NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN VÀNG CÂU VÀ GIẢI PHÁP BẢO QUẢN

CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG SAU KHAI THÁC, NHẰM NÂNG CAO

NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRONG CHẾ BIẾN, XUẤT KHẨU

 

                                                               CNĐT: KS Nguyễn Văn Mong

                                                               CQCT: Sở Thuỷ sản

                                                               CBPH: TS Chu Tiến Vĩnh (Viện Nghiên cứu hải sản);

                                                                           ThS Nguyễn Văn Kháng, KS Nguyễn Công Bình

                                                               TGTH: 2004-2005

 

 I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Bình Định hiện có trên 500 tàu đánh bắt cá ngừ đại dương. Công suất mỗi tàu từ 26CV - 174 CV. Sản lượng, chất lượng đánh bắt còn thấp do kỹ thuật công nghệ đánh bắt và bảo quản còn thô sơ, chưa phù hợp. Hạn chế đó là vàng câu có chiều dài lớn (50-60km) nhưng số lưỡi câu ít (600-800 lưỡi) chỉ đánh bắt một tầng nước nhất định với độ sâu thấp (40-50m) trong khi cá ngừ đại dương ở tầng nước sâu từ 0-250m. Mặt khác ngư dân chỉ bảo quản theo kinh nghiệm như những loài thuỷ sản khác trong khi cá ngừ đại dương là loài cá có máu nóng, thân nhiệt cao (380C), thân hình to lớn đòi hỏi yêu cầu khó khăn hơn. Đề tài nghiên cứu cải tiến vàng câu…. phần nào khắc phục được thực trạng này

II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Mục tiêu: Sau cải tiến vàng câu năng suất đánh bắt tăng 10-20%. Tăng tỷ lệ cá chất lượng xuất khẩu từ 40% lên 60%. Xây dựng quy trình đánh bắt, bảo quản sau đó phổ biến cho ngư dân

- Nội dung: Đánh giá thực trạng tàu thuyền, kỹ thuật công nghệ khai thác, nghiên cứu cải tiến vàng câu, thiết kế hệ thống bảo quản phù hợp. Xây dựng 2 mô hình sản xuất thử nghiệm. Hội thảo, tập huấn, đánh giá hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng

- Phương pháp nghiên cứu: Chọn loại cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to; chọn loại tàu đánh bắt 80CV và 165CV. Dùng phương pháp điều tra thống kê, phối hợp với cơ sở sản xuất, thực tế sản xuất phân tích kiểm nghiệm chất lượng cá. Xây dựng hoàn chỉnh quy trình đánh bắt, bảo quản

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

1. Thực trạng:

- Về tàu thuyền khai thác: Trong số 520 tàu tàu câu cá ngừ đại dương của Bình Định chủ yếu có công suất 45CV trở lên chiếm 71,8%, tập trung ở huyện Hoài Nhơn. Hầu hết tàu đều đóng bằng gỗ, chịu gió cấp 7- cấp 8

- Thiết bị: Các tàu được trang bị đầy đủ: la bàn, máy định vị, máy thông tin liên lạc, máy kéo câu…

- Kỹ thuật, công nghệ: Vàng câu dài từ 40-60km. Dây chính thường sử dụng cước PA sợi đơn có số từ 220-280, đường kính từ 2,45-2,76mm. Dây nhánh (thẻo câu) có chiều dài 35-40m. Ngoài ra còn có dây ganh, khoá xoay, kẹp, phao…

Kỹ thuật khai thác:

+ Mùa vụ chính: từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm

+ Ngư trường: Chủ yếu ở vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến vùng biển phía nam Biển Đông

+ Kỹ thuật đánh bắt: Thông thường đánh bắt từ 1-2 mẻ câu/ngày. Mồi câu chủ yếu là mực xà, cá chuồn. Thời gian ngâm câu từ 2-3 giờ. Cá sau khi bắt đưa lên tàu được xử lý và bảo quản ngay theo kinh nghiệm của ngư dân hoặc theo quy trình của các cơ sở thu mua

Năng suất (chủ yếu cá ngừ vây vàng và mắt to) bình quân 0,82 tấn/tàu/chuyến biển, sản lượng 6,55 tấn/năm/tàu

- Thực trạng kỹ thuật, phương pháp bảo quản:

Hệ thống thiết bị bảo quản: Mỗi tàu có hầm bảo quản. Kích thước thường là: dài từ 1,1-1,2m; rộng từ 3,8-5,2m; cao 1,8-2,1m. Cấu tạo bằng gỗ có ốp bằng xốp cách nhiệt đúc sẵn. Ướp bằng đá lạnh xay nhỏ

- Đánh giá chung: Chỉ có 40% cá bảo quản theo cách của ngư dân đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu và chưa phát huy hết công suất của tàu

2. Kết quả thực nghiệm cải tiến vàng câu và bảo quản cá sau khai thác:

Cải tiến vàng câu:

- Tăng số lượng lưỡi câu: nhưng không tăng chiều dài vàng câu. Như vậy phải thu ngắn khoảng cách giữa 2 thẻo câu. Để độ sâu đánh bắt không thay đổi khi rút ngắn chiều dài thẻo, thì phải thay đổi chiều dài dây ganh cho phù hợp. Số lượng lưỡi câu trong vàng câu cải tiến (với chiều dài 62,5km) là: 1251 lưỡi (N=L/R+1; N: số lưỡi câu; L: chiều dài vàng câu; R: khoảng cách 2 dây thẻo)

Thông số và kích thước cơ bản các bộ phận của vàng câu trước và sau cải tiến:

Tên bộ phận

Thông số kích thước

Vàng câu mẫu

Vàng câu cải tiến

Dây câu chính

60.000m

62.500m

Dây thẻo

33,6m

22,4m

Dây ganh

9,6m

20,8m

Khoảng cách 2 dây thẻo

75m

50m

Số lượng lưỡi câu

800 chiếc

1251 chiếc

 Thay đổi kích cỡ dây câu, phao ganh, máy kéo câu phù hợp

 Cải tiến hầm cách nhiệt và phương pháp bảo quản cá:

- Cải tiến hầm cách nhiệt: Để tăng khả năng giữ nhiệt, đề tài dùng xốp vàng (Polyurethan) bơm trực tiếp vào vách hầm thay cho tấm xốp đúc sẵn, đồng thời phủ một lớp composite bên ngoài vách gỗ của hầm, tạo độ kín nước và cách nhiệt cao. Trên tàu làm 2 hầm bảo quản có kích thước 4x1,2x2m. Tốn phí cho 2 loại vật liệu này là 35,2 triệu đồng

QUY TRÌNH KỸ THUẬT XỬ LÝ BẢO QUẢN:

 

 

 

² Kết quả sản xuất thử nghiệm cải tiến vàng câu và phương pháp bảo quản trên 2 mô hình:

- Kết quả sản xuất thử nghiệm: Ngư trường đánh bắt tại vùng biển phía nam quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, vùng khơi miền Trung  và vùng biển phía nam Biển Đông. Mỗi chuyến biển kéo dài từ 28-32 ngày. Mỗi ngày một mẻ câu. Có 2 tàu mô hình, mỗi tàu đánh bắt từ 4- 7 chuyến.

- Kết quả phân tích mẫu cá ngừ: Hàm lượng Nitơ từ 1,4-4,3% trọng lượng mẫu tươi (TLT), Protein dao động từ 10,1-24,2% TLT. Histamine dao động 23,4-140,6mg/100g TLT.

² Đánh giá chung:

Histamine ở tất cả các mẫu nghiên cứu đều nhỏ hơn giới hạn cho phép đối với thực phẩm

Nếu bảo quản sau 20 ngày thì hệ thống bảo quản ở tất cả các tàu đều làm cho chất lượng cá bị giảm và tăng hàm lượng histamine

Về vệ sinh an toàn thực phẩm:  cần có giám sát tốt hơn. Các tàu bảo quản kém có thể lây nhiễm vi khuẩn gây bệnh đường ruột

²  Hiệu quả kinh tế- xã hội:

Tàu mô hình: Một tàu trong 7 chuyến đánh bắt 21 tấn, lãi ròng 936 triệu đồng. Một tàu trong 4 chuyến đánh bắt 3.993kg lãi ròng 51 triệu đồng

So với tàu ngư dân, tàu mô hình chi phí dôi lên 51,5 triệu đồng. Nếu trừ chi phí dôi lên thì tàu mô hình vẫn hiệu quả hơn tàu ngư dân là 520,5 triệu đồng

Hiệu quả xã hội: Đề tài giúp ngư dân cải tiến phát triển nghề nghiệp tăng năng suất sản lượng đánh bắt

IV. KẾT LUẬN:

Vàng câu cải tiến phát huy tối đa công suất đánh bắt của tàu cá và phù hợp với khả năng, năng lực của nông dân. Năng suất sản lượng đánh bắt ổn định và cao hơn vàng câu truyền thống từ 1,5-2 lần, góp phần tăng sản lượng khoảng 20%

Hầm cách nhiệt sử dụng polyurethan và vật liệu composite bảo quản cá tốt hơn, nâng cao chất lượng cá đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thêm 10-20% nhưng không quá 20 ngày

Đề tài đã xây dựng quy trình đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương phù hợp với tàu cá của ngư dân Bình Định.

   Biên tập: HOÀNG LÂN