NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT KHUẾCH ĐẠI CHUỖI ADN

(PCR) VÀO CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DƠI ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH B̀NH ĐỊNH

 

                                                                     CNĐT:     Ths.Nguyễn Hoành Cường

                                                                     CQCT:     Bệnh viện ĐK tỉnh B́nh Định

                                                                     CBPHTH: TS. Phạm Hùng Vân, ThS. Lê Quang Hùng,

            BS. Nguyễn Thị Bảy, CN. Trịnh Hồ T́nh

         TGTH:     2004-2005

 

MỞ ĐẦU:

Việt Nam là vùng lưu hành cao của viêm gan B, tỷ lệ nhiễm HbsAg thay đổi vào khoảng 15-20% dân số. T́nh trạng nhiễm siêu vi B là vấn đề y tế-xă hội gây ảnh hưởng không nhỏ cho cộng đồng, tỷ lệ người mang mầm bệnh lây lan cho người khác khá cao, đặc biệt lây từ mẹ sang con. Từ t́nh h́nh thực tế nêu trên ngăn chặn bệnh viêm gan B là một nhu cầu bức thiết.

I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.1. Đối tượng:

- Tuổi lớn hơn hay bằng 16 tuổi.

- HbsAg (+) tối thiểu là 6 tháng trước khi đưa vào nghiên cứu.

- Đối với bệnh nhân được điều trị bằng Lamivudine th́ chọn thêm tiêu chuẩn men gan > 80 đơn vị/L (hơn 2 lần so với trị số b́nh thường) và có PCR (+) > 105 copies/ ml.

1.2. Phương pháp nghiên cứu:

- Mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ PCR (+), HbsAg (+), men gan tăng trong nhóm có HbsAg (+).

- Đánh giá nghiệm pháp PCR để chẩn đoán và theo dơi hiệu quả điều trị viêm gan B bằng Lamivudine (thử nghiệm lâm sàng đơn không đối chứng)

- Chọn 30 ca có kết quả PCR (+) để điều trị bằng Lamivudine.

- Số liệu được xử lư dựa trên phầm mềm Epi.Info 6.0 của tổ chức y tế thế giới.

II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

2.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

Bảng 1: Đặc điểm về nhóm bệnh nhân

 

 

Giới

Tuổi trung b́nh (năm)

Nam

n = 161

33,1 ± 10,5

Nữ

n = 89

34,1 ± 10,4

Cộng

n = 250

33,7 ± 10,4

Như vậy tuổi mắc bệnh chủ yếu là nam, độ tuổi trung b́nh 33,7 ± 10,4, điều này cho thấy tuổi nhiễm siêu vi B được phát hiện là khá trẻ.

2.2. Kết quả điều trị bằng Lamivudine:

2.2.1. Đặc điểm nhóm 30 bệnh nhân về các thông số trước điều trị:

Trong 30 bệnh nhân đưa vào ngẫu nhiên nghiên cứu điều trị với PCR > 105 copies/ml, có 16 ca viêm gan với HbeAg (+) và 14 ca viêm gan HbeAg (-). Trị số trung b́nh của men gan là 167,5 ± 91,6. Như vậy tỷ lệ viêm gan với kháng nguyên nhân HbeAg (-) chiếm tỷ lệ gần một nửa (14/30 ca = 46,7%).

2.2.2. Kết quả sau 6 tháng điều trị bằng Lamivudine:

Bảng 2: Kết quả sau 6 tháng điều trị

Men gan (đơn vị UI/L)

HbeAg

PCR

(+)

(-)

(+)

(-)

167,5 ± 91,6

(trước điều trị)

16

14

0

30

50,5 ±26,8

(sau 6 tháng)

11

19

8

22

- Giá trị trung b́nh man gan sau 6 tháng điều trị giảm c̣n 50,5 ±26,8

 (p < 0,001).

- Có 16-11 = 5 ca chuyển HbeAg (+) sang (-) chiếm tỷ lệ 5/16= 31,3%.

- Có 8/30 ca chuyển PCR từ (+) sang (-) chiếm tỷ lệ 26,7%.. Điều này nói lên rằng điều trị bằng Lamivudine sau 6 tháng chỉ có khoảng 1/3 số bệnh nhân là có hiệu quả. V́ vậy cần điều trị bệnh nhân cho đủ tối thiểu là 1 năm như khuyến cáo chung của Hiệp hội gan thế giới.

2.2.3. Kết quả sau 12 tháng điều trị bằng Lamivudine:

Bảng 3: Kết quả sau 12 tháng điều trị

Men gan (đơn vị UI/L)

HbeAg

PCR

(+)

(-)

(+)

(-)

167,5 ± 91,6 (trước điều trị)

16

14

0

30

50,5 ±26,8 (sau 6 tháng)

11

19

8

22

48,7 ±18,3 (sau 12 tháng)

9

21

16

14

- Sau 12 tháng điều trị, có 19/30 ca men gan trở về b́nh thường (< 45 đơn vị/l) chiếm tỷ lệ 63,3%)

- Trị số trung b́nh của men gan sau 12 tháng được điều trị là 48,7 ±18,3, trong đó có 63,3% số ca trở về trị số b́nh thường.

- Có 7/16 ca chuyển HbeAg (+) sang (-) chiếm tỷ lệ 43,8%.

- Có 16/30 ca chuyển tỷ lệ 53,3% PCR chuyển từ (+) sang (-)

2.2.4 Kết quả điều trị bằng Lamivudin ở nhóm bệnh nhân viêm gan có HbeAg (-):

Bảng 4: Đáp ứng vi rút PCR (-) sau 06 tháng và 12 tháng ở nhóm viêm gan có HbeAg (-):

HbeAg (-), n = 14

Tháng thứ 6

Tháng thứ 12

(-)

(+)

(-)

(+)

3

11

6

8

Trong số 14 ca viêm gan với HbeAg (-), sau 6 tháng có 3/14 ca PCR chuyển sang âm tính chiếm 21,4%), sau 12 tháng có 6/14 ca chuyển sang âm tính chiếm (42,9%).

2.2.5 Kết quả điều trị bằng Lamivudin ở nhóm bệnh nhân viêm gan có HbeAg (+):

Bảng 5: Đáp ứng vi rút PCR (-) sau 06 tháng và 12 tháng ở nhóm viêm gan có HbeAg (+):

HbeAg (+), n = 14

Tháng thứ 6

Tháng thứ 12

(-)

(+)

(-)

(+)

5

11

10

6

- Có 5/16 ca (31,3%) PCR chuyển sang (-) sau 6 tháng điều trị.

- Có 10/16 ca (62,5%) PCR chuyển sang (-) sau 12 tháng điều trị.

2.2. Kỹ thuật PCR trong chẩn đoán và theo dơi điều trị viêm gan siêu vi B:

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật PCR có nhiều ưu điểm và thực sự cần thiết trong chẩn đoán và theo dơi điều trị viêm gan B. Áp dụng kỹ thuật PCR vào chẩn đoán và phát hiện được các trường hợp viêm gan B mà không có hiện diện của kháng nguyên – nghĩa là viêm gan B với HbeAg (-). Đây là ưu điểm mà kỹ thuật ELISA không thể nào có được. Nếu chỉ dựa vào kỹ thuật ELISA để t́m kháng nguyên HbeAg th́ sẽ bỏ sót một lượng đáng kể gần 50% trường hợp viêm gan. Tuy nhiên kỹ thuật mới PCR không hoàn toàn phủ nhận kỹ thuật cũ ELISA v́ trong chẩn đoán bệnh đều cần cả 2 kỹ thuật này. Nhưng điểm nổi bật của kỹ thuật PCR là giúp bộc lộ bệnh lư một cách chính xác và nhạy hơn kỹ thuật cũ. Kỹ thuật PCR c̣n giúp điều trị kịp thời cho bệnh nhân viêm gan B và tránh điều trị thái quá ở một số trường hợp khác.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

Kỹ thuật PCR nên được phổ biến rộng răi ở các cơ sở chuyên khoa điều trị viêm gan B trong tỉnh ( các bệnh viện huyện và trung tâm y tế dự pḥng...)

Mở rộng ứng dụng kỹ thuật này sang các lính vực khác như lao, viêm gan C.

Biên tập: ÁI THÙY