn Việt Nam. Ngoài việc phổ biến pháp luật về BVMT cần có
những chương tŕnh cụ thể nhằm nâng cao nhận thức cho đối tượng
- Di dời, bố trí lại địa bàn sản xuất công nghiệp: Phải có
chính sách thoả đáng, sắp xếp bố trí hợp lư, tránh t́nh trạng tập
trung quá nhiều ngành nghề sản xuất gây ô nhiễm nặng vào trong cùng
một khu vực có thể làm cho vấn đề môi trường khu vực đó trở nên phức
tạp hơn và không dễ dàng giải quyết
- Trợ giúp về mặt thông tin kỹ thuật: Cung cấp thông tin
theo nhóm ngành sản xuất sẽ giúp cho cơ sở nỗ lực t́m kiếm và thực
thi các giải pháp BVMT tại cơ sở của ḿnh một cách linh hoạt, phù
hợp với chi phí chấp nhận được
- Trợ giúp về mặt tài chính: để giúp doanh nghiệp vượt
qua khó khăn trong việc t́m kiếm nguồn vốn đầu tư cho BVMT. Có thể
lập ra quỹ môi trường để trợ giúp khi cần. Ví dụ ở TP Hồ Chí Minh có
Quỹ hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp- tiểu thủ công nghịêp. Quỹ
này hoạt động trên nguyên tắc v́ lợi ích cộng đồng, tự bù đắp chi
phí hoạt động, bảo toàn và phát triển vốn trên cơ sở đầu tư và hỗ
trợ tài chính có hiệu quả…
Các giải pháp kiến nghị về mặt kỹ thuật công nghệ:
Để thoả măn được các quy định ngày càng nghiêm ngặt về
BVMT, các cơ sở công nghiệp có thể lựa chọn nhiều con đường khác
nhau: hoặc thuê mướn xử lư chất thải, hoặc là đầu tư cho xử lư chất
thải cuối đường ống hoặc là quay ngược trở lại xem xét các quá tŕnh
sản xuất và các hoạt động kinh doanh để có thể giảm chất thảI ngay
tại nguồn. Kinh nghiệm cho thấy: xử lư chất thải cuối đường ống
thường đ̣i hỏi khoản chi phí rất lớn cho đầu tư vận hành, trong
khi đó ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp, hay thực hiện sản xuất sạch
hơn th́ không những làm sạch môi trường, bảo tồn các nguồn tài
nguyên để phát triển bền vững mà c̣n có ợi ích to lớn về mặt kinh tế
Biên tập: Tùng Lộc.