Các tổ chức Khoa học công nghệ
    Chương trình, đề tài, dự án Khoa học công nghệ
    Cơ sở dữ liệu
    Sở hữu trí tuệ
    Tiêu chuẩn đo lường chất lượng
    Thị trường Công nghệ - Thiết bị
    Văn bản pháp luật
    Thủ tục hành chính
    Tạp chí KHCN
    ĐỊA CHÍ BÌNH ĐỊNH
    Hỏi đáp
  Tìm kiếm:
 
 

Truy cập:

2344716

Đang online:

57

  
>>  TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Làng nghề đúc đồng Bằng Châu

Đập Đá là vùng phụ cận của thành Đồ Bàn xưa, rồi đến thành Hoàng Đế (ngày nay là thị trấn Đập Đá thuộc huyện An Nhơn, Bình Định) ngoài kinh tế nông nghiệp rất phát triển, còn để lại dấu ấn đến ngày nay về nghề thủ công như: dệt ở Nam Phương Danh, rèn ở Tây Phương Danh, đúc đồng ở Bằng Châu, gốm ở Nhạn Tháp, dịch vụ buôn bán ở Đông Phương Danh. Đặc biệt nghề đúc đồng rất nổi tiếng ở làng Bằng Châu.

 

Truyền thuyết kể lại rằng, bà Hoàng Sanh, vợ vua Thành Thái, là con gái của một gia đình thợ đúc, làng Bằng Châu. Cha bà là một thợ đúc có tài nên được vua triệu về cung đình Huế để đúc tiền. Hoàng Sanh theo cha ra Huế, nhờ có nhan sắc mặn mà nên được tiến dẫn vào kinh làm vợ vua. Qua đó cho thấy từ thời nhà Nguyễn nghề đúc đồng đã phát triển ở Bằng Châu.

 

Nghề đúc đồng ở Bằng Châu cũng có nhiều điểm tương đồng như bao làng đúc đồng truyền thống ở Huế về cách làm khuôn, nấu đồng, pha chế. Để có một sản phẩm đồ đồng ra lò hoàn chỉnh thì phải qua một số công đoạn như lấy nguyên liệu, chế biến nguyên liệu, chế tạo khuôn đúc, xây dựng, sửa chữa nhà đúc, lò đúc, lắp ráp khuôn đúc chế tạo sản phẩm và tiến hành kỹ thuật đúc.

 

Nguyên liệu làm khuôn là đất sét, đất phù sa, trấu sống, bột than trấu, bột sạn chịu lửa, giấy dó, bông gòn... Các vật liệu này lấy từ nhiều nơi đem về. Đất sét giã nhỏ, rây kỹ, phân cỡ hạt.

 

Người ta thường dùng đất sét ở ba dạng: Bột, nhão, và lỏng; cách chuẩn bị đất sét ở ba dạng này có khác nhau.

 

Theo một số cụ già trong làng nghề thì muốn đúc 1 tấn vật đúc thành phẩm phải sử dụng từ 5 đến 6 tấn đất sét hỗn hợp để làm khuôn và ruột. Trong lúc đúc có 2 nguồn đất được sử dụng: đất mới khai thác về và đất tận dụng lại. Đất mới khai thác về thường không phù hợp với yêu cầu cỡ hạt, độ ẩm, độ sạch cho nên cần phải chế biến lại như giã, nghiền, rây, phân loại.

 

Sau đó đem ủ 1 ngày 1 đêm, rồi đem ra đánh tơi tạo độ thông khí cho khuôn đúc, kiểm tra lại độ mịn của hạt.

 

Công đoạn tiếp theo là chế tạo khuôn đúc. Khuôn có đất phù sa có thể đúc được những chi tiết phức tạp, những chi tiết cực nhỏ và cả những chi tiết cực lớn dùng để đúc những kim loại đen và kim loại màu. Nguyên tắc làm khuôn phải bảo đảm tính chính xác, các dụng cụ làm khuôn như chày giã chuyên dùng bằng gỗ, rây tay, xẻng, chổi lông, thìa đầu phẳng và đầu vũm, quạt tay, móc... Khuôn đúc phải có độ bền để không bị lỏng, vỡ, sai kích thước. Khuôn phải có độ thông khí tốt, tránh rỗ hơi rỗ khí… Khi đắp khuôn xong cần được đem sấy từng mảng và phơi khuôn ngoài trời, sau đó đem nung tạo độ bền, để khi rót đồng vào khuôn không bị vỡ.

 

Nếu đúc nồi, bung, bảy, chảo thì nhiệt độ nóng chảy của đồng là 1000 0C đến 1200 0C, còn đúc các đồ vật trang trí như lư, đèn, đỉnh, tượng thì nhiệt độ nung là 900 0C đến 1000 0C, tùy theo sản phẩm đúc mà người ta làm khuôn một bìa hoặc nhiều bìa.

 

Quy mô sản xuất theo gia đình và tuân theo kiểu cha truyền con nối. Trong gia đình người cha hay ông nội đóng vai trò thợ cả, là người thông suốt các khâu từ nặn khuôn, đúc và làm hoàn chỉnh sản phẩm, còn các con cháu là những người thợ phụ, nếu gia đình ít con cháu thì vai trò người thợ phụ ưu tiên dành cho 2 bên nội, ngoại...

 

Khi đúc đồng còn thực hiện sơn khuôn (để chống cháy và chống dính cát vào vật đúc), bằng cách dùng bột than hay bột chì rắc đều lên bề mặt khuôn thành 1 lớp mỏng. Sau khi rắc xong phải miết để chất sơn dính chặt vào thành khuôn, sơn khuôn từ lúc khuôn còn tươi và sơn thành nhiều lớp.

 

Công đoạn lắp ráp khuôn và rót đồng cũng không kém phần quan trọng, đòi hỏi sự tỉ mỉ, chuẩn xác cao. Khi nấu đồng người ta thường pha kẽm, đối với đồng đỏ thì tỷ lệ kẽm nhiều hơn đồng thau. Hợp kim đồng với chì làm giảm nhiệt độ, nhưng lại tăng trọng lượng và tạo độ bền, dai. Hợp kim đồng với thiếc làm tăng độ cứng, kéo dài tình trạng lỏng cần thiết của đồng và bám vào mặt khuôn để nổi rõ các chi tiết. Nếu hàm lượng thiếc cao quá thì sản phẩm dòn dễ vỡ. Hợp kim đồng với kẽm sản phẩm đồng làm ra có màu ánh xanh. Hợp kim đồng với nhôm làm nhạt màu đồng. Còn tỷ lệ cụ thể để cho đạt hiệu quả là bí quyết của người đúc đồng.

 

Trước kia làng đúc Bằng Châu tập hợp lại thành từng vùng, cụm và sản phẩm làm ra các loại như mâm, nồi, chảo, đèn thờ.... Lúc đầu sản xuất ra các sản phẩm còn thô sơ, quy trình chế tạo khuôn đúc tốn nhiều công sức, khuôn ngoài và khuôn trong dùng chỉ đúc được 1 lần, thời gian tháo khuôn phải mất 12 giờ, có cái phải đập bỏ không sử dụng lại được. Dần dần làng nghề cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, họ không ngừng giao lưu với các làng đúc khác cho nên sản phẩm làm ra ngày một tinh xảo, mang tính mỹ thuật cao và đa dạng như các loại đèn thờ, nồi, bung, mâm, hộp đựng trầu, khay, chiêng cồng... và các loại vật dụng trang trí.

 

Thời Gia Long đã tuyển một số thợ có tay nghề cao ở đây ra Huế vừa phục vụ trong triều đình, vừa tham gia đúc đồng trong các tượng cuộc. Mãn hạn lính kinh về quê tiếp tục mở lò đúc đồng như ông Nguyễn Khuyến là ông ngoại của cụ Trần Néo, từ đó sản phẩm Bằng Châu vượt ra ngoài vùng, đến các tỉnh để giao lưu buôn bán. Trong kháng chiến chống Pháp một số thợ đúc của Bằng Châu tham gia đúc vũ khí chống Pháp như đúc vỏ lựu đạn có hình dạng như trái mãng cầu tại xưởng quân khí ở Hoài Ân. Năm 1957 các thợ đúc đồng Bằng Châu tham gia nấu đồng để đúc tượng Phật cao 2m nặng 750kg đặt tại chùa Long Khánh (Quy Nhơn) và một số tượng được làm bằng đồng đã có mặt trên một số miền của đất nước, nhất là Nam bộ.

 

Sau năm 1975 hợp tác xã đúc đồng ở Bằng Châu được thành lập, quy trình công nghệ được nâng cao, kỹ thuật đúc tinh vi hơn, cũng là thời gian Bằng Châu nhộn nhịp người ra vào buôn bán từ các nơi đổ về. Một số sản phẩm được các cơ quan mua về sử dụng như cặp hạc ở Bảo tàng Quang Trung.

 

Năm 1986 nhân dân đã góp công sức đúc tượng Bác Hồ toàn thân cao 2m nặng 750kg để làm quà kỷ niệm cho quê hương sau mười năm thống nhất đất nước. Hiện nay, tượng được lưu tại Phòng Truyền thống (Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao huyện An Nhơn). Từ đó đến nay làng đúc Bằng Châu làm thêm sản phẩm như khuôn ngói, tuýp ghe, chân vịt, rôminê bằng đồng phục vụ cho đời sống nhân dân. Ngày nay có khoảng 30 cơ sở làm nghề đúc đồng ở Bằng Châu. Mỗi cơ sở có khoảng 15 người thợ. Họ sinh hoạt với nhau như một nghiệp đoàn và cùng nhau hỗ trợ phát triển bền vững trong cơ chế thị trường.

 

Vị tổ sư của nghề đúc ở đây cũng chính là vị thầy thuốc tên Dương Không Lộ truyền nghề đúc đồng từ thế kỷ XII. Tương truyền ông xuất thân ở vùng Nam Hà làm nghề đánh cá, tu hành ở chùa Keo (Thái Bình) và Hà Nội là nơi nhà sư hành đạo. Hàng năm cứ đến ngày 17/3 âm lịch nhân dân tổ chức cúng lễ tổ sư của mình và tưởng nhớ các vị tiên hiền, hậu hiền là những người có công phát triển làng nghề. Từ chỗ chỉ đúc đồng, ngày nay thợ đúc đã phát triển đúc những sản phẩm nhôm, gang. Từ ngày giỗ tổ đã trở thành lễ hội truyền thống làng nghề đúc đồng Bằng Châu, một hình thức sinh hoạt văn hóa gắn liền với quá trình hình thành và phát triển làng nghề, đưa con người hướng về cội nguồn, tạo nên sự gắn bó với nhau trong đời sống cộng đồng, tạo nên sức mạnh của làng nghề.

NGUYỄN VĂN NGỌC

 

TRONG SỐ NÀY:
Nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quy chế : Phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (Theo Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg ngày 28.5.2007)
Bình Định: 5 định hướng nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đến năm 2010
Phù Cát: Cây điều thâm canh cho năng suất cao
Xây dựng mô hình sản xuất lúa an toàn, chất lượng cao
Thực trạng việc nghiên cứu nuôi thử nghiệm chim yến trong nhà ở Bình Định
Chủ nhân sản phẩm gốm Gò Sành
Dự trù thức ăn từ thực phẩm nông nghiệp – biện pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi trâu, bò ở miền núi
Có một trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân
Họp bàn biện pháp tổ chức hoạt động quản lý KHCN cấp huyện : Cần có cán bộ chuyên trách, nội dung hoạt động phong phú
Nghiên cứu xử lý hàm lượng Fluor trong nguồn nước ngầm tại một số địa phương ở Bình Định
 
  

 

 

KỶ YẾU KH&CN
- Giai đoạn 1991-2000
- Giai đoạn 2001-2005
- Giai đoạn 2006-2010

  Hội Nghị KH&CN các  tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ VII

Chương trình đưa  thông tin KH&CN  phục vụ phát triển KTXH nông thôn  và  miền  núi

 

  

      Website Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định.                         
      Theo Giấy phép số 231/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 06/06/2007.
      Quản lý và nhập tin:
Phòng Quản lý Chuyên ngành, Sở Khoa học & Công nghệ Bình Định.
      Người chịu trách nhiệm chính: TS. Võ Ngọc Anh - Phó Giám đốc Sở.

Địa Chỉ: 68 Lê Duẩn, TP.Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định.

ĐT: 056.3524791 -  056.3522075   * Fax: 056.3523661.

Email: sokhcnbd@vnn.vn.