Các tổ chức Khoa học công nghệ
    Chương trình, đề tài, dự án Khoa học công nghệ
    Cơ sở dữ liệu
    Sở hữu trí tuệ
    Tiêu chuẩn đo lường chất lượng
    Thị trường Công nghệ - Thiết bị
    Văn bản pháp luật
    Thủ tục hành chính
    Tạp chí KHCN
    ĐỊA CHÍ BÌNH ĐỊNH
    Hỏi đáp
  Tìm kiếm:
 
 

Truy cập:

2493077

Đang online:

37

  
>>  TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Cần cải thiện tập quán canh tác lúa Bình Định

Sở Nông nghiệp & PTNT Bình Định đã điều tra đánh giá thực trạng tập quán canh tác lúa của nông dân tại huyện Tuy Phước, Phù Cát, Tây Sơn, Hoài Nhơn.

 

Qua 400 phiếu điều tra cho thấy, tập quán canh tác lúa của nông dân trong tỉnh còn theo lối cũ, chưa áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, làm cho chi phí đầu tư cao, tạo điều kiện cho sâu bệnh hại phát sinh.

 

Bảng: Kết quả điều tra đánh giá tập quán canh tác lúa tại Bình Định (Một số chỉ tiêu chính)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Qua bảng trên cho thấy:

1. Về mật độ gieo sạ và phương phức sạ:

Tỷ lệ hộ nông dân sử dụng máy sạ hàng rất ít. Phương thức gieo sạ chủ yếu vẫn là sạ lan với mật độ dày. Chỉ có 1,75%hộ điều tra có sử dụng công cụ sạ hàng trong canh tác lúa. Tập trung chủ yếu tại huyện Tuy Phước, nơi có Chương trình sản xuất giống nông hộ, triển khai khá hiệu quả trong những năm qua, (nhưng cũng chỉ có 5% sạ hàng); còn lại 98,25% hộ điều tra sử dụng phương thức sạ lan truyền thống.

 

Về mật độ gieo sạ: Đối với các hộ sạ hàng, lượng giống sử dụng cho 1 sào chỉ từ 3,0 - 5,0 kg, tương đương 60-100 kg/ha; Đối với các hộ dùng phương thức sạ lan lượng giống gieo sạ sử dụng rất cao 7-11 kg/sào. Tương đương với 140 kg - 220 kg/ha, trong đó huyện Tuy Phước lại là huyện có mật độ sạ lan cao nhất 9-11 kg/sào.

 

2. Về kỹ thuật xử lý hạt giống lúa trước khi gieo sạ:

Chỉ có 6% hộ điều tra cho biết có xử lý hạt giống trước khi gieo sạ bằng thuốc trừ sâu, và có 11,5% hộ điều tra có xử lý hạt giống bằng thuốc trừ bệnh cây hoặc chất kích thích hạt lúa nảy mầm. Trong khi đó xử lý hạt giống trước khi gieo sạ là biện pháp kỹ thuật quen thuộc đối với nông dân sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long nhằm mục đích giảm sự phát sinh của một số đối tượng sâu hại ở 20 ngày đầu sau gieo sạ như rầy nâu, bọ trĩ, sâu đục thân 2 chấm, dòi đục lá.

 

3. Về tập quán bón phân cho lúa:

Có 92,25% số hộ điều tra trả lời bón phân theo kinh nghiệm; 6,5% hộ bón phân theo hướng dẫn của quy trình kỹ thuật được tập huấn hoặc theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Đa số các hộ dân (trên 90% - BTV) bón thúc đạm cho lúa (phân Ure hoặc SA) hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm, thói quen chứ không sử dụng bảng so màu lá để xác định thời điểm cần bón. Nhiều hộ nông dân vẫn chưa biết khi cây lúa bị nhiễm rầy, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, thối thân, thối bẹ cần dừng không bón đạm trước khi phòng trừ sâu bệnh.

 

4. Về tập quán tưới nước cho ruộng lúa:

Tất cả các hộ điều tra đều tưới nước cho lúa theo phương thức tưới ngập (tỷ lệ 100%). Mực nước ở các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa được quyết định theo kinh nghiệm và tùy theo điều kiện thủy lợi và nguồn nước cụ thể của từng địa phương. Đáng chú ý là trong giai đoạn lúa đẻ nhánh, mực nước ruộng vẫn duy trì 2- 5 cm, không thích hợp cho cây lúa đẻ nhánh mạnh (Theo nguyên tắc là ruộng nên rút nước để ráo mặt)

Đã có nhiều chương trình khuyến nông giúp bà con nông dân áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất lúa, nhưng chưa được áp dụng rộng rãi. Để hạn chế sâu bệnh hại, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, giải pháp tốt nhất vẫn là: Tăng cường ứng dụng sạ hàng, giảm mật độ sạ lan, áp dụng các qui trình tưới hợp lý, bón phân theo qui trình kỹ thuật, để giảm bón thừa đạm, xử lý hạt giống lúa để hạn chế sâu bệnh hại trong 20 ngày đầu sau gieo sạ, giảm số lần phun thuốc trừ sâu từ đó giảm chi phí sản xuất lúa, tăng thu nhập cho bà con nông dân hướng đến mục tiêu “3 tăng”: Tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả sản xuất lúa của tỉnh ta.               

                                                                                         N.T.T.T

TRONG SỐ NÀY:
Trả lời phỏng vấn, ông Võ Xuân Thanh - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Bình Định: Sẽ lập lại trật tự trong xây dựng trạm thu, phát sóng thông tin di động
Giữ vững việc nhân giống cây trồng rừng cấy mô
Mô hình nuôi cá rô đồng đạt hiệu quả
Các bước cần thiết để một cơ quan tiến hành xây dựng và áp dụng HTQLCL theo TCVN ISO 9001:2000
Mũ bảo hiểm sẽ được quản lý theo quy chuẩn mới
Chế tạo thành công hệ thống máy cắt tách hạt điều tự động
Công nghệ lò gạch nung liên tục kiểu đứng
 
  

 

 

KỶ YẾU KH&CN
- Giai đoạn 1991-2000
- Giai đoạn 2001-2005
- Giai đoạn 2006-2010

  Hội Nghị KH&CN các  tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ VII

Chương trình đưa  thông tin KH&CN  phục vụ phát triển KTXH nông thôn  và  miền  núi

 

  

      Website Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định.                         
      Theo Giấy phép số 231/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 06/06/2007.
      Quản lý và nhập tin:
Phòng Quản lý Chuyên ngành, Sở Khoa học & Công nghệ Bình Định.
      Người chịu trách nhiệm chính: TS. Võ Ngọc Anh - Phó Giám đốc Sở.

Địa Chỉ: 68 Lê Duẩn, TP.Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định.

ĐT: 056.3524791 -  056.3522075   * Fax: 056.3523661.

Email: sokhcnbd@vnn.vn.