KIẾN TRÚC TRUYỀN
THỐNG BÌNH ĐỊNH GÓP PHẦN GÌN GIỮ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG KIẾN TRÚC
HIỆN ĐẠI
CNĐT:
KTS. Phạm Thanh Trì
CQCTTH:
Hội Kiến trúc sư tỉnh Bình Định
CBPH:
KTS. Phạm Thanh Trì, KTS. Nguyễn Thanh Quang, KTS. Nguyễn Hữu Tất
Đạt, Nghệ Nhân. Nguyễn Xuân Lộc, Hoạ viên. Nguyễn Ngọc Lợi, Dịch
thuật. Phạm Thị Ngọc Bích.
TGTH:
2001-2002
MỞ ĐẦU:
Mỗi sự phát triển xã hội qua từng
thời kỳ đều để lại những dấu ấn kiến trúc, thể hiện nhân sinh quan
qua từng thời đại lịch sử. Có những công trình kiến trúc theo thời
gian, không gian bị tàn phá không còn tồn tại hoặc hư hại đến nức
trầm trọng, có những kiến trúc vừa mới được tạo ra bởi những luồng
tư tưởng mới và cũng có những kiến trúc theo những trường phái biệt
dị…Nhưng tất cả các sản phẩm của kiến trúc đều chứa đựng một tri
thức nhân loại theo tầm nhìn của lịch sử lúc bấy giời. Nhìn vào một
công trình kiến trúc người ta có thể đánh giá thời đại này hoặc thời
đại khác, nền văn minh và cả nền văn hoá của một dân tộc và hơn thế
nữa là thể hiện cả một luồng suy nghĩ, những hoài bão, nội tâm, đặc
tính của cả một vùng.
Với sự phát triển khoa học mạnh mẽ
như hiện nay, vấn đề toà cầu hoá, tiếp cận rất nhanh các nền văn
minh của thế giới nói chung và khu vực nói riêng. Nếu không có sự
định hướng rõ ràng trong kiến trúc (bản sắc dân tộc) thì các tác
phẩm nghệ thuật đặc thù sẽ dần dần bị mai một, thậm chí mốc đánh dấu
của lịch sử dân tộc qua các công trình kiến trúc cũng sẽ mất dần
theo thời gian… và thay vào đó là một nền kiến trúc vay mượn, dễ làm
lai căng nghệ thuật dân tộc.
Từ thực tiễn như vậy, đề tài
“Kiến trúc truyền thống Bình Định góp phần gìn giữ bản sắc trong
kiến trúc hiện đại” chúng tôi nghiên cứu chủ yếu kiến trúc “Nhà lá
mái Bình Định” để góp phần rất nhỏ trong việc tìm bản sắc dân tộc
trong nền chung rất lớn của ngôi nhà “Kiến trúc Việt Nam”.
I. MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI
DUNG NGHIÊN CỨU:
1.1.Mục tiêu nghiên cứu :
- Tìm hiểu, nghiên cứu kiến trúc
truyền thống để bảo tồn và vận dụng vào sáng tác kiến trúc hiện đại
phục vụ cho nhu cầu phát triển chung của Tỉnh và góp phần tìm được
phong cách riêng cho kiến trúc Việt Nam.
1.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Lập hồ sơ, chụp ảnh và tiến hành
điều tra để thu thập, giới thiệu những công trình kiến trúc nghệ
thuật đã được các nghệ nhân tài hoa dựng nên từ nhiều thế kỉ trước.
- Vận dụng phương pháp khoa học lịch
sử để xác định niên đại của các công trình kiến trúc.
1.3. Nội dung nghiên cứu:
- Các kiến trúc tháp Chàm của một
thời vương quốc Champa còn sót lại.
- Những ngôi nhà lá mái cổ tồn tại
rải rác trong khắp các làng xã xa xôi Bình Định.
Nhà lá mái Bình Định là một di sản vô
cùng quí giá mà tổ tiên ta đã để lại cho chúng ta. Đây là một trong
những thành phần kiến trúc khung gỗ Việt Nam đã được thế giới công
nhận, đánh gía cao.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
2.1. Các kiến trúc tháp Chàm của
một thời vương quốc Champa:
Những kiến trúc Chămpa còn lại chủ
yếu là một số tháp làm đền thờ:
- Tháp Cánh Tiên (huyện An Nhơn)
- Tháp Thủ Thiện (huyện Tây Sơn)
- Tháp Bình Lâm (huyện Tuy Phước)
- Tháp Bánh ít (huyện Tuy Phước)
- Tháp Phú Lốc (huyện An Nhơn)
- Tháp Dương Long (huyện Tây Sơn)
- Tháp Đôi (thành phố Quy Nhơn)
- Nhìn chung mặt bằng tổng thể các
tháp Chămpa thường có hai dạng bố cục: Dạng thứ nhất gồm ba tháp đặt
liền nhau trên trục Bắc - Nam thờ tam vị thất thể (Siva: vị thần huỷ
diệt vũ trụ, Brama: đấng sáng tạo vũ trụ và Visnu: vị thần bảo tồn).
Dạng thứ hai gồm một tháp trung tâm thờ thần Siva giữa các tháp phụ
khác. Dạng này thường xuất hiện muộn hơn khi mà vai trò của thần
Siva trở thành chủ đạo trong tín ngưỡng Chămpa.
- Hướng chính của tổng thể và từng
công trình là hướng mặt trời mọc - nơi có nguồn gốc của sự sống.
- Tổng thể hay trong từng công trình
đều có các tầng bậc mô phỏng dạng núi vì những người theo ấn Độ giáo
theo quan niệm rằng các vị thần của họ ngự ở trung tâm thế giói trên
núi Mêru. Còn đền thờ là ngôi nhà của các thần ở hạ giới phải là
hình ảnh thu nhỏ của núi Mêru.
- Hầu hết tháp Chăm có mặt bằng hình
vuông, chỉ có một của chính quy về hướng Đông, các mặt Tây - Nam –
Bắc có các cửa giả. Lòng tháp là một bàn thờ nhỏ hẹp chỉ đủ chỗ đặt
bộ ngẫu tượng sinh thực khí Linga-Yoni-nơi hoá thân của các thần.
- Hình thức kiến trúc của một ngôi
tháp thường được chia làm 3 phần: Đế, thân và mái.
+ Đế: được xây bề thế tạo thành nhiều
tầng cấp, có các bậc lên cửa chính, ở đế tháp Chăm thường thấy dạng
trang trí ốp.
+ Thân tháp:
thường có một mặt cắt ngang được trang trí chủ yếu bằng các cột ốp.
Sự khác nhau xuất hiện ở các trang trí trên cột ốp, ở khoảng tường
nằm giữa các cột ốp , đây cũng là cơ sở đánh giá niên đại và phong
cách tháp Chăm.
+ Mái: Tuỳ theo niên đại xây dựng,
mái tháp có thể chia làm nhiều tầng thu nhỏ dần theo cấu trúc thân
tháp, có hay không có các tháp nhỏ ở góc các tầng, hay dạng mái hình
chóp đặc biệt hơn. Những vòm cửa niên đại sớm thường có hình chữ U
ngược, càng về sau nó càng phát triển rõ nét thành hình mũi giáo.
- Theo kết quả khảo sát ở nhiều nơi
cho thấy, các viên gạch xây tháp Chăm được làm từ đất sét hay sét
pha cát có trộn thêm tro trấu nên nhẹ xốp, độ hút nước cao (17-25%),
cường độ chịu nén 100-200daN/cm2, cường độ chịu uốn từ
10-20daN/cm2…Các khối xây gạch của tháp Chăm liên kết với
nhau gần như liên khối làm cho cường độ của toàn khối xây như tương
đương với cường độ của từng viên gạch. Chính vì thế tháp tồn tại bền
vững.
- Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ điêu
luyện, mềm mại, tinh tế, lộng lẫy và hoành tráng. Những hoạ tiết,
hoa văn trên gạch đá sống động, chân thực và không kém phần kì bí
huyền ảo.
2.2. Nhà lá mái Bình Định:
Nhà lá mái Bình Định là một di sản vô
cùng quý giá mà tổ tiên để lại cho chúng ta, một trong những thành
phần của kiến trúc khung gỗ Việt Nam đã được Thế giới công nhận và
đánh giá cao.
2.2.1.Xây dựng nhà lá mái:
«
Vật liệu xây dựng:
- Tre: Tre già 4-5 tuổi chín đỏ,
thường là tre mơ hoặc tre gai, ngâm ít nhất dưới ao hoặc mép sông ít
nhất 6 tháng.
- Gỗ: những loại gỗ tốt như trâm xe,
gụ, lim, kiền kiền, sầm đá, hương, trắc…để khô mới dùng.
«
Kỹ thuật xây dựng:
- Móng: được xây
bằng gạch hồi hoặc đá ong (gạch: 120 x 200 x 300, đá ong 200 x 200 x
400) sâu dưới mặt đất thiên nhiên khoảng 0,4m, cao tới nền 0,450m và
hơn nền 0,1m chống ẩm cho vách. Nhà thường xây nền cao chống nước
lụt.
- Vữa xây: Cát, vôi, đường mát, lá
bông bụt, mủ cây lưỡi long (1 loại xương rồng ở nông thôn Bình Định
rất nhiều giống như bàn chải màu xanh, nhiều mủ).
- Ngạch cửa: cao hơn nền 15cm, thường
dưới ngạch cửa rãi một lớp mẻ chai dày 5-7cm, rộng 0,5-1m.
- Nền nhà: thường cao hơn sân từ 0,3m
- 0,45m tuỳ theo vùng ngập lụt nhiều hay ít. Nền đắp đất, đầm kỹ,
sau đó hoàn thiện bằng cách lót 1 lớp vôi khoảng 5mm chống mối mọt,
trộn đất thịt pha cát, đầm chặt cho nổi nước láng mặt rồi để khô.
Lớp đất nền hoàn thiện từ 5-6cm. Sau này có thêm gạch men hay Bát
Tràng lót thêm lên mặt.
- Vách: dùng tre ngâm chẻ mặt khoảng
3cm, đan ô làm sườn, gọi là đan mầm trĩ.
+ Đổ nước vào hố dùng rơm trải đều
lên mặt 1 lớp sau đó cùng dậm từ 15-20 phút. Làm như vậy 3 lần,
trong khi dậm rơm và đất còn pha thêm ít cát nhỏ để chồng nứt; cuối
cùng dùng cuốc chỉa lấy đất trét vào vách, thời gian vách thật khô
khoảng ½ tháng.
+ Cột: hệ thống cột rất dày, khoảng,
2m có 1 cột, gồm 5 dãy. Tuỳ theo nhà dài hay ngắn mà tính số cột.
Cột chia làm 3 loại:
Cột hàng nhất (2 dãy cột)
Cột hàng hai (2 dãy cột)
Cột hàng ba (hàng hiên 1 dãy cột)
+ Kèo: Là những khúc gỗ tròn liên kết
phần trên cột nhờ những ngàn liên kết theo dãy cột hàng ngang. Kèo
nhà lá mái có 2 loại:
Lưỡng đoạn: Kèo hai tầng thẫm mỹ,
thay đổi chiều cao trần.
Nhất đoạn: Kèo liên tục không thay
đổi thanh kèo trên.
+ Đòn tay: thanh gỗ liên kết các vì
kèo với nhau theo chiều dọc.
+ Ngạo: Phần kèo nằm phía ngoài nhà.
- Hè: hè rộng 2m
hoặc 0,5m đó là hè trước, còn hai bên và hiên sau chỉ khoảng 0,5m.
- Mái nhà: Nét độc đáo của nhà lá mái
Bình Định là có 2 mái, một mái bằng đất, một bằng tranh.
+ Mái đất (Đa cái): toàn bộ mái này
đều đan bằng tre, sau đó dùng đất nhồi rơm trát lên một lớp dày
khoảng 10cm. Đa cái là một sáng tạo của người xưa làm cho nhiệt độ
trong nhà ổn định, mát về mùa hè, ấm về mùa đông, đề phòng hoả hoạn,
chống trộm cắp.
+ Mái lá: dùng đất đắp thành ụ từ mái
đến phần rui mè trên, rui mè bằng tre đan ô vuông khá dày, khoảng
cách từ 10-15cm. Sau đó dùng tranh săn lợp dày từ 20-30cm có thể
chịu được mưa nắng 7-10 năm mới lợp lại.
- Cửa: nhà mái lá cũng có nhiều cửa,
các nhà phụ cũng có cửa sổ, cửa đi.
- Ngạch cửa: là một thành phần rất
quan trọng của nhà lá mái Bình Định, giằng liên kết các chân cột
hàng hai với nhau. Trên ngạch là ngưỡng cửa, ngưỡng cửa thường hình
cong lớn lên trên, chạm điêu khắc tỉ mỉ đẹp mắt.
- Ni thước: Người giàu có chức tước,
nhà rộng cao các dãy cột thường cách nhau hơn 2m, nhà trung bình
1,7-2m, kích thước, mẫu mã thường giống nhau. Điều đặc biệt là nhà
xây lấy chiều cao chủ nhà làm chuẩn.
Nhìn tổng quát
thì nhà lá mái khá cao vì mái rất dốc, góc đỉnh thường 60o,
góc đỉnh phần da cái lá 90o. Nhà nếu rộng 8m chiều cao
cũng gần như thế nên nhà lá mái rất vững, chịu được mưa to, gió lớn,
bão táp của khu vực miền Trung.
«
Kiến trúc- nghệ thuật:
- Đó là sự kết hợp của
Thiên-Địa-Nhân: con người, cây cảnh, sinh vật và công trình nhân
tạo.
Ngay cả việc chọn vị trí đều đặt kỹ
dựa trên nguyên tắc tự nhiên: âm dương-phong thuỷ. Điểm đặt phản
tương quan với xung quanh như bụi tre, bờ dậu, con suối.
Nghệ thuật trang
trí biểu đạt được ý đồ cụ thể, rõ ràng bằng các đề tài, cảnh tích
sinh động, chứa đựng ý nghĩa văn hoá và giá trị nhân văn lớn. Gợi
nên phong cách diện mạo của nghệ thuật trang trí ở Bình Định nói
riêng và Việt Nam nói chung.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
Kiến trúc truyền thống Bình Định có
bản sắc riêng ở chỗ:
- Phù hợp với thiên nhiên: Khí hậu,
mưa nắng, lụt lội, cây xanh.
- Bố cục không gian kiến trúc: sinh
động tương đối hợp lý, phân khu chức năng rõ ràng.
- Về kết cấu: mái, kèo: tạo nên phong
cách riêng độc đáo của Bình Định.
- Trang trí nội thất: trang bị nội
thất cũng có những nét riêng như tràng kỷ, phản gõ, cách thờ cúng.
Những sắc thái ấy tuy ở Bình Định
nhưng cũng là một phần của kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Kiến nghị:
- Ngành Du lịch nên đầu tư, dựng lại
toàn cảnh thật cho một không gian, ở đó chủ yếu là nhà lá mái Bình
Định - một di sản kiến trúc truyền thống đáng quý. Qua đó khách du
lịch cũng như người dân trong tỉnh có thể tìm hiểu được những nét
đặc sắc, độc đáo nền văn hoá của người Bình Định cổ xưa và liên hệ
cho việc hình thành bản sắc của người Bình Định hiện nay.
Biên tập: ÁI THÙY