Các tổ chức Khoa học công nghệ
    Chương trình, đề tài, dự án Khoa học công nghệ
    Cơ sở dữ liệu
    Sở hữu trí tuệ
    Tiêu chuẩn đo lường chất lượng
    Thị trường Công nghệ - Thiết bị
    Văn bản pháp luật
    Thủ tục hành chính
    Tạp chí KHCN
    ĐỊA CHÍ BÌNH ĐỊNH
    Hỏi đáp
  Tìm kiếm:
 
 

Truy cập:

2575847

Đang online:

45

  
>>  TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Làng nghề truyền thống và việc bảo tồn, phát huy các gía trị văn hoá phi vật thể

Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh Bình Định có trên 40 làng nghề, được tạm phân thành các nhóm nghề theo loại hình như: chế biến lương thực, thực phẩm, đánh bắt hải sản, dệt chiếu, làm gốm, chằm nón, đan lát, rèn, đúc, cơ kim khí, làm nhang, dệt thổ cẩm, thảm xơ dừa, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ thủ công mỹ nghệ. Số liệu thống kê của Sở Công nghiệp Bình Định, trên địa bàn toàn tỉnh, khu vực sản xuất các làng nghề lên đến 6.000 hộ gia đình hoặc cơ sở sản xuất, thu nhập bình quân hàng tháng người lao động các làng nghề tính xấp xỉ 400.000 đồng. Các làng nghề đã tạo ra việc làm ở nông thôn, thu hút lực lượng lao động đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát huy những nét văn hóa đặc sắc từ các làng nghề truyền thống. Những khái niệm về loại hình nghề nghiệp nói trên tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ nọ, song vẫn có những điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hóa, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm “làng nghề”. Làng nghề, theo cách nhìn văn hóa bao gồm các nội dung cụ thể như:

Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm.

Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ với tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau.

Sản phẩm có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang lại những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa, xã hội liên quan tới chính họ.

Với cách đặt vấn đề trên, tiếp cận từ góc độ văn hóa, chúng tôi muốn bàn đến một số đặc điểm của làng nghề, xin được gọi là làng nghề truyền thống, cụ thể như sau:

Một là, làng nghề phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ. Thực tế cho thấy, làng nghề ở tỉnh ta gắn liền với các địa danh nông nghiệp cận vùng thị tứ, thương nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ. Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là tính chuyên dụng, sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó. Nhìn vào những nghề thủ công nổi tiếng của tỉnh ta như nghề đúc đồng, nghề rèn, nghề chằm nón, dệt thảm xơ dừa… Chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với mỗi cộng đồng cư dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã. Nét đặc trưng này phản ánh sự phong phú, đa dạng của làng nghề trong hệ thống làng xã nông thôn Bình Định. Ví dụ, khi nói đến làng nghề rèn Phương Danh, người ta không chỉ biết đến sản phẩm rèn mà còn nhận biết các thông tin về địa lý, nhân văn, lễ hội truyền thống, lịch sử một làng nghề bên cạnh khu vực kinh thành Hoàng Đế trầm mặc, một thời tráng lệ, đầy ấn tượng về văn hóa Chăm và cả một chút “huyền bí”. Hoặc khi nói đến làng dệt thảm xơ dừa Tam Quan, người ta không chỉ biết rằng nơi đây một thời chuyên sản xuất típ xơ, nơi có rừng dừa Tam Quan bạt ngàn, mà còn biết nơi sinh ra các nghệ nhân hát kết nổi tiếng, một xứ sở hò đối đáp với những bài cao dao dân gian đi vào lòng người. Tóm lại, đặc điểm này cho chúng ta nhận dạng các giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa phi vật thể, từ nguồn gốc và đặc trưng của xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu quy mô thông qua đặc thù chế độ làng xã ở Bình Định.

Hai là, làng nghề truyền thống ở Bình Định còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những làng được cư dân khai hoang lập làng từ những ngày đầu trong diễn trình lịch sử làng xã người Việt Bình Định. Có làng nghề lâu đời dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và điều kiện giao thông, mà đường thủy là chính. Làng đúc đồng Bằng Châu có lịch sử hình thành đã hơn 300 năm, làng gốm Nhạn Sơn có lịch sử hình thành hơn 300 năm, làng chiếu Chương Hòa (Hoài Nhơn) thì đã có gần 400 năm… Theo chúng tôi, điều này phản ánh đúng lô gíc lịch sử vì nó đáp ứng yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của con người. Do ở thời nào con người cũng cần công cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các hoạt động văn hóa khác. Khẳng định tính truyền thống của nghề thủ công và để khẳng định sự tồn tại của nó qua các hình thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất cần thiết, để góp phần khẳng định các giá trị văn hóa đích thực và “ngôi vị” lịch sử của nó trong quá trình tồn tại, phát triển của dân tộc. Một khía cạnh khác của đặc điểm này là làng nghề hay các cụm làng nghề được hình thành hầu hết đều gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ và thuận lợi với giao thông đường thủy. Ví dụ làng chiếu Chương Hòa, làng dệt thảm xơ dừa Tam Quan gắn liền với đường biển; làng rèn Phương Danh, làng gốm Nhạn Sơn gắn liền với đường sông Kôn, cận kề bến sông, thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển. Thiếu hai yếu tố: nguyên liệu và bến sông các làng nghề thủ công truyền thống khó tồn tại trong diễn trình lịch sử.

Ba là, làng nghề Bình Định không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa “nghề” với “nghiệp”, mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác. Điều đầu tiên phải nói đến đó là các “quy lệ” của các làng nghề. Quy lệ là cách gọi khác của những quy ước, luật lệ để gìn giữ bí quyết nghề, bảo tồn nghề của dòng họ, của cộng đồng làng xã. Có thể nói là hầu hết các nghề thủ công đều có bí quyết. Việc giữ “bí quyết nghề” không chỉ đơn thuần là giữ nghề mà còn chi phối cả các quan hệ xã hội khác, như quan hệ hôn nhân, hoặc việc truyền nghề chỉ đóng khung trong một số đối tượng cụ thể, như truyền cho con trai, hoặc chỉ truyền cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Người học nghề được gọi là thợ con và phải ứng xử theo đạo “thầy trò”, rất khuôn phép… Những quy lệ này được hình thành từ những ước lệ đến quy ước miệng rồi thành văn như hương ước, lệ làng. Điều này đã tạo ra một trật tự trong làng nghề và những nét văn hóa đặc thù. Điều thứ hai cần đề cập đến là trong đặc điểm sinh hoạt tinh thần của làng nghề: Hầu như làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổ nghề và gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt động văn hóa dân gian khác. Làng rèn Phương Danh có ông tổ được thờ là Đào Giả Tượng gắn liền với lễ hội truyền thống vào ngày 12 tháng 2 âm lịch; làng chiếu Chương Hòa có ông tổ được thờ là…. Trong dịp giỗ tổ làng nghề rèn Phương Danh, cả làng như mở hội, khách hành hương về khá đông để tưởng nhớ nơi sinh ra và lớn lên và cho nghiệp sống với đời. Gắn với nghi thức hành lễ tổ tại đền thờ, các gia đình cũng tổ chức nghi lễ giỗ tổ tại gia đình với một tinh thần trang nghiêm, trong sạch từ “tâm” ra, cầu mong nhiều điều tốt lành cho năm đến, cùng với nhiều mảng màu sắc dân gian được diễn ra trong dịp lễ hội truyền thống của làng nghề rèn. Như vậy, ở làng nghề, ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hóa và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp. Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm khu biệt bởi địa lý, nhân văn, còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao.

Với cách tiếp cận từ góc độ văn hóa để tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống, dễ dàng nhận thấy rằng làng nghề chứa đựng trong nó những yếu tố nhân văn và giá trị văn hóa truyền thống quý giá. Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu phát triển thì làng nghề còn là một di sản văn hóa quan trọng cần được bảo tồn và phát huy trong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và phát triển đất nước. Từ góc độ bảo tồn di sản văn hóa chúng tôi có một số suy nghĩ:

Một là, cùng với việc thống kê, nghiên cứu, quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề, các khu tiểu thủ công nghiệp, cần thiết phải bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề. Đó là kho tàng các kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết truyền nghề từ việc sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo cho từng sản phẩm của mỗi làng nghề. Bởi vì quá trình lao động tức là quá trình sáng tạo; trong mỗi sản phẩm đơn chiếc ấy là kinh nghiệm, là kỹ thuật, là bí quyết của nghệ nhân, người thợ thủ công, và họ còn thổi vào sản phẩm ấy cả tâm hồn và ý niệm. Ví dụ, từ những tảng đất vô tri vô giác, bằng sức lao động sáng tạo, những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm tuyệt vời, mà ở đó là tư duy, là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế hệ. Mỗi sản phẩm còn là khúc tuỳ hứng, khát vọng của con người và của cả cộng đồng. Đó chính là phần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của làng nghề và sản phẩm của làng nghề.

Hai là, việc tôn vinh các nghệ nhân, những người thợ thủ công của các làng nghề cũng là một yêu cầu đặt ra đối với việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Cần thẳng thắn thừa nhận rằng, việc này còn là một thiếu sót. Nguyên nhân ban đầu có thể do nhận thức chưa đúng rằng làng nghề chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế phụ. Do đó, các giá trị vô hình và đặc biệt là bàn tay khối óc và tâm hồn của những người thợ tài ba làm ra sản phẩm, những nghệ nhân lại dễ bị lãng quên. Nghệ nhân không phải là người lao động bình thường, ở họ ngoài tài ba khéo léo của đôi bàn tay, họ còn giữ trong mình những bí quyết, kỹ thuật cha truyền con nối và cả những tài hoa, có khi xuất thần, khó giải thích bằng lời. Ngoài sự sáng tạo, nghệ nhân còn có sứ mệnh truyền nghề cho các thế hệ sau. Vì vậy việc tôn vinh nghệ nhân không đơn thuần chỉ là đánh giá công lao và tỏ lòng kính trọng, mà hơn thế, đây là một hoạt động, một phương pháp, một nội dung nhằm bảo tồn được các giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề truyền thống.

Ba là, cần tiến hành nghiên cứu để bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của các làng nghề. Tục thờ tổ nghề và lễ hội làng nghề được cư dân làng nghề và xã hội coi trọng. Thờ tổ nghề là một nét văn hóa truyền thống chứa đựng ý nghĩa lịch sử xã hội, đời sống và con người. Từ đặc trưng văn hóa này cho phép chúng ta mở rộng sự nghiên cứu về “nghề”, về “nghiệp”, về yếu tố “bản địa”, “sự thiên di” hay khả năng lan tỏa của mỗi nghề hay mỗi làng nghề. Cùng với tục thờ tổ nghề là các lễ hội dân gian là những sinh hoạt cộng đồng. Lễ hội sẽ phản ánh đặc trưng của nghề, của cơ cấu làng nghề và những quy lệ. Ở đây ngoài yếu tố tâm linh còn chứa đựng sự ghi nhận những kinh nghiệm, quá trình phát triển, sự biến động và quá trình giao thoa của “nghề” và làng nghề đó. Như vậy, việc thờ tổ nghề và lễ hội làng nghề là một hoạt động, một bộ phận văn hóa tạo nên bức tranh đầy đủ về làng nghề, do vậy việc bảo tồn nó cũng như các giá trị khác là hết sức cần thiết.

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc bảo tồn các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành vấn đề quan tâm của ngành văn hóa mà còn là của toàn xã hội và đặc biệt là cộng đồng cư dân, nơi hiện có các làng nghề truyền thống. Vì vậy, công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề truyền thống là không thể thiếu khi tiến hành thành lập các khu tiểu thủ công nghiệp, cũng như trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn.

 

Nguyễn Văn Ngọc
TRONG SỐ NÀY:
(TRÍCH) Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Nhơn Hội tỉnh Bình Định. đến năm 2020
Bình Định hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường
Bò sữa tiếp tục phát triển nhưng phải có trọng điểm
Dùng ong ký sinh diệt bọ dừa ở Bình Định
Những khởi sắc từ việc áp dụng ISO 9001-2000
Diện mạo kiến trúc thành hoàng đế được phát lộ
 
  

 

 

KỶ YẾU KH&CN
- Giai đoạn 1991-2000
- Giai đoạn 2001-2005
- Giai đoạn 2006-2010

  Hội Nghị KH&CN các  tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ VII

Chương trình đưa  thông tin KH&CN  phục vụ phát triển KTXH nông thôn  và  miền  núi

 

  

      Website Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định.                         
      Theo Giấy phép số 231/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 06/06/2007.
      Quản lý và nhập tin:
Phòng Quản lý Chuyên ngành, Sở Khoa học & Công nghệ Bình Định.
      Người chịu trách nhiệm chính: TS. Võ Ngọc Anh - Phó Giám đốc Sở.

Địa Chỉ: 68 Lê Duẩn, TP.Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định.

ĐT: 056.3524791 -  056.3522075   * Fax: 056.3523661.

Email: sokhcnbd@vnn.vn.