XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÂM CANH LÚA NƯỚC

VÀ ĐƯA GIỐNG LÚA MỚI VÀO SẢN XUẤT TẠI XÃ

AN VINH, AN LÃO, BÌNH ĐỊNH

 

CNĐT: ThS. Lại Đình Hòe

CQCT: Trung tâm NCNNDH nam Trung bộ

CBPH: KS. Tướng thoàng, Đinh Văn Chao,

            Đinh Văn Thiên

TGTH: Năm  2002-  2003

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Xã An Vinh, huyện An Lão là xã miền núi nghèo, có 322 hộ gia đình, 1566 nhân khẩu, hầu hết là đồng bào H’re. Diện tích trồng lúa là 101,7 ha, năng suất bình quân 30tạ/ha. Do sử dụng giống cũ và trình độ kỹ thuật canh tác còn thấp. Cả xã đều trong diện nghèo, có 26 hộ phải cứu tế. Để góp phần nâng cao năng suất lúa, tự túc lương thực tại chỗ, hạn chế phá rừng làm rẫy, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp duyên hải nam Trung bộ (Trung tâm) đã thực hiện đề tài nói trên

II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

1. Mục tiêu:

- Xác định giống lúa mới và biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện ở An Vinh

- Xây dựng mô hình thâm canh lúa nước năng suất cao

- Chuyển giao kỹ thuật canh tác cho nhân dân

2. Nội dung:

Đánh giá tình hình, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất lúa, khảo nghiệm một số giống lúa ở An Vinh: KD 18; NX30; DV 108; OMCS96

Đặc điểm các giống lúa mới tham gia thí nghiệm:

- Giống Khang Dân 18: Có nguồn gốc từ Trung Quốc, đưa vào nước ta năm 1996. Hiện nay được sử dụng rộng rãi ở tỉnh ta. Khả năng cho năng suất  từ 60-70 tạ/ha

- Giống NX 30: Thấp cây, to bông, năng suất 60-70 tạ/ha. Thời gian sinh trưởng 110-115 ngày

3. Kết quả nghiên cứu:

« Điều kiện tự nhiên, KT-XH ảnh hưởng đến sản xuất lúa ở An Vinh:

Xã An Vinh có tổng diện tích đất tự nhiên là 8465ha. Trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên, đất chưa sử dụng, còn lại đất trồng cây lâu năm, đất chuyên dùng chiếm tỷ lệ ít. Đất nông nghiệp chỉ chiếm 4,6% diện tích đất tự nhiên

Phân tích 10 mẫu đất cho thấy: Đất có độ chua trung bình, thành phần đạm, lân, kali nghèo, hàm lượng mùn khá. Muốn lúa cho năng suất cao cần tăng cường đầu tư phân bón

Khí hậu, thời tiết: Số giờ nắng trung bình từ 110-245, thấp nhất là tháng 12 (110 giờ)- rất thuận lợi cho sản xuất lúa. Nhiệt độ khí hậu vụ thu từ 28,4-28,90C. Lượng mưa trung bình 68-108mm. Độ ẩm không khí từ 75-80%

Mùa mưa từ tháng 9-12, nhiều nhất là vào tháng 10-11 (1053mm)

Thuỷ lợi: An Vinh chưa có công trình thuỷ lợi kiên cố nào. Chỉ có 84 đập bổi, tạm đủ tưới cho khoảng 75-80ha. Diện tích phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời từ 21-26ha

Kinh tế- Xã hội: cả xã có 322 hộ trong đó có 155 hộ nghèo. Mật độ dân số 18 người/km2. Nguyên nhân đói nghèo do thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn làm ăn

Điều tra về sử dụng giống: Có 80% hộ sử dụng nhưng không biết tên giống, 100% hộ sử dụng giống vụ trước cho sản xuất vụ sau. Năm 2002-2003 nhờ chương trình cấp 1 hóa giống lúa của tỉnh, một số giống cải tiến có mặt ở xã này: ML49, TH85, nhưng diện tích còn ít

Kỹ thuật canh tác: Có 75% số hộ bón phân 1 lân/vụ, với số lượng 100kg NPK/ha; 8% số hộ bón 2 lần/vụ với lượng 200kg NPK/ha; 17% số hộ không bón. Có 82% diện tích gieo sạ sử dụng thuốc trừ cỏ sô-fit sau khi sạ

« Kết quả khảo nghiệm giống lúa mới:

- Trong vụ Thu 2002, trong giai đoạn làm đòng do nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao 35-360C thiếu nước tưới. Giai đoạn trổ gặp mưa. Năng suất biến động từ 50,1-55,7 tạ/ha. Cao nhất là giống NX30 (55,7 tạ/ha), DV108 (53,4 tạ/ha)

- Vụ Đ-X 2002-2003: Năng suất thực thu cao nhất là giống NX30 (65,3 tạ/ha), DV108 là 58,4 tạ/ha

« Kết quả khảo nghiệm một số công thức phân bón cho lúa (giống NX30):

Qua 3 công thức khảo nghiệm, công thức 2 và 3 là hiệu quả nhất.

Công thức 3: 8tấn phân chuồng + 400kg NPK (16-16-8)+ 200kg lân. Giống sử dụng là NX30

Cách bón: Bón lót: 200kg phân lân + 5 tấn phân chuồng

Bón thúc lần 1: Sau khi sạ 10-12 ngày, bón 120kg NPK/ha

Bón thúc lần 2: Sau sạ 18-20 ngày, bón 160kg NPK/ha

Bón thúc lần 3: Khi lúa đòng đất từ 1-2cm, bón 120kg NPK/ha. Làm cỏ tưới nước phòng trừ sâu bệnh theo quy trình đã phổ biến

« Kết quả xây dựng mô hình trình diễn giống lúa mới và kỹ thuật canh tác phù hợp:

Quy mô: 5ha vụ Thu 2002, 5ha vụ Đ-X 2002-2003  tại cánh đồng Chúa. Giống sử dụng: NX30, DV108 (vụ Thu);  giống NX30, DV108, KD18 (Đ-X). Lượng giống gieo sạ là 120 kg/ha

Kết quả của mô hình: cả 3 giống đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn giống TH85 với kỹ thuật canh tác truyền thống từ 10,2-59,5%. Cao nhất là giống NX30, có năng suất cao hơn đối chứng là 2.344kg/ha. Tiếp đến là giống DV108 cao hơn đối chứng là 1852kg/ha, KD18 năng suất cao hơn đối chứng là 1630kg/ha

« Kết quả chuyển giao kỹ thuật cho dân:

Trung tâm tổ chức 4 đợt tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho dân trong xã. Bồi dưỡng kỹ thuật cho 2 cán bộ  địa phương nắm vững quy trình kỹ thuật canh tác để giúp đỡ bà con

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

Kết luận:

Cả 3 giống NX30, DV108, KD18 đều thích hợp với vụ sản xuất Đ-X tại xã An Vinh, An Lão. Năng suất cao chất lượng gạo khá, chống chịu được sâu bệnh, điều kiện bất lợi của thời tiết. Vụ Thu giống thích hợp nhất là NX30, DV108. Lượng giống, phân bón, quy trình kỹ thuật phải tuân thủ nghiêm ngặt như trong thực nghiệm thực tế cho kết quả

Quy trình canh tác, mô hình sản xuất có thể áp dụng nhân rộng trong xã

Kiến nghị:

Tỉnh nên trợ giá giống, phân bón cho dân vùng sâu, vùng xa

Tăng cường triển khai trình diễn về giống mới và kỹ thuật canh tác tiến bộ cho nhân dân

Tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ nông nghiệp cho miền núi

Huyện nên tuyên truyền mở rộng phạm vi ứng dụng các mô hình đã cho kết quả tại các xã có điều kiện tương tự

Tăng cường đào tạo khuyến nông viên xã để hướng dẫn trực tiếp cho bà con nông dân.

Biên tập: HOÀNG LÂN